Câu 1: Phân tích yếu tố thời của CMT8 1
Câu 2: Tại sao lại nhận định “Đổi mới hay chết” 3
Câu 3: Phân tích 4 bài học 1986 4
Câu 4: 6 bài học 1996 8
Câu 05: 06 quan điểm về Công nghiệp hóa tại Đại hội VIII 13
Câu 06: Quan điểm của Đảng về khơi dậy khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc trong
kỷ nguyên mới 17
Tổng hợp về các Đại hội 18
"Thời cách mạng Bài học từ Cách mạng Tháng Tám năm 1945 giá trị vận dụng trong
thời đại Cách mạng công nghiệp lần thứ tư"
Cuộc Cách mạng Tháng Tám năm 1945 một trong những minh chứng tiêu biểu nhất về việc nhận
diện chính xác hành động kịp thời theo thời của một cuộc cách mạng giải phóng dân tộc. Thời cách
mạng đây không phải tự nhiên có, kết quả của quá trình phân tích luận sắc bén, vận dụng linh
hoạt chủ nghĩa Mác Lê-nin, đồng thời t ra từ thực tiễn đấu tranh cách mạng lâu dài gian khổ của nhân
dân Việt Nam. Cụ thể, thời được hình thành bởi bốn yếu tố then chốt sau:
1. Kẻ thù mất phương hướng Khoảng trống quyền lực từ sự sụp đổ của phát xít Nhật
Giữa tháng 8-1945, phát xít Nhật chính thức tuyên bố đầu hàng điều kiện Đồng minh, dẫn đến sự
sụp đổ hoàn toàn của bộ máy thống trị quân sự chính trị chúng dựng lên Đông Dương. Quân Nhật
Việt Nam hoang mang, mất tinh thần chiến đấu; bộ máy chính quyền tay sai bị liệt, hỗn loạn. Tình trạng
“vô chính phủ” nhiều nơi đã tạo ra khoảng trống quyền lực lớn, chưa lực lượng quốc tế hoặc phản cách
mạng nào kịp thời lấp đầy. Đây điều kiện khách quan cực kỳ thuận lợi để lực lượng cách mạng vươn lên
giành chính quyền.
2. Quần chúng nhân dân sẵn sàng nổi dậy Sức mạnh bùng phát từ dưới lên
Trải qua gần một thế kỷ bị đô hộ, đặc biệt dưới sự cai trị tàn bạo của phát xít Nhật trong thời kỳ
chiến tranh, nhân dân Việt Nam lâm vào cảnh đói khổ cùng cực, tiêu biểu nạn đói năm 1945 cướp đi sinh
mạng của hơn 2 triệu người. Từ nỗi đau đó, ý chí đấu tranh bùng lên mãnh liệt. Dưới sự giác ngộ tổ chức
của Việt Minh, các tầng lớp nhân dân đã sẵn sàng tham gia khởi nghĩa. Cao trào kháng Nhật, phá kho thóc
cứu đói, biểu tình đòi chính quyền… nổ ra nhiều nơi, cho thấy tâm thế cách mạng trong dân đã chín muồi,
chỉ còn chờ hiệu lệnh hành động.
3. Lực lượng cách mạng được chuẩn bị chu đáo Chủ động tạo thế lực
Yếu tố thời sẽ không ý nghĩa nếu thiếu sự chuẩn bị kỹ lưỡng về lực lượng. Trước thời điểm
Nhật đầu hàng, Đảng Cộng sản Việt Nam đã kế hoạch chiến lược ràng, tổ chức lực lượng rộng khắp,
bao gồm:
1
+ Mặt trận Việt Minh phát triển mạnh mẽ, tập hợp được đông đảo các tầng lớp nhân dân.
+ Lực lượng trang, t các đội du kích địa phương đến Việt Nam Giải phóng quân, đã hoạt động tích
cực mở rộng vùng căn cứ.
+ Hệ thống chính quyền cách mạng lâm thời, đặc biệt tại các vùng căn cứ như Cao Bắc Lạng
chiến khu Việt Bắc, đã hình thành.
+ Mặt trận văn hóa tưởng: đẩy mạnh hoạt động tuyên truyền đường lối cứu nước , chủ trương chính
sách Đảng, nhiều tờ báo ra đời hoạt động sôi nổi, sự thành lập Hội văn hóa cứu quốc
Đặc biệt, Hội nghị Quân sự cách mạng Bắc Kỳ (15-5-1945) Hội nghị toàn quốc của Đảng (13-
15/8/1945) đã thống nhất kế hoạch phát động tổng khởi nghĩa, cho thấy sự chủ động về cả tưởng hành
động của lực lượng cách mạng.
4. Kẻ thù mới chưa kịp xuất hiện “Khoảng thời gian vàng” ngắn ngủi
Sau khi Nhật đầu hàng, các lực lượng Đồng minh (Anh, Mỹ, Trung Hoa Dân quốc) chưa kịp kéo
quân vào Việt Nam để giải giáp quân đội Nhật. Trong thời gian ngắn ngủi đó, các nước đế quốc phương Tây
chưa thể can thiệp trực tiếp, trong khi lực lượng phản cách mạng trong nước còn yếu, chưa kịp tổ chức lại.
Đây được gọi “thời chiến lược mang tính quyết định”, khi thế lực đã sụp đổ, nhưng thế lực mới chưa
kịp thiết lập trật tự. Đảng ta xác định đây thời điểm không thể bỏ lỡ, nếu chần ch thì nguy bị dìm trong
máu bị bóp nghẹt hoàn toàn th xảy ra.
Kết luận phần phân tích
Các yếu tố cấu thành thời trong Cách mạng Tháng Tám không phải sản phẩm ngẫu nhiên
kết quả của sự kết hợp biện chứng giữa luận cách mạng khoa học thực tiễn đấu tranh kiên cường của
dân tộc Việt Nam. Bài học sâu sắc đây là: thời chỉ trở thành động lực cho cách mạng khi sự chuẩn bị
kỹ ỡng về tổ chức, lực lượng phương pháp hành động, đồng thời phải kiên quyết nắm bắt đúng thời
điểm, hành động dứt khoát để tránh bỏ lỡ hội lịch sử. Đây bài học giá trị vượt thời gian, cần được
vận dụng sáng tạo trong mọi hoàn cảnh phát triển đất nước hiện nay.
5. Vận dụng bài học chớp thời trong Cách mạng công nghiệp lần thứ
Ngày nay, Cách mạng công nghiệp 4.0 đang tạo ra một thời mới để Việt Nam bứt phá phát
triển nhanh, bắt kịp các nước tiên tiến, thông qua:
- Kinh tế số, thương mại điện tử, công nghệ cao: Làm thay đổi cách thức sản xuất, tiêu dùng, tạo ra
hình phát triển kinh tế tri thức, nền tảng số.
- Công nghệ giáo dục, y tế, văn hóa - hội: Đem lại hội chuyển đổi số toàn diện trong đào tạo
nguồn nhân lực, chăm sóc sức khỏe, bảo tồn văn hóa.
- Tác động tích cực từ đại dịch COVID-19: Được xem phép thử để Việt Nam ứng dụng công nghệ
vào quản trị hội, y tế, giáo dục, sản xuất, thúc đẩy đổi mới sáng tạo.
Tuy nhiên, nắm bắt thời trong bối cảnh 4.0 cũng đòi hỏi bản lĩnh, tầm nhìn chiến lược quyết
tâm hành động, như tinh thần Tổng khởi nghĩa năm 1945:
Từ bài học lịch sử năm 1945, việc chớp thời trong thời đại số hôm nay cần được cụ thể hóa thành
hành động chiến lược quyết đoán, với ba yêu cầu bản:
2
- Không chờ đợi thời Phải chủ động tạo thời cơ; Thời trong Cách mạng 4.0 không đơn thuần
“đến” phải được kiến tạo thông qua tầm nhìn, chính sách, đầu vào khoa học công nghệ
đổi mới sáng tạo. Việt Nam cần chuyển từ duy “tiếp nhận công nghệ” sang “sáng tạo công nghệ”,
từ “làm thuê” sang “làm chủ”.
- Chuẩn bị chu đáo nền tảng để hành động khi hội đến: Như Tổng khởi nghĩa năm 1945 đã
sự chuẩn bị lực lượng từ trước, ngày nay, Việt Nam cũng cần:
+ Phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao kỹ năng số, kỹ năng đổi mới.
+ Xây dựng hạ tầng số đồng bộ (5G, sở dữ liệu lớn, nền tảng số quốc gia).
+ Cải cách th chế, luật pháp phù hợp với môi trường công nghệ mới.
- Biết chọn đúng thời điểm để bứt phá Hành động kịp thời, đúng trọng tâm: Trong bối cảnh cạnh
tranh toàn cầu khốc liệt, ai hành động chậm sẽ tụt lại phía sau. Do đó, Việt Nam cần xác định đúng
thời điểm chuyển đổi hình kinh tế, ưu tiên đầu công nghệ, lựa chọn đối tác quốc tế chiến lược,
hỗ trợ doanh nghiệp số hóa toàn diện. Đây yêu cầu sống còn trong một “cuộc tổng khởi nghĩa
số” giữa thời đại mới.
Câu 2: Tại sao lại nhận định “Đổi mới hay chết”
Khủng hoảng kinh tế - hội: do trực tiếp buộc phải đổi mới
Trước thềm Đại hội VI, đất nước đang rơi vào một cuộc khủng hoảng kinh tế - hội toàn diện
kéo dài. chế kinh tế kế hoạch hóa tập trung, quan liêu bao cấp bộc lộ những bất cập sâu sắc: sản xuất
đình đốn, lạm phát phi mã, đời sống nhân dân rơi vào cảnh đói nghèo nghiêm trọng. Việt Nam còn bị bao
vây cấm vận, trong khi các nguồn viện trợ từ Liên Đông Âu dần thu hẹp do các nước này bắt đầu tiến
hành cải tổ. Nội lực kinh tế yếu kém, niềm tin của nhân dân vào triển vọng phát triển bị lung lay. Trên khắp
cả nước, những cuộc “phá rào” tự phát t hình khoán hộ Vĩnh Phúc, phân phối theo giá thỏa thuận
Long An, đến cách làm năng động tại TP. Hồ Chí Minh đã manh nha đặt ra những vấn đề vượt khỏi duy
kỹ.
Trong khi đó, nhiều quốc gia trên thế giới đang bước vào giai đoạn cải cách, hiện đại hóa hội
nhập sâu rộng. So với khu vực, Việt Nam bị tụt hậu về cả kinh tế, công nghệ trình độ quản lý. Trước tình
trạng đó, yêu cầu đổi mới trở thành một nhu cầu tất yếu cấp bách. Không đổi mới đồng nghĩa với tiếp tục
trì trệ, dẫn đến mất ổn định chính trị đe dọa sự tồn vong của chế độ.
Sự thất bại của duy nhu cầu đổi mới duy
Nguyên nhân sâu xa của khủng hoảng không chỉ nằm điều kiện khách quan, còn bắt nguồn từ
duy quản cứng nhắc, giáo điều, duy ý chí. Nhiều chính sách không phù hợp với thực tiễn như “cấm chợ,
ngăn sông”, không thừa nhận thị trường, không tôn trọng quy luật kinh tế. Điều này khiến sản xuất bị bóp
nghẹt, người dân không được khuyến khích phát huy sáng tạo.
3
Bối cảnh đó đòi hỏi một sự chuyển đổi căn bản về duy: t bao cấp sang thị trường, từ khép kín
sang mở cửa, từ hành chính quan liêu sang năng động, linh hoạt. Chính điều này làm nên tinh thần của nhận
định “Đổi mới hay chết” đổi mới không còn lựa chọn, con đường tất yếu để tồn tại.
Đổi mới một quyết định chính trị dũng cảm tầm nhìn
Chính tại Đại hội VI, lần đầu tiên trong lịch sử cách mạng Việt Nam, Đảng Cộng sản Việt Nam đã
khẳng định chủ trương , bắt đầu từ kinh tế, tiến tới đổi mới trong quản nhà nước,“Đổi mới toàn diện”
trong phương thức lãnh đạo, trong giáo dục y tế văn hóa. Đổi mới không đơn thuần sửa chữa,
thay đổi một cách căn bản, từ gốc rễ, dựa trên thực tiễn lợi ích của nhân dân. Đó bước chuyển từ nền
kinh tế đóng sang mở, từ tập trung sang phân cấp, từ bình quân sang khuyến khích sáng tạo, hiệu quả.
Chính từ quyết sách lịch sử đó, Việt Nam đã từng bước thoát khỏi khủng hoảng, ổn định tình hình,
phát triển kinh tế hội nhập quốc tế, tạo ra những thành tựu quan trọng mang tính bước ngoặt, đặt nền
móng cho công cuộc phát triển sau này.
Giá trị thời đại tính thời sự của nhận định “Đổi mới hay là chết”
Không chỉ mang giá trị lịch sử, nhận định “Đổi mới hay chết” còn ý nghĩa thời đại sâu sắc.
Trong bối cảnh thế giới ngày nay đầy biến động, với những thách thức từ cách mạng công nghiệp 4.0, biến
đổi khí hậu, dịch bệnh, xung đột địa chính trị… duy đổi mới, tinh thần cải cách hành động kịp thời vẫn
luôn yếu tố sống còn để phát triển. Bất kỳ sự tự mãn, bảo thủ hay trì hoãn nào cũng thể dẫn đến tụt hậu
mất hội vươn lên.
Câu 3: Phân tích 4 bài học 1986
1. Quán triệt tưởng “Lấy dân làm gốc”
Đại hội VI khẳng định rõ: , là lực lượng sáng tạo, nhân dân chủ thể của công cuộc đổi mới
nền tảng, mục tiêu động lực cho mọi chủ trương của Đảng Nhà nước. Đây sự kế thừa trực tiếp
tưởng Hồ Chí Minh, người từng nhấn mạnh rằng:
“Trong bầu trời không quý bằng nhân dân. Trong thế giới không mạnh bằng lực lượng đoàn kết
của nhân dân.”
“Việc lợi cho dân thì phải hết sức làm, việc hại đến dân thì phải hết sức tránh.”
Theo đó, Đại hội VI không chỉ nhìn nhận nhân dân như một đối tượng hưởng thụ chính sách, còn
chủ thể sáng tạo, tham gia trực tiếp vào tiến trình đổi mới. Mọi chính sách của Đảng từ đó phải xuất phát
từ nguyện vọng, lợi ích cuộc sống thực tế của nhân dân, thay áp đặt một cách duy ý chí từ cấp lãnh đạo.
Ý nghĩa lịch sử thực tiễn Từ sai lầm duy ý chí đến duy lấy dân làm gốc
4
Trước năm 1986, nhiều chính sách kinh tế - hội được triển khai theo kiểu “trên bảo dưới nghe”,
thiếu dân chủ, xa rời thực tiễn, dẫn đến hậu quả nghiêm trọng:
- chế quản tập trung, bao cấp khiến đời sống người dân nghèo khổ, sản xuất trì trệ, hàng hóa
khan hiếm, phải phân phối qua tem phiếu.
- Sáng kiến của người dân trong sản xuất, kinh doanh không được khuyến khích, thậm chí bị cấm
đoán.
- Sự quan liêu trong bộ máy hành chính làm mất lòng tin của nhân dân, tạo nên khoảng cách lớn giữa
Đảng quần chúng.
Trong bối cảnh đó, việc quán triệt trở lại tư tưởng “Lấy dân làm gốc” tại Đại hội VI bước chuyển
mang tính đổi mới căn bản về duy lãnh đạo. Đây chính sự trở lại với chân cách mạng của Chủ tịch
Hồ Chí Minh người đã đặt nền móng cho quan điểm "cách mạng sự nghiệp của quần chúng", khẳng
định rằng sức mạnh của cách mạng bắt nguồn từ lòng dân.
Thực tiễn sau đổi mới đã chứng minh: khi người dân được trao quyền, được tin tưởng được
hưởng lợi trực tiếp từ thành quả phát triển, thì năng lực sáng tạo, tinh thần lao động ý thức làm chủ s
phát huy mạnh mẽ, trở thành động lực quan trọng thúc đẩy phát triển toàn diện.
Bài học rút ra duy dân chủ, hành động dân cùng dân
tưởng “Lấy dân làm gốc” không ch khẩu hiệu mang tính đạo lý, cần phải được thể chế hóa
bằng hành động cụ thể trong quản nhà nước lãnh đạo hội. Từ bài học lịch sử thực tiễn, thể rút
ra nhiều nguyên tắc quan trọng:
- Mọi quyết sách phải xuất phát từ cuộc sống nguyện vọng của nhân dân: Tránh xa duy áp
đặt “trên xuống”, coi người dân chỉ người thụ hưởng chính sách; Phải lấy khảo sát hội, điều tra
sở, lắng nghe ý kiến nhân dân làm nền tảng cho xây dựng chiến lược phát triển.; Đổi mới quản trị
quốc gia theo hướng “chính phủ kiến tạo, liêm chính, hành động, phục vụ nhân dân”.
- Tăng cường vai trò giám sát, phản biện tham gia xây dựng chính sách của nhân dân: Người
dân không chỉ người thực hiện, còn phải được tham gia giám sát quá trình ra quyết định; Tăng
cường thực hành dân chủ sở, minh bạch hóa thông tin, tổ chức đối thoại chính sách giữa chính
quyền nhân dân; Phát huy vai trò của Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể truyền thông trong việc
làm cầu nối giữa dân Đảng.
- Đảng phải luôn đồng hành cùng dân, học dân, chịu sự giám sát của dân: Đạo đức bản
lĩnh của Đảng thể hiện qua việc biết lắng nghe phê nh, sửa sai kịp thời khi chính sách chưa hợp
lòng dân; Cán bộ, đảng viên phải thấm nhuần đạo lý: “trọng dân, gần dân, hiểu dân, học dân
trách nhiệm với dân”; Xây dựng chính quyền “của dân do dân dân” không phải khẩu hiệu,
nguyên sống còn trong quản trị quốc gia.
Liên hệ bản thân:
- Em hiểu rằng, “lấy dân làm gốc” không chỉ tưởng chính trị còn lời nhắc nhở mỗi
nhân phải lắng nghe, thấu hiểu hành động lợi ích chung của hội. Trong học tập sinh hoạt,
em luôn cố gắng:
+ Tôn trọng ý kiến tập thể, biết lắng nghe chia sẻ với bạn bè, thầy cô.
+ Tích cực tham gia các hoạt động đoàn thể, thiện nguyện, cộng đồng.
5
+ Không thờ ơ trước các vấn đề hội, đặc biệt những vấn đề liên quan đến quyền lợi, tiếng
nói của người dân.
2. Luôn xuất phát từ thực tế, phải tôn trọng hành động theo quy luật khách quan
Một trong những chuyển biến lớn về nhận thức tại Đại hội VI việc Đảng ta từ bỏ lối duy duy ý
chí, áp đặt chủ quan, vốn coi nền kinh tế một công trình thuần túy “thiết kế” theo mong muốn của con
người. Đại hội thẳng thắn chỉ ra: chính chế quản kế hoạch hóa tập trung, bao cấp cứng nhắc nguyên
nhân chủ yếu dẫn tới trì trệ, kém hiệu quả trong sản xuất phân phối. Đảng khẳng định: phải quay về với
thực tế khách quan, tôn trọng các quy luật của kinh tế thị trường như quy luật giá trị, quy luật cung cầu,
quy luật cạnh tranh…
Ý nghĩa lịch sử thực tiễn:
Trước đổi mới, nhiều chính sách phát triển kinh tế đã bỏ qua điều kiện thực tiễn của đất nước: sản
xuất chạy theo kế hoạch chứ không theo nhu cầu thị trường; phân phối dựa trên tem phiếu, không phản ánh
đúng giá trị lao động; khuyến khích bình quân chủ nghĩa, làm mất động lực sáng tạo. Các hình kinh tế
được áp đặt máy móc từ bên ngoài, xa rời thực tiễn Việt Nam.
Việc Đại hội VI thừa nhận sai lầm trong cách tiếp cận mạnh dạn trở về với chân lý thực tiễn,
chính một bước tiến lớn về duy, đặt nền móng cho sự hình thành hình kinh tế thị trường định hướng
XHCN một hướng đi vừa đổi mới, vừa mang tính đặc thù của Việt Nam.
Bài học rút ra:
Trong xây dựng chính sách, tuyệt đối không được áp đặt chủ quan, duy ý chí hay sao chép máy móc
hình nước ngoài.
duy lãnh đạo phải linh hoạt, thực tiễn cập nhật liên tục với thực trạng hội.
“Nhìn thẳng vào sự thật” phải trở thành nguyên tắc bất biến trong chỉ đạo, điều hành, để tránh tô
hồng thành tích hoặc làm sai lệch bản chất vấn đề.
Dữ liệu, khảo sát, thực tiễn địa phương phản hồi từ nhân dân cần trở thành sở đầu tiên để
hoạch định chính sách.
Liên hệ bản thân:
- Em nhận ra rằng duy duy ý chí, giáo điều thể dẫn tới sai lầm nghiêm trọng, ngay cả trong học tập
hay khởi nghiệp. thế:
+ Em luôn cố gắng học đi đôi với hành, thuyết phải gắn với thực tế.
+ Khi làm bài tập nhóm hoặc nghiên cứu khoa học, em ưu tiên khảo sát, lắng nghe thực tế chứ
không áp đặt suy nghĩ chủ quan.
6
+ Biết nhìn nhận đúng sai, không hồng thành tích, biết nhận lỗi sửa lỗi khi cần thiết.
3. Kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại trong điều kiện mới
Nội dung tưởng:
Một tưởng đổi mới lớn khác được hình thành tại Đại hội VI việc Đảng mở rộng tầm nhìn chiến
lược ra thế giới, nhận thức được yêu cầu khách quan của hội nhập. Tuy chưa dùng khái niệm “kinh tế thị
trường” hay “hội nhập quốc tế”, nhưng Đại hội đã chỉ rõ: Việt Nam cần chủ động tiếp cận với xu thế phát
triển của thời đại, tận dụng nguồn lực từ bên ngoài (vốn, công nghệ, tri thức) để phát triển kinh tế, nhưng
đồng thời phải giữ vững bản sắc văn hóa dân tộc, độc lập tự chủ định hướng XHCN.
Ý nghĩa lịch sử thực tiễn:
Trước Đổi mới, hình kinh tế tự cung tự cấp, đóng cửa khép kín khiến Việt Nam bị lập và
tụt hậu. Việc chuyển sang mở cửa, hợp tác quốc tế bước đột phá lớn, xóa bỏ duy bế quan tỏa cảng”, đặt
nền móng cho hàng loạt thành tựu sau này: từ thu hút FDI, mở rộng thị trường xuất khẩu, đến việc Việt Nam
gia nhập ASEAN, WTO kết các hiệp định thương mại thế hệ mới như CPTPP, EVFTA…
Tuy nhiên, hội nhập không nghĩa sao chép. Đại hội VI vẫn nhấn mạnh vai trò của sức mạnh nội
lực đó truyền thống dân tộc, tinh thần yêu nước, văn hóa đặc sắc, khát vọng vươn lên của nhân dân.
Bài học rút ra:
- Phát triển đất nước trong thời đại toàn cầu hóa đòi hỏi phải chiến lược hội nhập thông minh
chủ động, không lệ thuộc, không quáng chạy theo trào lưu.
- Phải tiếp thu chọn lọc những tinh hoa thế giới, đồng thời bảo vệ phát huy bản sắc dân tộc, giữ
vững chủ quyền quốc gia.
- Cách mạng công nghiệp 4.0, kinh tế số, công nghệ AI… thời nhưng cũng thách thức. Chỉ khi
nền tảng nội lực vững mạnh, ta mới “đi cùng thời đại” không bị cuốn trôi bởi nó.
Liên hệ bản thân:
- một người trẻ trong thời đại toàn cầu hóa, em thấy mình trách nhiệm:
+ Chủ động học ngoại ngữ, công nghệ mới, nắm bắt xu thế để không bị tụt lại phía sau.
+ Tuy nhiên, em cũng rất trân trọng văn hóa truyền thống dân tộc, thường xuyên tham gia các
hoạt động văn nghệ, ngày lễ dân gian, tìm hiểu lịch sử, giữ n tiếng Việt trong giao tiếp
online…
+ duy hội nhập nhưng không đánh mất bản thân đó cách em cố gắng áp dụng tưởng
này.
4. Chăm lo xây dựng Đảng ngang tầm với một đảng cầm quyền lãnh đạo nhân dân tiến hành
cách mạng XHCN
7
Nội dung tưởng:
Đổi mới không chỉ đổi mới kinh tế, quan trọng hơn cả đổi mới duy trong xây dựng Đảng.
Đại hội VI nhấn mạnh yêu cầu: Đảng với vai trò lực lượng cầm quyền phải không ngừng tự đổi mới, tự
chỉnh đốn để đáp ứng đòi hỏi của thời đại. Đó không chỉ đổi mới về tổ chức, còn đổi mới về phương
thức lãnh đạo, về đạo đức và lối sống của cán bộ, đảng viên.
Ý nghĩa lịch sử thực tiễn:
Trong giai đoạn trước đổi mới, bộ máy lãnh đạo biểu hiện quan liêu, xa rời quần chúng, duy ý chí
bảo thủ. Sự tha hóa của một bộ phận cán bộ đã làm xói mòn niềm tin của nhân dân vào Đảng. Đại hội VI,
thế, đặt vấn đề “xây dựng Đảng ngang tầm” như một nội dung sống còn. Từ đó, hàng loạt chủ trương đổi
mới công tác cán bộ, kỷ luật đảng, kiểm tra giám sát, tự phê bình phê bình đã được triển khai mạnh mẽ.
Bài học rút ra:
- Đảng cầm quyền phải luôn luôn tự soi, tự sửa, biết lắng nghe nhân dân đặt lợi ích quốc gia dân
tộc lên trên hết.
- Công tác cán bộ phải đặt ra yêu cầu “vừa hồng, vừa chuyên”: cán bộ phải đạo đức cách mạng,
năng lực thực tiễn, duy đổi mới tinh thần hành động quyết liệt.
- Việc phòng chống tham nhũng, lợi ích nhóm, quan liêu, xa dân nhiệm vụ thường xuyên, không
được phép buông lỏng, đó mối nguy lớn nhất đối với uy tín sự tồn vong của Đảng.
Liên hệ bản thân:
- Em hiểu rằng mỗi công dân ý thức, đạo đức tinh thần cống hiến đều đang góp phần giữ
vững uy tín của Đảng trong mắt nhân dân. vậy:
+ Em luôn rèn luyện phẩm chất đạo đức, sống trung thực, tránh xa thói ích kỷ, vụ lợi hay tâm
thờ ơ trước các vấn đề chung.
+ Em cố gắng hoàn thiện bản thân qua học tập, rèn luyện kỹ năng tích cực tham gia các hoạt
động cộng đồng.
+ Em tin rằng sự đổi mới phát triển của đất nước không chỉ đến từ những quyết sách lớn của
Đảng Nhà nước, còn phải bắt nguồn từ sự chuyển biến trong nhận thức hành động
của từng người dân đặc biệt thế hệ trẻ như em, những người đang sẽ trực tiếp góp
phần vào công cuộc xây dựng tương lai đất nước.
Câu 4: 6 bài học 1996
1. Giữ vững mục tiêu độc lập dân tộc chủ nghĩa hội trong quá trình đổi mới
Ngay từ Đại hội VI, Đảng ta đã khẳng định ràng: đổi mới không phải là thay đổi mục tiêu
tưởng, mà là cách thức sáng tạo để hiện thực hóa mục tiêu đó trong điều kiện mới. Mục tiêu độc lập dân tộc
gắn liền với chủ nghĩa hội tiếp tục được giữ vững, làm nền tảng tưởng kim chỉ nam cho mọi đường
lối.
Ý nghĩa:
- Độc lập dân tộc điều kiện tiên quyết để đảm bảo chủ quyền quốc gia, không bị lệ thuộc về kinh tế,
chính trị, quân sự.
8
- Chủ nghĩa hội định hướng phát triển toàn diện: con người, công bằng, bình đẳng, bền
vững bao trùm. Đó con đường mà Đảng nhân dân ta đã lựa chọn.
Bài học rút ra:
- Không chạy theo hình phát triển bản chủ nghĩa, không hy sinh công bằng tăng trưởng.
- duy đổi mới phải mềm dẻo trong ch làm, nhưng kiên định về nguyên tắc, mục tiêu chiến ợc.
- Trong bối cảnh toàn cầu hóa, cần khẳng định bản lĩnh, giữ vững độc lập tự chủ về chính trị, kinh tế
văn hóa.
Liên hệ bản thân:
- một người trẻ đang học tập, ta cần nhận thức rằng độc lập dân tộc không chỉ vấn đề lịch sử
hay chính trị, còn trách nhiệm nhân trong việc bảo vệ bản sắc văn hóa lòng tự tôn dân
tộc.
- Trong thời đại hội nhập, ta phải luôn cố gắng học hỏi kiến thức tiên tiến từ thế giới nhưng không
quên giữ gìn giá trị truyền thống, sống lý tưởng, định hướng cuộc sống theo những giá trị công
bằng, nhân ái chủ nghĩa hội đề cao.
- Không ủng hộ duy thực dụng, chạy theo lối sống vật chất đơn thuần luôn cố gắng phát triển
toàn diện cả về tri thức đạo đức, để góp phần vào sự phát triển bền vững của đất nước.
2. Kết hợp chặt chẽ giữa đổi mới kinh tế với đổi mới chính trị
Một trong những đột phá duy tại Đại hội VI đổi mới đồng bộ, bắt đầu từ kinh tế nhưng không
tách rời cải cách chính trị. Đổi mới kinh tế hệ thống chính trị không đổi mới sẽ dẫn đến sự lạc nhịp,
không thể phát huy hiệu quả.
Ý nghĩa:
- Kinh tế thị trường chỉ thể vận hành hiệu quả trong môi trường pháp quyền hiện đại, bộ máy hành
chính gọn nhẹ, năng động.
- Phát triển kinh tế gắn liền với mở rộng dân chủ, phát huy quyền làm chủ của nhân dân, tăng cường
kỷ cương, minh bạch hóa quản trị.
Bài học rút ra:
- Đổi mới không chỉ câu chuyện của kinh tế, cần đi đôi với đổi mới duy quản trị, xây dựng
nhà nước pháp quyền hội chủ nghĩa.
9
-
Cần đẩy mạnh cải cách hành chính, nâng cao hiệu lực hiệu quả quản nhà nước.
- Tăng cường dân chủ trong Đảng ngoài hội, phát huy vai trò giám sát của nhân dân các tổ
chức chính trị - hội
Liên hệ bản thân:
- sinh viên trong thời đại đổi mới, em nhận thức rằng phát triển kinh tế muốn bền vững thì không
thể tách rời môi trường chính trị ổn định, dân chủ minh bạch. Đổi mới duy không chỉ đổi
mới trong cách học hay khởi nghiệp, còn thay đổi nhận thức về vai trò của bản thân trong
hội pháp quyền.
- vậy, em luôn cố gắng vừa trau dồi kỹ năng chuyên môn để thích ứng với thị trường lao động, vừa
rèn luyện ý thức công dân tôn trọng pháp luật, chủ động tham gia các hoạt động tập thể, đóng góp
ý kiến xây dựng môi trường học đường công bằng, dân chủ.
- Đặc biệt, em hiểu rằng việc lan tỏa tinh thần minh bạch, phản biện văn hóa trên không gian mạng
một phần của việc thúc đẩy sự tiến bộ chính trị giúp tạo ra một hội dân chủ, lắng nghe cải
tiến liên tục. Đó cũng chính cách thế hệ trẻ chúng em đóng góp vào công cuộc đổi mới toàn
diện của đất nước.
2. Xây dựng nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, vận hành theo chế thị trường
Đây bước đột phá quan trọng trong duy kinh tế thời kỳ đổi mới. T hình bao cấp cứng nhắc,
Đảng đã xác định phát triển nền kinh tế nhiều thành phần: nhà nước, tư nhân, tập thể, thể, vốn đầu
nước ngoài, cùng vận hành theo chế thị trường, nhưng vẫn đặt dưới sự định hướng hội chủ nghĩa.
Ý nghĩa:
- chế thị trường giúp phân bổ nguồn lực hiệu quả, thúc đẩy cạnh tranh, tăng năng suất lao động.
- Nhà nước giữ vai trò định hướng, điều tiết, khắc phục khuyết tật thị trường, đảm bảo công bằng
hội, không để xảy ra cực đoan kinh tế.
Bài học rút ra:
- Không phân biệt đối xử giữa các thành phần kinh tế, tạo môi trường cạnh tranh lành mạnh.
- Tăng cường thể chế hóa vai trò điều tiết của nhà nước, nâng cao chất lượng chính sách công.
- Không để thị trường tự phát dẫn đến bất nh đẳng, phân hóa giàu nghèo, hay phá vỡ định hướng
XHCN.
Liên hệ bản thân:
- sinh viên, em nhận thức rằng nền kinh tế thị trường định hướng hội chủ nghĩa đã đang
mở ra nhiều hội cho thế hệ trẻ: từ khởi nghiệp nhân, phát triển kinh tế số đến việc tiếp cận các
nguồn lực hình kinh doanh hiện đại.
- Tuy nhiên, em cũng hiểu rằng nền kinh tế thị trường không đồng nghĩa với tự do tuyệt đối. Trong
môi trường cạnh tranh, mỗi nhân không chỉ cần trang bị kiến thức chuyên môn, kỹ năng mềm,
còn phải đạo đức nghề nghiệp, tuân thủ pháp luật biết cân bằng giữa lợi ích nhân với lợi ích
cộng đồng.
- Em đặc biệt quan tâm đến vai trò của Nhà nước trong việc điều tiết thị trường để không xảy ra
những lệch lạc như độc quyền, đầu hay bất bình đẳng. Bản thân em luôn cố gắng hiểu chính
10
-
sách kinh tế, luật pháp liên quan đến lao động, khởi nghiệp, đầu tư… để thể hành động đúng đắn
trách nhiệm trong tương lai.
Em tin rằng, trong một nền kinh tế đa thành phần, mỗi người cần tôn trọng sự khác biệt, biết hợp tác
cùng phát triển, thay cạnh tranh tiêu cực. Sự trưởng thành trong duy thị trường chính chìa
khóa để thế hệ trẻ đóng góp hiệu quả hơn cho s phát triển bền vững của đất nước.
2. Mở rộng, tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân tộc, phát huy sức mạnh dân tộc
Từ cách mạng giải phóng dân tộc đến công cuộc đổi mới, một bài học xuyên suốt sức mạnh của
khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Trong điều kiện kinh tế thị trường với nhiều biến động hội, việc củng cố
khối đoàn kết lại càng trở nên cấp thiết.
Ý nghĩa:
- Đoàn kết điều kiện tiên quyết để tạo đồng thuận hội, huy động mọi nguồn lực cho phát triển.
- Nhân dân không chỉ đối tượng thụ hưởng còn chủ thể của công cuộc đổi mới, người sáng tạo
giám sát.
Bài học rút ra:
- Cần chăm lo đến lợi ích thiết thực, đời sống vật chất tinh thần của người dân, đặc biệt các nhóm
yếu thế.
- Phát huy vai trò của Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể chính trị - hội trong việc kết nối nhân dân với
Đảng.
- Coi trọng chính sách dân tộc, tôn giáo, vùng sâu vùng xa, bảo đảm sự phát triển bao trùm công
bằng.
Liên hệ bản thân:
- một công dân trẻ trong thời kỳ hội nhập đổi mới, em luôn nhận thức sâu sắc rằng đoàn kết
không chỉ khẩu hiệu, nền tảng để tạo nên sức mạnh tập thể, khơi dậy tinh thần chia sẻ, tương
trợ phát triển bền vững.
- Trong môi trường học tập sinh hoạt hàng ngày, em luôn đề cao tinh thần hợp tác nhóm, tôn trọng
sự khác biệt, sẵn sàng hỗ trợ bạn không phân biệt hoàn cảnh, vùng miền hay điều kiện xuất thân.
Em hiểu rằng chỉ khi mỗi nhân cảm thấy được tôn trọng hòa nhập, tập thể mới thể phát huy
hết tiềm năng của mình.
- Ngoài ra, em chủ động tham gia các hoạt động đoàn thể, thiện nguyện, kết nối cộng đồng, như gây
quỹ ủng hộ người yếu thế, giúp đỡ trẻ em vùng sâu vùng xa, hay tham gia chương trình tiếp sức mùa
thi. Đây không chỉ là trách nhiệm hội, còn hội để lan tỏa giá trị của lòng nhân ái tinh
thần đại đoàn kết.
- Trong thời đại số, khi hội ngày càng đa dạng phức tạp, em cũng chú ý đến tinh thần đoàn kết
trên không gian mạng cụ thể lan tỏa năng lượng tích cực, nói không với chia rẽ, phân biệt hay kỳ
thị dưới bất kỳ hình thức nào. Em tin rằng mỗi hành động tử tế, mỗi tiếng nói văn minh đều góp phần
làm giàu thêm khối đại đoàn kết toàn dân tộc, từ thực tế đời sống cho đến không gian số.
2. Mở rộng hợp tác quốc tế, tranh thủ sự đồng tình giúp đ của nhân dân thế giới
11
-
Bài học này phản ánh sự thay đổi căn bản trong duy đối ngoại: từ khép kín sang chủ động hội
nhập, từ đối đầu sang hợp tác, từ phụ thuộc sang bình đẳng chọn lọc.
Ý nghĩa:
Toàn cầu hóa vừa thách thức, vừa hội để Việt Nam tiếp cận công nghệ, vốn, tri thức thị
trường quốc tế.
- Hội nhập quốc tế giúp khẳng định vị thế Việt Nam, mở rộng ngoại giao nhân dân, nâng cao ảnh
hưởng trên trường quốc tế.
Bài học rút ra:
- Cần chiến lược hội nhập chủ động, sâu rộng, hiệu quả bền vững, trên nguyên tắc “bình đẳng,
cùng lợi, tôn trọng lẫn nhau”.
- Tranh thủ tối đa sự ủng hộ quốc tế, đồng thời bảo vệ lợi ích quốc gia, giữ n bản sắc văn hóa độc
lập tự chủ.
- Kết hợp giữa ngoại giao Nhà nước, ngoại giao Đảng ngoại giao nhân dân để mở rộng mạng lưới
bạn quốc tế
Liên hệ bản thân:
- một công dân trong thời đại hội nhập, em luôn ý thức được rằng thế giới đang thay đổi nhanh
chóng, chỉ khi trang bị đầy đủ tri thức, kỹ năng bản lĩnh, mỗi người mới thể thích nghi
phát triển bền vững. vậy, em chủ động học ngoại ngữ, rèn luyện duy phản biện, cập nhật kiến
thức quốc tế công nghệ mới để sẵn sàng bước vào môi trường toàn cầu hóa đầy cạnh tranh nhưng
cũng nhiều hội.
- Em cũng tích cực tham gia các hoạt động giao lưu văn hóa, học thuật tình nguyện yếu t quốc
tế nhằm mở rộng tầm nhìn, học hỏi tinh hoa nhân loại, đồng thời trau dồi khả năng làm việc trong
môi trường đa văn hóa.
- Tuy nhiên, em hiểu rằng hội nhập không nghĩa đánh mất mình. Trong mọi hành vi giao tiếp
hợp tác quốc tế:
+ Em luôn cố gắng giữ gìn quảng những giá trị truyền thống của dân tộc từ lối sống, ứng
xử đến trang phục, ngôn ngữ, ẩm thực. Em tin rằng khi mỗi người trẻ mang trong mình tinh
thần yêu nước, hiểu biết văn hóa duy cởi mở thì chính đang góp phần xây dựng một
hình ảnh Việt Nam hiện đại, năng động nhưng giàu bản sắc trên trường quốc tế.
- Bên cạnh đó, em cũng nhận thức trách nhiệm công dân trong việc bảo vệ lợi ích quốc gia trong
bối cảnh toàn cầu hóa.
+ Em phản đối những hành vi tuyên truyền sai lệch, lợi dụng hội nhập để xâm hại độc lập dân
tộc chủ quyền quốc gia. Em tin rằng, chỉ khi biết kết hợp hài hòa giữa “tư duy toàn cầu”
“trách nhiệm dân tộc”, mỗi người Việt Nam mới thực sự trở thành cầu nối đưa đất nước
tiến gần hơn đến bạn năm châu.
2. Tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng, coi xây dựng Đảng nhiệm vụ then chốt
Đảng muốn đổi mới đất nước thì trước hết phải t đổi mới chính mình. Một Đảng cầm quyền muốn
được nhân dân tin tưởng đi theo thì phải trong sạch, tiên phong, gắn máu thịt với dân.
Ý nghĩa:
12
-
- Việc xây dựng Đảng then chốt mọi chủ trương, chính sách đều xuất phát t s lãnh đạo của
Đảng.
- Suy thoái đạo đức, quan liêu, tham nhũng nếu không được ngăn chặn sẽ làm xói mòn niềm tin của
nhân dân, cản trở đổi mới.
Bài học rút ra:
Xây dựng Đảng toàn diện về tưởng, đạo đức, tổ chức cán bộ.
- Tăng cường công tác chống tham nhũng, tiêu cực, kiểm tra, giám sát nội bộ.
- Đẩy mạnh tự phê bình phê bình, thực hiện nghiêm các nguyên tắc tổ chức Đảng, xây dựng Đảng
vững mạnh từ gốc cấp sở.
Liên hệ bản thân:
- một đoàn viên trẻ, em nhận thức rằng vai trò lãnh đạo của Đảng nền tảng quyết định mọi
thành công của công cuộc đổi mới phát triển đất nước. vậy, em luôn tự giác rèn luyện phẩm
chất đạo đức, nâng cao trình độ nhận thức chính trị, giữ gìn sự trong sạch phẩm chất cách mạng
trong từng suy nghĩ, hành động của mình.
- Em kiên quyết tránh xa mọi biểu hiện tiêu cực như gian lận trong học tập, thiếu trung thực hay lợi
dụng vị trí, chức vụ để trục lợi nhân. Đồng thời, em tích cực học tập tuân thủ nghiêm túc các
quy định, nội quy của tổ chức, luôn giữ tinh thần kỷ luật trách nhiệm cao trong mọi công việc
được giao.
- Bên cạnh đó, em chủ động thực hành t phê bình phê bình một cách chân thành, thẳng thắn nhận
ra hạn chế của bản thân cố gắng khắc phục để không ngừng hoàn thiện. Em cũng tích cực tham
gia các hoạt động đoàn thể, phong trào thanh niên, góp phần xây dựng tập thể vững mạnh, tạo môi
trường đoàn kết, lành mạnh sáng tạo.
- Em tin rằng, chỉ khi mỗi nhân trong tổ chức đều ý thức trách nhiệm tự đổi mới, gương mẫu
tiên phong thì Đảng mới thực sự trong sạch, vững mạnh, được nhân dân tin yêu đồng thuận. Từ
đó, mới thể lãnh đạo đất nước phát triển bền vững hội nhập sâu rộng với thế giới.
Câu 05: 06 quan điểm về Công nghiệp hóa tại Đại hội VIII
1. Giữ vững độc lập tự chủ đi đôi với mở rộng hợp tác quốc tế, đa phương hoá, đa dạng hoá quan hệ đối
ngoại. Dựa vào nguồn lực trong nước chính đi đôi với tranh thủ tối đa nguồn lực bên ngoài.
Ý nghĩa:
- Quan điểm này thể hiện sự chuyển mình mạnh mẽ trong duy phát triển kinh tế của Đảng, khẳng
định tầm quan trọng của việc duy trì độc lập chủ quyền, không bị phụ thuộc nhưng vẫn phải chủ
động hội nhập sâu rộng vào nền kinh tế thế giới. Việc kết hợp hài hòa nguồn lực trong nước (nội lực)
nguồn lực bên ngoài (ngoại lực) chìa khóa để phát triển bền vững.
- Đặc biệt, việc định hướng xây dựng đánh dấu sự thaynền kinh tế mở, hướng mạnh về xuất khẩu
đổi căn bản từ hình kinh tế khép kín, tập trung vào thay thế nhập khẩu trước đây. Điều này m ra
hội lớn cho hàng hóa Việt Nam vươn ra thị trường quốc tế, đồng thời tạo sức ép cạnh tranh để
nâng cao chất lượng sản phẩm trong nước.
Bài học rút ra:
13
-
- Tầm quan trọng của hội nhập: Hội nhập quốc tế xu thế tất yếu động lực quan trọng để thúc
đẩy CNH, hiện đại hóa.
- Phát huy nội lực: Nguồn lực trong nước, đặc biệt nguồn lực con người, luôn yếu tố quyết định
cho sự phát triển bền vững.
- Linh hoạt trong chính sách: Cần sự linh hoạt trong việc kết hợp các chiến lược phát triển (thay
thế nhập khẩu hướng về xuất khẩu) để đạt hiệu quả cao nhất.
Liên hệ bản thân:
sinh viên trong thời đại hội nhập, em nhận thức tầm quan trọng của việc phát huy nội lực bản
thân (kiến thức nền tảng, kỹ năng chuyên môn) đồng thời không ngừng mở rộng mối quan hệ học
hỏi từ các nền văn hóa, tri thức toàn cầu.
- Em luôn chủ động tìm kiếm hội tham gia các chương trình trao đổi sinh viên, dự án quốc tế hoặc
tìm hiểu sâu về các nền kinh tế khác, không chỉ để nâng cao năng lực còn để phát huy tinh thần
chủ động, thích nghi trong một thế giới phẳng, hướng tới mục tiêu trở thành công dân toàn cầu
đóng góp.
2. CNH, HĐH sự nghiệp của toàn dân, của mọi thành phần kinh tế, trong đó kinh tế nhà nước giữ vai
trò chủ đạo.
Ý nghĩa:
- Quan điểm này khẳng định tính toàn diện bao trùm của công cuộc CNH, hiện đại hóa. không
chỉ nhiệm vụ của Đảng Nhà nước trách nhiệm quyền lợi của mọi tầng lớp nhân dân,
mọi thành phần kinh tế, từ doanh nghiệp nhà nước, nhân, đến hợp tác các hộ kinh doanh
thể.
- Việc nhấn mạnh vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước cho thấy sự định hướng kiểm soát của
Nhà nước trong quá trình phát triển, đảm bảo định hướng hội chủ nghĩa sự công bằng.
Bài học rút ra:
- Sức mạnh của sự đồng thuận: CNH, hiện đại hóa chỉ thành công khi sự tham gia ủng hộ của
toàn dân.
- Khuyến khích mọi thành phần kinh tế: Tạo môi trường thuận lợi để mọi thành phần kinh tế phát
triển đóng góp vào quá trình CNH.
- Vai trò điều tiết của Nhà nước: Nhà nước cần phát huy vai trò định hướng, điều tiết để đảm bảo sự
phát triển hài hòa, bền vững công bằng hội.
Liên hệ bản thân:
- Em hiểu rằng CNH, HĐH không chỉ trách nhiệm của nhà nước hay doanh nghiệp lớn, của
toàn hội, trong đó cả sinh viên. vậy, em không ngừng trau dồi kiến thức chuyên môn để sau
này thể đóng góp vào các thành phần kinh tế khác nhau, trong khối nhà nước, nhân hay tự
khởi nghiệp.
- Em cũng luôn ý thức được vai trò của nh trong việc xây dựng một môi trường học đường
hội năng động, nơi mọi người đều được khuyến khích phát huy năng lực để cùng nhau phát triển.
3. Lấy phát huy nguồn lực con người làm yếu tố bản cho sự phát triển nhanh bền vững.
Ý nghĩa:
14
-
- Quan điểm này thể hiện sự nhân văn tầm nhìn bền vững trong chiến lược CNH, hiện đại hóa.
khẳng định rằng con người trung m yếu tố quyết định nhất cho sự phát triển.
- Việc nhấn mạnh tinh thần cần kiệm tăng tích lũy thể hiện sự coi trọng nội lực khả năng tự chủ
tài chính. Đồng thời, quan điểm này cũng chỉ mục tiêu cuối cùng của tăng trưởng kinh tế là nâng
cao đời sống nhân dân, phát triển các lĩnh vực văn hóa, giáo dục, đảm bảo tiến bộ, công bằng hội
bảo vệ môi trường, tránh sự tăng trưởng bằng mọi giá.
Bài học rút ra:
Đầu vào con người: Giáo dục, đào tạo phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao ưu tiên hàng
đầu.
- Phát triển bền vững: Tăng trưởng kinh tế phải đi đôi với các mục tiêu hội môi trường.
- Giá trị của cần kiệm: Thực hành tiết kiệm, tăng tích lũy nền tảng cho sự phát triển lâu dài.
Liên hệ bản thân:
- Em nhận thức con người trung tâm của mọi sự phát triển. Với cách một sinh viên, em ưu
tiên việc đầu vào tri thức kỹ năng bản thân đó nguồn lực quý giá nhất.
- Em cũng tập thói quen cần kiệm trong chi tiêu, biết quản tài chính nhân để thể tích lũy
đầu cho tương lai, cả về vật chất lẫn tinh thần.
- Đồng thời, em luôn hướng tới sự phát triển toàn diện, quan tâm đến các vấn đề hội, văn hóa, giáo
dục bảo vệ môi trường, tin rằng sự tiến bộ không thể tách rời từ trách nhiệm hội.
4. Khoa học công nghệ động lực của CNH, HĐH. Kết hợp công nghệ truyền thống với công nghệ
hiện đại; tranh thủ đi nhanh vào hiện đại những khâu quyết định.
Ý nghĩa:
- khẳng định vai trò then chốt của khoa học công nghệ (KH&CN) trong việc thúc đẩy quá trình
CNH, hiện đại hóa.
- cho thấy nhận thức rằng để rút ngắn khoảng cách phát triển với các nước tiên tiến, Việt Nam cần
phải đi tắt đón đầu, tập trung vào những khâu quyết định ứng dụng công nghệ hiện đại.
- Đồng thời, việc kết hợp với công nghệ truyền thống cho thấy s linh hoạt tận dụng tối đa những
lợi thế sẵn có.
Bài học rút ra:
- Ưu tiên phát triển KH&CN: Đầu mạnh mẽ vào nghiên cứu, ứng dụng chuyển giao công nghệ.
- Chủ động tiếp cận công nghệ mới: Không ngừng cập nhật ứng dụng các thành tựu khoa học kỹ
thuật tiên tiến của thế giới.
- Tận dụng công nghệ hiện có: Phát huy cải tiến các công nghệ truyền thống để phù hợp với bối
cảnh mới.
Liên hệ bản thân:
- Trong bối cảnh cách mạng công nghiệp 4.0, em hiểu rằng khoa học công nghệ chính chìa khóa.
Em luôn chủ động tìm hiểu cập nhật các công nghệ mới trong lĩnh vực của mình, đồng thời không
ngừng rèn luyện duy phản biện, khả năng tự học để thể nhanh chóng làm chủ ứng dụng
những kiến thức, công cụ hiện đại.
15
-
- Em cũng tin rằng việc biết kết hợp những giá trị truyền thống với công nghệ tiên tiến sẽ giúp em tạo
ra những giải pháp sáng tạo, mang lại hiệu quả cao hơn trong học tập công việc.
5. Lấy hiệu quả kinh tế hội làm tiêu chuẩn bản để xác định phương án phát triển, lựa chọn dự án
đầu công nghệ.
Ý nghĩa:
- Nhấn mạnh tính thực tiễn, hiệu quả công bằng trong việc ra quyết định đầu phát triển. Việc
lấy hiệu quả kinh tế hội làm tiêu chuẩn cho thấy sự cân bằng giữa mục tiêu tăng trưởng kinh tế
lợi ích hội.
Sự ưu tiên cho đầu chiều sâu, khai thác tối đa năng lực hiện cho thấy chiến lược tận dụng hiệu
quả nguồn lực.
- Đồng thời, việc chú trọng các dự án quy mô vừa nhỏ, công nghệ tiên tiến, tạo nhiều việc làm, thu
hồi vốn nhanh thể hiện sự linh hoạt, phù hợp với điều kiện của Việt Nam, trong khi vẫn không bỏ
qua các công trình quy lớn tính chiến lược.
- Quan điểm này cũng thể hiện sự quan tâm đến phát triển đồng đều giữa các vùng miền, chính sách
hỗ trợ vùng khó khăn để không ai bị bỏ lại phía sau.
Bài học rút ra:
- Hiệu quả tiêu chí hàng đầu: Mọi quyết định đầu tư, phát triển phải hướng tới hiệu quả kinh tế
hội tối ưu.
- Linh hoạt trong quy đầu tư: Kết hợp các dự án lớn, chiến lược với các dự án vừa nhỏ, mang
lại hiệu quả nhanh chóng tạo việc làm.
- Phát triển hài hòa công bằng: Quan tâm đến sự phát triển của mọi vùng miền, đặc biệt các vùng
khó khăn.
Liên hệ bản thân:
- Khi tham gia các dự án nhóm, hoạt động ngoại khóa hay thậm chí lựa chọn môn học, em luôn đặt
yếu tố hiệu quả kinh tế hội lên hàng đầu. Em cố gắng tìm kiếm những cách làm sáng tạo, tối ưu
hóa nguồn lực sẵn để đạt được kết quả tốt nhất.
- Em cũng quan tâm đến các giải pháp thể mang lại lợi ích cho nhiều người, đặc biệt những đối
tượng cần hỗ trợ, đồng thời tập trung phát triển những năng lực cốt lõi, "mũi nhọn" của bản thân để
tạo ra giá trị bền vững cho cộng đồng.
6. Kết hợp kinh tế với quốc phòng an ninh.
Ý nghĩa:
- Thể hiện sự nhận thức sâu sắc về mối quan hệ biện chứng giữa phát triển kinh tế đảm bảo quốc
phòng an ninh.
- Một nền kinh tế mạnh tiền đề để xây dựng tiềm lực quốc phòng vững chắc, ngược lại, một môi
trường quốc phòng an ninh ổn định, vững mạnh sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho phát triển kinh tế.
- Đây sự kết hợp hai nhiệm vụ chiến lược của cách mạng Việt Nam, đảm bảo sự phát triển hài hòa
bền vững.
Bài học rút ra:
16
-
- An ninh nền tảng: Không thể sự phát triển kinh tế bền vững nếu không môi trường quốc
phòng, an ninh ổn định.
- Kinh tế sức mạnh: Phát triển kinh tế cách tốt nhất để củng cố tiềm lực quốc phòng.
- Phối hợp chặt chẽ: Cần sự phối hợp đồng bộ giữa các chiến lược kinh tế quốc phòng, an ninh.
Liên hệ bản thân:
- một công dân trẻ, em nhận thức rằng phát triển kinh tế bền vững không thể tách rời một môi
trường chính trị ổn định, dân chủ minh bạch.
- Em luôn cố gắng vừa trau dồi kỹ năng chuyên môn để thích ứng với thị trường lao động, vừa rèn
luyện ý thức công dân tôn trọng pháp luật, chủ động tham gia các hoạt động tập thể, đóng góp ý
kiến xây dựng môi trường học đường công bằng, dân chủ.
Đặc biệt, em hiểu rằng việc lan tỏa tinh thần minh bạch, phản biện văn hóa trên không gian mạng
một phần của việc thúc đẩy sự tiến bộ chính trị giúp tạo ra một hội dân chủ, lắng nghe cải
tiến liên tục. Đó cũng chính cách thế hệ trẻ chúng em đóng góp vào công cuộc đổi mới toàn
diện của đất nước, đảm bảo c phát triển an ninh.
Câu 06: Quan điểm của Đảng về khơi dậy khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc
trong kỷ nguyên mới
Sau năm 1975, Đảng tiếp tục lãnh đạo xây dựng chủ nghĩa hội trong thời kỳ đổi mới, không ngừng bổ
sung, phát triển luận về chủ nghĩa hội con đường đi lên chủ nghĩa hội, nhằm hiện thực hóa khát
vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc, sánh vai với các nước.
1. Xác định mục tiêu thực hiện khát vọng
- Mục tiêu xuyên suốt: Khát vọng độc lập dân tộc gắn với chủ nghĩa hội hướng tới xây dựng một
hội "dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh" do nhân dân làm chủ, nền kinh tế
phát triển cao, văn hóa tiên tiến, con người ấm no, hạnh phúc, Nhà nước pháp quyền hội chủ
nghĩa vững mạnh.
- Mục tiêu qua các kỳ Đại hội: Từ Đại hội VI đến Đại hội XII, các mục tiêu cụ thể đã được xác định
qua từng giai đoạn nhằm ổn định kinh tế - hội, vượt qua khủng hoảng, đẩy mạnh công nghiệp hóa,
hiện đại hóa, nâng cao đời sống nhân dân.
- Tầm cao mới tại Đại hội XIII: Đại hội XIII khơi dậy khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh
phúc tầm cao mới, nhấn mạnh sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc mục tiêu Việt Nam trở thành
nước phát triển, theo định hướng hội chủ nghĩa vào giữa thế kỷ XXI.
- Lộ trình cụ thể: Khát vọng được cụ thể hóa bằng các mốc thời gian ràng: vượt thu nhập trung
bình thấp vào năm 2025, thu nhập trung bình cao vào năm 2030, trở thành nước phát triển, thu
nhập cao vào năm 2045.
- Bản chất động lực: Khát vọng này hướng tới sự phát triển con người, không phải lợi nhuận,
động lực mạnh mẽ để đất nước bước vào kỷ nguyên vươn mình mới.
2. Xây dựng, phát huy vai trò của hệ thống chính trị
- Đối với Đảng: Tập trung xây dựng, chỉnh đốn Đảng toàn diện, nâng cao bản lĩnh, trí tuệ, xây
dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên gương mẫu, năng lực, dám chịu trách nhiệm.
- Đối với Nhà nước: Xây dựng Nhà nước pháp quyền hội chủ nghĩa trong sạch, vững mạnh, hiệu
lực, hiệu quả, tăng cường công khai, minh bạch, kiểm soát quyền lực đẩy mạnh phòng, chống
tham nhũng, lãng phí.
17
-
- Đối với Mặt trận Tổ quốc các tổ chức chính trị - hội: Đổi mới, nâng cao hiệu quả tập hợp
quần chúng, phát huy khối đại đoàn kết toàn dân tộc, góp phần xây dựng bảo vệ đất nước.
3. Phát huy vai trò, sức mạnh của các lực lượng hội
- Giai cấp công nhân: Xây dựng giai cấp công nhân hiện đại, lớn mạnh về chất lượng, bản lĩnh chính
trị kỹ năng, thích ứng với Cách mạng công nghiệp 4.0.
- Giai cấp nông dân: Chú trọng xây dựng nông dân phát triển toàn diện, trình độ, nếp sống văn
minh, khát vọng xây dựng quê hương phồn vinh.
- T thức: Phát triển đội ngũ trí thức chất lượng cao, chế đột phá thu hút, trọng dụng nhân tài,
phát huy tự do tưởng, học thuật trong nghiên cứu khoa học.
- Doanh nhân: Phát triển đội ngũ doanh nhân lớn mạnh về số lượng chất lượng, tinh thần cống
hiến, chuẩn mực văn hóa, đạo đức, trình độ quản trị giỏi, thúc đẩy khởi nghiệp thực hiện trách
nhiệm hội.
- Thanh niên: Tăng cường giáo dục tưởng cách mạng, đạo đức, lối sống, tạo môi trường thuận lợi
để thanh niên phát triển toàn diện xung kích trong học tập, lao động sáng tạo.
Các tôn giáo: Phát huy những giá trị văn hóa, đạo đức tốt đẹp các nguồn lực của các tôn giáo,
đồng thời nâng cao hiệu quả quản nhà ớc về công tác tôn giáo để đóng góp vào sự phát triển đất
nước.
Tổng hợp về các Đại hội
Đại hội Phương châm Nội dung tiêu biểu
IV (1975-1981) Đại hội toàn thắng của sự nghiệp giải
phóng dân tộc, thống nhất nước nhà, cả
nước tiến lên xây dựng CNXH.
1 bước đột phá kte đầu tiên
chế KH hóa trong quản KT 2
cuộc chiến bảo vệ tổ quốc
V (1982-1986) Các bước đột phá tiếp tục đổi mới trong
kinh tế
2 quan điểm mới, 2 NV chiến lược,
thay đổi trong Nội dung CNH
2 bước đột phá kte tiếp theo
Tổng kết 10 năm: 3 thành tựu nổi vật 4 khuyết điểm bản
VI (1986-1991) Khởi xướng sự nghiệp đổi mới đất nước,
thực hiện đường lối đổi mới toàn diện
Rút ra 04 bài học quý báu (còn giá trị
đến hôm nay)
VII (1991-1996) Tiếp tục nhiệm vụ đưa đất nước đi theo con
đường đổi mới, kiên định mục tiêu độc lập
dân tộc CNXH
Cương lĩnh 1991
5 bài học, 6 đặc trưng, 7 phương hướng
Lần đầu tiên Chiến lược 10 m
VIII (1996-2001)
Bước đầu thực hiện công cuộc đẩy mạnh
CNH - HĐH
06 bài học qua 10 năm đổi mới
06 quan điểm về CNH
IX (2001-2006) Tiếp tục thực hiện công cuộc đẩy mạnh
CNH - HĐH
Trong đối ngoại, chuyển qua: VN sẵn
sàng bạn, đối tác tin cậy
X (2006-2011)
XI (2011-2016)
Cương lĩnh 2021, bổ sung phát triển
Chiến lược phát triển KT-XH 2011-
18
-
2020, gồm: 5 quan điểm phát triển, 3
đột phá chiến lược
XII (2016-2021) Tiếp tục đẩy mạnh toàn diện, đồng bộ công
cuộc đổi mới, tích cực, chủ động hội nhập
quốc tế
VN bạn, đối tác tin cậy, thành
viên trách nhiệm
=> VN trong các vấn đề liên quan đến
độc lập chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ
XIII (2021-2026) Chủ đề đại hội: Khơi dậy khát vọng
phát triển đất nước
19
20

Preview text:


Câu 1: Phân tích yếu tố thời của CMT 8 1
Câu 2: Tại sao lại nhận định “Đổi mới hay chết” 3
Câu 3: Phân tích 4 bài học 1986 4
Câu 4: 6 bài học 1996 8
Câu 05: 06 quan điểm về Công nghiệp hóa tại Đại hội VIII 13
Câu 06: Quan điểm của Đảng về khơi dậy khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc trong
kỷ nguyên mới 17
Tổng hợp về các Đại hội 18
Câu 1: Phân tích yếu tố thời của CMT8
"Thời cách mạng Bài học từ Cách mạng Tháng Tám năm 1945 giá trị vận dụng trong
thời đại Cách mạng công nghiệp lần thứ tư"
Cuộc Cách mạng Tháng Tám năm 1945 là một trong những minh chứng tiêu biểu nhất về việc nhận
diện chính xác và hành động kịp thời theo thời cơ của một cuộc cách mạng giải phóng dân tộc. Thời cơ cách
mạng ở đây không phải tự nhiên mà có, mà là kết quả của quá trình phân tích lý luận sắc bén, vận dụng linh
hoạt chủ nghĩa Mác – Lê-nin, đồng thời rút ra từ thực tiễn đấu tranh cách mạng lâu dài và gian khổ của nhân
dân Việt Nam. Cụ thể, thời cơ được hình thành bởi bốn yếu tố then chốt sau:
1. Kẻ thù mất phương hướng Khoảng trống quyền lực từ sự sụp đổ của phát xít Nhật
Giữa tháng 8-1945, phát xít Nhật chính thức tuyên bố đầu hàng vô điều kiện Đồng minh, dẫn đến sự
sụp đổ hoàn toàn của bộ máy thống trị quân sự – chính trị mà chúng dựng lên ở Đông Dương. Quân Nhật ở
Việt Nam hoang mang, mất tinh thần chiến đấu; bộ máy chính quyền tay sai bị tê liệt, hỗn loạn. Tình trạng
“vô chính phủ” ở nhiều nơi đã tạo ra khoảng trống quyền lực lớn, chưa có lực lượng quốc tế hoặc phản cách
mạng nào kịp thời lấp đầy. Đây là điều kiện khách quan cực kỳ thuận lợi để lực lượng cách mạng vươn lên giành chính quyền.
2. Quần chúng nhân dân sẵn sàng nổi dậy Sức mạnh bùng phát từ dưới lên
Trải qua gần một thế kỷ bị đô hộ, đặc biệt là dưới sự cai trị tàn bạo của phát xít Nhật trong thời kỳ
chiến tranh, nhân dân Việt Nam lâm vào cảnh đói khổ cùng cực, tiêu biểu là nạn đói năm 1945 cướp đi sinh
mạng của hơn 2 triệu người. Từ nỗi đau đó, ý chí đấu tranh bùng lên mãnh liệt. Dưới sự giác ngộ và tổ chức
của Việt Minh, các tầng lớp nhân dân đã sẵn sàng tham gia khởi nghĩa. Cao trào kháng Nhật, phá kho thóc
cứu đói, biểu tình đòi chính quyền… nổ ra ở nhiều nơi, cho thấy tâm thế cách mạng trong dân đã chín muồi,
chỉ còn chờ hiệu lệnh hành động.
3. Lực lượng cách mạng được chuẩn bị chu đáo Chủ động tạo thế lực
Yếu tố thời cơ sẽ không có ý nghĩa nếu thiếu sự chuẩn bị kỹ lưỡng về lực lượng. Trước thời điểm
Nhật đầu hàng, Đảng Cộng sản Việt Nam đã có kế hoạch chiến lược rõ ràng, tổ chức lực lượng rộng khắp, bao gồm: 1 +
Mặt trận Việt Minh phát triển mạnh mẽ, tập hợp được đông đảo các tầng lớp nhân dân. +
Lực lượng vũ trang, từ các đội du kích địa phương đến Việt Nam Giải phóng quân, đã hoạt động tích
cực và mở rộng vùng căn cứ.
+ Hệ thống chính quyền cách mạng lâm thời, đặc biệt tại các vùng căn cứ như Cao – Bắc – Lạng và
chiến khu Việt Bắc, đã hình thành. +
Mặt trận văn hóa tư tưởng: đẩy mạnh hoạt động tuyên truyền đường lối cứu nước , chủ trương chính
sách Đảng, nhiều tờ báo ra đời và hoạt động sôi nổi, sự thành lập Hội văn hóa cứu quốc
Đặc biệt, Hội nghị Quân sự cách mạng Bắc Kỳ (15-5-1945) và Hội nghị toàn quốc của Đảng (13-
15/8/1945) đã thống nhất kế hoạch phát động tổng khởi nghĩa, cho thấy sự chủ động về cả tư tưởng và hành
động của lực lượng cách mạng.
4. Kẻ thù mới chưa kịp xuất hiện “Khoảng thời gian vàng” ngắn ngủi
Sau khi Nhật đầu hàng, các lực lượng Đồng minh (Anh, Mỹ, Trung Hoa Dân quốc) chưa kịp kéo
quân vào Việt Nam để giải giáp quân đội Nhật. Trong thời gian ngắn ngủi đó, các nước đế quốc phương Tây
chưa thể can thiệp trực tiếp, trong khi lực lượng phản cách mạng trong nước còn yếu, chưa kịp tổ chức lại.
Đây được gọi là “thời cơ chiến lược mang tính quyết định”, khi thế lực cũ đã sụp đổ, nhưng thế lực mới chưa
kịp thiết lập trật tự. Đảng ta xác định đây là thời điểm không thể bỏ lỡ, nếu chần chừ thì nguy cơ bị dìm trong
máu và bị bóp nghẹt là hoàn toàn có thể xảy ra.
Kết luận phần phân tích
Các yếu tố cấu thành thời cơ trong Cách mạng Tháng Tám không phải là sản phẩm ngẫu nhiên mà là
kết quả của sự kết hợp biện chứng giữa lý luận cách mạng khoa học và thực tiễn đấu tranh kiên cường của
dân tộc Việt Nam. Bài học sâu sắc ở đây là: thời cơ chỉ trở thành động lực cho cách mạng khi có sự chuẩn bị
kỹ lưỡng về tổ chức, lực lượng và phương pháp hành động, đồng thời phải kiên quyết nắm bắt đúng thời
điểm, hành động dứt khoát để tránh bỏ lỡ cơ hội lịch sử. Đây bài học giá trị vượt thời gian, cần được
vận dụng sáng tạo trong mọi hoàn cảnh phát triển đất nước hiện nay.
5. Vận dụng bài học chớp thời trong Cách mạng công nghiệp lần thứ
Ngày nay, Cách mạng công nghiệp 4.0 đang tạo ra một thời cơ mới để Việt Nam bứt phá và phát
triển nhanh, bắt kịp các nước tiên tiến, thông qua:
- Kinh tế số, thương mại điện tử, công nghệ cao: Làm thay đổi cách thức sản xuất, tiêu dùng, tạo ra mô
hình phát triển kinh tế tri thức, nền tảng số.
- Công nghệ giáo dục, y tế, văn hóa - xã hội: Đem lại cơ hội chuyển đổi số toàn diện trong đào tạo
nguồn nhân lực, chăm sóc sức khỏe, bảo tồn văn hóa.
- Tác động tích cực từ đại dịch COVID-19: Được xem là phép thử để Việt Nam ứng dụng công nghệ
vào quản trị xã hội, y tế, giáo dục, sản xuất, thúc đẩy đổi mới sáng tạo.
Tuy nhiên, nắm bắt thời cơ trong bối cảnh 4.0 cũng đòi hỏi bản lĩnh, tầm nhìn chiến lược và quyết
tâm hành động, như tinh thần Tổng khởi nghĩa năm 1945:
Từ bài học lịch sử năm 1945, việc chớp thời cơ trong thời đại số hôm nay cần được cụ thể hóa thành
hành động chiến lược và quyết đoán, với ba yêu cầu cơ bản: 2
- Không chờ đợi thời cơ – Phải chủ động tạo thời cơ; Thời cơ trong Cách mạng 4.0 không đơn thuần
“đến” mà phải được kiến tạo thông qua tầm nhìn, chính sách, đầu tư vào khoa học – công nghệ và
đổi mới sáng tạo. Việt Nam cần chuyển từ tư duy “tiếp nhận công nghệ” sang “sáng tạo công nghệ”,
từ “làm thuê” sang “làm chủ”.
- Chuẩn bị chu đáo – Có nền tảng để hành động khi cơ hội đến: Như Tổng khởi nghĩa năm 1945 đã có
sự chuẩn bị lực lượng từ trước, ngày nay, Việt Nam cũng cần: +
Phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao có kỹ năng số, kỹ năng đổi mới. +
Xây dựng hạ tầng số đồng bộ (5G, cơ sở dữ liệu lớn, nền tảng số quốc gia). +
Cải cách thể chế, luật pháp phù hợp với môi trường công nghệ mới.
- Biết chọn đúng thời điểm để bứt phá – Hành động kịp thời, đúng trọng tâm: Trong bối cảnh cạnh
tranh toàn cầu khốc liệt, ai hành động chậm sẽ tụt lại phía sau. Do đó, Việt Nam cần xác định đúng
thời điểm chuyển đổi mô hình kinh tế, ưu tiên đầu tư công nghệ, lựa chọn đối tác quốc tế chiến lược,
và hỗ trợ doanh nghiệp số hóa toàn diện. Đây là yêu cầu sống còn trong một “cuộc tổng khởi nghĩa
số” giữa thời đại mới.
Câu 2: Tại sao lại nhận định “Đổi mới hay chết”
Khủng hoảng kinh tế - hội: do trực tiếp buộc phải đổi mới
Trước thềm Đại hội VI, đất nước đang rơi vào một cuộc khủng hoảng kinh tế - hội toàn diện
kéo dài. Cơ chế kinh tế kế hoạch hóa tập trung, quan liêu bao cấp bộc lộ những bất cập sâu sắc: sản xuất
đình đốn, lạm phát phi mã, đời sống nhân dân rơi vào cảnh đói nghèo nghiêm trọng. Việt Nam còn bị bao
vây cấm vận, trong khi các nguồn viện trợ từ Liên Xô và Đông Âu dần thu hẹp do các nước này bắt đầu tiến
hành cải tổ. Nội lực kinh tế yếu kém, niềm tin của nhân dân vào triển vọng phát triển bị lung lay. Trên khắp
cả nước, những cuộc “phá rào” tự phát – từ mô hình khoán hộ ở Vĩnh Phúc, phân phối theo giá thỏa thuận ở
Long An, đến cách làm năng động tại TP. Hồ Chí Minh – đã manh nha đặt ra những vấn đề vượt khỏi tư duy cũ kỹ.
Trong khi đó, nhiều quốc gia trên thế giới đang bước vào giai đoạn cải cách, hiện đại hóa và hội
nhập sâu rộng. So với khu vực, Việt Nam bị tụt hậu về cả kinh tế, công nghệ và trình độ quản lý. Trước tình
trạng đó, yêu cầu đổi mới trở thành một nhu cầu tất yếu và cấp bách. Không đổi mới đồng nghĩa với tiếp tục
trì trệ, dẫn đến mất ổn định chính trị và đe dọa sự tồn vong của chế độ.
Sự thất bại của duy nhu cầu đổi mới duy
Nguyên nhân sâu xa của khủng hoảng không chỉ nằm ở điều kiện khách quan, mà còn bắt nguồn từ
tư duy quản lý cứng nhắc, giáo điều, duy ý chí. Nhiều chính sách không phù hợp với thực tiễn như “cấm chợ,
ngăn sông”, không thừa nhận thị trường, không tôn trọng quy luật kinh tế. Điều này khiến sản xuất bị bóp
nghẹt, người dân không được khuyến khích phát huy sáng tạo. 3
Bối cảnh đó đòi hỏi một sự chuyển đổi căn bản về tư duy: từ bao cấp sang thị trường, từ khép kín
sang mở cửa, từ hành chính quan liêu sang năng động, linh hoạt. Chính điều này làm nên tinh thần của nhận
định “Đổi mới hay là chết” – đổi mới không còn là lựa chọn, mà là con đường tất yếu để tồn tại.
Đổi mới một quyết định chính trị dũng cảm tầm nhìn
Chính tại Đại hội VI, lần đầu tiên trong lịch sử cách mạng Việt Nam, Đảng Cộng sản Việt Nam đã
khẳng định chủ trương “Đổi mới toàn diện”, bắt đầu từ kinh tế, tiến tới đổi mới trong quản lý nhà nước,
trong phương thức lãnh đạo, trong giáo dục – y tế – văn hóa. Đổi mới không đơn thuần là sửa chữa, mà là
thay đổi một cách căn bản, từ gốc rễ, dựa trên thực tiễn và vì lợi ích của nhân dân. Đó là bước chuyển từ nền
kinh tế đóng sang mở, từ tập trung sang phân cấp, từ bình quân sang khuyến khích sáng tạo, hiệu quả.
Chính từ quyết sách lịch sử đó, Việt Nam đã từng bước thoát khỏi khủng hoảng, ổn định tình hình,
phát triển kinh tế và hội nhập quốc tế, tạo ra những thành tựu quan trọng mang tính bước ngoặt, đặt nền
móng cho công cuộc phát triển sau này.
Giá trị thời đại tính thời sự của nhận định “Đổi mới hay chết”
Không chỉ mang giá trị lịch sử, nhận định “Đổi mới hay là chết” còn có ý nghĩa thời đại sâu sắc.
Trong bối cảnh thế giới ngày nay đầy biến động, với những thách thức từ cách mạng công nghiệp 4.0, biến
đổi khí hậu, dịch bệnh, xung đột địa chính trị… tư duy đổi mới, tinh thần cải cách và hành động kịp thời vẫn
luôn là yếu tố sống còn để phát triển. Bất kỳ sự tự mãn, bảo thủ hay trì hoãn nào cũng có thể dẫn đến tụt hậu
và mất cơ hội vươn lên.
Câu 3: Phân tích 4 bài học 1986
1. Quán triệt tưởng “Lấy dân làm gốc”
Đại hội VI khẳng định rõ: nhân dân chủ thể của công cuộc đổi mới, là lực lượng sáng tạo, là
nền tảng, là mục tiêu và là động lực cho mọi chủ trương của Đảng và Nhà nước. Đây là sự kế thừa trực tiếp
tư tưởng Hồ Chí Minh, người từng nhấn mạnh rằng:
“Trong bầu trời không gì quý bằng nhân dân. Trong thế giới không gì mạnh bằng lực lượng đoàn kết của nhân dân.”
“Việc gì lợi cho dân thì phải hết sức làm, việc gì hại đến dân thì phải hết sức tránh.”
Theo đó, Đại hội VI không chỉ nhìn nhận nhân dân như một đối tượng hưởng thụ chính sách, mà còn
là chủ thể sáng tạo, tham gia trực tiếp vào tiến trình đổi mới. Mọi chính sách của Đảng từ đó phải xuất phát
từ nguyện vọng, lợi ích và cuộc sống thực tế của nhân dân, thay vì áp đặt một cách duy ý chí từ cấp lãnh đạo.
Ý nghĩa lịch sử thực tiễn Từ sai lầm duy ý chí đến duy lấy dân làm gốc 4
Trước năm 1986, nhiều chính sách kinh tế - xã hội được triển khai theo kiểu “trên bảo dưới nghe”,
thiếu dân chủ, xa rời thực tiễn, dẫn đến hậu quả nghiêm trọng:
- Cơ chế quản lý tập trung, bao cấp khiến đời sống người dân nghèo khổ, sản xuất trì trệ, hàng hóa
khan hiếm, phải phân phối qua tem phiếu.
- Sáng kiến của người dân trong sản xuất, kinh doanh không được khuyến khích, thậm chí bị cấm đoán.
- Sự quan liêu trong bộ máy hành chính làm mất lòng tin của nhân dân, tạo nên khoảng cách lớn giữa Đảng và quần chúng.
Trong bối cảnh đó, việc quán triệt trở lại tư tưởng “Lấy dân làm gốc” tại Đại hội VI là bước chuyển
mang tính đổi mới căn bản về tư duy lãnh đạo. Đây chính là sự trở lại với chân lý cách mạng của Chủ tịch
Hồ Chí Minh – người đã đặt nền móng cho quan điểm "cách mạng là sự nghiệp của quần chúng", và khẳng
định rằng sức mạnh của cách mạng bắt nguồn từ lòng dân.
Thực tiễn sau đổi mới đã chứng minh: khi người dân được trao quyền, được tin tưởng và được
hưởng lợi trực tiếp từ thành quả phát triển, thì năng lực sáng tạo, tinh thần lao động và ý thức làm chủ sẽ
phát huy mạnh mẽ, trở thành động lực quan trọng thúc đẩy phát triển toàn diện.
Bài học rút ra duy dân chủ, hành động dân cùng dân
Tư tưởng “Lấy dân làm gốc” không chỉ là khẩu hiệu mang tính đạo lý, mà cần phải được thể chế hóa
bằng hành động cụ thể trong quản lý nhà nước và lãnh đạo xã hội. Từ bài học lịch sử và thực tiễn, có thể rút
ra nhiều nguyên tắc quan trọng: -
Mọi quyết sách phải xuất phát từ cuộc sống nguyện vọng của nhân dân: Tránh xa tư duy áp
đặt “trên xuống”, coi người dân chỉ là người thụ hưởng chính sách; Phải lấy khảo sát xã hội, điều tra
cơ sở, lắng nghe ý kiến nhân dân làm nền tảng cho xây dựng chiến lược phát triển.; Đổi mới quản trị
quốc gia theo hướng “chính phủ kiến tạo, liêm chính, hành động, phục vụ nhân dân”. -
Tăng cường vai trò giám sát, phản biện tham gia xây dựng chính sách của nhân dân: Người
dân không chỉ là người thực hiện, mà còn phải được tham gia giám sát quá trình ra quyết định; Tăng
cường thực hành dân chủ cơ sở, minh bạch hóa thông tin, tổ chức đối thoại chính sách giữa chính
quyền và nhân dân; Phát huy vai trò của Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể và truyền thông trong việc
làm cầu nối giữa dân và Đảng. -
Đảng phải luôn đồng hành cùng dân, học dân, chịu sự giám sát của dân: Đạo đức và bản
lĩnh của Đảng thể hiện qua việc biết lắng nghe phê bình, sửa sai kịp thời khi chính sách chưa hợp
lòng dân; Cán bộ, đảng viên phải thấm nhuần đạo lý: “trọng dân, gần dân, hiểu dân, học dân và có
trách nhiệm với dân”; Xây dựng chính quyền “của dân – do dân – vì dân” không phải là khẩu hiệu,
mà là nguyên lý sống còn trong quản trị quốc gia.
Liên hệ bản thân:
- Em hiểu rằng, “lấy dân làm gốc” không chỉ là tư tưởng chính trị vĩ mô mà còn là lời nhắc nhở mỗi cá
nhân phải lắng nghe, thấu hiểu và hành động vì lợi ích chung của xã hội. Trong học tập và sinh hoạt, em luôn cố gắng: +
Tôn trọng ý kiến tập thể, biết lắng nghe và chia sẻ với bạn bè, thầy cô. +
Tích cực tham gia các hoạt động đoàn thể, thiện nguyện, vì cộng đồng. 5 +
Không thờ ơ trước các vấn đề xã hội, đặc biệt là những vấn đề liên quan đến quyền lợi, tiếng nói của người dân.
2. Luôn xuất phát từ thực tế, phải tôn trọng hành động theo quy luật khách quan
Một trong những chuyển biến lớn về nhận thức tại Đại hội VI là việc Đảng ta từ bỏ lối tư duy duy ý
chí, áp đặt chủ quan, vốn coi nền kinh tế là một công trình thuần túy “thiết kế” theo mong muốn của con
người. Đại hội thẳng thắn chỉ ra: chính cơ chế quản lý kế hoạch hóa tập trung, bao cấp cứng nhắc là nguyên
nhân chủ yếu dẫn tới trì trệ, kém hiệu quả trong sản xuất và phân phối. Đảng khẳng định: phải quay về với
thực tế khách quan, tôn trọng các quy luật của kinh tế thị trường như quy luật giá trị, quy luật cung – cầu, quy luật cạnh tranh…
Ý nghĩa lịch sử thực tiễn:
Trước đổi mới, nhiều chính sách phát triển kinh tế đã bỏ qua điều kiện thực tiễn của đất nước: sản
xuất chạy theo kế hoạch chứ không theo nhu cầu thị trường; phân phối dựa trên tem phiếu, không phản ánh
đúng giá trị lao động; khuyến khích bình quân chủ nghĩa, làm mất động lực sáng tạo. Các mô hình kinh tế
được áp đặt máy móc từ bên ngoài, xa rời thực tiễn Việt Nam.
Việc Đại hội VI thừa nhận sai lầm trong cách tiếp cận và mạnh dạn trở về với chân lý thực tiễn,
chính là một bước tiến lớn về tư duy, đặt nền móng cho sự hình thành mô hình kinh tế thị trường định hướng
XHCN – một hướng đi vừa đổi mới, vừa mang tính đặc thù của Việt Nam.
Bài học rút ra:
Trong xây dựng chính sách, tuyệt đối không được áp đặt chủ quan, duy ý chí hay sao chép máy móc mô hình nước ngoài.
Tư duy lãnh đạo phải linh hoạt, thực tiễn và cập nhật liên tục với thực trạng xã hội.
“Nhìn thẳng vào sự thật” phải trở thành nguyên tắc bất biến trong chỉ đạo, điều hành, để tránh tô
hồng thành tích hoặc làm sai lệch bản chất vấn đề.
Dữ liệu, khảo sát, thực tiễn địa phương và phản hồi từ nhân dân cần trở thành cơ sở đầu tiên để hoạch định chính sách.
Liên hệ bản thân:
- Em nhận ra rằng tư duy duy ý chí, giáo điều có thể dẫn tới sai lầm nghiêm trọng, ngay cả trong học tập
hay khởi nghiệp. Vì thế: +
Em luôn cố gắng học đi đôi với hành, lý thuyết phải gắn với thực tế. +
Khi làm bài tập nhóm hoặc nghiên cứu khoa học, em ưu tiên khảo sát, lắng nghe thực tế chứ
không áp đặt suy nghĩ chủ quan. 6 +
Biết nhìn nhận đúng sai, không tô hồng thành tích, biết nhận lỗi và sửa lỗi khi cần thiết.
3. Kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại trong điều kiện mới
Nội dung tưởng:
Một tư tưởng đổi mới lớn khác được hình thành tại Đại hội VI là việc Đảng mở rộng tầm nhìn chiến
lược ra thế giới, nhận thức được yêu cầu khách quan của hội nhập. Tuy chưa dùng khái niệm “kinh tế thị
trường” hay “hội nhập quốc tế”, nhưng Đại hội đã chỉ rõ: Việt Nam cần chủ động tiếp cận với xu thế phát
triển của thời đại, tận dụng nguồn lực từ bên ngoài (vốn, công nghệ, tri thức) để phát triển kinh tế, nhưng
đồng thời phải giữ vững bản sắc văn hóa dân tộc, độc lập tự chủ và định hướng XHCN.
Ý nghĩa lịch sử thực tiễn:
Trước Đổi mới, mô hình kinh tế tự cung – tự cấp, đóng cửa và khép kín khiến Việt Nam bị cô lập và
tụt hậu. Việc chuyển sang mở cửa, hợp tác quốc tế là bước đột phá lớn, xóa bỏ tư duy “bế quan tỏa cảng”, đặt
nền móng cho hàng loạt thành tựu sau này: từ thu hút FDI, mở rộng thị trường xuất khẩu, đến việc Việt Nam
gia nhập ASEAN, WTO và ký kết các hiệp định thương mại thế hệ mới như CPTPP, EVFTA…
Tuy nhiên, hội nhập không có nghĩa là sao chép. Đại hội VI vẫn nhấn mạnh vai trò của sức mạnh nội
lực – đó là truyền thống dân tộc, tinh thần yêu nước, văn hóa đặc sắc, và khát vọng vươn lên của nhân dân.
Bài học rút ra:
- Phát triển đất nước trong thời đại toàn cầu hóa đòi hỏi phải có chiến lược hội nhập thông minh và
chủ động, không lệ thuộc, không mù quáng chạy theo trào lưu.
- Phải tiếp thu có chọn lọc những tinh hoa thế giới, đồng thời bảo vệ và phát huy bản sắc dân tộc, giữ
vững chủ quyền quốc gia.
- Cách mạng công nghiệp 4.0, kinh tế số, công nghệ AI… là thời cơ nhưng cũng là thách thức. Chỉ khi
có nền tảng nội lực vững mạnh, ta mới “đi cùng thời đại” mà không bị cuốn trôi bởi nó.
Liên hệ bản thân:
- Là một người trẻ trong thời đại toàn cầu hóa, em thấy mình có trách nhiệm: +
Chủ động học ngoại ngữ, công nghệ mới, và nắm bắt xu thế để không bị tụt lại phía sau.
+ Tuy nhiên, em cũng rất trân trọng văn hóa truyền thống dân tộc, thường xuyên tham gia các
hoạt động văn nghệ, ngày lễ dân gian, tìm hiểu lịch sử, giữ gìn tiếng Việt trong giao tiếp online…
+ Tư duy hội nhập nhưng không đánh mất bản thân – đó là cách em cố gắng áp dụng tư tưởng này.
4. Chăm lo xây dựng Đảng ngang tầm với một đảng cầm quyền lãnh đạo nhân dân tiến hành
cách mạng XHCN 7
Nội dung tưởng:
Đổi mới không chỉ là đổi mới kinh tế, mà quan trọng hơn cả là đổi mới tư duy trong xây dựng Đảng.
Đại hội VI nhấn mạnh yêu cầu: Đảng – với vai trò là lực lượng cầm quyền – phải không ngừng tự đổi mới, tự
chỉnh đốn để đáp ứng đòi hỏi của thời đại. Đó không chỉ là đổi mới về tổ chức, mà còn là đổi mới về phương
thức lãnh đạo, về đạo đức và lối sống của cán bộ, đảng viên.
Ý nghĩa lịch sử thực tiễn:
Trong giai đoạn trước đổi mới, bộ máy lãnh đạo có biểu hiện quan liêu, xa rời quần chúng, duy ý chí
và bảo thủ. Sự tha hóa của một bộ phận cán bộ đã làm xói mòn niềm tin của nhân dân vào Đảng. Đại hội VI,
vì thế, đặt vấn đề “xây dựng Đảng ngang tầm” như một nội dung sống còn. Từ đó, hàng loạt chủ trương đổi
mới công tác cán bộ, kỷ luật đảng, kiểm tra giám sát, tự phê bình – phê bình đã được triển khai mạnh mẽ.
Bài học rút ra:
- Đảng cầm quyền phải luôn luôn tự soi, tự sửa, biết lắng nghe nhân dân và đặt lợi ích quốc gia – dân tộc lên trên hết.
- Công tác cán bộ phải đặt ra yêu cầu “vừa hồng, vừa chuyên”: cán bộ phải có đạo đức cách mạng,
năng lực thực tiễn, tư duy đổi mới và tinh thần hành động quyết liệt.
- Việc phòng chống tham nhũng, lợi ích nhóm, quan liêu, xa dân là nhiệm vụ thường xuyên, không
được phép buông lỏng, vì đó là mối nguy lớn nhất đối với uy tín và sự tồn vong của Đảng.
Liên hệ bản thân:
- Em hiểu rõ rằng mỗi công dân có ý thức, đạo đức và tinh thần cống hiến đều đang góp phần giữ
vững uy tín của Đảng trong mắt nhân dân. Vì vậy:
+ Em luôn rèn luyện phẩm chất đạo đức, sống trung thực, tránh xa thói ích kỷ, vụ lợi hay tâm lý
thờ ơ trước các vấn đề chung.
+ Em cố gắng hoàn thiện bản thân qua học tập, rèn luyện kỹ năng và tích cực tham gia các hoạt động vì cộng đồng.
+ Em tin rằng sự đổi mới và phát triển của đất nước không chỉ đến từ những quyết sách lớn của
Đảng và Nhà nước, mà còn phải bắt nguồn từ sự chuyển biến trong nhận thức và hành động
của từng người dân – đặc biệt là thế hệ trẻ như em, những người đang và sẽ trực tiếp góp
phần vào công cuộc xây dựng tương lai đất nước.
Câu 4: 6 bài học 1996
1. Giữ vững mục tiêu độc lập dân tộc chủ nghĩa hội trong quá trình đổi mới
Ngay từ Đại hội VI, Đảng ta đã khẳng định rõ ràng: đổi mới không phải là thay đổi mục tiêu lý
tưởng, mà là cách thức sáng tạo để hiện thực hóa mục tiêu đó trong điều kiện mới. Mục tiêu độc lập dân tộc
gắn liền với chủ nghĩa xã hội tiếp tục được giữ vững, làm nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho mọi đường lối. Ý nghĩa:
- Độc lập dân tộc là điều kiện tiên quyết để đảm bảo chủ quyền quốc gia, không bị lệ thuộc về kinh tế, chính trị, quân sự. 8
- Chủ nghĩa xã hội là định hướng phát triển toàn diện: vì con người, vì công bằng, vì bình đẳng, bền
vững và bao trùm. Đó là con đường mà Đảng và nhân dân ta đã lựa chọn.
Bài học rút ra:
- Không chạy theo mô hình phát triển tư bản chủ nghĩa, không hy sinh công bằng vì tăng trưởng.
- Tư duy đổi mới phải mềm dẻo trong cách làm, nhưng kiên định về nguyên tắc, mục tiêu chiến lược.
- Trong bối cảnh toàn cầu hóa, cần khẳng định bản lĩnh, giữ vững độc lập tự chủ về chính trị, kinh tế và văn hóa.
Liên hệ bản thân:
- Là một người trẻ đang học tập, ta cần nhận thức rõ rằng độc lập dân tộc không chỉ là vấn đề lịch sử
hay chính trị, mà còn là trách nhiệm cá nhân trong việc bảo vệ bản sắc văn hóa và lòng tự tôn dân tộc.
- Trong thời đại hội nhập, ta phải luôn cố gắng học hỏi kiến thức tiên tiến từ thế giới nhưng không
quên giữ gìn giá trị truyền thống, sống có lý tưởng, và định hướng cuộc sống theo những giá trị công
bằng, nhân ái mà chủ nghĩa xã hội đề cao.
- Không ủng hộ tư duy thực dụng, chạy theo lối sống vật chất đơn thuần mà luôn cố gắng phát triển
toàn diện cả về tri thức và đạo đức, để góp phần vào sự phát triển bền vững của đất nước.
2. Kết hợp chặt chẽ giữa đổi mới kinh tế với đổi mới chính trị
Một trong những đột phá tư duy tại Đại hội VI là đổi mới đồng bộ, bắt đầu từ kinh tế nhưng không
tách rời cải cách chính trị. Đổi mới kinh tế mà hệ thống chính trị không đổi mới sẽ dẫn đến sự lạc nhịp,
không thể phát huy hiệu quả. Ý nghĩa:
- Kinh tế thị trường chỉ có thể vận hành hiệu quả trong môi trường pháp quyền hiện đại, bộ máy hành
chính gọn nhẹ, năng động.
- Phát triển kinh tế gắn liền với mở rộng dân chủ, phát huy quyền làm chủ của nhân dân, tăng cường
kỷ cương, minh bạch hóa quản trị.
Bài học rút ra:
- Đổi mới không chỉ là câu chuyện của kinh tế, mà cần đi đôi với đổi mới tư duy quản trị, xây dựng
nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. 9 -
Cần đẩy mạnh cải cách hành chính, nâng cao hiệu lực và hiệu quả quản lý nhà nước.
- Tăng cường dân chủ trong Đảng và ngoài xã hội, phát huy vai trò giám sát của nhân dân và các tổ
chức chính trị - xã hội
Liên hệ bản thân:
- Là sinh viên trong thời đại đổi mới, em nhận thức rằng phát triển kinh tế muốn bền vững thì không
thể tách rời môi trường chính trị ổn định, dân chủ và minh bạch. Đổi mới tư duy không chỉ là đổi
mới trong cách học hay khởi nghiệp, mà còn là thay đổi nhận thức về vai trò của bản thân trong xã hội pháp quyền.
- Vì vậy, em luôn cố gắng vừa trau dồi kỹ năng chuyên môn để thích ứng với thị trường lao động, vừa
rèn luyện ý thức công dân – tôn trọng pháp luật, chủ động tham gia các hoạt động tập thể, đóng góp
ý kiến xây dựng môi trường học đường công bằng, dân chủ.
- Đặc biệt, em hiểu rằng việc lan tỏa tinh thần minh bạch, phản biện có văn hóa trên không gian mạng
là một phần của việc thúc đẩy sự tiến bộ chính trị – giúp tạo ra một xã hội dân chủ, lắng nghe và cải
tiến liên tục. Đó cũng chính là cách mà thế hệ trẻ chúng em đóng góp vào công cuộc đổi mới toàn
diện của đất nước.
2. Xây dựng nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, vận hành theo chế thị trường
Đây là bước đột phá quan trọng trong tư duy kinh tế thời kỳ đổi mới. Từ mô hình bao cấp cứng nhắc,
Đảng đã xác định phát triển nền kinh tế nhiều thành phần: nhà nước, tư nhân, tập thể, cá thể, có vốn đầu tư
nước ngoài, cùng vận hành theo cơ chế thị trường, nhưng vẫn đặt dưới sự định hướng xã hội chủ nghĩa. Ý nghĩa:
- Cơ chế thị trường giúp phân bổ nguồn lực hiệu quả, thúc đẩy cạnh tranh, tăng năng suất lao động.
- Nhà nước giữ vai trò định hướng, điều tiết, khắc phục khuyết tật thị trường, đảm bảo công bằng xã
hội, không để xảy ra cực đoan kinh tế.
Bài học rút ra:
- Không phân biệt đối xử giữa các thành phần kinh tế, tạo môi trường cạnh tranh lành mạnh.
- Tăng cường thể chế hóa vai trò điều tiết của nhà nước, nâng cao chất lượng chính sách công.
- Không để thị trường tự phát dẫn đến bất bình đẳng, phân hóa giàu nghèo, hay phá vỡ định hướng XHCN.
Liên hệ bản thân:
- Là sinh viên, em nhận thức rõ rằng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa đã và đang
mở ra nhiều cơ hội cho thế hệ trẻ: từ khởi nghiệp cá nhân, phát triển kinh tế số đến việc tiếp cận các
nguồn lực và mô hình kinh doanh hiện đại.
- Tuy nhiên, em cũng hiểu rằng nền kinh tế thị trường không đồng nghĩa với tự do tuyệt đối. Trong
môi trường cạnh tranh, mỗi cá nhân không chỉ cần trang bị kiến thức chuyên môn, kỹ năng mềm, mà
còn phải có đạo đức nghề nghiệp, tuân thủ pháp luật và biết cân bằng giữa lợi ích cá nhân với lợi ích cộng đồng.
- Em đặc biệt quan tâm đến vai trò của Nhà nước trong việc điều tiết thị trường – để không xảy ra
những lệch lạc như độc quyền, đầu cơ hay bất bình đẳng. Bản thân em luôn cố gắng hiểu rõ chính 10 -
sách kinh tế, luật pháp liên quan đến lao động, khởi nghiệp, đầu tư… để có thể hành động đúng đắn
và có trách nhiệm trong tương lai.
Em tin rằng, trong một nền kinh tế đa thành phần, mỗi người cần tôn trọng sự khác biệt, biết hợp tác
cùng phát triển, thay vì cạnh tranh tiêu cực. Sự trưởng thành trong tư duy thị trường chính là chìa
khóa để thế hệ trẻ đóng góp hiệu quả hơn cho sự phát triển bền vững của đất nước.
2. Mở rộng, tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân tộc, phát huy sức mạnh dân tộc
Từ cách mạng giải phóng dân tộc đến công cuộc đổi mới, một bài học xuyên suốt là sức mạnh của
khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Trong điều kiện kinh tế thị trường với nhiều biến động xã hội, việc củng cố
khối đoàn kết lại càng trở nên cấp thiết. Ý nghĩa:
- Đoàn kết là điều kiện tiên quyết để tạo đồng thuận xã hội, huy động mọi nguồn lực cho phát triển.
- Nhân dân không chỉ là đối tượng thụ hưởng mà còn là chủ thể của công cuộc đổi mới, người sáng tạo và giám sát.
Bài học rút ra:
- Cần chăm lo đến lợi ích thiết thực, đời sống vật chất và tinh thần của người dân, đặc biệt các nhóm yếu thế.
- Phát huy vai trò của Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể chính trị - xã hội trong việc kết nối nhân dân với Đảng.
- Coi trọng chính sách dân tộc, tôn giáo, vùng sâu vùng xa, bảo đảm sự phát triển bao trùm và công bằng.
Liên hệ bản thân:
- Là một công dân trẻ trong thời kỳ hội nhập và đổi mới, em luôn nhận thức sâu sắc rằng đoàn kết
không chỉ là khẩu hiệu, mà là nền tảng để tạo nên sức mạnh tập thể, khơi dậy tinh thần chia sẻ, tương
trợ và phát triển bền vững.
- Trong môi trường học tập và sinh hoạt hàng ngày, em luôn đề cao tinh thần hợp tác nhóm, tôn trọng
sự khác biệt, sẵn sàng hỗ trợ bạn bè không phân biệt hoàn cảnh, vùng miền hay điều kiện xuất thân.
Em hiểu rằng chỉ khi mỗi cá nhân cảm thấy được tôn trọng và hòa nhập, tập thể mới có thể phát huy
hết tiềm năng của mình.
- Ngoài ra, em chủ động tham gia các hoạt động đoàn thể, thiện nguyện, kết nối cộng đồng, như gây
quỹ ủng hộ người yếu thế, giúp đỡ trẻ em vùng sâu vùng xa, hay tham gia chương trình tiếp sức mùa
thi. Đây không chỉ là trách nhiệm xã hội, mà còn là cơ hội để lan tỏa giá trị của lòng nhân ái và tinh thần đại đoàn kết.
- Trong thời đại số, khi xã hội ngày càng đa dạng và phức tạp, em cũng chú ý đến tinh thần đoàn kết
trên không gian mạng – cụ thể là lan tỏa năng lượng tích cực, nói không với chia rẽ, phân biệt hay kỳ
thị dưới bất kỳ hình thức nào. Em tin rằng mỗi hành động tử tế, mỗi tiếng nói văn minh đều góp phần
làm giàu thêm khối đại đoàn kết toàn dân tộc, từ thực tế đời sống cho đến không gian số.
2. Mở rộng hợp tác quốc tế, tranh thủ sự đồng tình giúp đỡ của nhân dân thế giới 11 -
Bài học này phản ánh sự thay đổi căn bản trong tư duy đối ngoại: từ khép kín sang chủ động hội
nhập, từ đối đầu sang hợp tác, từ phụ thuộc sang bình đẳng và có chọn lọc. Ý nghĩa:
Toàn cầu hóa vừa là thách thức, vừa là cơ hội để Việt Nam tiếp cận công nghệ, vốn, tri thức và thị trường quốc tế.
- Hội nhập quốc tế giúp khẳng định vị thế Việt Nam, mở rộng ngoại giao nhân dân, nâng cao ảnh
hưởng trên trường quốc tế.
Bài học rút ra:
- Cần có chiến lược hội nhập chủ động, sâu rộng, hiệu quả và bền vững, trên nguyên tắc “bình đẳng,
cùng có lợi, tôn trọng lẫn nhau”.
- Tranh thủ tối đa sự ủng hộ quốc tế, đồng thời bảo vệ lợi ích quốc gia, giữ gìn bản sắc văn hóa và độc lập tự chủ.
- Kết hợp giữa ngoại giao Nhà nước, ngoại giao Đảng và ngoại giao nhân dân để mở rộng mạng lưới bạn bè quốc tế
Liên hệ bản thân:
- Là một công dân trong thời đại hội nhập, em luôn ý thức được rằng thế giới đang thay đổi nhanh
chóng, và chỉ khi trang bị đầy đủ tri thức, kỹ năng và bản lĩnh, mỗi người mới có thể thích nghi và
phát triển bền vững. Vì vậy, em chủ động học ngoại ngữ, rèn luyện tư duy phản biện, cập nhật kiến
thức quốc tế và công nghệ mới để sẵn sàng bước vào môi trường toàn cầu hóa đầy cạnh tranh nhưng cũng nhiều cơ hội.
- Em cũng tích cực tham gia các hoạt động giao lưu văn hóa, học thuật và tình nguyện có yếu tố quốc
tế nhằm mở rộng tầm nhìn, học hỏi tinh hoa nhân loại, đồng thời trau dồi khả năng làm việc trong môi trường đa văn hóa.
- Tuy nhiên, em hiểu rằng hội nhập không có nghĩa là đánh mất mình. Trong mọi hành vi giao tiếp và hợp tác quốc tế:
+ Em luôn cố gắng giữ gìn và quảng bá những giá trị truyền thống của dân tộc – từ lối sống, ứng
xử đến trang phục, ngôn ngữ, ẩm thực. Em tin rằng khi mỗi người trẻ mang trong mình tinh
thần yêu nước, hiểu biết văn hóa và tư duy cởi mở thì chính là đang góp phần xây dựng một
hình ảnh Việt Nam hiện đại, năng động nhưng giàu bản sắc trên trường quốc tế.
- Bên cạnh đó, em cũng nhận thức rõ trách nhiệm công dân trong việc bảo vệ lợi ích quốc gia trong
bối cảnh toàn cầu hóa.
+ Em phản đối những hành vi tuyên truyền sai lệch, lợi dụng hội nhập để xâm hại độc lập dân
tộc và chủ quyền quốc gia. Em tin rằng, chỉ khi biết kết hợp hài hòa giữa “tư duy toàn cầu”
và “trách nhiệm dân tộc”, mỗi người Việt Nam mới thực sự trở thành cầu nối đưa đất nước
tiến gần hơn đến bạn bè năm châu.
2. Tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng, coi xây dựng Đảng nhiệm vụ then chốt
Đảng muốn đổi mới đất nước thì trước hết phải tự đổi mới chính mình. Một Đảng cầm quyền muốn
được nhân dân tin tưởng và đi theo thì phải trong sạch, tiên phong, gắn bó máu thịt với dân. Ý nghĩa: 12 -
- Việc xây dựng Đảng là then chốt vì mọi chủ trương, chính sách đều xuất phát từ sự lãnh đạo của Đảng.
- Suy thoái đạo đức, quan liêu, tham nhũng nếu không được ngăn chặn sẽ làm xói mòn niềm tin của
nhân dân, cản trở đổi mới.
Bài học rút ra:
Xây dựng Đảng toàn diện về tư tưởng, đạo đức, tổ chức và cán bộ.
- Tăng cường công tác chống tham nhũng, tiêu cực, kiểm tra, giám sát nội bộ.
- Đẩy mạnh tự phê bình và phê bình, thực hiện nghiêm các nguyên tắc tổ chức Đảng, xây dựng Đảng
vững mạnh từ gốc – cấp cơ sở.
Liên hệ bản thân:
- Là một đoàn viên trẻ, em nhận thức rõ rằng vai trò lãnh đạo của Đảng là nền tảng quyết định mọi
thành công của công cuộc đổi mới và phát triển đất nước. Vì vậy, em luôn tự giác rèn luyện phẩm
chất đạo đức, nâng cao trình độ nhận thức chính trị, giữ gìn sự trong sạch và phẩm chất cách mạng
trong từng suy nghĩ, hành động của mình.
- Em kiên quyết tránh xa mọi biểu hiện tiêu cực như gian lận trong học tập, thiếu trung thực hay lợi
dụng vị trí, chức vụ để trục lợi cá nhân. Đồng thời, em tích cực học tập và tuân thủ nghiêm túc các
quy định, nội quy của tổ chức, luôn giữ tinh thần kỷ luật và trách nhiệm cao trong mọi công việc được giao.
- Bên cạnh đó, em chủ động thực hành tự phê bình và phê bình một cách chân thành, thẳng thắn nhận
ra hạn chế của bản thân và cố gắng khắc phục để không ngừng hoàn thiện. Em cũng tích cực tham
gia các hoạt động đoàn thể, phong trào thanh niên, góp phần xây dựng tập thể vững mạnh, tạo môi
trường đoàn kết, lành mạnh và sáng tạo.
- Em tin rằng, chỉ khi mỗi cá nhân trong tổ chức đều ý thức rõ trách nhiệm tự đổi mới, gương mẫu và
tiên phong thì Đảng mới thực sự trong sạch, vững mạnh, được nhân dân tin yêu và đồng thuận. Từ
đó, mới có thể lãnh đạo đất nước phát triển bền vững và hội nhập sâu rộng với thế giới.
Câu 05: 06 quan điểm về Công nghiệp hóa tại Đại hội VIII
1. Giữ vững độc lập tự chủ đi đôi với mở rộng hợp tác quốc tế, đa phương hoá, đa dạng hoá quan hệ đối
ngoại. Dựa vào nguồn lực trong nước và chính đi đôi với tranh thủ tối đa nguồn lực bên ngoài. Ý nghĩa:
- Quan điểm này thể hiện sự chuyển mình mạnh mẽ trong tư duy phát triển kinh tế của Đảng, khẳng
định tầm quan trọng của việc duy trì độc lập chủ quyền, không bị phụ thuộc nhưng vẫn phải chủ
động hội nhập sâu rộng vào nền kinh tế thế giới. Việc kết hợp hài hòa nguồn lực trong nước (nội lực)
và nguồn lực bên ngoài (ngoại lực) là chìa khóa để phát triển bền vững.
- Đặc biệt, việc định hướng xây dựng nền kinh tế mở, hướng mạnh về xuất khẩu đánh dấu sự thay
đổi căn bản từ mô hình kinh tế khép kín, tập trung vào thay thế nhập khẩu trước đây. Điều này mở ra
cơ hội lớn cho hàng hóa Việt Nam vươn ra thị trường quốc tế, đồng thời tạo sức ép cạnh tranh để
nâng cao chất lượng sản phẩm trong nước.
Bài học rút ra: 13 - -
Tầm quan trọng của hội nhập: Hội nhập quốc tế là xu thế tất yếu và là động lực quan trọng để thúc
đẩy CNH, hiện đại hóa. -
Phát huy nội lực: Nguồn lực trong nước, đặc biệt là nguồn lực con người, luôn là yếu tố quyết định
cho sự phát triển bền vững. -
Linh hoạt trong chính sách: Cần có sự linh hoạt trong việc kết hợp các chiến lược phát triển (thay
thế nhập khẩu và hướng về xuất khẩu) để đạt hiệu quả cao nhất.
Liên hệ bản thân:
Là sinh viên trong thời đại hội nhập, em nhận thức rõ tầm quan trọng của việc phát huy nội lực bản
thân (kiến thức nền tảng, kỹ năng chuyên môn) đồng thời không ngừng mở rộng mối quan hệ và học
hỏi từ các nền văn hóa, tri thức toàn cầu.
- Em luôn chủ động tìm kiếm cơ hội tham gia các chương trình trao đổi sinh viên, dự án quốc tế hoặc
tìm hiểu sâu về các nền kinh tế khác, không chỉ để nâng cao năng lực mà còn để phát huy tinh thần
chủ động, thích nghi trong một thế giới phẳng, hướng tới mục tiêu trở thành công dân toàn cầu có đóng góp.
2. CNH, HĐH là sự nghiệp của toàn dân, của mọi thành phần kinh tế, trong đó kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo. Ý nghĩa:
- Quan điểm này khẳng định tính toàn diện và bao trùm của công cuộc CNH, hiện đại hóa. Nó không
chỉ là nhiệm vụ của Đảng và Nhà nước mà là trách nhiệm và quyền lợi của mọi tầng lớp nhân dân,
mọi thành phần kinh tế, từ doanh nghiệp nhà nước, tư nhân, đến hợp tác xã và các hộ kinh doanh cá thể.
- Việc nhấn mạnh vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước cho thấy sự định hướng và kiểm soát vĩ mô của
Nhà nước trong quá trình phát triển, đảm bảo định hướng xã hội chủ nghĩa và sự công bằng.
Bài học rút ra: -
Sức mạnh của sự đồng thuận: CNH, hiện đại hóa chỉ thành công khi có sự tham gia và ủng hộ của toàn dân. -
Khuyến khích mọi thành phần kinh tế: Tạo môi trường thuận lợi để mọi thành phần kinh tế phát
triển và đóng góp vào quá trình CNH. -
Vai trò điều tiết của Nhà nước: Nhà nước cần phát huy vai trò định hướng, điều tiết để đảm bảo sự
phát triển hài hòa, bền vững và công bằng xã hội.
Liên hệ bản thân:
- Em hiểu rằng CNH, HĐH không chỉ là trách nhiệm của nhà nước hay doanh nghiệp lớn, mà là của
toàn xã hội, trong đó có cả sinh viên. Vì vậy, em không ngừng trau dồi kiến thức chuyên môn để sau
này có thể đóng góp vào các thành phần kinh tế khác nhau, dù là trong khối nhà nước, tư nhân hay tự khởi nghiệp.
- Em cũng luôn ý thức được vai trò của mình trong việc xây dựng một môi trường học đường và xã
hội năng động, nơi mọi người đều được khuyến khích phát huy năng lực để cùng nhau phát triển.
3. Lấy phát huy nguồn lực con người làm yếu tố cơ bản cho sự phát triển nhanh và bền vững. Ý nghĩa: 14 -
- Quan điểm này thể hiện sự nhân văn và tầm nhìn bền vững trong chiến lược CNH, hiện đại hóa. Nó
khẳng định rằng con người là trung tâm và là yếu tố quyết định nhất cho sự phát triển.
- Việc nhấn mạnh tinh thần cần kiệm và tăng tích lũy thể hiện sự coi trọng nội lực và khả năng tự chủ
tài chính. Đồng thời, quan điểm này cũng chỉ rõ mục tiêu cuối cùng của tăng trưởng kinh tế là nâng
cao đời sống nhân dân, phát triển các lĩnh vực văn hóa, giáo dục, đảm bảo tiến bộ, công bằng xã hội
và bảo vệ môi trường, tránh sự tăng trưởng bằng mọi giá.
Bài học rút ra:
Đầu tư vào con người: Giáo dục, đào tạo và phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao là ưu tiên hàng đầu.
- Phát triển bền vững: Tăng trưởng kinh tế phải đi đôi với các mục tiêu xã hội và môi trường.
- Giá trị của cần kiệm: Thực hành tiết kiệm, tăng tích lũy là nền tảng cho sự phát triển lâu dài.
Liên hệ bản thân:
- Em nhận thức rõ con người là trung tâm của mọi sự phát triển. Với tư cách là một sinh viên, em ưu
tiên việc đầu tư vào tri thức và kỹ năng bản thân – đó là nguồn lực quý giá nhất.
- Em cũng tập thói quen cần kiệm trong chi tiêu, biết quản lý tài chính cá nhân để có thể tích lũy và
đầu tư cho tương lai, cả về vật chất lẫn tinh thần.
- Đồng thời, em luôn hướng tới sự phát triển toàn diện, quan tâm đến các vấn đề xã hội, văn hóa, giáo
dục và bảo vệ môi trường, tin rằng sự tiến bộ không thể tách rời từ trách nhiệm xã hội.
4. Khoa học và công nghệ là động lực của CNH, HĐH. Kết hợp công nghệ truyền thống với công nghệ
hiện đại; tranh thủ đi nhanh vào hiện đại ở những khâu quyết định. Ý nghĩa:
- khẳng định vai trò then chốt của khoa học và công nghệ (KH&CN) trong việc thúc đẩy quá trình CNH, hiện đại hóa.
- Nó cho thấy nhận thức rằng để rút ngắn khoảng cách phát triển với các nước tiên tiến, Việt Nam cần
phải đi tắt đón đầu, tập trung vào những khâu quyết định và ứng dụng công nghệ hiện đại.
- Đồng thời, việc kết hợp với công nghệ truyền thống cho thấy sự linh hoạt và tận dụng tối đa những lợi thế sẵn có.
Bài học rút ra:
- Ưu tiên phát triển KH&CN: Đầu tư mạnh mẽ vào nghiên cứu, ứng dụng và chuyển giao công nghệ.
- Chủ động tiếp cận công nghệ mới: Không ngừng cập nhật và ứng dụng các thành tựu khoa học kỹ
thuật tiên tiến của thế giới.
- Tận dụng công nghệ hiện có: Phát huy và cải tiến các công nghệ truyền thống để phù hợp với bối cảnh mới.
Liên hệ bản thân:
- Trong bối cảnh cách mạng công nghiệp 4.0, em hiểu rằng khoa học và công nghệ chính là chìa khóa.
Em luôn chủ động tìm hiểu và cập nhật các công nghệ mới trong lĩnh vực của mình, đồng thời không
ngừng rèn luyện tư duy phản biện, khả năng tự học để có thể nhanh chóng làm chủ và ứng dụng
những kiến thức, công cụ hiện đại. 15 -
- Em cũng tin rằng việc biết kết hợp những giá trị truyền thống với công nghệ tiên tiến sẽ giúp em tạo
ra những giải pháp sáng tạo, mang lại hiệu quả cao hơn trong học tập và công việc.
5. Lấy hiệu quả kinh tế – xã hội làm tiêu chuẩn cơ bản để xác định phương án phát triển, lựa chọn dự án đầu tư và công nghệ. Ý nghĩa:
- Nhấn mạnh tính thực tiễn, hiệu quả và công bằng trong việc ra quyết định đầu tư và phát triển. Việc
lấy hiệu quả kinh tế – xã hội làm tiêu chuẩn cho thấy sự cân bằng giữa mục tiêu tăng trưởng kinh tế và lợi ích xã hội.
Sự ưu tiên cho đầu tư chiều sâu, khai thác tối đa năng lực hiện có cho thấy chiến lược tận dụng hiệu quả nguồn lực.
- Đồng thời, việc chú trọng các dự án quy mô vừa và nhỏ, công nghệ tiên tiến, tạo nhiều việc làm, thu
hồi vốn nhanh thể hiện sự linh hoạt, phù hợp với điều kiện của Việt Nam, trong khi vẫn không bỏ
qua các công trình quy mô lớn có tính chiến lược.
- Quan điểm này cũng thể hiện sự quan tâm đến phát triển đồng đều giữa các vùng miền, có chính sách
hỗ trợ vùng khó khăn để không ai bị bỏ lại phía sau.
Bài học rút ra:
- Hiệu quả là tiêu chí hàng đầu: Mọi quyết định đầu tư, phát triển phải hướng tới hiệu quả kinh tế và xã hội tối ưu.
- Linh hoạt trong quy mô đầu tư: Kết hợp các dự án lớn, chiến lược với các dự án vừa và nhỏ, mang
lại hiệu quả nhanh chóng và tạo việc làm.
- Phát triển hài hòa và công bằng: Quan tâm đến sự phát triển của mọi vùng miền, đặc biệt là các vùng khó khăn.
Liên hệ bản thân:
- Khi tham gia các dự án nhóm, hoạt động ngoại khóa hay thậm chí là lựa chọn môn học, em luôn đặt
yếu tố hiệu quả kinh tế – xã hội lên hàng đầu. Em cố gắng tìm kiếm những cách làm sáng tạo, tối ưu
hóa nguồn lực sẵn có để đạt được kết quả tốt nhất.
- Em cũng quan tâm đến các giải pháp có thể mang lại lợi ích cho nhiều người, đặc biệt là những đối
tượng cần hỗ trợ, đồng thời tập trung phát triển những năng lực cốt lõi, "mũi nhọn" của bản thân để
tạo ra giá trị bền vững cho cộng đồng.
6. Kết hợp kinh tế với quốc phòng – an ninh. Ý nghĩa:
- Thể hiện sự nhận thức sâu sắc về mối quan hệ biện chứng giữa phát triển kinh tế và đảm bảo quốc phòng – an ninh.
- Một nền kinh tế mạnh là tiền đề để xây dựng tiềm lực quốc phòng vững chắc, và ngược lại, một môi
trường quốc phòng – an ninh ổn định, vững mạnh sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho phát triển kinh tế.
- Đây là sự kết hợp hai nhiệm vụ chiến lược của cách mạng Việt Nam, đảm bảo sự phát triển hài hòa và bền vững.
Bài học rút ra: 16 -
- An ninh là nền tảng: Không thể có sự phát triển kinh tế bền vững nếu không có môi trường quốc phòng, an ninh ổn định.
- Kinh tế là sức mạnh: Phát triển kinh tế là cách tốt nhất để củng cố tiềm lực quốc phòng.
- Phối hợp chặt chẽ: Cần có sự phối hợp đồng bộ giữa các chiến lược kinh tế và quốc phòng, an ninh.
Liên hệ bản thân:
- Là một công dân trẻ, em nhận thức rằng phát triển kinh tế bền vững không thể tách rời một môi
trường chính trị ổn định, dân chủ và minh bạch.
- Em luôn cố gắng vừa trau dồi kỹ năng chuyên môn để thích ứng với thị trường lao động, vừa rèn
luyện ý thức công dân – tôn trọng pháp luật, chủ động tham gia các hoạt động tập thể, đóng góp ý
kiến xây dựng môi trường học đường công bằng, dân chủ.
Đặc biệt, em hiểu rằng việc lan tỏa tinh thần minh bạch, phản biện có văn hóa trên không gian mạng
là một phần của việc thúc đẩy sự tiến bộ chính trị – giúp tạo ra một xã hội dân chủ, lắng nghe và cải
tiến liên tục. Đó cũng chính là cách mà thế hệ trẻ chúng em đóng góp vào công cuộc đổi mới toàn
diện của đất nước, đảm bảo cả phát triển và an ninh.
Câu 06: Quan điểm của Đảng về khơi dậy khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc
trong kỷ nguyên mới
Sau năm 1975, Đảng tiếp tục lãnh đạo xây dựng chủ nghĩa xã hội và trong thời kỳ đổi mới, không ngừng bổ
sung, phát triển lý luận về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội, nhằm hiện thực hóa khát
vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc, sánh vai với các nước.
1. Xác định mục tiêu thực hiện khát vọng -
Mục tiêu xuyên suốt: Khát vọng độc lập dân tộc gắn với chủ nghĩa xã hội hướng tới xây dựng một
xã hội "dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh" do nhân dân làm chủ, có nền kinh tế
phát triển cao, văn hóa tiên tiến, con người ấm no, hạnh phúc, và Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa vững mạnh. -
Mục tiêu qua các kỳ Đại hội: Từ Đại hội VI đến Đại hội XII, các mục tiêu cụ thể đã được xác định
qua từng giai đoạn nhằm ổn định kinh tế - xã hội, vượt qua khủng hoảng, đẩy mạnh công nghiệp hóa,
hiện đại hóa, và nâng cao đời sống nhân dân. -
Tầm cao mới tại Đại hội XIII: Đại hội XIII khơi dậy khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh
phúc ở tầm cao mới, nhấn mạnh sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc và mục tiêu Việt Nam trở thành
nước phát triển, theo định hướng xã hội chủ nghĩa vào giữa thế kỷ XXI. -
Lộ trình cụ thể: Khát vọng được cụ thể hóa bằng các mốc thời gian rõ ràng: vượt thu nhập trung
bình thấp vào năm 2025, thu nhập trung bình cao vào năm 2030, và trở thành nước phát triển, thu nhập cao vào năm 2045. -
Bản chất động lực: Khát vọng này hướng tới sự phát triển vì con người, không phải vì lợi nhuận,
và là động lực mạnh mẽ để đất nước bước vào kỷ nguyên vươn mình mới.
2. Xây dựng, phát huy vai trò của hệ thống chính trị -
Đối với Đảng: Tập trung xây dựng, chỉnh đốn Đảng toàn diện, nâng cao bản lĩnh, trí tuệ, và xây
dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên gương mẫu, có năng lực, dám chịu trách nhiệm. -
Đối với Nhà nước: Xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa trong sạch, vững mạnh, hiệu
lực, hiệu quả, tăng cường công khai, minh bạch, kiểm soát quyền lực và đẩy mạnh phòng, chống tham nhũng, lãng phí. 17 - -
Đối với Mặt trận Tổ quốc các tổ chức chính trị - hội: Đổi mới, nâng cao hiệu quả tập hợp
quần chúng, phát huy khối đại đoàn kết toàn dân tộc, góp phần xây dựng và bảo vệ đất nước.
3. Phát huy vai trò, sức mạnh của các lực lượng xã hội -
Giai cấp công nhân: Xây dựng giai cấp công nhân hiện đại, lớn mạnh về chất lượng, bản lĩnh chính
trị và kỹ năng, thích ứng với Cách mạng công nghiệp 4.0. -
Giai cấp nông dân: Chú trọng xây dựng nông dân phát triển toàn diện, có trình độ, nếp sống văn
minh, và khát vọng xây dựng quê hương phồn vinh. -
Trí thức: Phát triển đội ngũ trí thức chất lượng cao, có cơ chế đột phá thu hút, trọng dụng nhân tài,
và phát huy tự do tư tưởng, học thuật trong nghiên cứu khoa học. -
Doanh nhân: Phát triển đội ngũ doanh nhân lớn mạnh về số lượng và chất lượng, có tinh thần cống
hiến, chuẩn mực văn hóa, đạo đức, và trình độ quản trị giỏi, thúc đẩy khởi nghiệp và thực hiện trách nhiệm xã hội. -
Thanh niên: Tăng cường giáo dục lý tưởng cách mạng, đạo đức, lối sống, tạo môi trường thuận lợi
để thanh niên phát triển toàn diện và xung kích trong học tập, lao động sáng tạo.
Các tôn giáo: Phát huy những giá trị văn hóa, đạo đức tốt đẹp và các nguồn lực của các tôn giáo,
đồng thời nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về công tác tôn giáo để đóng góp vào sự phát triển đất nước.
Tổng hợp về các Đại hội Đại hội Phương châm
Nội dung tiêu biểu IV (1975-1981)
Đại hội toàn thắng của sự nghiệp giải
1 bước đột phá kte đầu tiên cơ
phóng dân tộc, thống nhất nước nhà, cả chế KH hóa trong quản lý KT 2
nước tiến lên xây dựng CNXH.
cuộc chiến bảo vệ tổ quốc V (1982-1986)
Các bước đột phá tiếp tục đổi mới trong Có 2 quan điểm mới, 2 NV chiến lược, kinh tế
thay đổi trong Nội dung CNH
Có 2 bước đột phá kte tiếp theo
Tổng kết 10 năm: 3 thành tựu nổi vật và 4 khuyết điểm cơ bản VI (1986-1991)
Khởi xướng sự nghiệp đổi mới đất nước, Rút ra 04 bài học quý báu (còn giá trị
thực hiện đường lối đổi mới toàn diện đến hôm nay) VII (1991-1996)
Tiếp tục nhiệm vụ đưa đất nước đi theo con Cương lĩnh 1991
đường đổi mới, kiên định mục tiêu độc lập 5 bài học, 6 đặc trưng, 7 phương hướng dân tộc và CNXH
Lần đầu tiên có Chiến lược 10 năm
VIII (1996-2001) Bước đầu thực hiện công cuộc đẩy mạnh 06 bài học qua 10 năm đổi mới CNH - HĐH 06 quan điểm về CNH IX (2001-2006)
Tiếp tục thực hiện công cuộc đẩy mạnh Trong đối ngoại, chuyển qua: VN sẵn CNH - HĐH
sàng là bạn, đối tác tin cậy X (2006-2011) XI (2011-2016)
Cương lĩnh 2021, bổ sung và phát triển
Chiến lược phát triển KT-XH 2011- 18 -
2020, gồm: 5 quan điểm phát triển, 3 đột phá chiến lược XII (2016-2021)
Tiếp tục đẩy mạnh toàn diện, đồng bộ công
VN là bạn, là đối tác tin cậy, là thành
cuộc đổi mới, tích cực, chủ động hội nhập viên có trách nhiệm quốc tế
=> VN trong các vấn đề liên quan đến
độc lập chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ XIII (2021-2026)
Chủ đề đại hội: Khơi dậy khát vọng phát triển đất nước 19 20