TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI
KHOA HTTTKT VÀ THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ
- - - - - -
BÀI THẢO LUẬN
HỌC PHẦN: NHẬP MÔN TÀI CHÍNH – TIỀN TỆ
ĐỀ TÀI
Phân tích vai trò của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam trong việc xử lý cáo buộc
thao túng tiền tệ của Bộ Tài chính Mỹ đối với Việt Nam năm 2020.
Giảng viên hướng dẫn: Th.S Lê Thùy Dương
Nhóm:
Lớp học phần:
HÀ NỘI - 2023
MỤC LỤC
DANH MỤC HÌNH VẼ iv
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT v
LỜI MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT 2
1.1. Cơ sở lý thuyết về Ngân hàng Trung ương 2
1.1.1. Mô hình Ngân hàng Trung ương 2
1.1.1.1. Mô hình tổ chức Ngân hàng trung ương độc lập với Chính phủ 2
1.1.1.2. Mô hình tổ chức Ngân hàng trung ương trực thuộc Chính phủ 3
1.1.2. Chức năng của Ngân hàng Trung ương 4
1.1.2.1. Chức năng độc quyền phát hành giấy bạc ngân hàng và tiền kim loại đồng
thời điều tiết khối lượng tiền trong lưu thông 4
1.1.2.2. Ngân hàng Trung ương là ngân hàng của ngân hàng 6
1.1.2.3. Ngân hàng Trung ương quan quản nhà nước về hoạt động của ngân
hàng 6
1.1.3. Vai trò của Ngân hàng Trung ương 7
1.1.3.1. Ngân hàng Trung ương góp phần ổn định phát triển nền kinh tế - hội
thông qua điều tiết khối lượng tiền trong lưu thông. 7
1.1.3.2. Ngân hàng Trung ương tham gia thiết lập và điều chỉnh cơ cấu nền kinh tế. 7
1.1.3.3. Ngân hàng Trung ương ổn định sức mua của đồng tiền quốc gia. 7
1.1.3.4. Ngân hàng Trung ương quản hoạt động hệ thống Ngân hàng Thương mại
và các tổ chức tín dụng khác. 8
1.1.4. Chính sách tiền tệ của Ngân hàng Trung ương 8
1.1.4.1. Khái niệm và mục tiêu của chính sách tiền tệ 8
1.1.4.2. Các công cụ thực thi chính sách tiền tệ quốc gia 9
1.2. Cơ sở lý thuyết về thị trường tiền tệ và thao túng tiền tệ 9
1.2.1. Một số khái niệm liên quan 9
1.2.1.1. Khái niệm tiền tệ 9
1.2.1.2. Khái niệm thị trường tiền tệ 9
1.2.1.3. Khái niệm thao túng tiền tệ 10
1.2.2. Ảnh hưởng và tác hại của thao túng tiền tệ 10
1
1.2.3. Các chỉ tiêu để đánh giá quốc gia thao túng tiền tệ 11
CHƯƠNG 2: VAI TRÒ CỦA NHNN VIỆT NAM TRONG VIỆC XỬ CÁO BUỘC
THAO TÚNG TIỀN TỆ CỦA BỘ TÀI CHÍNH MỸ ĐỐI VỚI VIỆT NAM NĂM 2020 12
2.1. Giới thiệu chung về Ngân hàng Nhà nước Việt Nam 12
2.1.1. Sự ra đời và phát triển của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam 12
2.1.2. Đặc điểm và mô hình Ngân hàng Nhà nước Việt Nam 13
2.1.3. Chức năng và vai trò của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam 16
2.1.3.1. Chức năng của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam 16
2.1.3.2. Vai trò của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam 16
2.2. Thực trạng điều hành chính sách tiền tệ của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam năm 2020
18
2.2.1. Bối cảnh kinh tế chính trị thị trường tài chính thế giới và Việt Nam năm 2020 18
2.2.1.1 Tình hình thế giới 18
2.2.1.2 Tình hình Việt Nam 19
2.2.2. Mục tiêu chính sách tiền tệ của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam năm 2020 21
2.2.3. Thực tế điều hành chính sách tiền tệ của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam năm
2020 21
2.3. Cáo buộc thao túng tiền tệ của Bộ Tài chính Mỹ đối với Việt Nam năm 2020 23
2.3.1. Nội dung cáo buộc thao túng tiền tệ của Bộ Tài chính Mỹ đối với Việt Nam năm
2020 23
2.3.2. Nguyên nhân cáo buộc thao túng tiền tệ của Bộ Tài chính Mỹ đối với Việt Nam
năm 2020 23
2.3.3. Ảnh hưởng của cáo buộc thao túng tiền tệ của Bộ Tài chính Mỹ đối với nền kinh
tế Việt Nam 24
2.4. Vai trò của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam trong việc xử lý cáo buộc thao túng tiền tệ
của Bộ Tài chính Mỹ đối với Việt Nam năm 2020 26
2.4.1. Hành động của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam trong việc xử lý cáo buộc 26
2.4.1.1. Phản hồi chính thức của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đối với cáo buộc
“thao túng tiền tệ” 26
2.4.1.2. Thực hiện các biện pháp duy trì ổn định cho nền kinh tế 31
2.4.2. Kết quả đạt được 31
2.4.2.1. Đưa Việt Nam khỏi danh sách thao túng tiền tệ: 31
2
2.4.2.2. Ổn định được thị trường tiền tệ, ngoại hối, tạo lập niềm tin thị trường. 32
2.4.2.3. Đánh dấu bước tiến mới của Việt Nam và Hoa Kỳ: 32
CHƯƠNG 3: ĐÁNH GIÁ VÀ GIẢI PHÁP KHUYẾN NGHỊ 33
3.1. Đánh giá vai trò của Ngân hàng Nhà nước trong việc xử cáo buộc thao túng tiền tệ
của Bộ Tài chính Mỹ đối với Việt Nam năm 2020 33
3.1.1. Ưu điểm 33
3.1.2. Nhược điểm 33
3.2. Giải pháp khuyến nghị cho Ngân hàng Nhà nước Việt Nam để nâng cao vai trò trong
xử lý các buộc thao túng tiền tệ 34
KẾT LUẬN 36
TÀI LIỆU THAM KHẢO 37
3
DANH MỤC HÌNH VẼ
Hình 1. 1: Mô hình NHTW độc lập với Chính phủ 2
Hình 1. 2: Mô hình NHTW trực thuộc Chính phủ 3
Hình 2. 1: Cơ cấu tổ chức của NHNN Việt Nam 14
Hình 2. 2: Dự trữ ngoại hối tính theo số tháng nhập khẩu 27
Hình 2. 3: Tỷ lệ kiều hối và thặng dư thương mại trên GDP (2015 - 2019) 28
Hình 2. 4: Thương mại Việt Nam - Mỹ (2016 - T11/2020) 29
4
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
Từ viết tắt Nghĩa Tiếng Việt Nghĩa Tiếng Anh
NHNN Ngân hàng Nhà nước -
NHTW Ngân hàng trung ương -
TCTD Tổ chức tín dụng -
NSNN Ngân sách Nhà nước -
OMO Thị trường mở Open Market Operations
NHTM Ngân hàng thương mại -
TTCK Thị trường chứng khoán
CSTT Chính sách tiền tệ -
5
LỜI MỞ ĐẦU
Cùng với sự phát triển của nền kinh tế thị trường, sự hình thành phát triển của thị
trường tài chính một vấn đề rất quan trọng. Nếu trong nền kinh tế hàng hoá, thị trường nói
chung tiền đề của quá trình sản xuất kinh doanh thì trong nền kinh tế thị trường giai đoạn
phát triển cao của kinh tế hàng hoá, tiền tệ –vốn ngày càng trở nên quan trọng. Sự phát triển
năng động với tốc độ cao của kinh tế thị trường đã làm nảy sinh nhu cầu thường xuyên và to
lớn về nguồn tài chính để đầu tạo lập vốn kinh doanh hoặc đáp ứng nhu cầu tiêu dùng
trong hội. Nói một cách khác thì sự phát triển của kinh tế thị trường làm xuất hiện các chủ
thể cần nguồn tài chính. Chủ thể cần nguồn tài chính trước tiên là các doanh nghiệp thuộc mọi
thành phần kinh tế, Nhà nước, các hộ gia đình,... Kinh tế càng phát triển thì quan hệ cung cầu
nguồn tài chính lại càng tăng, các hoạt động về phát hành mua bán lại các giấy tờ giá
cũng phát triển, hình thành một thị trường riêng nhằm làm cho cung cầu nguồn tài chính gặp
nhau dễ dàng và thuận lợi hơn, đó là thị trường tài chính.
một bộ phận của thị trường tài chính, thị trường tiền tệ được chuyên môn hoá đối
với các nguồn tài chính được được trao quyền sử dụng ngắn hạn. Chính vì tính chất ngắn hạn
đó nên thị trường tiền tệ cung ứng các nguồn tài chính khả năng thanh toán cao và những
người tham dự ít bị rủi ro. Tham gia vào thị trường tiền tệ gồm có rất nhiều chủ thể với những
mục đích khác nhau: Chủ thể phát hành, chủ thể đầu tư, chủ thể kiểm soát hoạt động của thị
trường. Trong đó NHTW chủ thể quan trọng trên thị trường tiền tệ; NHTW nhiệm vụ
cung cấp cho hệ thống ngân hàng khả năng thanh toán cần thiết để đáp ứng nhu cầu cho nền
kinh tế, tương ứng với mục tiêu của chính sách tiền tệ.
Việt Nam, cùng với quá trình chuyển dịch từ nền kinh tế hàng hoá tập trung bao cấp
sang phát triển nền kinh tế thị trường, trong những năm qua thị trường Việt Nam đã được hình
thành từng bước hoàn thiện theo xu hướng năng động, tích cực phù hợp với xu hướng phát
triển của nền kinh tế thế giới. Mặc đến nay quy của thị trường này còn rất khiêm tốn
nhưng đã đóng vai trò nhất định trong việc kết nối cung cầu về vốn ngắn hạn cho các ngân
hàng, doanh nghiệp.v.v.. Đặc biệt thị trường tiền tệ Việt Nam đã góp phần tháo gỡ khó khăn
cho các ngân hàng trong việc bảo đảm khả năng thanh toán, an toàn hệ thống cũng như mở
rộng hệ thống cho vay. Đạt được những kết quả đó, một phần lớn là do vai trò điều tiết tiền tệ
của NHTW. Nhằm nghiên cứu tìm hiểu vai trò của NHTW trong việc kiểm soát điều tiết
thị trường tiền tệ, nhóm 7 chúng em đã lựa chọn một sự kiện lớn trong thị trường tiền tệ Việt
Nam năm 2020, đó cáo buộc thao túng tiền tệ của Bộ Tài chính Mỹ đối với Việt Nam để
làm sáng tỏ vai trò cùng quan trọng của NHNN với đề tài thảo luận: “Phân tích vai trò
1
của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam trong việc xử cáo buộc thao túng tiền tệ của Bộ
Tài chính Mỹ đối với Việt Nam năm 2020”.
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT
1.1. Cơ sở lý thuyết về Ngân hàng Trung ương
1.1.1. Mô hình Ngân hàng Trung ương
Ngân hàng trung ương (NHTW) một định chế quản Nhà nước về tiền tệ, tín dụng
hoạt động ngân hàng, độc quyền phát hành tiền tệ, ngân hàng của các ngân hàng, thực
hiện chức năng điều hòa lưu thông tiền tệ trong phạm vi cả nước nhằm ổn định giá trị đồng
tiền.
Đến nay, trên thế giới đã có 2 mô hình NHTW phổ biến nhất: NHTW độc lập với Chính
phủ và NHTW trực thuộc Chính phủ.
1.1.1.1. Mô hình tổ chức Ngân hàng trung ương độc lập với Chính phủ
NHTW độc lập với Chính phủ mô hình mà được tổ chức, chỉ đạo trực tiếp từ NHTW
Quốc hội, tự chịu trách nhiệm về mọi hoạt động của mình trước Quốc hội độc lập với
Chính phủ trong điều hành CSTT. Xu hướng tổ chức NHTW theo hình này đang ngày
càng mở rộng ở các nước phát triển.
Hình 1. 1: Mô hình NHTW độc lập với Chính phủ
(Nguồn: TS.Vũ Xuân Dũng (2012))
Theo hình này, quan hệ giữa NHTW Chính phủ quan hệ phối hợp. Chính phủ
không được quyền can thiệp vào hoạt động của NHTW. NHTW dựa trên chỉ tiêu về tốc độ
lạm phát do Quốc hội giao có toàn quyền quyết định về việc xây dựng và thực hiện chính sách
tiền tệ, chính sách tỷ giá, chính sách lãi suất không bị ảnh hưởng bởi áp lực chi tiêu của
2
ngân sách hoặc các áp lực chính trị khác. Tuy nhiên, mức độ độc lập của mỗi NHTW đối với
Chính phủ tuỳ thuộc vào cơ chế lập pháp và nhân sự của nó.
Ưu điểm:
- Tự chủ về cơ chế tổ chức và cơ chế tài chính nhân sự.
- Mục tiêu và các công cụ chính sách tiền tệ không bị phụ thuộc vào Chính phủ.
- NHTW hoàn toàn tự do trong việc theo đuổi các chính sách tiền tệ mà không chịu áp
lực chính trị cũng như áp lực chi tiêu ngân sách. Điều này vô hình chung tạo áp lực lên ngân
sách Chính phủ, đòi hỏi Chính phủ phải chi tiêu hợp để giảm thâm hụt ngân sách. Tự
chủ trong hoạch định chính sách mục tiêu giúp NHTW dễ dàng hơn trong việc kiểm soát
Lạm phát cũng như ổn định nền kinh tế lâu dài.
- NHTW do vai trò hết sức quan trọng tới đời sống kinh tế nên không thể đặt dưới
quyền chính phủ được mà phải do quốc hội kiểm soát.
Nhược điểm:
Điểm bất lợi chủ yếu của hình này khó kết hợp hài hoà giữa chính sách tiền tệ -
do NHTW thực hiện chính sách tài khóa - do Chính phủ chi phối để quản nền
kinh tế một cách có hiệu quả.
1.1.1.2. Mô hình tổ chức Ngân hàng trung ương trực thuộc Chính phủ
NHTW trực thuộc Chính phủ là một mô hình, trong đó NHTW nằm trong nội các Chính
phủ, một bộ máy, cơ quan chức năng của Chính phủ và chịu sự chi phối trực tiếp của Chính
phủ về mảng nhân sự, tài chính, điều hành NHTW và đặc biệt là các quyết định liên quan đến
việc xây dựng và thực thi chính sách tiền tệ.
3
Hình 1. 2: Mô hình NHTW trực thuộc Chính phủ
(Nguồn: TS.Vũ Xuân Dũng (2012))
Theo hình này, NHTW chịu sự chi phối trực tiếp của Chính phủ về nhân sự, về tài
chính, đặc biệt các quyết định liên quan đến việc xây dựng và thực hiện chính sách tiền
tệ. Chính phủ thể dễ dàng phối hợp chính sách tiền tệ của NHTW đồng bộ với các chính
sách kinh tế khác nhằm đảm bảo mức độ liều lượng tác động hiệu quả của tổng thể
các chính sách đối với mục tiêu trong từng thời kỳ. Mô hình này được xem là phù hợp
với yêu cầu cần tập trung quyền lực để khai thác tiềm năng xây dựng kinh tế trong thời kỳ
tiền phát triển.
Ưu điểm:
- Chính phủ thể dễ dàng phối hợp chính sách tiền tệ của NHTW đồng bộ với các
chính sách kinh tế khác, nhằm đảm bảo mức độ liều lượng tác động hiệu quả của
tổng thể các chính sách đối với mục tiêu vĩ mô trong từng thời kỳ.
- NHTW một bộ máy hành chính, một quan Nhà nước quyền lực, được
uy tín và độ tin cậy cao vào Nhà nước của các cá nhân, tổ chức.
- hình này được xem phù hợp với yêu cầu cần tập trung quyền lực để khai thác
tiềm năng xây dựng kinh tế trong thời kỳ phát triển.
Nhược điểm:
Điểm hạn chế chủ yếu của mô hình này là NHTW sẽ mất đi sự chủ động trong việc thực
hiện chính sách tiền tệ. Sự phụ thuộc vào Chính phủ thể làm cho NHTW xa rời mục tiêu
dài hạn của mình là ổn định giá trị tiền tệ, góp phần tăng trưởng kinh tế.
=> Như vậy, giữa hai hình tổ chức của NHTW những điểm khác biệt nhất định.
Trong hình tổ chức NHTW độc lập với Chính phủ, về mặt xã hội NHTW là một định chế
còn về phía nền kinh tế, tác nhân điều tiết, hướng dẫn và hoạch định. Trong mô hình tổ
chức NHTW trực thuộc Chính phủ, về mặt hội NHTW một quan hay bộ phận cấu
thành của bộ máy chính quyền, còn về phía nền kinh tế, nó là công cụ để thực hiện chính sách
kinh tế của Chính phủ.
1.1.2. Chức năng của Ngân hàng Trung ương
1.1.2.1. Chức năng độc quyền phát hành giấy bạc ngân hàng tiền kim loại đồng
thời điều tiết khối lượng tiền trong lưu thông
Đây chức năng bản quan trọng nhất của NHTW. Thực hiện chức năng này
ảnh hưởng đến tình hình lưu thông tiền tệ của quốc gia, do đó có thể ảnh hưởng đến mọi mặt
hoạt động của đời sống kinh tế – xã hội.
4
Việc phát hành tiền được tập trung tuyệt đối vào NHTW theo chế độ nhà nước nắm độc
quyền phát hành tiền. Trong luật NHNN ghi rõ: “NHNN quan duy nhất phát hành
tiền của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa VN bao gồm tiền giấy và tiền kim loại”.
Ngoài việc phát hành tiền để đảm bảo cho sự vận động của hàng hoá thì NHTW còn có
thể phát hành tiền để cho ngân sách vay, tham gia bình ổn thị trường hối đoái,... Do việc phát
hành tiền ảnh hưởng rộng lớn đến lưu thông tiền tệ của đất nước, nên đòi hỏi công việc
phát hành phải tuân theo những nguyên tắc nhất định. Đồng thời việc phát hành tiền phải đi
đôi với việc điều tiết lưu thông tiền tệ, nhằm đảm bảo cung ứng một khối lượng tiền phù hợp
với nhu cầu của nền kinh tế (khối lượng tiền vừa đảm bảo cung ứng đủ phương tiện lưu thông
vừa không gây ra lạm phát).
NHTW cung ứng tiền vào lưu thông qua bốn kênh:
- Cho vay các NHTM và các tổ chức tín dụng.
NHTW luôn đóng vai trò chủ nợ người cho vay cuối cùng đối với các ngân
hàng thương mại. Dẫn đến đầu mối phát sinh tiền trung ương, tăng khối lượng tiền tệ.
NHTW cho TCTD vay, TCTD cho khách hàng vay. Do đó tiền cơ bản của NHTW sẽ đi
vào lưu thông, qua quá trình hoạt động nghiệp vụ của hệ thống ngân hàng, từ lượng tiền
bản của NHTW, lượng tiền cung ứng đã được tăng lên gấp nhiều lần.
- Phát hành qua thị trường vàng và ngoại tệ.
Phát hành qua thị trường vàng ngoại tệ bao gồm: Dự trữ chính thức và dự trữ không
chính thức.
NHTW can thiệp vào thị trường này khi cần thiết, thực hiện các nghiệp vụ mua hoặc
bán trên thị trường này bằng việc tung ra một lượng tiền mặt nhất định vào thị trường để mua
ngoại tệ vàng. Vì vậy, sẽ làm tăng dự trữ quốc gia và gia tăng lưu lượng tiền mặt trong nền
kinh tế, và đây chính là phương thức phát hành tiền qua kênh thị trường ngoại hối.
Việc NHTW dùng kênh phát hành tiền qua thị trường vàng ngoại tệ giúp tăng tiền.
đồng thời giúp NHTW thực hiện chính sách tỷ giá sử dụng quỹ dự trữ ngoại hối hiệu
quả hơn.
- Kênh tín dụng đối với Chính phủ (cho NSNN vay)
Phát hành tiền qua kênh tín dụng đối với Chính phủ hay còn gọi là kênh NSNN. Thông
thường, NSNN rơi vào trạng thái sau: NSNN cân bằng, ngân sách nhà (thặng dư), NSNN bội
chi (thâm hụt).
5
Phát hành tiền qua kênh tín dụng đối với Chính phủ không chỉ đáp ứng trong trường
hợp để xử bội chi trong NSNN mà còn cung ứng vốn trong NSNN theo từng đợt phát hành
trái phiếu Chính phủ.
- Phát hành qua nghiệp vụ thị trường mở (OMO)
Thị trường mở một trong các cửa ngõ để NHTW phát hành tiền vào guồng máy kinh
tế, hoặc rút bớt khối tiền tệ lưu thông trong đó bằng cách mua hay bán các loại giấy tờ có giá
ngắn hạn thông qua các nghiệp vụ của thị trường mở, tức thông qua thị trường tiền tệ do
NHTW tổ chức và chi phối.
Khi NHTW thực hiện nghiệp vụ mua NHTW đã đưa một lượng tiền vào lưu thông,
các chứng từ giá được NHTW nắm giữ trở thành tài sản của NHTW, tương ứng với nó là
sự tăng lên một lượng tiền dự trữ của các NHTM hoặc lượng tiền mặt, làm tăng khối tiền tệ,
mở rộng tín dụng, thúc đẩy đầu tư và tăng trưởng kinh tế và ngược lại.
1.1.2.2. Ngân hàng Trung ương là ngân hàng của ngân hàng
NHTW được gọi ngân hàng của các ngân hàng bởi NHTW không trực tiếp tham gia
vào việc kinh doanh tiền tệ tín dụng cá nhân mà chỉ thực hiện các nhiệm vụ ngân hàng với
các ngân hàng trung gian.
Chức năng này được thể hiện ở chỗ đối tượng giao dịch chủ yếu của NHTW là các ngân
hàng thương mại và các tổ chức tín dụng khác trong nền kinh tế. Cụ thể:
- Mở tài khoản và nhận tiền gửi của các ngân hàng trung gian.
NHTW nhận tiền gửi bảo quản tiền tệ cho các ngân hàng thương mại và các tổ chức
tín dụng: các ngân hàng thương mại các tổ chức tín dụng sẽ không sử dụng hết nguồn vốn
của mình để cho vay sẽ giữ lại một khoản nhất định để đảm bảo khả năng thanh toán.
Khoản tiền này được gửi cho NHTW bảo quản.
- Trung tâm thanh toán cho hệ thống ngân hàng thương mại và các tổ chức tín dụng
Với việc nhận tiền gửi cấp tín dụng cho các ngân hàng thương mại, NHTW đã trở
thành trung tâm tín dụng của cả nền kinh tế, trung tâm thanh toán giữa các ngân hàng thương
mại. Với cách đó, NHTW đứng ra tổ chức thanh toán trừ hay thanh toán từng lần giữa
các ngân hàng thương mại. Nhờ hoạt động thanh toán này của NHTW quá trình chu
chuyển thanh toán của nền kinh tế mới phát triển thuận lợi.
- Cấp tín dụng cho các ngân hàng thương mại và các tổ chức tín dụng
NHTW cấp tín dụng cho các ngân hàng thương mại và các tổ chức tín dụng. Hoạt động
này của NHTW nhằm đảm bảo cung ứng cho nền kinh tế đủ phương tiện thanh toán trên
sở thực hiện các chính sách tiền tệ. Trong trường hợp này, NHTW đóng vai trò người
6
chủ nợ là người cho vay cuối cùng, do đó nghiệp vụ cấp tín dụng của NHTW cho các ngân
hàng thương mại có ý nghĩa quyết định đối với hoạt động tín dụng của cả nền kinh tế.
1.1.2.3. Ngân hàng Trung ương quan quản nhà nước về hoạt động của ngân
hàng
Đây chức năng quyết định bản chất NHTW của một ngân hàng phát hành. NHTW có
nhiệm vụ thay mặt Nhà nước quản các hoạt động tiền tệ, tín dụng, thanh toán các dịch
vụ ngân hàng khác. Cụ thể, NHTW phải thực hiện một số nhiệm vụ sau:
- Quy định tỷ lệ dự trữ bắt buộc đối với các loại tiền gửi yêu cầu các NHTM phải
thực hiện. Chủ động áp dụng các giải pháp để điều tiết khối lượng tiền cung ứng.
- Kiểm tra, giám sát hoạt động đối nội, đối ngoại của các NHTM các tổ chức tín
dụng để bảo đảm an toàn ổn định trong toàn hệ thống, bảo vệ quyền lợi của người gửi tiền
vào ngân hàng.
- Đình chỉ hoạt động hoặc giải thể ngân hàng, tổ chức tín dụng trong trường hợp vi
phạm luật lệ hoặc mất khả năng thanh toán sau khi đã áp dụng những biện pháp cần thiết...
- Quản dự trữ quốc gia về ngoại tệ, vàng, bạc các phương tiện giá trị ngoại tệ
khác.
- Thay mặt Nhà nước tham gia kết các hiệp định về tiền tệ, tín dụng, thanh toán với
nước ngoài các tổ chức tài chính quốc tế; cố vấn các chính sách tài chính - tiền tệ cho
Chính phủ; cung ứng các phương tiện thanh toán cho hệ thống Kho bạc Nhà nước; cho NSNN
vay khi ngân sách thiếu hụt...
1.1.3. Vai trò của Ngân hàng Trung ương
1.1.3.1. Ngân hàng Trung ương góp phần ổn định phát triển nền kinh tế - hội
thông qua điều tiết khối lượng tiền trong lưu thông.
- Trong nền kinh tế thị trường, mức cung tiền tệ tác động mạnh mẽ đến tăng trưởng
kinh tế, thông qua sự thúc đẩy mức tăng giảm tổng sản phẩm quốc nội (GDP). Do vậy, điều
tiết khối khối lượng tiền trong lưu thông cho phù hợp với yêu cầu ổn định và phát triển kinh tế
giữ vị trí quan trọng bậc nhất trong các nhiệm vụ của NHTW
- NHTW thực hiện vai trò này thông qua các công cụ điều tiết trực tiếp hoặc gián tiếp
như lãi suất, hạn mức tín dụng, tỷ lệ dự trữ bắt buộc, lãi suất tái tái chiết khấu, hoạt động thị
trường mở,…
1.1.3.2. Ngân hàng Trung ương tham gia thiết lập và điều chỉnh cơ cấu nền kinh tế.
7
- NHTW tham gia vào việc xây dựng chiến lược phát triển kinh tế - hội nhằm thiết
lập một cơ cấu kinh tế hợp lý và có hiệu quả cao; tài trợ tín dụng cho nền kinh tế thông qua hệ
thống NHTW và các tổ chức tín dụng để thực hiện kế hoạch thiết lập cơ cấu kinh tế đó.
- NHTW đóng vai trò quan trọng trong việc dự đoán những biến cố của nền kinh tế,
những tín hiệu thị trường để được những quyết định đúng đắn về chính sách tiền tệ, nhằm
góp phần điều chỉnh kịp thời cấu kinh tế hiện phù hợp với thực tiễn nền kinh tế đất
nước và xu thế hội nhập quốc tế.
1.1.3.3. Ngân hàng Trung ương ổn định sức mua của đồng tiền quốc gia.
NHTW góp phần cân đối tổng cầu và tổng cung tiền của toàn xã hội, tác động mạnh đến
cân đối cung - cầu ngoại tệ để góp phần ổn định tỷ giá hối đoái, ổn định sức mua đối ngoại
của đồng tiền quốc gia.
1.1.3.4. Ngân hàng Trung ương quản hoạt động hệ thống Ngân hàng Thương mại và
các tổ chức tín dụng khác.
- Để thực hiện được vai trò này, NHTW phải xây dựng ban hành hàng loạt các văn
bản pháp luật quy định về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của các tổ chức tín dụng, dựa trên
cơ sở những định hướng có căn cứ khoa học, sự nắm bắt thị trường nhanh nhạy.
- NHTW trách nhiệm tổ chức thanh tra, giám sát thường xuyên các hoạt động của
NHTM các tổ chức tín dụng, kịp thời phát hiện những hành vi vi phạm pháp luật để có các
biện pháp xử lý thích hợp.
1.1.4. Chính sách tiền tệ của Ngân hàng Trung ương
1.1.4.1. Khái niệm và mục tiêu của chính sách tiền tệ
a. Khái niệm
Chính sách tiền tệ quốc gia tổng hòa những phương thức NHTW thông qua các
hoạt động của mình tác động đến khối lượng tiền trong lưu thông, nhằm phục vụ cho việc
thực hiện các mục tiêu kinh tế - xã hội của đất nước trong một thời kỳ nhất định.
b. Mục tiêu
Mục tiêu chính của chính sách tiền tệ quốc gia tăng trưởng kinh tế, tạo công ăn việc
làm và kiểm soát lạm phát, cụ thể là:
- Phát triển kinh tế, gia tăng sản lượng: Để tăng trưởng kinh tế thì phải thực hiện tái sản
xuất mở rộng trên sở khai thác triệt để các nguồn vốn tiềm năng trong và ngoài nước. Với
chức năng là trung tâm tín dụng, dưới sự chỉ đạo của NHTW thông qua các chính sách tiền tệ,
các ngân hàng sẽ huy động triệt để nguồn vốn nhàn rỗi trong xã hội, phân phối lại cho các chủ
thể cần vốn để phát triển kinh tế.
8
- Tạo công ăn việc làm: Vai trò của NHTW vận dụng các công cụ góp phần tăng
cường đầu mở rộng sản xuất kinh doanh; tham gia tích cực vào việc chống suy thoái kinh
tế, tạo ra sự tăng trưởng kinh tế ổn định, vững chắc, nhằm mục đích khống chế tỷ lệ thất
nghiệp không vượt quá tỷ lệ thất nghiệp tự nhiên, gia tăng khối lượng công ăn việc làm.
- Kiểm soát lạm phát: NHTW phải luôn coi việc kiểm soát lạm phát là một trong những
mục tiêu của chính sách tiền tệ quốc gia. Thường thì, lạm phát vừa là mục tiêu phấn đấu của
NHTW trong nhiệm vụ kiểm soát lạm phát, theo nhà kinh tế học người Mỹ - A.W Phillips
thì làm phát thất nghiệp tỷ lệ nghịch với nhau. Mặt khác, nếu mức lạm phát quá thấp thì
nền kinh tế dễ rơi vào tình trạng suy thoái. tăng trưởng kinh tế, khống chế tình trạng thất
nghiệp tỷ lệ lạm phát đều là những mục tiêu cần đạt đến của chính sách tiền tệ quốc gia. Vì
vậy, NHTW phải nắm bắt được diễn biến của quá trình thực hiện mục tiêu, kịp thời điều chỉnh
khi chúng có sự thay đổi, tìm ra giải pháp để phối hợp hài hòa ba mục tiêu đó.
1.1.4.2. Các công cụ thực thi chính sách tiền tệ quốc gia
Công cụ chính sách tiền tệ quốc gia các hoạt động của NHTW nhằm tác động đến
cung tiền lãi suất, qua đó nhằm đạt được các mục tiêu của chính sách tiền tệ. NHTW sử
dụng 2 nhóm công cụ chính sách tiền tệ, đó là:
a. Nhóm công cụ trực tiếp: nhóm công cụ thông qua chúng tác động trực tiếp
vào các mục tiêu không cần phải qua một biến số trung gian nào khác. Các công cụ trực
tiếp mà NHTW có thể sử dụng thường là:
- Lãi suất tiền gửi
- Khung lãi suất tiền gửi và cho vay hoặc lãi suất cơ bản
- Hạn mức tín dụng đối với các tổ chức tín dụng
- Phát hành tiền trực tiếp cho ngân sách và đầu tư
b. Nhóm công cụ gián tiếp: nhóm công cụ sự tác động của chúng đến các mục
tiêu của chính sách tiền tệ được thực hiện thông qua một biến số khác thuộc về sự kiểm soát
của NHTW và qua cơ chế tự điều tiết của các lực lượng thị trường.
Nhóm công cụ gián tiếp mà NHTW có thể sử dụng thường là:
- Nghiệp vụ thị trường mở (Open Market Operation)
- Lãi suất tái cấp vốn
- Dự trữ bắt buộc
1.2. Cơ sở lý thuyết về thị trường tiền tệ và thao túng tiền tệ
1.2.1. Một số khái niệm liên quan
9
1.2.1.1. Khái niệm tiền tệ
Theo quan điểm của K. Mark, tiền tệ được định nghĩa như sau: Tiền tệ là một loại hàng
hóa đặc biệt, tách ra khỏi thế giới hàng hóa, được dùng làm vật ngang giá chung để đo lường
và biểu hiện giá trị của tất cả các hàng hóa khác và thực hiện trao đổi giữa chúng.
1.2.1.2. Khái niệm thị trường tiền tệ
Thị trường tiền tệ (Money market) thị trường vốn ngắn hạn (dưới 1 năm) diễn ra các
hoạt động cung cầu về vốn ngắn hạn như vay vốn ngân hàng, mua bán chứng khoán, chứng
chỉ tiền gửi, tín phiếu kho bạc. Vốn ngắn hạn gồm các loại giấy tờ có giá ngắn hạn, có kỳ
hạn, rủi ro thấp và tính thanh khoản cao.
1.2.1.3. Khái niệm thao túng tiền tệ
Thao túng tiền tệ Chính phủ của một nước hạ giá đồng nội tệ so với đồng ngoại tệ.
Mục đích để giảm giá sản phẩm nhập khẩu rẻ hơn các sản phẩm nội địa. Kích thích người
dân mua hàng nhập. Nói cách khác, thao túng tiền tệ quốc gia cố tình can thiệp vào tỉ giá
hối đoái để mang đến lợi ích thương mại. còn khiến quốc gia nhập khẩu chịu thâm hụt
ngày càng lớn về mặt thương mại và họ sẽ có biện pháp phòng tránh.
Thực tế, thao túng tiền tệ một quyết định áp đặt của chính quyền Hoa Kỳ nói chung
Bộ Ngân khố Hoa Kỳ nói riêng, cho những quốc gia liên quan đến các “hoạt động tiền
tệ không công bằng” nhằm trục lợi thương mại. Các hoạt động này thể được gọi can
thiệp tiền tệ hoặc chính sách tiền tệ khi NHTW mua hoặc bán đồng ngoại tệ để đổi lấy
đồng nội tệ với mục đích làm thay đổi giá trị tỷ giá hối đoái và chính sách thương mại.
1.2.2. Ảnh hưởng và tác hại của thao túng tiền tệ
thể thấy những hành vi thao túng tiền tệ của một quốc gia đều nhằm mục đích đẩy
nhanh quá trình chạy đua trở thành một nước công nghiệp tiên tiến và hiện đại hơn so với các
nước khác. Đây một hành động “chơi xấu” thiếu công bằng rất đáng bị lên án chỉ
trích. Bởi yếu tố cơ bản trong cuộc đua này là sự công bằng trong cạnh tranh sản xuất, tiêu thụ
hàng hoá. Một quốc gia hành vi thao túng tiền tệ sẽ bị các nước bạn đánh giá thấp và kéo
theo đó là rất nhiều ảnh hưởng tiêu cực khác:
- . Ảnh hưởng đầu tiên của hành vi thao túng tiền tệ ảnh hưởng đến giá trị tiền tệ
Thao túng tiền tệ thể dẫn đến sự biến đổi mạnh mẽ trong giá trị của tiền tệ, kéo theo đó là
sự hỗn loạn của các giao dịch quốc tế. Mặt khác, thao túng tiền tệ còn làm biến đổi sai lệch
giá trị cổ phiếu cũng như thị trường chứng khoán
- Thứ hai, thao túng tiền tệ thể dẫn đến sự yếu kém trong sức mạnh kinh tế của một
nước, việc thao túng tiền tệ thể làm giảm sự tin tưởng của người dân ở giá trị đồng tiền
10
dẫn đến giảm sức mua. Các chủ thể những nhà đầu nước ngoài sẽ gặp phải những trở
ngại nhất định khi quyết định đầu tư vào quốc gia dính cáo buộc tiền tệ.
- Thứ ba, cũng ảnh hưởng nghiêm trọng nhất của việc thao túng tiền tệ cán cân
xuất nhập khẩu - một yếu tố quan trọng tác động đến tiềm lực kinh tế quốc gia. Khi bị các cáo
buộc thao túng tiền tệ từ các quốc gia khác đồng nghĩa với việc phải đối mặt với các điều luật
khắt khe trong quá trình xuất nhập khẩu. Nhiều mặt hàng xuất khẩu bị đánh thuế cao hơn bình
thường gây thiệt hại nặng nề cho chủ sản xuất, hạn chế khả năng xuất khẩu hàng hóa sang các
thị trường lớn mạnh gây sự mất cân bằng cho cán cân xuất nhập khẩu
Tất cả những ảnh hưởng này đều thể gây ra sự bất ổn cho nền kinh tế toàn cầu lẫn
khu vực. vậy, việc thao túng tiền tệ không được chấp nhận và cần phải loại bỏ để đảm bảo
sự vận hành công bằng, ổn định của kinh tế thế giới
1.2.3. Các chỉ tiêu để đánh giá quốc gia thao túng tiền tệ
Theo đạo luật cạnh tranh và thương mại Omnibus 1988, bộ trưởng ngân khố Hoa Kỳ đặt
ra 3 tiêu chí để gắn mác thao túng tiền tệ:
1/ Thặng dư thương mại hàng hóa song phương với Hoa Kỳ ít nhất 20 tỷ USD;
2/ Thặng dư cán cân vãng lai tương đương ít nhất 2% GDP;
3/ Can thiệp một chiều kéo dài trên thị trường ngoại tệ, thể hiện qua việc mua ròng
ngoại tệ trong ít nhất 6 tháng trên giai đoạn 12 tháng với tổng lượng ngoại tệ mua ròng tương
đương ít nhất 2% GDP trong giai đoạn 12 tháng.
Dựa trên 3 tiêu chí, Bộ Tài chính Mỹ xác định liệu tình trạng hành vi tiền tệ không
công bằng hay sự mất cân bằng cân bằng đối ngoại quá mức làm tăng thêm gánh nặng tăng
trưởng, việc làm công nhân và doanh nghiệp đang trên đà phát triển Mỹ hay không?
11
CHƯƠNG 2: VAI TRÒ CỦA NHNN VIỆT NAM TRONG VIỆC XỬ LÝ
CÁO BUỘC THAO TÚNG TIỀN TỆ CỦA BỘ TÀI CHÍNH MỸ ĐỐI VỚI
VIỆT NAM NĂM 2020
2.1. Giới thiệu chung về Ngân hàng Nhà nước Việt Nam
2.1.1. Sự ra đời và phát triển của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam
Trước Cách mạng tháng 8 năm 1945, Việt Nam là nước thuộc địa nửa phong kiến dưới
sự thống trị của thực dân Pháp. Trong suốt thời kỳ thuộc địa, sự hình thành và phát triển của
hệ thống tiền tệ, tín dụng đều do Chính phủ Pháp xếp đặt, bảo hộ thông qua Ngân hàng Đông
Dương. Thực chất, Ngân hàng Đông Dương hoạt động với cách một Ngân hàng phát
hành Trung ương, đồng thời một ngân hàng kinh doanh đa năng bao gồm các nghiệp vụ
ngân hàng thương mại và nghiệp vụ đầu tư.
Sau Cách mạng tháng 8, một trong những nhiệm vụ trọng tâm của chính quyền cách
mạng phải từng bước xây dựng nền tiền tệ độc lập, tự chủ, công cụ quan trọng của chính
quyền để xây dựng bảo vệ đất nước. Nhiệm vụ này dần trở thành hiện thực khi bước sang
năm 1950, cuộc kháng chiến chống Pháp của nhân dân Việt Nam ngày một tiến triển mạnh
mẽ với những chiến thắng vang dội trên khắp các chiến trường, vùng giải phóng không ngừng
được mở rộng. Sự chuyển biến của cục diện cách mạng đòi hỏi công tác kinh tế, tài chính phải
được củng cố và phát triển theo yêu cầu mới.
Trên sở chủ trương chính sách mới về tài chính- kinh tế mà Đại hội Đảng toàn quốc
lần thứ II (tháng 02/1951) đề ra, ngày 6/5/1951, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã Sắc lệnh số
15/SL thành lập Ngân hàng Quốc gia Việt Nam với các nhiệm vụ chủ yếu là: Quản lý việc
phát hành giấy bạc tổ chức lưu thông tiền tệ, quản Kho bạc nhà nước, thực hiện chính
sách tín dụng để phát triển sản xuất, phối hợp với mậu dịch để quản lý tiền tệ và đấu tranh tiền
tệ với địch. Sự ra đời của Ngân hàng Quốc gia Việt Nam là một bước ngoặt lịch sử, là kết quả
nối tiếp của quá trình đấu tranh xây dựng hệ thống tiền tệ, tín dụng độc lập, tự chủ, đánh dấu
bước phát triển mới, thay đổi về chất trong lĩnh vực tiền tệ, tín dụng ở nước ta.
Trong thời kỳ kháng chiến chống Mỹ (1955 - 1975), hoạt động của Ngân hàng Quốc gia
tập trung vào việc tăng cường quản lý, điều hoà lưu thông tiền tệ theo các nguyên tắc quản lý
kinh tế XHCN; xây dựng hoàn thiện chế độ tín dụng hướng vào phục vụ phát triển kinh tế
quốc doanh kinh tế tập thể; mở rộng phạm vi và cải tiến nghiệp vụ thanh toán không dùng
tiền mặt, thiết lập vai trò ngân hàng là trung tâm thanh toán của nền kinh tế; mở rộng quan hệ
thanh toán và tín dụng quốc tế; thực hiện chế độ Nhà nước độc quyền quản lý ngoại hối.
12
Ngày 26/10/1961, Ngân hàng Quốc gia Việt Nam được đổi tên thành Ngân hàng Nhà
nước Việt Nam (NHNN).
Tháng 3/1988, Hội đồng Bộ trưởng ban hành Nghị định 53/HĐBT với định hướng
bản chuyển hẳn hệ thống ngân hàng sang hoạt động kinh doanh. Tháng 5/1990, Hội đồng
Nhà nước thông qua và công bố Pháp lệnh NHNN Việt Nam và Pháp lệnh ngân hàng, hợp tác
tín dụng công ty tài chính. Sự ra đời của hai Pháp lệnh ngân hàng đã chính thức chuyển
chế hoạt động của hệ thống Ngân hàng Việt Nam từ một cấp sang hai cấp. Trong đó,
NHNN Việt Nam thực hiện chức năng quản nhà nước về hoạt động kinh doanh tiền tệ,
ngân hàng thực thi nhiệm vụ của một NHTW; các ngân hàng thương mại tổ chức tín
dụng kinh doanh tiền tệ, tín dụng, thanh toán, ngoại hối dịch vụ ngân hàng trong khuôn
khổ pháp luật.
Từ năm 1990 đến nay, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn cấu tổ chức của NHNN
tiếp tục được bổ sung, hoàn thiện theo quy định của Luật NHNN Việt Nam năm 1997 (sửa
đổi, bổ sung năm 2003), Luật NHNN Việt Nam năm 2010 các nghị định của Chính phủ
quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn cấu tổ chức của NHNN (Nghị định số
88/1998/NĐ-CP ngày 02/11/1998, Nghị định số 52/2003/NĐ-CP ngày 19/5/2003, Nghị định
số 96/2008/NĐ-CP ngày 26/8/2008, Nghị định số 156/2013/NĐ-CP ngày 11/11/2013, Nghị
định số 16/2017/NĐ-CP ngày 17/02/2017 Nghị định số 102/2022/NĐ-CP ngày
12/12/2022).
2.1.2. Đặc điểm và mô hình Ngân hàng Nhà nước Việt Nam
Cơ cấu tổ chức của NHNN Việt Nam
13

Preview text:

TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI
KHOA HTTTKT VÀ THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ - - -  - - - BÀI THẢO LUẬN
HỌC PHẦN: NHẬP MÔN TÀI CHÍNH – TIỀN TỆ ĐỀ TÀI
Phân tích vai trò của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam trong việc xử lý cáo buộc
thao túng tiền tệ của Bộ Tài chính Mỹ đối với Việt Nam năm 2020.
Giảng viên hướng dẫn: Th.S Lê Thùy Dương Nhóm: Lớp học phần: HÀ NỘI - 2023 MỤC LỤC DANH MỤC HÌNH VẼ iv DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT v LỜI MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT 2
1.1. Cơ sở lý thuyết về Ngân hàng Trung ương 2
1.1.1. Mô hình Ngân hàng Trung ương 2
1.1.1.1. Mô hình tổ chức Ngân hàng trung ương độc lập với Chính phủ 2
1.1.1.2. Mô hình tổ chức Ngân hàng trung ương trực thuộc Chính phủ 3
1.1.2. Chức năng của Ngân hàng Trung ương 4
1.1.2.1. Chức năng độc quyền và phát hành giấy bạc ngân hàng và tiền kim loại đồng
thời điều tiết khối lượng tiền trong lưu thông 4
1.1.2.2. Ngân hàng Trung ương là ngân hàng của ngân hàng 6
1.1.2.3. Ngân hàng Trung ương là cơ quan quản lý nhà nước về hoạt động của ngân hàng 6
1.1.3. Vai trò của Ngân hàng Trung ương 7
1.1.3.1. Ngân hàng Trung ương góp phần ổn định và phát triển nền kinh tế - xã hội
thông qua điều tiết khối lượng tiền trong lưu thông. 7
1.1.3.2. Ngân hàng Trung ương tham gia thiết lập và điều chỉnh cơ cấu nền kinh tế. 7
1.1.3.3. Ngân hàng Trung ương ổn định sức mua của đồng tiền quốc gia. 7
1.1.3.4. Ngân hàng Trung ương quản lý hoạt động hệ thống Ngân hàng Thương mại
và các tổ chức tín dụng khác. 8
1.1.4. Chính sách tiền tệ của Ngân hàng Trung ương 8
1.1.4.1. Khái niệm và mục tiêu của chính sách tiền tệ 8
1.1.4.2. Các công cụ thực thi chính sách tiền tệ quốc gia 9
1.2. Cơ sở lý thuyết về thị trường tiền tệ và thao túng tiền tệ 9
1.2.1. Một số khái niệm liên quan 9
1.2.1.1. Khái niệm tiền tệ 9
1.2.1.2. Khái niệm thị trường tiền tệ 9
1.2.1.3. Khái niệm thao túng tiền tệ 10
1.2.2. Ảnh hưởng và tác hại của thao túng tiền tệ 10 1
1.2.3. Các chỉ tiêu để đánh giá quốc gia thao túng tiền tệ 11
CHƯƠNG 2: VAI TRÒ CỦA NHNN VIỆT NAM TRONG VIỆC XỬ LÝ CÁO BUỘC
THAO TÚNG TIỀN TỆ CỦA BỘ TÀI CHÍNH MỸ ĐỐI VỚI VIỆT NAM NĂM 2020 12
2.1. Giới thiệu chung về Ngân hàng Nhà nước Việt Nam 12
2.1.1. Sự ra đời và phát triển của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam 12
2.1.2. Đặc điểm và mô hình Ngân hàng Nhà nước Việt Nam 13
2.1.3. Chức năng và vai trò của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam 16
2.1.3.1. Chức năng của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam 16
2.1.3.2. Vai trò của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam 16
2.2. Thực trạng điều hành chính sách tiền tệ của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam năm 2020 18
2.2.1. Bối cảnh kinh tế chính trị thị trường tài chính thế giới và Việt Nam năm 2020 18
2.2.1.1 Tình hình thế giới 18
2.2.1.2 Tình hình Việt Nam 19
2.2.2. Mục tiêu chính sách tiền tệ của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam năm 2020 21
2.2.3. Thực tế điều hành chính sách tiền tệ của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam năm 2020 21
2.3. Cáo buộc thao túng tiền tệ của Bộ Tài chính Mỹ đối với Việt Nam năm 2020 23
2.3.1. Nội dung cáo buộc thao túng tiền tệ của Bộ Tài chính Mỹ đối với Việt Nam năm 2020 23
2.3.2. Nguyên nhân cáo buộc thao túng tiền tệ của Bộ Tài chính Mỹ đối với Việt Nam năm 2020 23
2.3.3. Ảnh hưởng của cáo buộc thao túng tiền tệ của Bộ Tài chính Mỹ đối với nền kinh tế Việt Nam 24
2.4. Vai trò của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam trong việc xử lý cáo buộc thao túng tiền tệ
của Bộ Tài chính Mỹ đối với Việt Nam năm 2020 26
2.4.1. Hành động của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam trong việc xử lý cáo buộc 26
2.4.1.1. Phản hồi chính thức của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đối với cáo buộc “thao túng tiền tệ” 26
2.4.1.2. Thực hiện các biện pháp duy trì ổn định cho nền kinh tế 31
2.4.2. Kết quả đạt được 31
2.4.2.1. Đưa Việt Nam khỏi danh sách thao túng tiền tệ: 31 2
2.4.2.2. Ổn định được thị trường tiền tệ, ngoại hối, tạo lập niềm tin thị trường. 32
2.4.2.3. Đánh dấu bước tiến mới của Việt Nam và Hoa Kỳ: 32
CHƯƠNG 3: ĐÁNH GIÁ VÀ GIẢI PHÁP KHUYẾN NGHỊ 33
3.1. Đánh giá vai trò của Ngân hàng Nhà nước trong việc xử lý cáo buộc thao túng tiền tệ
của Bộ Tài chính Mỹ đối với Việt Nam năm 2020 33 3.1.1. Ưu điểm 33 3.1.2. Nhược điểm 33
3.2. Giải pháp khuyến nghị cho Ngân hàng Nhà nước Việt Nam để nâng cao vai trò trong
xử lý các buộc thao túng tiền tệ 34 KẾT LUẬN 36 TÀI LIỆU THAM KHẢO 37 3 DANH MỤC HÌNH VẼ
Hình 1. 1: Mô hình NHTW độc lập với Chính phủ 2
Hình 1. 2: Mô hình NHTW trực thuộc Chính phủ 3
Hình 2. 1: Cơ cấu tổ chức của NHNN Việt Nam 14
Hình 2. 2: Dự trữ ngoại hối tính theo số tháng nhập khẩu 27
Hình 2. 3: Tỷ lệ kiều hối và thặng dư thương mại trên GDP (2015 - 2019) 28
Hình 2. 4: Thương mại Việt Nam - Mỹ (2016 - T11/2020) 29 4 DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT Từ viết tắt Nghĩa Tiếng Việt Nghĩa Tiếng Anh NHNN Ngân hàng Nhà nước - NHTW Ngân hàng trung ương - TCTD Tổ chức tín dụng - NSNN Ngân sách Nhà nước - OMO Thị trường mở Open Market Operations NHTM Ngân hàng thương mại - TTCK
Thị trường chứng khoán CSTT Chính sách tiền tệ - 5 LỜI MỞ ĐẦU
Cùng với sự phát triển của nền kinh tế thị trường, sự hình thành và phát triển của thị
trường tài chính là một vấn đề rất quan trọng. Nếu trong nền kinh tế hàng hoá, thị trường nói
chung là tiền đề của quá trình sản xuất kinh doanh thì trong nền kinh tế thị trường giai đoạn
phát triển cao của kinh tế hàng hoá, tiền tệ –vốn ngày càng trở nên quan trọng. Sự phát triển
năng động với tốc độ cao của kinh tế thị trường đã làm nảy sinh nhu cầu thường xuyên và to
lớn về nguồn tài chính để đầu tư và tạo lập vốn kinh doanh hoặc đáp ứng nhu cầu tiêu dùng
trong xã hội. Nói một cách khác thì sự phát triển của kinh tế thị trường làm xuất hiện các chủ
thể cần nguồn tài chính. Chủ thể cần nguồn tài chính trước tiên là các doanh nghiệp thuộc mọi
thành phần kinh tế, Nhà nước, các hộ gia đình,... Kinh tế càng phát triển thì quan hệ cung cầu
nguồn tài chính lại càng tăng, các hoạt động về phát hành và mua bán lại các giấy tờ có giá
cũng phát triển, hình thành một thị trường riêng nhằm làm cho cung cầu nguồn tài chính gặp
nhau dễ dàng và thuận lợi hơn, đó là thị trường tài chính.
Là một bộ phận của thị trường tài chính, thị trường tiền tệ được chuyên môn hoá đối
với các nguồn tài chính được được trao quyền sử dụng ngắn hạn. Chính vì tính chất ngắn hạn
đó nên thị trường tiền tệ cung ứng các nguồn tài chính có khả năng thanh toán cao và những
người tham dự ít bị rủi ro. Tham gia vào thị trường tiền tệ gồm có rất nhiều chủ thể với những
mục đích khác nhau: Chủ thể phát hành, chủ thể đầu tư, chủ thể kiểm soát hoạt động của thị
trường. Trong đó NHTW là chủ thể quan trọng trên thị trường tiền tệ; NHTW có nhiệm vụ
cung cấp cho hệ thống ngân hàng khả năng thanh toán cần thiết để đáp ứng nhu cầu cho nền
kinh tế, tương ứng với mục tiêu của chính sách tiền tệ.
Ở Việt Nam, cùng với quá trình chuyển dịch từ nền kinh tế hàng hoá tập trung bao cấp
sang phát triển nền kinh tế thị trường, trong những năm qua thị trường Việt Nam đã được hình
thành và từng bước hoàn thiện theo xu hướng năng động, tích cực phù hợp với xu hướng phát
triển của nền kinh tế thế giới. Mặc dù đến nay quy mô của thị trường này còn rất khiêm tốn
nhưng nó đã đóng vai trò nhất định trong việc kết nối cung cầu về vốn ngắn hạn cho các ngân
hàng, doanh nghiệp.v.v.. Đặc biệt thị trường tiền tệ Việt Nam đã góp phần tháo gỡ khó khăn
cho các ngân hàng trong việc bảo đảm khả năng thanh toán, an toàn hệ thống cũng như mở
rộng hệ thống cho vay. Đạt được những kết quả đó, một phần lớn là do vai trò điều tiết tiền tệ
của NHTW. Nhằm nghiên cứu tìm hiểu vai trò của NHTW trong việc kiểm soát và điều tiết
thị trường tiền tệ, nhóm 7 chúng em đã lựa chọn một sự kiện lớn trong thị trường tiền tệ Việt
Nam năm 2020, đó là cáo buộc thao túng tiền tệ của Bộ Tài chính Mỹ đối với Việt Nam để
làm sáng tỏ vai trò vô cùng quan trọng của NHNN với đề tài thảo luận: “Phân tích vai trò 1
của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam trong việc xử lý cáo buộc thao túng tiền tệ của Bộ
Tài chính Mỹ đối với Việt Nam năm 2020”.
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT
1.1. Cơ sở lý thuyết về Ngân hàng Trung ương
1.1.1. Mô hình Ngân hàng Trung ương
Ngân hàng trung ương (NHTW) là một định chế quản lý Nhà nước về tiền tệ, tín dụng
và hoạt động ngân hàng, độc quyền phát hành tiền tệ, là ngân hàng của các ngân hàng, thực
hiện chức năng điều hòa lưu thông tiền tệ trong phạm vi cả nước nhằm ổn định giá trị đồng tiền.
Đến nay, trên thế giới đã có 2 mô hình NHTW phổ biến nhất: NHTW độc lập với Chính
phủ và NHTW trực thuộc Chính phủ.
1.1.1.1. Mô hình tổ chức Ngân hàng trung ương độc lập với Chính phủ
NHTW độc lập với Chính phủ là mô hình mà NHTW được tổ chức, chỉ đạo trực tiếp từ
Quốc hội, tự chịu trách nhiệm về mọi hoạt động của mình trước Quốc hội và độc lập với
Chính phủ trong điều hành CSTT. Xu hướng tổ chức NHTW theo mô hình này đang ngày
càng mở rộng ở các nước phát triển.
Hình 1. 1: Mô hình NHTW độc lập với Chính phủ
(Nguồn: TS.Vũ Xuân Dũng (2012))
Theo mô hình này, quan hệ giữa NHTW và Chính phủ là quan hệ phối hợp. Chính phủ
không được quyền can thiệp vào hoạt động của NHTW. NHTW dựa trên chỉ tiêu về tốc độ
lạm phát do Quốc hội giao có toàn quyền quyết định về việc xây dựng và thực hiện chính sách
tiền tệ, chính sách tỷ giá, chính sách lãi suất mà không bị ảnh hưởng bởi áp lực chi tiêu của 2
ngân sách hoặc các áp lực chính trị khác. Tuy nhiên, mức độ độc lập của mỗi NHTW đối với
Chính phủ tuỳ thuộc vào cơ chế lập pháp và nhân sự của nó. Ưu điểm:
- Tự chủ về cơ chế tổ chức và cơ chế tài chính nhân sự.
- Mục tiêu và các công cụ chính sách tiền tệ không bị phụ thuộc vào Chính phủ.
- NHTW hoàn toàn tự do trong việc theo đuổi các chính sách tiền tệ mà không chịu áp
lực chính trị cũng như áp lực chi tiêu ngân sách. Điều này vô hình chung tạo áp lực lên ngân
sách Chính phủ, đòi hỏi Chính phủ phải có chi tiêu hợp lý để giảm thâm hụt ngân sách. Tự
chủ trong hoạch định chính sách và mục tiêu giúp NHTW dễ dàng hơn trong việc kiểm soát
Lạm phát cũng như ổn định nền kinh tế lâu dài.
- NHTW do có vai trò hết sức quan trọng tới đời sống kinh tế nên không thể đặt dưới
quyền chính phủ được mà phải do quốc hội kiểm soát. Nhược điểm:
Điểm bất lợi chủ yếu của mô hình này là khó kết hợp hài hoà giữa chính sách tiền tệ -
do NHTW thực hiện và chính sách tài khóa - do Chính phủ chi phối để quản lý vĩ mô nền
kinh tế một cách có hiệu quả.
1.1.1.2. Mô hình tổ chức Ngân hàng trung ương trực thuộc Chính phủ
NHTW trực thuộc Chính phủ là một mô hình, trong đó NHTW nằm trong nội các Chính
phủ, là một bộ máy, cơ quan chức năng của Chính phủ và chịu sự chi phối trực tiếp của Chính
phủ về mảng nhân sự, tài chính, điều hành NHTW và đặc biệt là các quyết định liên quan đến
việc xây dựng và thực thi chính sách tiền tệ. 3
Hình 1. 2: Mô hình NHTW trực thuộc Chính phủ
(Nguồn: TS.Vũ Xuân Dũng (2012))
Theo mô hình này, NHTW chịu sự chi phối trực tiếp của Chính phủ về nhân sự, về tài
chính, đặc biệt là các quyết định có liên quan đến việc xây dựng và thực hiện chính sách tiền
tệ. Chính phủ có thể dễ dàng phối hợp chính sách tiền tệ của NHTW đồng bộ với các chính
sách kinh tế vĩ mô khác nhằm đảm bảo mức độ và liều lượng tác động hiệu quả của tổng thể
các chính sách đối với mục tiêu vĩ mô trong từng thời kỳ. Mô hình này được xem là phù hợp
với yêu cầu cần tập trung quyền lực để khai thác tiềm năng xây dựng kinh tế trong thời kỳ tiền phát triển. Ưu điểm:
- Chính phủ có thể dễ dàng phối hợp chính sách tiền tệ của NHTW đồng bộ với các
chính sách kinh tế vĩ mô khác, nhằm đảm bảo mức độ và liều lượng tác động hiệu quả của
tổng thể các chính sách đối với mục tiêu vĩ mô trong từng thời kỳ.
- NHTW có một bộ máy hành chính, là một cơ quan Nhà nước có quyền lực, có được
uy tín và độ tin cậy cao vào Nhà nước của các cá nhân, tổ chức.
- Mô hình này được xem là phù hợp với yêu cầu cần tập trung quyền lực để khai thác
tiềm năng xây dựng kinh tế trong thời kỳ phát triển. Nhược điểm:
Điểm hạn chế chủ yếu của mô hình này là NHTW sẽ mất đi sự chủ động trong việc thực
hiện chính sách tiền tệ. Sự phụ thuộc vào Chính phủ có thể làm cho NHTW xa rời mục tiêu
dài hạn của mình là ổn định giá trị tiền tệ, góp phần tăng trưởng kinh tế.
=> Như vậy, giữa hai mô hình tổ chức của NHTW có những điểm khác biệt nhất định.
Trong mô hình tổ chức NHTW độc lập với Chính phủ, về mặt xã hội NHTW là một định chế
còn về phía nền kinh tế, nó là tác nhân điều tiết, hướng dẫn và hoạch định. Trong mô hình tổ
chức NHTW trực thuộc Chính phủ, về mặt xã hội NHTW là một cơ quan hay bộ phận cấu
thành của bộ máy chính quyền, còn về phía nền kinh tế, nó là công cụ để thực hiện chính sách kinh tế của Chính phủ.
1.1.2. Chức năng của Ngân hàng Trung ương
1.1.2.1. Chức năng độc quyền và phát hành giấy bạc ngân hàng và tiền kim loại đồng
thời điều tiết khối lượng tiền trong lưu thông
Đây là chức năng cơ bản và quan trọng nhất của NHTW. Thực hiện chức năng này có
ảnh hưởng đến tình hình lưu thông tiền tệ của quốc gia, do đó có thể ảnh hưởng đến mọi mặt
hoạt động của đời sống kinh tế – xã hội. 4
Việc phát hành tiền được tập trung tuyệt đối vào NHTW theo chế độ nhà nước nắm độc
quyền phát hành tiền. Trong luật NHNN có ghi rõ: “NHNN là cơ quan duy nhất phát hành
tiền của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa VN bao gồm tiền giấy và tiền kim loại”.
Ngoài việc phát hành tiền để đảm bảo cho sự vận động của hàng hoá thì NHTW còn có
thể phát hành tiền để cho ngân sách vay, tham gia bình ổn thị trường hối đoái,... Do việc phát
hành tiền có ảnh hưởng rộng lớn đến lưu thông tiền tệ của đất nước, nên đòi hỏi công việc
phát hành phải tuân theo những nguyên tắc nhất định. Đồng thời việc phát hành tiền phải đi
đôi với việc điều tiết lưu thông tiền tệ, nhằm đảm bảo cung ứng một khối lượng tiền phù hợp
với nhu cầu của nền kinh tế (khối lượng tiền vừa đảm bảo cung ứng đủ phương tiện lưu thông
vừa không gây ra lạm phát).
NHTW cung ứng tiền vào lưu thông qua bốn kênh:
- Cho vay các NHTM và các tổ chức tín dụng.
NHTW luôn đóng vai trò là chủ nợ và là người cho vay cuối cùng đối với các ngân
hàng thương mại. Dẫn đến đầu mối phát sinh tiền trung ương, tăng khối lượng tiền tệ.
NHTW cho TCTD vay, TCTD cho khách hàng vay. Do đó tiền cơ bản của NHTW sẽ đi
vào lưu thông, qua quá trình hoạt động nghiệp vụ của hệ thống ngân hàng, từ lượng tiền cơ
bản của NHTW, lượng tiền cung ứng đã được tăng lên gấp nhiều lần.
- Phát hành qua thị trường vàng và ngoại tệ.
Phát hành qua thị trường vàng và ngoại tệ bao gồm: Dự trữ chính thức và dự trữ không chính thức.
NHTW can thiệp vào thị trường này khi cần thiết, thực hiện các nghiệp vụ mua hoặc
bán trên thị trường này bằng việc tung ra một lượng tiền mặt nhất định vào thị trường để mua
ngoại tệ và vàng. Vì vậy, sẽ làm tăng dự trữ quốc gia và gia tăng lưu lượng tiền mặt trong nền
kinh tế, và đây chính là phương thức phát hành tiền qua kênh thị trường ngoại hối.
Việc NHTW dùng kênh phát hành tiền qua thị trường vàng và ngoại tệ giúp tăng tiền.
đồng thời giúp NHTW thực hiện chính sách tỷ giá và sử dụng quỹ dự trữ ngoại hối có hiệu quả hơn.
- Kênh tín dụng đối với Chính phủ (cho NSNN vay)
Phát hành tiền qua kênh tín dụng đối với Chính phủ hay còn gọi là kênh NSNN. Thông
thường, NSNN rơi vào trạng thái sau: NSNN cân bằng, ngân sách nhà (thặng dư), NSNN bội chi (thâm hụt). 5
Phát hành tiền qua kênh tín dụng đối với Chính phủ không chỉ đáp ứng trong trường
hợp để xử lý bội chi trong NSNN mà còn cung ứng vốn trong NSNN theo từng đợt phát hành trái phiếu Chính phủ.
- Phát hành qua nghiệp vụ thị trường mở (OMO)
Thị trường mở là một trong các cửa ngõ để NHTW phát hành tiền vào guồng máy kinh
tế, hoặc rút bớt khối tiền tệ lưu thông trong đó bằng cách mua hay bán các loại giấy tờ có giá
ngắn hạn thông qua các nghiệp vụ của thị trường mở, tức là thông qua thị trường tiền tệ do
NHTW tổ chức và chi phối.
Khi NHTW thực hiện nghiệp vụ mua là NHTW đã đưa một lượng tiền vào lưu thông,
các chứng từ có giá được NHTW nắm giữ trở thành tài sản của NHTW, tương ứng với nó là
sự tăng lên một lượng tiền dự trữ của các NHTM hoặc lượng tiền mặt, làm tăng khối tiền tệ,
mở rộng tín dụng, thúc đẩy đầu tư và tăng trưởng kinh tế và ngược lại.
1.1.2.2. Ngân hàng Trung ương là ngân hàng của ngân hàng
NHTW được gọi là ngân hàng của các ngân hàng bởi NHTW không trực tiếp tham gia
vào việc kinh doanh tiền tệ và tín dụng cá nhân mà chỉ thực hiện các nhiệm vụ ngân hàng với các ngân hàng trung gian.
Chức năng này được thể hiện ở chỗ đối tượng giao dịch chủ yếu của NHTW là các ngân
hàng thương mại và các tổ chức tín dụng khác trong nền kinh tế. Cụ thể:
- Mở tài khoản và nhận tiền gửi của các ngân hàng trung gian.
NHTW nhận tiền gửi và bảo quản tiền tệ cho các ngân hàng thương mại và các tổ chức
tín dụng: các ngân hàng thương mại và các tổ chức tín dụng sẽ không sử dụng hết nguồn vốn
của mình để cho vay mà sẽ giữ lại một khoản nhất định để đảm bảo khả năng thanh toán.
Khoản tiền này được gửi cho NHTW bảo quản.
- Trung tâm thanh toán cho hệ thống ngân hàng thương mại và các tổ chức tín dụng
Với việc nhận tiền gửi và cấp tín dụng cho các ngân hàng thương mại, NHTW đã trở
thành trung tâm tín dụng của cả nền kinh tế, trung tâm thanh toán giữa các ngân hàng thương
mại. Với tư cách đó, NHTW đứng ra tổ chức thanh toán bù trừ hay thanh toán từng lần giữa
các ngân hàng thương mại. Nhờ hoạt động thanh toán này của NHTW mà quá trình chu
chuyển thanh toán của nền kinh tế mới phát triển thuận lợi.
- Cấp tín dụng cho các ngân hàng thương mại và các tổ chức tín dụng
NHTW cấp tín dụng cho các ngân hàng thương mại và các tổ chức tín dụng. Hoạt động
này của NHTW nhằm đảm bảo cung ứng cho nền kinh tế có đủ phương tiện thanh toán trên
cơ sở thực hiện các chính sách tiền tệ. Trong trường hợp này, NHTW đóng vai trò là người 6
chủ nợ và là người cho vay cuối cùng, do đó nghiệp vụ cấp tín dụng của NHTW cho các ngân
hàng thương mại có ý nghĩa quyết định đối với hoạt động tín dụng của cả nền kinh tế.
1.1.2.3. Ngân hàng Trung ương là cơ quan quản lý nhà nước về hoạt động của ngân hàng
Đây là chức năng quyết định bản chất NHTW của một ngân hàng phát hành. NHTW có
nhiệm vụ thay mặt Nhà nước quản lý các hoạt động tiền tệ, tín dụng, thanh toán và các dịch
vụ ngân hàng khác. Cụ thể, NHTW phải thực hiện một số nhiệm vụ sau:
- Quy định tỷ lệ dự trữ bắt buộc đối với các loại tiền gửi và yêu cầu các NHTM phải
thực hiện. Chủ động áp dụng các giải pháp để điều tiết khối lượng tiền cung ứng.
- Kiểm tra, giám sát hoạt động đối nội, đối ngoại của các NHTM và các tổ chức tín
dụng để bảo đảm an toàn và ổn định trong toàn hệ thống, bảo vệ quyền lợi của người gửi tiền vào ngân hàng.
- Đình chỉ hoạt động hoặc giải thể ngân hàng, tổ chức tín dụng trong trường hợp vi
phạm luật lệ hoặc mất khả năng thanh toán sau khi đã áp dụng những biện pháp cần thiết...
- Quản lý dự trữ quốc gia về ngoại tệ, vàng, bạc và các phương tiện có giá trị ngoại tệ khác.
- Thay mặt Nhà nước tham gia ký kết các hiệp định về tiền tệ, tín dụng, thanh toán với
nước ngoài và các tổ chức tài chính quốc tế; cố vấn các chính sách tài chính - tiền tệ cho
Chính phủ; cung ứng các phương tiện thanh toán cho hệ thống Kho bạc Nhà nước; cho NSNN
vay khi ngân sách thiếu hụt...
1.1.3. Vai trò của Ngân hàng Trung ương
1.1.3.1. Ngân hàng Trung ương góp phần ổn định và phát triển nền kinh tế - xã hội
thông qua điều tiết khối lượng tiền trong lưu thông.
- Trong nền kinh tế thị trường, mức cung tiền tệ có tác động mạnh mẽ đến tăng trưởng
kinh tế, thông qua sự thúc đẩy mức tăng giảm tổng sản phẩm quốc nội (GDP). Do vậy, điều
tiết khối khối lượng tiền trong lưu thông cho phù hợp với yêu cầu ổn định và phát triển kinh tế
giữ vị trí quan trọng bậc nhất trong các nhiệm vụ của NHTW
- NHTW thực hiện vai trò này thông qua các công cụ điều tiết trực tiếp hoặc gián tiếp
như lãi suất, hạn mức tín dụng, tỷ lệ dự trữ bắt buộc, lãi suất tái tái chiết khấu, hoạt động thị trường mở,…
1.1.3.2. Ngân hàng Trung ương tham gia thiết lập và điều chỉnh cơ cấu nền kinh tế. 7
- NHTW tham gia vào việc xây dựng chiến lược phát triển kinh tế - xã hội nhằm thiết
lập một cơ cấu kinh tế hợp lý và có hiệu quả cao; tài trợ tín dụng cho nền kinh tế thông qua hệ
thống NHTW và các tổ chức tín dụng để thực hiện kế hoạch thiết lập cơ cấu kinh tế đó.
- NHTW đóng vai trò quan trọng trong việc dự đoán những biến cố của nền kinh tế,
những tín hiệu thị trường để có được những quyết định đúng đắn về chính sách tiền tệ, nhằm
góp phần điều chỉnh kịp thời cơ cấu kinh tế hiện có phù hợp với thực tiễn nền kinh tế đất
nước và xu thế hội nhập quốc tế.
1.1.3.3. Ngân hàng Trung ương ổn định sức mua của đồng tiền quốc gia.
NHTW góp phần cân đối tổng cầu và tổng cung tiền của toàn xã hội, tác động mạnh đến
cân đối cung - cầu ngoại tệ để góp phần ổn định tỷ giá hối đoái, ổn định sức mua đối ngoại
của đồng tiền quốc gia.
1.1.3.4. Ngân hàng Trung ương quản lý hoạt động hệ thống Ngân hàng Thương mại và
các tổ chức tín dụng khác.
- Để thực hiện được vai trò này, NHTW phải xây dựng và ban hành hàng loạt các văn
bản pháp luật quy định về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của các tổ chức tín dụng, dựa trên
cơ sở những định hướng có căn cứ khoa học, sự nắm bắt thị trường nhanh nhạy.
- NHTW có trách nhiệm tổ chức thanh tra, giám sát thường xuyên các hoạt động của
NHTM và các tổ chức tín dụng, kịp thời phát hiện những hành vi vi phạm pháp luật để có các
biện pháp xử lý thích hợp.
1.1.4. Chính sách tiền tệ của Ngân hàng Trung ương
1.1.4.1. Khái niệm và mục tiêu của chính sách tiền tệ a. Khái niệm
Chính sách tiền tệ quốc gia là tổng hòa những phương thức mà NHTW thông qua các
hoạt động của mình tác động đến khối lượng tiền trong lưu thông, nhằm phục vụ cho việc
thực hiện các mục tiêu kinh tế - xã hội của đất nước trong một thời kỳ nhất định. b. Mục tiêu
Mục tiêu chính của chính sách tiền tệ quốc gia là tăng trưởng kinh tế, tạo công ăn việc
làm và kiểm soát lạm phát, cụ thể là:
- Phát triển kinh tế, gia tăng sản lượng: Để tăng trưởng kinh tế thì phải thực hiện tái sản
xuất mở rộng trên cơ sở khai thác triệt để các nguồn vốn tiềm năng trong và ngoài nước. Với
chức năng là trung tâm tín dụng, dưới sự chỉ đạo của NHTW thông qua các chính sách tiền tệ,
các ngân hàng sẽ huy động triệt để nguồn vốn nhàn rỗi trong xã hội, phân phối lại cho các chủ
thể cần vốn để phát triển kinh tế. 8
- Tạo công ăn việc làm: Vai trò của NHTW là vận dụng các công cụ góp phần tăng
cường đầu tư mở rộng sản xuất kinh doanh; tham gia tích cực vào việc chống suy thoái kinh
tế, tạo ra sự tăng trưởng kinh tế ổn định, vững chắc, nhằm mục đích khống chế tỷ lệ thất
nghiệp không vượt quá tỷ lệ thất nghiệp tự nhiên, gia tăng khối lượng công ăn việc làm.
- Kiểm soát lạm phát: NHTW phải luôn coi việc kiểm soát lạm phát là một trong những
mục tiêu của chính sách tiền tệ quốc gia. Thường thì, lạm phát vừa là mục tiêu phấn đấu của
NHTW trong nhiệm vụ kiểm soát lạm phát, vì theo nhà kinh tế học người Mỹ - A.W Phillips
thì làm phát và thất nghiệp tỷ lệ nghịch với nhau. Mặt khác, nếu mức lạm phát quá thấp thì
nền kinh tế dễ rơi vào tình trạng suy thoái. Mà tăng trưởng kinh tế, khống chế tình trạng thất
nghiệp và tỷ lệ lạm phát đều là những mục tiêu cần đạt đến của chính sách tiền tệ quốc gia. Vì
vậy, NHTW phải nắm bắt được diễn biến của quá trình thực hiện mục tiêu, kịp thời điều chỉnh
khi chúng có sự thay đổi, tìm ra giải pháp để phối hợp hài hòa ba mục tiêu đó.
1.1.4.2. Các công cụ thực thi chính sách tiền tệ quốc gia
Công cụ chính sách tiền tệ quốc gia là các hoạt động của NHTW nhằm tác động đến
cung tiền và lãi suất, qua đó nhằm đạt được các mục tiêu của chính sách tiền tệ. NHTW sử
dụng 2 nhóm công cụ chính sách tiền tệ, đó là:
a. Nhóm công cụ trực tiếp: Là nhóm công cụ mà thông qua chúng tác động trực tiếp
vào các mục tiêu mà không cần phải qua một biến số trung gian nào khác. Các công cụ trực
tiếp mà NHTW có thể sử dụng thường là: - Lãi suất tiền gửi
- Khung lãi suất tiền gửi và cho vay hoặc lãi suất cơ bản
- Hạn mức tín dụng đối với các tổ chức tín dụng
- Phát hành tiền trực tiếp cho ngân sách và đầu tư
b. Nhóm công cụ gián tiếp: Là nhóm công cụ mà sự tác động của chúng đến các mục
tiêu của chính sách tiền tệ được thực hiện thông qua một biến số khác thuộc về sự kiểm soát
của NHTW và qua cơ chế tự điều tiết của các lực lượng thị trường.
Nhóm công cụ gián tiếp mà NHTW có thể sử dụng thường là:
- Nghiệp vụ thị trường mở (Open Market Operation)
- Lãi suất tái cấp vốn - Dự trữ bắt buộc
1.2. Cơ sở lý thuyết về thị trường tiền tệ và thao túng tiền tệ
1.2.1. Một số khái niệm liên quan 9
1.2.1.1. Khái niệm tiền tệ
Theo quan điểm của K. Mark, tiền tệ được định nghĩa như sau: Tiền tệ là một loại hàng
hóa đặc biệt, tách ra khỏi thế giới hàng hóa, được dùng làm vật ngang giá chung để đo lường
và biểu hiện giá trị của tất cả các hàng hóa khác và thực hiện trao đổi giữa chúng.
1.2.1.2. Khái niệm thị trường tiền tệ
Thị trường tiền tệ (Money market) là thị trường vốn ngắn hạn (dưới 1 năm) diễn ra các
hoạt động cung cầu về vốn ngắn hạn như vay vốn ngân hàng, mua bán chứng khoán, chứng
chỉ tiền gửi, tín phiếu kho bạc. Vốn ngắn hạn gồm có các loại giấy tờ có giá ngắn hạn, có kỳ
hạn, rủi ro thấp và tính thanh khoản cao.
1.2.1.3. Khái niệm thao túng tiền tệ
Thao túng tiền tệ là Chính phủ của một nước hạ giá đồng nội tệ so với đồng ngoại tệ.
Mục đích là để giảm giá sản phẩm nhập khẩu rẻ hơn các sản phẩm nội địa. Kích thích người
dân mua hàng nhập. Nói cách khác, thao túng tiền tệ là quốc gia cố tình can thiệp vào tỉ giá
hối đoái để mang đến lợi ích thương mại. Nó còn khiến quốc gia nhập khẩu chịu thâm hụt
ngày càng lớn về mặt thương mại và họ sẽ có biện pháp phòng tránh.
Thực tế, thao túng tiền tệ là một quyết định áp đặt của chính quyền Hoa Kỳ nói chung
và Bộ Ngân khố Hoa Kỳ nói riêng, cho những quốc gia có liên quan đến các “hoạt động tiền
tệ không công bằng” nhằm trục lợi thương mại. Các hoạt động này có thể được gọi là can
thiệp tiền tệ hoặc chính sách tiền tệ khi mà NHTW mua hoặc bán đồng ngoại tệ để đổi lấy
đồng nội tệ với mục đích làm thay đổi giá trị tỷ giá hối đoái và chính sách thương mại.
1.2.2. Ảnh hưởng và tác hại của thao túng tiền tệ
Có thể thấy những hành vi thao túng tiền tệ của một quốc gia đều nhằm mục đích đẩy
nhanh quá trình chạy đua trở thành một nước công nghiệp tiên tiến và hiện đại hơn so với các
nước khác. Đây là một hành động “chơi xấu” thiếu công bằng và rất đáng bị lên án và chỉ
trích. Bởi yếu tố cơ bản trong cuộc đua này là sự công bằng trong cạnh tranh sản xuất, tiêu thụ
hàng hoá. Một quốc gia có hành vi thao túng tiền tệ sẽ bị các nước bạn đánh giá thấp và kéo
theo đó là rất nhiều ảnh hưởng tiêu cực khác:
- Ảnh hưởng đầu tiên của hành vi thao túng tiền tệ là ảnh hưởng đến giá trị tiền tệ.
Thao túng tiền tệ có thể dẫn đến sự biến đổi mạnh mẽ trong giá trị của tiền tệ, kéo theo đó là
sự hỗn loạn của các giao dịch quốc tế. Mặt khác, thao túng tiền tệ còn làm biến đổi sai lệch
giá trị cổ phiếu cũng như thị trường chứng khoán
- Thứ hai, thao túng tiền tệ có thể dẫn đến sự yếu kém trong sức mạnh kinh tế của một
nước, vì việc thao túng tiền tệ có thể làm giảm sự tin tưởng của người dân ở giá trị đồng tiền 10
dẫn đến giảm sức mua. Các chủ thể là những nhà đầu tư nước ngoài sẽ gặp phải những trở
ngại nhất định khi quyết định đầu tư vào quốc gia dính cáo buộc tiền tệ.
- Thứ ba, cũng là ảnh hưởng nghiêm trọng nhất của việc thao túng tiền tệ là cán cân
xuất nhập khẩu - một yếu tố quan trọng tác động đến tiềm lực kinh tế quốc gia. Khi bị các cáo
buộc thao túng tiền tệ từ các quốc gia khác đồng nghĩa với việc phải đối mặt với các điều luật
khắt khe trong quá trình xuất nhập khẩu. Nhiều mặt hàng xuất khẩu bị đánh thuế cao hơn bình
thường gây thiệt hại nặng nề cho chủ sản xuất, hạn chế khả năng xuất khẩu hàng hóa sang các
thị trường lớn mạnh gây sự mất cân bằng cho cán cân xuất nhập khẩu
Tất cả những ảnh hưởng này đều có thể gây ra sự bất ổn cho nền kinh tế toàn cầu lẫn
khu vực. Vì vậy, việc thao túng tiền tệ không được chấp nhận và cần phải loại bỏ để đảm bảo
sự vận hành công bằng, ổn định của kinh tế thế giới
1.2.3. Các chỉ tiêu để đánh giá quốc gia thao túng tiền tệ
Theo đạo luật cạnh tranh và thương mại Omnibus 1988, bộ trưởng ngân khố Hoa Kỳ đặt
ra 3 tiêu chí để gắn mác thao túng tiền tệ:
1/ Thặng dư thương mại hàng hóa song phương với Hoa Kỳ ít nhất 20 tỷ USD;
2/ Thặng dư cán cân vãng lai tương đương ít nhất 2% GDP;
3/ Can thiệp một chiều và kéo dài trên thị trường ngoại tệ, thể hiện qua việc mua ròng
ngoại tệ trong ít nhất 6 tháng trên giai đoạn 12 tháng với tổng lượng ngoại tệ mua ròng tương
đương ít nhất 2% GDP trong giai đoạn 12 tháng.
Dựa trên 3 tiêu chí, Bộ Tài chính Mỹ xác định liệu có tình trạng hành vi tiền tệ không
công bằng hay sự mất cân bằng cân bằng đối ngoại quá mức làm tăng thêm gánh nặng tăng
trưởng, việc làm công nhân và doanh nghiệp đang trên đà phát triển Mỹ hay không? 11
CHƯƠNG 2: VAI TRÒ CỦA NHNN VIỆT NAM TRONG VIỆC XỬ LÝ
CÁO BUỘC THAO TÚNG TIỀN TỆ CỦA BỘ TÀI CHÍNH MỸ ĐỐI VỚI VIỆT NAM NĂM 2020
2.1. Giới thiệu chung về Ngân hàng Nhà nước Việt Nam
2.1.1. Sự ra đời và phát triển của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam
Trước Cách mạng tháng 8 năm 1945, Việt Nam là nước thuộc địa nửa phong kiến dưới
sự thống trị của thực dân Pháp. Trong suốt thời kỳ thuộc địa, sự hình thành và phát triển của
hệ thống tiền tệ, tín dụng đều do Chính phủ Pháp xếp đặt, bảo hộ thông qua Ngân hàng Đông
Dương. Thực chất, Ngân hàng Đông Dương hoạt động với tư cách là một Ngân hàng phát
hành Trung ương, đồng thời là một ngân hàng kinh doanh đa năng bao gồm các nghiệp vụ
ngân hàng thương mại và nghiệp vụ đầu tư.
Sau Cách mạng tháng 8, một trong những nhiệm vụ trọng tâm của chính quyền cách
mạng là phải từng bước xây dựng nền tiền tệ độc lập, tự chủ, công cụ quan trọng của chính
quyền để xây dựng và bảo vệ đất nước. Nhiệm vụ này dần trở thành hiện thực khi bước sang
năm 1950, cuộc kháng chiến chống Pháp của nhân dân Việt Nam ngày một tiến triển mạnh
mẽ với những chiến thắng vang dội trên khắp các chiến trường, vùng giải phóng không ngừng
được mở rộng. Sự chuyển biến của cục diện cách mạng đòi hỏi công tác kinh tế, tài chính phải
được củng cố và phát triển theo yêu cầu mới.
Trên cơ sở chủ trương chính sách mới về tài chính- kinh tế mà Đại hội Đảng toàn quốc
lần thứ II (tháng 02/1951) đề ra, ngày 6/5/1951, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký Sắc lệnh số
15/SL thành lập Ngân hàng Quốc gia Việt Nam với các nhiệm vụ chủ yếu là: Quản lý việc
phát hành giấy bạc và tổ chức lưu thông tiền tệ, quản lý Kho bạc nhà nước, thực hiện chính
sách tín dụng để phát triển sản xuất, phối hợp với mậu dịch để quản lý tiền tệ và đấu tranh tiền
tệ với địch. Sự ra đời của Ngân hàng Quốc gia Việt Nam là một bước ngoặt lịch sử, là kết quả
nối tiếp của quá trình đấu tranh xây dựng hệ thống tiền tệ, tín dụng độc lập, tự chủ, đánh dấu
bước phát triển mới, thay đổi về chất trong lĩnh vực tiền tệ, tín dụng ở nước ta.
Trong thời kỳ kháng chiến chống Mỹ (1955 - 1975), hoạt động của Ngân hàng Quốc gia
tập trung vào việc tăng cường quản lý, điều hoà lưu thông tiền tệ theo các nguyên tắc quản lý
kinh tế XHCN; xây dựng và hoàn thiện chế độ tín dụng hướng vào phục vụ phát triển kinh tế
quốc doanh và kinh tế tập thể; mở rộng phạm vi và cải tiến nghiệp vụ thanh toán không dùng
tiền mặt, thiết lập vai trò ngân hàng là trung tâm thanh toán của nền kinh tế; mở rộng quan hệ
thanh toán và tín dụng quốc tế; thực hiện chế độ Nhà nước độc quyền quản lý ngoại hối. 12
Ngày 26/10/1961, Ngân hàng Quốc gia Việt Nam được đổi tên thành Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN).
Tháng 3/1988, Hội đồng Bộ trưởng ban hành Nghị định 53/HĐBT với định hướng cơ
bản là chuyển hẳn hệ thống ngân hàng sang hoạt động kinh doanh. Tháng 5/1990, Hội đồng
Nhà nước thông qua và công bố Pháp lệnh NHNN Việt Nam và Pháp lệnh ngân hàng, hợp tác
xã tín dụng và công ty tài chính. Sự ra đời của hai Pháp lệnh ngân hàng đã chính thức chuyển
cơ chế hoạt động của hệ thống Ngân hàng Việt Nam từ một cấp sang hai cấp. Trong đó,
NHNN Việt Nam thực hiện chức năng quản lý nhà nước về hoạt động kinh doanh tiền tệ,
ngân hàng và thực thi nhiệm vụ của một NHTW; các ngân hàng thương mại và tổ chức tín
dụng kinh doanh tiền tệ, tín dụng, thanh toán, ngoại hối và dịch vụ ngân hàng trong khuôn khổ pháp luật.
Từ năm 1990 đến nay, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của NHNN
tiếp tục được bổ sung, hoàn thiện theo quy định của Luật NHNN Việt Nam năm 1997 (sửa
đổi, bổ sung năm 2003), Luật NHNN Việt Nam năm 2010 và các nghị định của Chính phủ
quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của NHNN (Nghị định số
88/1998/NĐ-CP ngày 02/11/1998, Nghị định số 52/2003/NĐ-CP ngày 19/5/2003, Nghị định
số 96/2008/NĐ-CP ngày 26/8/2008, Nghị định số 156/2013/NĐ-CP ngày 11/11/2013, Nghị
định số 16/2017/NĐ-CP ngày 17/02/2017 và Nghị định số 102/2022/NĐ-CP ngày 12/12/2022).
2.1.2. Đặc điểm và mô hình Ngân hàng Nhà nước Việt Nam
Cơ cấu tổ chức của NHNN Việt Nam 13