Phản xạ có điều kiện là gì? Ví dụ về phản xạ có điều kiện Sinh 8

Phản xạ là phản ứng của cơ thể đối với kích thích của môi trường bên ngoài cũng như bên trong của cơ thể. Phản ứng này thực hiện nhờ hệ thần kinh, qua năm phần cơ bản hợp thành cung phản xạ : • Bộ phận cảm thụ : Các phân tử cảm thụ thường nằm trên da, bề mặt da, bề mặt khớp. thành mạch, bề mặt các tạng, cơ quan trong cơ thể. Tài liệu giúp bạn tham khảo ôn tập và đạt kết quả cao. Mời bạn đọc đón xem!

Môn:

Khoa học tự nhiên 8 1.1 K tài liệu

Thông tin:
4 trang 3 tháng trước

Bình luận

Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để gửi bình luận.

Phản xạ có điều kiện là gì? Ví dụ về phản xạ có điều kiện Sinh 8

Phản xạ là phản ứng của cơ thể đối với kích thích của môi trường bên ngoài cũng như bên trong của cơ thể. Phản ứng này thực hiện nhờ hệ thần kinh, qua năm phần cơ bản hợp thành cung phản xạ : • Bộ phận cảm thụ : Các phân tử cảm thụ thường nằm trên da, bề mặt da, bề mặt khớp. thành mạch, bề mặt các tạng, cơ quan trong cơ thể. Tài liệu giúp bạn tham khảo ôn tập và đạt kết quả cao. Mời bạn đọc đón xem!

134 67 lượt tải Tải xuống
Phản xạ có điều kiện là gì? Ví dụ về phản xạ có điều kiện Sinh 8
Trong thời học sinh của chúng ta, chắc hẳn ai cũng đã ít nhất một lần nghe thấy thuật ngữ "Phản xạ
điều kiện". Tuy nhiên, không phải ai cũng nắm rõ được khái niệm hay những đặc điểm của nó. Bài viết
này, Luật Minh Khuê sẽ cung cấp cho quý bạn đọc một sự hiểu biết rõ nét nhất về "phản xạ có điều
kin"
Mục lục bài viết
1. Phản xạ là gì ?
Phản xạ là phản ứng của cơ thể đối với kích thích của môi trường bên ngoài cũng như bên trong của
cơ thể. Phản ứng này thực hiện nhờ hệ thn kinh, qua năm phần cơ bản hợp thành cung phản xạ :
Bộ phận cảm thụ : Các phân tử cảm thụ thường nằm trên da, bề mặt da, bề mặt khớp. thành
mạch, bề mặt các tạng, cơ quan trong cơ thể.
Dây thần kinh truyền vào : Dây cảm giác hoặc dây thần kinh thực vt.
Trung tâm thần kinh.
Dây thần kinh truyền ra: Dây thần kinh vận động hoặc dây thần kinh thực vật.
Bộ phận đáp ứng là cơ hoặc tuyến
Phản xạ bao gồm phản xạ có điều kiện và phản xạ không điều kiện.
1.1 Khái niệm vphản xạ có điều kiện
Chúng ta đều biết, khi ăn, dạ dày sẽ ết ra một lượng lớn dch vị để giúp êu hóa thức ăn.Với quyết
tâm muốn biết đại não truyền mệnh lệnh cho dạ dày như thế nào, Pavlov ến hành thí nghiệm đối với
con chó đã sống ở phòng thí nghiệm nhiều năm, đã quen với tất cả nhân viên ở đây.
Ông Pavlov đã m ra định luật "phản xạ có điều kiện" nhờ nghiên cứu chức năng hoạt động dạ dày
của những chú chó.
Ông nhận thấy dịch vị của chó tăng lên rất nhiều khi chúng nghe thấy ếng bước chân của nhân viên
thường mang thức ăn đến cho chúng. ông nghĩ ếng bước chân cho chú chó biết thức ăn đang được
mang tới, thông qua thần kinh đại não ra mệnh lệnh làm cho dạ dày ết ra dịch vị. Từ phát hiện này,
Pavlov nghĩ rằng, bất kỳ một n hiệu nào như ếng chuông, ếng huýt sáo,...gắn liền với sự xuất hiện
của thức ăn trong một thời gian dài liên tục thì sẽ cho ra kết quả tương tự. Ông lặp lại thí nghiệm này
trong nhiều lần. Nhưng thí nghiệm này chỉ có tác dụng với những chú chó đã ở trong phòng thí
nghiệm. Còn với những chú chó mưới được nuôi thì không. Pavlov cho rằng đây là loại phản ứng đối
với sự kích thích từ bên ngoài. Ông gọi đó là "phản xạ có điều kiện".
Tuy nhiên, phản xạ có điều kiện dễ mất đi nếu không được củng cố, luyện tập thường xuyên. Sau này
Pavlov còn đi sâu nghiên cứu về những vấn đề này và đã viết ra tác phẩm ni ếng của mình. Năm
1904, ông được trao giải thưởng Nobel về sinh lý và y khoa (Nobel Prize in Physiology or Medicine).
Như vậy, phản xạ có điều kiện được hiểu là những phản xạ được thành lập trong cuộc sống, sau quá
trình luyện tập và phải dựa trên cơ cơ sở phản xạ không điều kiện, hay nói một cách khác muốn tạo
phản xạ có điều kiện cần phải có tác nhân kích thích không điều kiện. Phản xạ có điều kiện là phản ứng
linh hoạt của cơ thể, giúp có thể thích nghi với mọi sự biến đổi của môi trường, đảm bảo sự thăng
bằng cơ thể và môi trường, giúp đề phòng trước những tai nạn, biết hướng m kiếm thc ăn, biết
đường phát triển bản thân trong cuộc sống.
1.2 Khái niệm vphản xạ không điều kiện
Ti với phản xạ có điều kiện, phản xạ không điều kiện không cần phải có quá trình rèn luyện, mang
nh bản ng và nh loài và tồn tại vĩnh viễn suốt đời, có một số hot động không điều kiện vô thức
như thở,...nói tóm lại là phản xạ tồn tại trong bản năng của mỗi người từ khi sinh ra. Phản xạ không
điều kiện còn có thể di truyền. Ví dụ:
Khi chào đời đã biết khóc
Khi gặp lạnh nổi da gà
Hắt hơi
Khi đụng tay vào vật nóng liền rụt tay lại
2. Cơ sở và cơ chế hình thành phản xạ có điều kiện
2.1 Cơ sở hình thành phản xạ có điều kiện
Điều kiện thứ nhất : Chn kích thích, phải có sự phối hợp giữa kích thích trung nh và kích thích không
điều kiện
Ví dụ : Thức ăn tác động lên khoang miệng là kích thích không điều kiện. Việc cho ăn của chó được
phối hiệu với n hiệu ánh sáng mà trước đây thì không có quan hệ gì với thức ăn thì ánh sáng là kích
thích trung nh. Sau nhiều lần lặp lại, phối hợp với thức ăn, ánh sáng trở thành chất kích thích có điều
kiện của phản xạ ết nước bọt. Khi có ánh sáng, con chó ết nước bột và không cần phải có thức ăn.
Điều kiện thứ hai : Tác động của kích thích có điều kiện xảy ra trước kích thích không điều kiện. Trong
ví dụ trên ánh sáng phải xảy ra trước sau đó mới cho vật thí nghiệm ăn. Thời gian giữa 2 kích thích cần
phải hợp lý.
Điều kiện thứ ba : Là cơ thphi ở trong trạng thái tỉnh táo, các trung tâm phản ứng của phản xạ phi
có nh hưng phấn cao. Trạng thái hoạt động của vỏ não chính là điều kiện ở con người kể cả việc tập
luyện kỹ năng, động tác thể thao.
Điều kiện thứ tư : Là tránh kích không cần thiết để gây ra những phản xạ không được dự định. Các
kích thích gây nhiễu như nói chuyện, nóng, lạnh,...sẽ ảnh hưởng tới việc hình thành phản xạ có điều
kin.
2.2 Cơ chế hình thành phản xạ có điều kiện
Cơ chế hình thành phản xạ có điều kiện là sự hình thành các đường dây liên hệ tạm thời giữa các
trung tâm của kích thích không có điều kiện và có điều kiện ở võ não.
Trong phản xạ ết nước bọt bằng ánh sáng đó là sợi dây liên hệ tạm thời giữa trung tâm thị giác (thùy
chẩm) và thức ăn. Khi có kích thích trung nh (ánh sáng) tác động vào cơ quan cảm thụ (võng mạc
mắt) ở vùng cảm giác tương ứng trên vỏ não xuất hiện hưng phấn. Sau đó sẽ kích thích không điều
kiện (thức ăn) sẽ gây ra một vùng hưng phấn trên vỏ não (hành não).
Theo nguyên tắc ưu thế vùng hưng phấn, các trung tâm hưng phấn yếu hơn về phía mình và giữa 2
trung tâm hình thành đường dây liên hệ tạm thời, chưa có từ trước. Đường dây này được lặp đi lặp
lại nhiều lần, hình thành động lực và khi bỏ thức ăn chỉ sử dụng ánh sáng thì chó vẫn ết nước bọt.
3. Phân loại phản xạ
Dựa theo kích thích của phản xạ có điều kiện. Có 3 loại đó là :
Phản x có điều kiện tự nhiên : Được hình thành có điều kiện tự nhiên, dựa theo kích thích
của phản xạ không điều kiện. Ví dụ như phản xạ ết nước bọt khi có ếng chuông.
Phản x có điều kiện nhân tạo : Là phản xạ được hình thành dựa trên kích thích của phản x
điều kiện.
Phản xạ có điều kiện lưu dấu vết : Là phản xạ nhân tạo nhưng tác dụng của phản xạ trước khi
lưu lại cho phản xạ sau. Ví dụ như đi - đứng - chy.
4. Sự khác nhau giữa phản xạ ở thực vật và phản xạ ở động vật
Có thể khẳng định rằng sự phản xạ ở thực vật và phản xạ ở động vật hoàn toàn khác nhau.
Như đã trình bày ở phần trên, phản xạ là phản ứng của cơ thế trả lời các kích thích của môi trường
ới sự điều khiển của hệ thn kinh. Như vy có thể thấy phản xạ được điều khiển bởi hệ thần kinh,
mà ở động vật thì có hệ thn kinh, chứ còn thực vật thì chúng không có hệ thần kinh. Đây là sự khác
biệt giữa phản xạ của động vật và phản xạ của thực vật.
Thông thường ở thực vật người ta không dùng phản xạ mà thay vào đó là cụm từ cảm ứng thực vật.
Cảm ứng ở thực vật là những phản ứng lại kích thích của môi trường. Ví dụ: hiện tượng cụp lá ở cây
xấu hchủ yếu là những thay đổi về trương nước ở các tế bào gốc lá, không phải do thần kinh điều
khiển.
5. Ví dụ về phản xạ có điều kiện
Gió mùa đông bắc về, nghe ếng gió rít qua khe cửa chắc trời lạnh lắm, tôi mặc vội áo len đi
học.
Khi lưu thông trên đường, gặp đèn đỏ thì dừng lại, đèn xanh thì ếp tục đi.
Chẳng dại gì mà đùa với lửa.
Biết chữ, biết làm toán
Bật quạt, điều hòa khi trời nóng
Cảm ơn quý bạn đọc đã lựa chọn tham khảo bài viết của Luật Minh Khuê, hy vọng bài viết trên có thể
giúp ích được phần nào trong quá trình học tập của các bạn.
| 1/4

Preview text:

Phản xạ có điều kiện là gì? Ví dụ về phản xạ có điều kiện Sinh 8
Trong thời học sinh của chúng ta, chắc hẳn ai cũng đã ít nhất một lần nghe thấy thuật ngữ "Phản xạ có
điều kiện". Tuy nhiên, không phải ai cũng nắm rõ được khái niệm hay những đặc điểm của nó. Bài viết
này, Luật Minh Khuê sẽ cung cấp cho quý bạn đọc một sự hiểu biết rõ nét nhất về "phản xạ có điều kiện"

Mục lục bài viết
1. Phản xạ là gì ?
Phản xạ là phản ứng của cơ thể đối với kích thích của môi trường bên ngoài cũng như bên trong của
cơ thể. Phản ứng này thực hiện nhờ hệ thần kinh, qua năm phần cơ bản hợp thành cung phản xạ :

Bộ phận cảm thụ : Các phân tử cảm thụ thường nằm trên da, bề mặt da, bề mặt khớp. thành
mạch, bề mặt các tạng, cơ quan trong cơ thể.
Dây thần kinh truyền vào : Dây cảm giác hoặc dây thần kinh thực vật.
Trung tâm thần kinh.
Dây thần kinh truyền ra: Dây thần kinh vận động hoặc dây thần kinh thực vật.
Bộ phận đáp ứng là cơ hoặc tuyến
Phản xạ bao gồm phản xạ có điều kiện và phản xạ không điều kiện.
1.1 Khái niệm về phản xạ có điều kiện
Chúng ta đều biết, khi ăn, dạ dày sẽ tiết ra một lượng lớn dịch vị để giúp tiêu hóa thức ăn.Với quyết
tâm muốn biết đại não truyền mệnh lệnh cho dạ dày như thế nào, Pavlov tiến hành thí nghiệm đối với
con chó đã sống ở phòng thí nghiệm nhiều năm, đã quen với tất cả nhân viên ở đây.

Ông Pavlov đã tìm ra định luật "phản xạ có điều kiện" nhờ nghiên cứu chức năng hoạt động dạ dày của những chú chó.
Ông nhận thấy dịch vị của chó tăng lên rất nhiều khi chúng nghe thấy tiếng bước chân của nhân viên
thường mang thức ăn đến cho chúng. ông nghĩ tiếng bước chân cho chú chó biết thức ăn đang được
mang tới, thông qua thần kinh đại não ra mệnh lệnh làm cho dạ dày tiết ra dịch vị. Từ phát hiện này,
Pavlov nghĩ rằng, bất kỳ một tín hiệu nào như tiếng chuông, tiếng huýt sáo,...gắn liền với sự xuất hiện
của thức ăn trong một thời gian dài liên tục thì sẽ cho ra kết quả tương tự. Ông lặp lại thí nghiệm này
trong nhiều lần. Nhưng thí nghiệm này chỉ có tác dụng với những chú chó đã ở trong phòng thí
nghiệm. Còn với những chú chó mưới được nuôi thì không. Pavlov cho rằng đây là loại phản ứng đối
với sự kích thích từ bên ngoài. Ông gọi đó là "phản xạ có điều kiện".

Tuy nhiên, phản xạ có điều kiện dễ mất đi nếu không được củng cố, luyện tập thường xuyên. Sau này
Pavlov còn đi sâu nghiên cứu về những vấn đề này và đã viết ra tác phẩm nối tiếng của mình. Năm
1904, ông được trao giải thưởng Nobel về sinh lý và y khoa (Nobel Prize in Physiology or Medicine).

Như vậy, phản xạ có điều kiện được hiểu là những phản xạ được thành lập trong cuộc sống, sau quá
trình luyện tập và phải dựa trên cơ cơ sở phản xạ không điều kiện, hay nói một cách khác muốn tạo
phản xạ có điều kiện cần phải có tác nhân kích thích không điều kiện. Phản xạ có điều kiện là phản ứng
linh hoạt của cơ thể, giúp có thể thích nghi với mọi sự biến đổi của môi trường, đảm bảo sự thăng
bằng cơ thể và môi trường, giúp đề phòng trước những tai nạn, biết hướng tìm kiếm thức ăn, biết
đường phát triển bản thân trong cuộc sống.

1.2 Khái niệm về phản xạ không điều kiện
Trái với phản xạ có điều kiện, phản xạ không điều kiện không cần phải có quá trình rèn luyện, mang
tính bản năng và tính loài và tồn tại vĩnh viễn suốt đời, có một số hoạt động không điều kiện vô thức
như thở,...nói tóm lại là phản xạ tồn tại trong bản năng của mỗi người từ khi sinh ra. Phản xạ không
điều kiện còn có thể di truyền. Ví dụ:

Khi chào đời đã biết khóc
Khi gặp lạnh nổi da gà Hắt hơi
Khi đụng tay vào vật nóng liền rụt tay lại
2. Cơ sở và cơ chế hình thành phản xạ có điều kiện
2.1 Cơ sở hình thành phản xạ có điều kiện
Điều kiện thứ nhất : Chọn kích thích, phải có sự phối hợp giữa kích thích trung tính và kích thích không điều kiện
Ví dụ : Thức ăn tác động lên khoang miệng là kích thích không điều kiện. Việc cho ăn của chó được
phối hiệu với tín hiệu ánh sáng mà trước đây thì không có quan hệ gì với thức ăn thì ánh sáng là kích
thích trung tính. Sau nhiều lần lặp lại, phối hợp với thức ăn, ánh sáng trở thành chất kích thích có điều
kiện của phản xạ tiết nước bọt. Khi có ánh sáng, con chó tiết nước bột và không cần phải có thức ăn.

Điều kiện thứ hai : Tác động của kích thích có điều kiện xảy ra trước kích thích không điều kiện. Trong
ví dụ trên ánh sáng phải xảy ra trước sau đó mới cho vật thí nghiệm ăn. Thời gian giữa 2 kích thích cần phải hợp lý.

Điều kiện thứ ba : Là cơ thể phải ở trong trạng thái tỉnh táo, các trung tâm phản ứng của phản xạ phải
có tính hưng phấn cao. Trạng thái hoạt động của vỏ não chính là điều kiện ở con người kể cả việc tập
luyện kỹ năng, động tác thể thao.

Điều kiện thứ tư : Là tránh kích không cần thiết để gây ra những phản xạ không được dự định. Các
kích thích gây nhiễu như nói chuyện, nóng, lạnh,...sẽ ảnh hưởng tới việc hình thành phản xạ có điều kiện.

2.2 Cơ chế hình thành phản xạ có điều kiện
Cơ chế hình thành phản xạ có điều kiện là sự hình thành các đường dây liên hệ tạm thời giữa các
trung tâm của kích thích không có điều kiện và có điều kiện ở võ não.

Trong phản xạ tiết nước bọt bằng ánh sáng đó là sợi dây liên hệ tạm thời giữa trung tâm thị giác (thùy
chẩm) và thức ăn. Khi có kích thích trung tính (ánh sáng) tác động vào cơ quan cảm thụ (võng mạc
mắt) ở vùng cảm giác tương ứng trên vỏ não xuất hiện hưng phấn. Sau đó sẽ kích thích không điều
kiện (thức ăn) sẽ gây ra một vùng hưng phấn trên vỏ não (hành não).

Theo nguyên tắc ưu thế vùng hưng phấn, các trung tâm hưng phấn yếu hơn về phía mình và giữa 2
trung tâm hình thành đường dây liên hệ tạm thời, chưa có từ trước. Đường dây này được lặp đi lặp
lại nhiều lần, hình thành động lực và khi bỏ thức ăn chỉ sử dụng ánh sáng thì chó vẫn tiết nước bọt.

3. Phân loại phản xạ
Dựa theo kích thích của phản xạ có điều kiện. Có 3 loại đó là :
Phản xạ có điều kiện tự nhiên : Được hình thành có điều kiện tự nhiên, dựa theo kích thích
của phản xạ không điều kiện. Ví dụ như phản xạ tiết nước bọt khi có tiếng chuông.
Phản xạ có điều kiện nhân tạo : Là phản xạ được hình thành dựa trên kích thích của phản xạ có điều kiện.
Phản xạ có điều kiện lưu dấu vết : Là phản xạ nhân tạo nhưng tác dụng của phản xạ trước khi
lưu lại cho phản xạ sau. Ví dụ như đi - đứng - chạy.
4. Sự khác nhau giữa phản xạ ở thực vật và phản xạ ở động vật
Có thể khẳng định rằng sự phản xạ ở thực vật và phản xạ ở động vật hoàn toàn khác nhau.
Như đã trình bày ở phần trên, phản xạ là phản ứng của cơ thế trả lời các kích thích của môi trường
dưới sự điều khiển của hệ thần kinh. Như vậy có thể thấy phản xạ được điều khiển bởi hệ thần kinh,
mà ở động vật thì có hệ thần kinh, chứ còn thực vật thì chúng không có hệ thần kinh. Đây là sự khác
biệt giữa phản xạ của động vật và phản xạ của thực vật.

Thông thường ở thực vật người ta không dùng phản xạ mà thay vào đó là cụm từ cảm ứng thực vật.
Cảm ứng ở thực vật là những phản ứng lại kích thích của môi trường. Ví dụ: hiện tượng cụp lá ở cây
xấu hổ chủ yếu là những thay đổi về trương nước ở các tế bào gốc lá, không phải do thần kinh điều khiển.

5. Ví dụ về phản xạ có điều kiện
Gió mùa đông bắc về, nghe tiếng gió rít qua khe cửa chắc trời lạnh lắm, tôi mặc vội áo len đi học.
Khi lưu thông trên đường, gặp đèn đỏ thì dừng lại, đèn xanh thì tiếp tục đi.
Chẳng dại gì mà đùa với lửa.
Biết chữ, biết làm toán
Bật quạt, điều hòa khi trời nóng
Cảm ơn quý bạn đọc đã lựa chọn tham khảo bài viết của Luật Minh Khuê, hy vọng bài viết trên có thể
giúp ích được phần nào trong quá trình học tập của các bạn.