



















Preview text:
T11-N5-K6
Thứ Tư ngày 13 tháng 9 năm 2023
CHƯƠNG III: PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC TOÁN Ở TIỂU HỌC
BÀI 1: MỘT SỐ PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC TOÁN Ở TIỂU HỌC
Phần 5: Phương pháp dạy học phân hoá trong môn Toán ở Tiểu học I. MỤC TIÊU
A. Sau bài học, người học:
- Trình bày được các quan niệm, đặc điểm cơ bản, cơ sở khoa học và quy trình vận dụng một số
phương pháp dạy học thông dụng trong quá trình dạy học toán ở các trường tiểu học.
- Đưa ra được các ví dụ minh hoạ phù hợp và phân tích được các nội dung có liên quan đến mỗi phương pháp dạy học.
- Quan tâm thường xuyên và chú trọng tìm cách vận dụng có hiệu quả nhất các phương pháp dạy.
- Giới thiệu và phân tích sâu khả năng vận dụng, khai thác một số phương pháp dạy học đang
được sử dụng rộng rãi trong quá trình dạy học toán ở các trường tiểu học Việt Nam.
B. HOẠT ĐỘNG HÌNH THÀNH KIẾN THỨC.
I. NHỮNG KHÁI NIỆM VỀ PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC PHÂN HOÁ
Dạy học phân hoá là một hình thức dạy học mà người dạy dựa vào những khác biệt về năng
lực, sở thích cũng như các điều kiện học tập của mỗi cá nhân người học để điều chỉnh cách dạy
phù hợp nhằm phát triển tốt nhất cho từng cá nhân người học đảm bảo hiệu quả giáo dục cao nhất.
Dạy học phân hoá được coi là một hướng đổi mới phương pháp dạy học nhằm phát huy tính
tích cực chủ động và sáng tạo của học sinh, được hiểu là quá trình giáo viên tổ chức và hướng
dẫn các hoạt động học tập của học sinh bao gồm:
- Huy động mọi khả năng của từng học sinh để tự học sinh tìm tòi khám phá ra những nội dung mới.
- Phân hoá học sinh theo trình độ nhận thức, giao nhiệm vụ phù hợp với từng nhóm đối tượng,
tạo điều kiện để học sinh tự phát hiện ra các tình huống có vấn đề, tự mình hoặc cùng các bạn
trong nhóm, trong lớp lập kế hoạch hợp lí nhất để giải quyết vấn đề.
- Tập trung mọi cố gắng để phát triển năng lực, sở trường của mỗi cá nhân tạo cho học sinh
cơ niềm tin và niềm vui trong học tập.
Dạy học phân hoá có hai dạng cơ bản:
- Phân hoá tổ chức: Là hình thức dạy học theo các nhóm đối tượng khác nhau được tổ chức
thành các nhóm học ngoại khoá, lớp chọn, trường chuyên,... và được dạy theo chương trình
riêng cho mỗi nhóm đối tượng. 1
- Phân hoá nội tại: Là hình thức vận dụng các biện pháp phân hoá thích hợp trong một lớp học
thống nhất với cùng một kế hoạch học tập, cùng một nội dung chương trình, sách giáo khoa
II. CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC PHÂN HÓA 1. Cơ sở triết học
Dạy học phân hoá xuất phát từ quy luật biện chứng về sự thống nhất và đấu
tranh giữa các mặt đối lập; cặp phạm trù cái riêng, cái chung và cái đơn
nhất. Đây chính là cơ sở triết học của dạy học phân hoá.
Sự phân hoá trong quá trình dạy học thể hiện ở trình độ nhận thức, năng
lực, sở thích và nguyện vọng của từng học sinh. Vì vậy, trong quá trình dạy
học giáo viên không chỉ chú ý đến những mặt, những thuộc tính chung của
chủ thể học sinh (đặc điểm tư duy, nhân cách, hoạt động nhận thức, điểm
tâm sinh lí lứa tuổi của học sinh,...) – tức là cái chung; mà còn phải quan
tâm đến từng cá thể người học (xu hướng, tâm lí cá nhân,...) – tức là cái riêng.
Trong mối quan hệ biện chứng đó, nếu quan tâm đầy đủ, kịp thời đến trình
độ riêng của từng học sinh thì đây sẽ là cơ sở thuận lợi để phát huy năng
lực, thế mạnh riêng của từng học sinh. Đồng thời, nếu quan tâm kịp thời đến
trình độ chung của cả lớp thì đây là cơ sở thúc đẩy trình độ học tập chung
của cả lớp nhằm đạt tới mục tiêu giáo dục đã đề ra. 2. Cơ sở tâm lí học
Cơ sở tâm lí của phương pháp dạy học phân hoá là dựa theo thuyết đa trí
tuệ: Mỗi con người có nhiều khả năng phát triển ở những lĩnh vực khác nhau.
Có thể minh hoạ cơ sở tâm lí học của phương pháp dạy học phân hoá qua ví dụ sau:
Bài toán: (Sách Toán 3, tập 2; Chủ đề 9; Bài 53; Câu 4, trang 36). 2
Đứng trước bài toán này, mỗi học sinh có những trạng thái tâm lí khác nhau:
- Làm thế nào để tìm được diện tích của võ đài?
- Đây có phải là bài toán tính diện tích hình vuông mà học sinh đã biết công thức?
- Bài toán đã cho biết gì và yêu cầu tìm gì?
- Để giải bài toán này trước hết phải làm gì?
- Có thể tóm tắt bài toán trên không? -…
-Mục tiêu: Nhằm giúp học sinh củng cố về tính diện tích hình vuông cũng
như củng cố về bài toán có lời văn có đến 2 bước tính.
- Dạng bài tập tìm diện tích của hình vuông khi biết chu vi của hình vuông
đó. Bài tập được lồng ghép vào bối cảnh một cuộc đấu võ của các bạn dế.
Yêu cầu được đưa ra là tính diện tích của vỏ dài hình vuông khi biết chu vi của võ đài đó.
- Đối với bài tập này, để tính diện tích hình vuông, trước tiên HS cần xác
định được độ dài cạnh của hình vuông với dữ kiện là đã biết chu vi của hình vuông đó.
- GV có thể gợi ý HS bằng cách đặt một số câu hỏi, chẳng hạn:
+ Để bài cho biết gì? Để bài cần tỉnh gì? (Biết chu vi của hình vuông yêu
cầu tỉnh diện tích của hình vuông đó)
+ Muốn tính diện tích của hình vuông, cần biết gì (Biết cạnh của hình vuông)
+ Làm thế nào để tính được cạnh của hình vuông? (Lấy chu vi chia cho 4). Phương pháp giải:
- Tìm độ dài cạnh võ đài hình vuông = Chu vi hình vuông : 4
- Tính diện tích của võ đài hình vuông bằng độ dài cạnh nhân với chính nó. Bài giải:
Cạnh của võ đài hình vuông có độ dài là: 36 : 4 = 9 (cm)
Diện tích của võ đài là: 9 x 9 = 81 (cm2) Đáp số: 81 cm2 3
Với những trạng thái tâm lí được diễn ra dưới dạng các câu hỏi của các học
sinh rất khác nhau như vậy, người giáo viên cần biết được tâm trạng và
mong muốn của từng học sinh để thiết kế được quả trình dạy học hỗ trợ phù
hợp cho mỗi học sinh tự tìm được lời giải của bài toán.
3. Cơ sở giáo dục học
Cơ sở giáo dục học của dạy học phân hoá thể hiện ở nguyên tắc dạy học
phải đảm bảo tính vừa sức, phát huy tối đa tính tích cực của mỗi cá nhân học sinh.
Minh hoạ cơ sở giáo dục học của dạy học phân hoá thông qua ví dụ dưới đây:
Bài toán: (Sách Toán 4, tập 1; Chủ đề 5; Bài 25; Câu 2, trang 87).
Đây là bài toán tìm hai số khi biết tổng và hiệu của hai số đó. Tuy nhiên,
không phải tất cả học sinh đều nhận dạng được ngay bài toán. Để tạo được
một môi trường học tập tích cực, phù hợp với nhiều loại trình độ học tập của
học sinh trong lớp, người giáo viên cần xử lí tình huống sư phạm có hiệu quả
ngay từ thao tác dạy học đầu tiên. Có thể thu hút sự chú ý và kích thích
hứng thú học sinh trong lớp tham gia giải bài toán trên đây bằng cách đưa
ra các yêu cầu khác nhau trong tóm tắt bài toán:
- Ai có thể đọc lại đề toán?
- Ai có thể tóm tắt đề toán đã cho?
- Bài toán cho biết gì và yêu cầu tìm gì?
- Ai có thể gạch chân những từ quan trong trong đề toán?
- Ai có thể tóm tắt bài toán bằng sơ đồ đoạn thẳng?
-Mục tiêu: HS vận dụng, củng cố cách giải bài toán “Tìm hai số biết tổng
và hiệu của hai số đó”
-GV có thể gợi ý HS lựa chọn giữa hai phép tính là tìm số bé hoặc tìm số lớn trong khi làm bài. Phương pháp giải:
- Tìm số bé trước: Số bé = (Tổng – Hiệu) : 2
- Tìm số lớn trước: Số lớn = (Tổng + Hiệu) : 2 4 Tóm tắt: Bài giải:
Hai lần số học sinh đợt 2 là: 175 – 15 = 160 (bạn) Số học sinh đợt 2 là: 160 : 2 = 80 (bạn) Số học sinh đợt 1 là: 175 – 80 = 95 (bạn)
Đáp số: Đợt 1: 95 bạn; Đợt 2: 80 bạn.
Như vậy, người giáo viên đã tạo ra những tình huống có mức độ yêu cầu
khác nhau trong bước đầu tiên giải bài toán giúp cho mỗi học sinh trong lớp
đều có cơ hội tiếp cận tham gia giải bài toán. Với kĩ thuật hướng dẫn này,
người giáo viên vừa đảm bảo tính vừa sức vừa đạt được sự công bằng trong
cơ hội tiếp cận giáo dục.
III. BẢN CHẤT CỦA PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC PHÂN HÓA
(1) Lấy trình độ chung của học sinh trong lớp làm nền tảng
Trong dạy học toán, giáo viên phải biết lấy trình độ phát triển chung và điều
kiện chung của học sinh trong lớp làm nền tảng, phải hướng vào những yêu
cầu cơ bản về chuẩn kiến thức kĩ năng để điều chỉnh nội dung dạy học cho
phù hợp. Giáo viên phải biết lựa chọn nội dung và phương pháp dạy học phù
hợp với trình độ và điều kiện chung của lớp. Có thể phải lược bỏ những nội
dung chưa sát thực, chưa phù hợp với yêu cầu cơ bản đặt ra hoặc cũng có
thể phải bổ sung những nội dung cần thiết để phát triển tư duy cho học sinh.
Ví dụ: Giáo viên lựa chọn ra bài tập phù hợp với trình độ và điều kiện chung
của cả lớp để phù hợp với khả năng của tất cả các em. Ngoài việc giảng 5
kiến thức cơ bản, giáo viên cần bổ sung nội dung nâng cao (đảm bảo yêu
cầu chuẩn kiến thức) nhằm phát triển tư duy cho học sinh khá, giỏi.
Toán 2, tập 1; Chủ đề 4; Bài 19; Câu 1, tr.73 và Câu 4, tr.74
-Mục tiêu: Củng cố kĩ thuật đặt tính rồi tính phép cộng (có nhớ) số có hai
chữ số với số có một chữ số a)12 + 8 = 20 33 + 7 = 41 65 + 5 = 70 84 + 6 = 90 b)
Sau khi cả lớp giải được câu 1 (tính được các phép cộng có nhớ số có hai
chữ số với số có một chữ số) giáo viên có thể để học sinh khá, giỏi tiếp tục
giải câu 4 và khuyến khích học trung bình suy nghĩ để tìm ra cách giải câu 4. 6
(2) Đưa học sinh yếu lên trình độ trung bình
Trong dạy học phân hoá, nếu lớp có học sinh diện yếu, kém thì giáo viên
cần sử dụng các biện pháp để đưa những học sinh đó có đủ khả năng đạt
được những yêu cầu về chuẩn kiến thức kĩ năng. Đối với những học sinh
này, cần phải hạ thấp yêu cầu so với học sinh diện đại trà, giáo viên cần
kèm riêng từng cá nhân để các em có thể theo kịp trình độ chung của học sinh cả lớp.
Ví dụ: Khi yêu cầu học sinh yếu kém trong lớp giải các bài toán có văn, nếu
có học sinh yếu về cách đặt lời giải thì giáo viên cần gợi ý trực tiếp với riêng
cá nhân học sinh đó về cách đặt lời giải hoặc có thể thiết kế riêng phiếu bài
tập có in sẵn câu lời giải, yêu cầu học sinh chỉ điền phép tính dưới lời giải.
Điều này sẽ giúp học sinh yếu, kém ấy bù đắp được chỗ hổng về kiến thức
để lĩnh hội được kiến thức cơ bản.
(3) Cần bổ sung bài tập cho học sinh khá, giỏi đạt được những yêu
cầu nâng cao trên cơ sở đã đạt được những yêu cầu cơ bản.
Giáo viên là cần phải bổ sung những kiến thức nâng cao cho học sinh khá,
giỏi bằng những dạng bài tập mang tính phát triển tư duy. Đối với những
học sinh này, ngoài việc đạt được yêu cầu về chuẩn kiến thức kĩ năng còn
phải vận dụng các kiến thức đã học vào việc giải toán nâng cao. Các dạng
bài tập bổ sung cần đảm bảo yêu cầu sát với chuẩn kiến thức kĩ năng và
phải vừa sức với học sinh.
Nếu học sinh giỏi chỉ làm những bài cơ bản mãi thì kiến thức của các em ấy
chỉ xoay vòng ở đấy. Vì thế, giáo viên cần sáng tạo bổ sung nhiều dạng bài
tập mang tính tư duy, để học sinh có thể phát triển thêm kiến thức; gợi tính
tò mò, tìm tòi, sáng tạo của các em. Đồng thời, định hướng xem các em giỏi
nhất ở lĩnh vực nào, từ đó đào tạo phát triển các em hơn.
III. NÊU QUY TRÌNH VẬN DỤNG PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC PHÂN HOÁ TRONG
MÔN TOÁN Ở TRƯỜNG TIỂU HỌC.
Tiến hành dạy học phân hoá theo các bước sau đây: 7
*Bước 1: Giáo viên tìm hiểu và đánh giá trình độ học tập chung của cả lớp cũng như của các
loại đối tượng học sinh khác nhau ở trong lớp. Đặc biệt, giáo viên cần thấu hiểu được những
đặc điểm tâm lí nguyện vọng và những băn khoăn, rào cản của đa số học sinh trong lớp
- Giáo viên có thể kết hợp nhiều hình thức kiểm tra để đánh giá, chẩn đoán, phân loại đối tượng HS theo trình độ:
+ Kết hợp kiểm tra định kỳ, kiểm tra thường xuyên và quan sát lớp học: giáo viên cần thận
trọng khi đưa ra kết luận một học sinh nào đó thuộc nhóm trình độ nào. Giáo viên nên có sổ tay
ghi chép kết quả quan sát, theo dõi hàng ngày, trong đó lưu ý đến những trường hợp đặc biệt,
hoặc quá xuất sắc hoặc quá yếu để tiến hành dạy học phân hoá phù hợp.
+ Kết hợp kiểm tra độ khó và độ nhanh, tăng cường cho học sinh tự đánh giá: Hiện nay giáo
viên thường chỉ thiết kế đề kiểm tra theo độ khó. Để có thể phân loại sâu hơn, giáo viên thiết kế
đề kiểm tra kết hợp độ khó và độ nhanh, tức là tăng số lượng bài tập trong mỗi lần kiểm tra, kết
quả đánh giá không theo thang điểm 10 mà là giáo viên ghi nhận trong cùng một khoảng thời
gian đó, học sinh làm đúng được bao nhiêu bài. Cách làm này khuyến khích học sinh phát huy
hết khả năng của mình đồng thời có thể tự đánh giá khả năng của mình so với các bạn.
- Trong quá trình giảng dạy ở trường, vẫn còn có thầy cô giữ khoảng cách với học sinh, ít
gần gũi, tâm tình với người học. Có giáo viên, trong suốt thời gian đảm nhiệm giảng dạy bộ
môn của mình mà không nhớ nổi tên của những học sinh tích cực phát biểu ý kiến. Khi lên
lớp giáo viên đó cứ mải miết truyền đạt những kiến thức của bài học, mà không nhận ra rằng
nhân tố quan trọng để học sinh nắm được bài là cần có sự quan tâm, trao đổi, đàm thoại giữa
người dạy với người học.
- Đôi lúc, giáo viên không biết lắng nghe học sinh trong quá trình giảng dạy dẫn đến những
rào cản giữa giáo viên và học sinh – đó là những phẩm chất mà bất cứ giáo viên nào cũng
phải khắc phục. Biết lắng nghe những băn khoăn, trăn trở, tâm tình của học sinh là một biểu
hiện của ứng xử có văn hóa.
- Qua đó, giáo viên gần gũi hiểu được tâm tư, nguyện vọng và khả năng của học sinh để lựa
chọn phương pháp phù hợp, giúp người học nắm vững bài học một cách thuận lợi nhất. Khi
giáo viên trò chuyện cần phải có thái độ chân thành, cởi mở, sẽ lắng nghe được những lời
góp ý khách quan, thành thật từ phía học sinh.
*Bước 2: Căn cứ vào kết quả của bước 1, người giáo viên cần nhanh chóng tạo ra một môi
trường học tập thuận lợi tích cực cho hầu hết các học sinh trong lớp, nhất là sự hứng thú và
mong đợi được học tập của học sinh.
- Bắt đầu bài giảng với một trò chơi:
Thay vì vào bài trực tiếp thì các thầy cô hãy bắt đầu với một vấn đề mà có thể thu hút học sinh
tham gia và đó cũng là cách hiệu quả nhất để học sinh nhanh chóng vào bài. Ví dụ, chuẩn bị
một trò chơi liên quan đến bài giảng, một trò chơi khởi động hay đó là trò chơi giúp học sinh ôn
lại bài cũ để làm học sinh thấy hứng thú ngay từ đầu.
- Lồng ghép câu chuyện minh hoạ bài giảng: 8
Học sinh thường rất thích nghe kể chuyện, vì điều đó làm giải tỏa những căng thẳng trong quá
trình học tập. Chúng được phép tưởng tượng theo những gì thầy cô kể thay vì nhìn chằm chằm
vào sách, vào vở hay chiếc bảng đen, những thứ đôi khi khiến chúng nhàm chán. Nhưng phải
kể gì và phải kể như thế nào? Điều này phụ thuộc vào cách linh hoạt của mỗi thầy cô khi lồng
ghép chuyện kể vào bài giảng của mình.
- Tăng độ tương tác giữa thầy cô và học sinh:
Đôi khi thu hút bài giảng bằng cách rất nhỏ đó chính là sự tương tác giữa học sinh và giáo viên.
Trong mỗi giờ học giáo viên có thể giao lưu với học sinh bằng nhiều cách khác nhau. Có thể
giáo viên hỏi học sinh trả lời hoặc giúp các em thư giản bằng việc nói chuyện cùng các em về
vấn đề cuộc sống đôi khi liên quan đến bài học.
- Giảng bài theo phong cách hài hước:
Khiếu hài hước chính là “phương tiện” giúp giáo viên hoà đồng, gần gũi với học sinh hơn, vừa
giúp cho giờ dạy bớt căng thẳng, tạo được không khí lớp học thoải mái hơn. Đôi khi quá
nghiêm túc khi giảng bài cũng chưa hẳn mang lại hiệu quả. Và một thực tế đã cho thấy rằng,
những buổi học thú vị không nhàm chán có thể khắc phục được bằng những sự hài hước thú vị
đến từ giáo viên. Việc này giúp những bài giảng hiệu quả và thu hút được sự chú ý từ học sinh. - Tạo hoạt động nhóm:
+ Tạo hoạt động nhóm là một cách hay giúp giáo viên thu hút được bài giảng hiệu quả. Đúng
như thế đôi khi vừa học vừa thư giản sẽ là cách hay giúp cho học sinh tiếp thu nhanh.
+ Học sinh tiểu học vẫn đang ở độ tuổi chơi nên thầy cô không nên chỉ có dạy và dạy suốt cả
một tiết học mà hãy cho bé thư giãn đầu óc. Đôi khi hoạt động nhóm không phải là chơi mà
bạn vẫn cho trẻ học nhưng bằng cách phân chia nhóm cho các bé thảo luận. Việc tạo nhóm sẽ
giúp học sinh tự suy nghĩ, bên cạnh đó còn gắn kết các em lại với nhau thành một tập thể đoàn kết.
+ Đặc biệt là các lớp đầu cấp ở tiểu học, các em vẫn chưa ý thức nhiều về việc học, nhiều em
vẫn thích chơi hơn thích học. Một số em vẫn tranh nói chuyện riêng, làm việc riêng, rủ rê các
bạn khác cùng nói chuyện do đó nhóm trưởng phải luôn để các bạn trong tình trạng đang bận
“làm việc”. Giáo viên chủ nhiệm luôn tạo cho các em tính tự giác cao, đặc biệt tính chủ động,
linh hoạt, sáng tạo trong công việc đòi hỏi rất lớn. Bởi nhiệm vụ của nhóm có hoàn thành hay
không và hoàn thành ở mức nào phụ thuộc rất lớn vào sự tự giác hoạt động của các thành viên trong nhóm.
+ Trong quá trình các nhóm làm việc giáo viên đến các nhóm nhắc nhở, chia sẻ động viên
kịp thời đối với các nhóm. Khi có giáo viên đến từng nhóm thì các em thấy hứng thú, tự tin
hơn trong học tập để rồi các em không ngại chia sẽ những khó khăn vướng mắc với giáo
viên. Giáo viên có thể gợi ý những vướng mắc mà các em cần được tháo gỡ, giáo viên không
nên đưa trực tiếp kết quả mà cần đặt những câu hỏi gợi ý có vấn đề để các em tháo gỡ những
vướng mắc đó. Một điều quan trọng là giáo viên luôn bám sát các nhóm, gần gũi, chia sẻ, hỗ
trợ, nhắc nhở, động viên kịp thời đối với các nhóm. Các em không thể nào gây rối, mất trật
tự khi có cô giáo luôn bám sát nhắc nhở thường xuyên. Là giáo viên đương nhiên sẽ nắm rất 9
rõ những học sinh “đặc biệt”. Với mỗi học sinh “đặc biệt”, giáo viên phải có cách thức phù
hợp để các em không bị cô lập với nhóm, các em càng phải được giáo viên, nhóm trưởng và
các bạn trong nhóm “quan tâm” nhiều hơn. Ngoài ra, giáo viên tạo cơ hội cho các nhóm
trưởng cùng chia sẻ kinh nghiệm điều hành nhóm. Để mỗi nhóm, mỗi thành viên của nhóm
phát huy tốt vai trò, trách nhiệm của mình.
- Trở thành tấm gương sáng cho học sinh noi theo:
+ Với học sinh, không một tấm gương nào tốt hơn là giáo viên chủ nhiệm – người trực tiếp
giảng dạy, chăm sóc, giáo dục, theo sát quá trình học tập cũng như rèn luyện của các em
trong suốt một năm học. Bao giờ cũng thế, người thầy tốt sẽ sản sinh ra những học trò tốt.
Giáo viên hãy là tấm gương trong mọi lĩnh vực: học tập (không thể dạy các em chăm học
trong khi cô thì không chăm chỉ nghiên cứu, tìm tòi), sinh hoạt (giao tiếp, ăn mặc lịch sự, biết
giữ vệ sinh môi trường,...), đạo đức (có lòng nhân ái mà trước hết là đối với học sinh lớp
mình, trung thực trong dạy học, trong cuộc sống,…). “Lớp học thân thiện” chỉ có được khi
giáo viên có tấm lòng nhân hậu, bao dung, hết lòng vì học sinh thân yêu của mình. Có một
giáo viên chủ nhiệm như vậy thì chắc chắn học sinh sẽ chăm ngoan, tích cực, ham học, thích
đi học và đương nhiên tình trạng nói chuyện riêng hay mất trật tự trong lớp cũng được giảm thiểu phần nào.
*Bước 3: Từ thực tế của học sinh trong lớp và đặc điểm của nội dung dạy học, người giáo
viên sẽ cân nhắc sử dụng phương án dạy học phân hoá nào (phân hoá tổ chức hoặc phân hoá
nội tại). Sau đó, triển khai các hoạt động cụ thể của phương án dạy học phân hoá đã lựa chọn.
Dạ thưa cô Bước 3 nhóm chúng em không biết triển khai hoạt động nên chưa thể làm ạ.
*Bước 4: Đánh giá kết quả của từng pha dạy học và bổ sung các điều chỉnh cần thiết để hoàn
thiện quá trình dạy học nhằm đạt được mục tiêu của quá trình dạy học.
- Với mục tiêu chẩn đoán kết quả đạt được, định hướng điều chỉnh cho các công đoạn tiếp theo
và khuyến khích, duy trì động lực học tập của các đối tượng học sinh, giáo viên có thể áp dụng
một số biện pháp đánh giá kết quả học tập của học sinh Tiểu học trong học tập môn toán theo
hướng phân hóa như sau: Thứ nhất, đánh giá thường xuyên trong bài học: Đánh giá khởi đầu
bằng các câu hỏi đã xác định mức độ khó dễ để yêu cầu học trả lời miệng hoặc thực hành làm
các bài tập. Ở bước khởi đầu, giáo viên đánh giá học sinh thực hiện được tốt, đạt hay chưa tốt
nội dung đã học ở các bài trước đó. Chẳng hạn, trước khi hình thành cách tính chu vi hình chữ
nhật, giáo viên hỏi về hình chữ nhật có là hình tứ giác không? Cách tính chu vi hình tứ giác cụ
thể khi cho trước số đo của bốn cạnh? Học sinh nêu được cách tính chu vi của hình tứ giác
(thường là học sinh khá, giỏi) được đánh giá thực hiện tốt nội dung đã học. Học sinh trung bình
hoặc yếu hơn sẽ thực hiện phép cộng các số đo khi đã biết cách tính chu vi. Tiếp theo là đánh
giá trong và sau từng hoạt động, ở mỗi hoạt động thường có ít nhất một câu hỏi, bài tập dùng để
đánh giá kiến thức, kỹ năng của học sinh, giáo viên căn cứ vào mục tiêu của hoạt động để đánh
giá các mức độ hoàn thành, hoàn thành tốt hay chưa hoàn thành sản phẩm ở mỗi hoạt động. Ví
dụ: ở mức độ hoàn thành chuẩn kiến thức kĩ năng bài chu vi hình chữ nhật là học sinh tính đúng
chu vi hình chữ nhật khi biết số đo chiều dài và chiều rộng. Học sinh hoàn thành tốt khi thành
thạo trong chuyển đơn vị đo, tính chu vi hình chữ nhật và vận dụng giải quyết một số tình 10
huống thực tế liên quan đến cách tính chu vị hình chữ nhật, … Sau cùng là đánh giá ở thời điểm
cuối bài, nhằm đánh giá kết quả học tập của học sinh sau khi học xong bài đó. Tùy theo mỗi bài
học, giáo viên có thể sử dụng hệ thống câu hỏi hay số lượng bài tập để học sinh củng cố, luyện
tập. Từ đó, giáo viên có thể đánh giá sâu hơn mức độ nhận thức bài học của mỗi đối tượng học sinh.
- Thứ hai, đánh giá sau từng giai đoạn học tập: đánh giá sau mỗi chủ đề, đánh giá giữa học kỳ,
đánh giá cuối học kỳ và đánh giá cuối năm học. Trong môn toán, để đánh giá học sinh sau từng
giai đoạn học tập, giáo viên thường sử dụng hệ thống bài tập, khoảng từ 5 đến 7 bài sắp xếp
theo mức độ dễ đến khó. Căn cứ vào kết quả thực hiện của học sinh, giáo viên có thể đối chiếu
với kết quả đánh giá thường xuyên trong bài học. Từ đó, đánh giá được năng lực tự học của mỗi
học sinh, đồng thời có thể định hướng học tập cho học sinh và phân hóa đối tượng trong giai
đoạn dạy học tiếp theo.
- Như vậy, đánh giá kết quả học tập của học sinh theo hướng phân hóa nhằm mục đích nhận
định thực trạng và định hướng, điều chỉnh hoạt động học của học sinh. Đồng thời, nhận định
thực trạng, định hướng, điều chỉnh hoạt động dạy của thầy, góp phần nâng cao hiệu quả dạy và học.
IV. ƯU ĐIỂM VÀ HẠN CHẾ CỦA PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC PHÂN HÓA * Ưu điểm:
- Dạy học phân hoá tạo ra một môi trường học tập tích cực: gây được hứng
thú học tập cho mọi đối tượng học sinh, xoá bỏ được mặc cảm, tự ti của học
sinh yếu, kém khi tham gia vào bài học, kích thích được học sinh giỏi phát
huy tối đa khả năng sáng tạo trong học tập.
Khác với việc học truyền thống, thay vì quá thụ động trong việc tiếp
thu kiến thức thì dạy học phân hoá sẽ giúp các em huy động mọi khả
năng của từng HS để tự HS tìm tòi, khám phá ra những nội dung mới
của bài học. Từ đó, tập trung mọi cố gắng để phát triển năng lực, sở
trường của mỗi HS, tạo cho HS có niềm tin và niềm vui trong học tập.
Tạo ra môi trường học tập tích cực.
Vấn đề đặt ra là đối với lớp khá giỏi dạy như thế nào, lớp trung bình
dạy cách nào và với lớp yếu kém thì phương pháp ra sao? Đối tượng HS
yếu kém cần được quan tâm giúp đỡ nhiều hơn đối tượng HS khá giỏi,
những câu hỏi vấn đáp đưa ra cần có sự gợi mở, chẻ nhỏ. Nhưng không
có nghĩa là đối tượng HS khá giỏi không được quan tâm mà việc quan
tâm đến đối tượng HS khá giỏi chỉ hạn chế tạo điều kiện cho nhóm này
phát huy tối đa tính tự giác, độc lập, sáng tạo của các em.
- Dạy học phân hoá thực hiện được mô hình dạy học tiến bộ: phát huy tốt
khả năng cá thể hoá hoạt động của người học, đưa người học trở thành chủ 11
thể của quá trình nhận thức, tiếp thu kiến thức một cách chủ động, sáng
tạo, phù hợp với năng lực nhận thức của bản thân.
Phân hoá HS theo trình độ nhận thức, giao nhiệm vụ phù hợp với từng nhóm HS tạo điều
kiện và phương tiện hoạt động để HS tự phát hiện ra các tình huống có vấn đề; tự mình
hoặc cùng các bạn trong nhóm, trong lớp lập kế hoạch hợp lý nhất để giải quyết vấn đề.
Giúp các em tiếp thu kiến thức một cách chủ động, sáng tạo, phù hợp với năng lực nhận thức của bản thân.
- Dạy học phân hoá phối hợp được nhiều xu hướng đổi mới giáo dục: tăng
cường khả năng giao lưu, hợp tác giữa thầy và trò, giữa trò với trò; tạo điều
kiện cho học sinh được học tập, giao lưu, hợp tác với nhau trong các nhóm
linh hoạt: các nhóm tương đương về trình độ, các nhóm cùng chung sở -
thích, các nhóm có nhiều trình độ học tập, các nhóm cùng sở trường,...
Trong những cách này, HS được giao những nhiệm vụ phân hóa thường
thể hiện bởi bài tập phân hóa tạo điều kiện giao lưu gây tác động qua lại cho người học.
Ra bài tập phân hóa là để tất cả các đối tượng HS có trình độ nhận
thức khác nhau có thể tiến hành những hoạt động khác nhau phù hợp
với trình độ khác nhau của họ. Có thể phân hóa về yêu cầu bằng cách
sử dụng những bài tập phân bậc.
Hoặc ngay trong một bài tập, ta có thể tiến hành dạy học phân hóa
nếu bài tập đó đảm bảo yêu cầu hoạt động cho cả ba nhóm đối tượng
HS: Bồi dưỡng lấp lỗ hổng cho HS yếu kém, trang bị kiến thức chuẩn
cho HS trung bình và nâng cao kiến thức cho HS khá giỏi. Để làm được
điều đó người GV phải nắm chắc nội dung kiến thức của từng bài và có
sự đầu tư nghiên cứu cho bài soạn.
Cũng có thể phân hóa về mặt số lượng: để hình thành một kiến thức,
rèn luyện một kỹ năng nào đó, số HS yếu kém cần nhiều bài tập cùng
loại hơn số các HS khác. Những HS giỏi, thừa thời gian sẽ nhận thêm
những bài tập khác để đào sâu và nâng cao. Vì vậy GV nên ra đủ liều
lượng bài tập cho từng loại đối tượng HS.
Đồng thời GV cần quan tâm đặc biệt đến những HS có phần thiếu tự tin
để động viên họ, lưu ý những HS này hay tính toán nhầm, nhắc nhở HS
kia đừng hấp tấp vội vàng, chủ quan, thiếu chín chắn...
Để dạy học phân hóa được hiệu quả GV có thể áp dụng dạy học theo
cặp hoặc theo nhóm. Với những hình thức này, có thể tận dụng chỗ
mạnh của một số HS này để điều chỉnh nhận thức cho những HS khác.
Thông qua hình thức này có sự tác động qua lại giữa các HS trong quá
trình dạy học. HS được rèn luyện cách thức làm việc để cùng hoạt
động chung nhằm thực hiện một nhiệm vụ chung. Có sự giao lưu trong
tập thể và phát triển những mối quan hệ xă hội. 12
- Dạy học phân hoá tăng cường sự hiểu biết và gắn bó giữa thầy giáo với
từng học sinh trong lớp, đề cao vai trò cá nhân của học sinh trong các hoạt
động giáo dục, tôn trọng những khác biệt về nhu cầu, xu hướng, ý kiến của người học.
Dạy học phân hoá tạo ra môi trường học tập tích cực, tăng cường thúc
đẩy sự giao lưu, gắn bó giữa thầy và trò.
Cho trẻ em lựa chọn có nghĩa là chúng phải chịu trách nhiệm nhiều
hơn cho việc học của bản thân.
Học sinh chủ động hơn trong việc học vì trong dạy học phân hóa, các
em là những cá nhân có cơ hội phát triển như nhau. * Hạn chế:
Để dạy học phân hoá có hiệu quả - thực sự là một thách thức của cả thầy và trò.
- Phương pháp này đòi hỏi ứng xử sư phạm kĩ năng cao nhất (phân hoá đối
tượng học sinh; định hướng, gợi mở, khích lệ,...), giáo viên phải có kinh
nghiệm, có trình độ chuyên môn, phải phân hoá được đối tượng học sinh,
phải chuẩn bị cho tiết học rất công phu, dự kiến những hoạt động dạy học
dựa vào những hiểu biết những nhu cầu và hứng thú của đối tượng học sinh
mình giảng dạy; giáo viên phải có nghệ thuật điều khiển thời gian, cùng một
lúc giáo viên phải quản lí tốt các nhóm học tập đang đồng thời thực hiện
nhiệm vụ khác nhau. Nếu không quản lí điều hành hợp lí và có chất lượng có
thể gây căng thẳng không cần thiết hoặc gây nhàm chán cho cả thầy và trò
thậm chí còn làm giảm chất lượng của hoạt động dạy và học so với biện pháp dạy học khác.
Sĩ số lớp học hiện nay quá đông (mỗi lớp thường trên 35 HS), nên việc
dạy học phù hợp với từng đối tượng HS rất khó. Chưa kể đến việc HS có
thể học tốt môn này nhưng chưa tốt môn khác nên cần phải có nhiều
cách chia nhóm, phân loại đối tượng HS phù hợp theo từng môn học.
Trình độ đào tạo và năng lực sư phạm của đội ngũ GVTH hiện nay chưa
đồng đều, chưa có nhiều GV có năng lực và kinh nghiệm trong việc DHPH.
GVTH phải dạy nhiều môn nên khó khăn trong việc chuẩn bị kế hoạch
bài dạy theo định hướng phân hóa.
- Dưới sự hỗ trợ, tư vấn của giáo viên, học sinh phải tự tạo cho mình động
lực học tập và phải có quyết tâm bền bỉ xuyên suốt cả quá trình học tập.
HS tiểu học chưa ý thức về việc học vẫn còn gia đình quản thúc học
tập nên khi áp dụng PPDHPH thì các phải tự tạo cho mình động lực và quyết tâm học tập 13
Có thể xuất hiện những biểu lộ mất tự tin hay mặc cảm về tâm lý đối
với HS khi bị xếp vào nhóm yếu kém cũng như tâm lý lo lắng của phụ huynh HS.
- Nếu ứng dụng được công nghệ thông tin và truyền thông có thể dẫn đến
khả năng phân hoá cao trong quá trình dạy học, nâng cao hiệu quả học tập của học sinh.
Cơ sở vật chất còn thiếu thốn; thiếu chương trình, tài liệu tham khảo;
thiếu phương tiện kỹ thuật, đồ dùng dạy học,... nên trong quá trình
dạy học không đạt được hiệu quả hư mong muốn
V. QUAN HỆ CỦA DẠY HỌC PHÂN HOÁ VỚI CÁC PHƯƠNG PHÁP DẠY
HỌC KHÁC TRONG DẠY HỌC MÔN TOÁN Ở TRƯỜNG TIỂU HỌC
a. Dạy học phân hoá trong dạy học phát hiện và giải quyết vấn đề
- Dạy học phát hiện và giải quyết vấn đề là phương pháp dạy học phát huy
tính tự giác, tích cực, chủ động, sáng tạo của người học, đặc biệt là trong
những tình huống dạy học các khái niệm, các tri thức mới. Nếu trong hệ
thống câu hỏi dẫn dắt, giáo viên kết hợp phân hoá đối tượng học sinh sẽ
giúp mọi học sinh cũng được tham gia khám phá tri thức mới tuỳ theo khả
năng nhận thức của từng cá nhân. Có nhiều ý kiến cho rằng, chỉ những học
sinh khá giỏi, có năng lực học tập toán, có tư duy nhanh mới có khả năng
khám phá những tri thức mới bằng phương pháp dạy học nêu vấn đề. Thực
tế không hoàn toàn như vậy. Trong hệ thống câu hỏi dẫn dắt học sinh đi tri
thức mới, nếu giáo viên quan tâm đến những câu hỏi mang tính tái hiện,
không đòi hỏi tư duy sâu sẽ giúp học sinh trung bình, yếu kém được cùng
tham gia, hoà mình vào không khí học tập chung của cả lớp.
Ví dụ: Khi hình thành quy tắc Phép trừ hai phân số có cùng mẫu số (Toán 4, tập 2, trang 80)
+ Giáo viên có thể áp dụng dạy học phân hoá trong dạy học phát hiện và
giải quyết vấn đề như sau. Làm thế nào để thực hiện được phép trừ hai
phân số cùng mẫu số đó?
Giáo viên gọi học sinh khá, giỏi đưa ra ý tưởng để thực hiện phép trừ, bên
cạnh đó cũng cần gọi học sinh trung bình và yếu kém nhắc lại cách thực
hiện phép cộng hai phân số cùng mẫu số.Việc làm đó sẽ giúp học sinh cả
lớp hoà chung vào công việc đó là tìm ra cách thực hiện phép trừ hai phân số cùng mẫu số.
- Trong dạy học phát hiện và giải quyết vấn đề, nếu vấn đề đưa ra không
vừa sức, quá khó thì học sinh sẽ không được đặt vào tình huống có vấn đề
để các em chủ động, sáng tạo tìm kiếm, phát hiện kiến thức dẫn đến học
sinh chán nản, coi học tập như một chướng ngại vật khó vượt qua. Nếu vấn 14
đề đưa ra quá dễ sẽ gây cho học sinh sự nhàm chán, không kích thích tư
duy sáng tạo của các em. Do đó nếu kết hợp tốt giữa dạy học phát hiện và
giải quyết vấn đề với dạy học phân hóa thì giáo viên sẽ phát huy được hết
vai trò của cả hai phương pháp dạy học này.
b. Dạy học phân hoá trong dạy học hợp tác nhóm
Dạy học hợp tác nhóm chính là quá trình tổ chức các hoạt động tính cực của
từng cá nhân học sinh tạo nên những kết quả chung của cả nhóm. Ưu điểm
của dạy học hợp tác nhóm là:
- Tạo ra sự tranh đua, nhiều cách nghĩ, nhiều phương án đối với học sinh.
- Học sinh được hỗ trợ nhau đóng góp những ý kiến riêng vào ý kiến chung.
- Giúp học sinh chuyển từ thói quen chỉ nghe, ghi nhớ sang hoạt động, cùng
nhau tìm kiếm, hình thành kiến thức bằng trí tuệ chung. Từ đó tạo cho học
sinh kĩ năng hoạt động tập thể và khẳng định được mình thông qua tập thể.
Cũng như dạy học phát hiện và giải quyết vấn đề, dạy học hợp tác nhóm
cũng cần có sự phân hoá. Trong dạy học hợp tác nhóm, giáo viên phải biết
khai thác lợi thế của tập thể để phát triển từng cà nhân, phải quan tâm đến
hứng thú, khả năng của từng cá nhân, sao cho không có học sinh trở thành
“người thừa” trong nhóm. Việc phân hoá thực chất cũng là chia thành các
nhóm phân hoá về trình độ học tập. Nếu kết hợp tốt hai phương pháp này
thì sẽ phát huy được tối đa tính tích cực học tập của học sinh bài vì mỗi cá
nhân đều cố gắng hoàn thành nhiệm vụ được giao thì cũng chính là cố gắng
tham gia xây dựng bài học và kết quả của học sinh sẽ kích thích niềm say mê của các em. Ví dụ:
Trước khi giáo viên chia nhóm để thực hiện nhiệm vụ, thì giáo viên có thể phân công nhiệm vụ cá
nhân cho từng nhóm đối tượng học sinh trong lớp trước, sau đó giáo viên giao nhiệm vụ nhóm sau.
Khi tổ chức cho học sinh về tìm hiểu hình thoi trong Bài 31: Hình bình hành, hình thoi (Toán 4, tập
1; trang 105). Giáo viên có thể thiết kế nhiệm vụ học tập cá nhân như: Đối với học sinh ở nhóm
trung bình, yếu, giáo viên có thể thêm gợi ý: “dựa vào tính chất: hình thoi có hai cặp cạnh song
song và bốn cạnh bằng nhau, tìm cách gấp được một hình thoi từ một mảnh giấy hình chữ nhật
hoặc hình vuông”. Khi có gợi ý về tính chất của hình thoi, học sinh có chỗ dựa để có thể gấp được
hình thoi. Còn đối với học sinh ở nhóm khá giỏi, giáo viên giao nhiệm vụ: “tìm cách tạo được một
hình thoi từ một hình tứ giác bất kỳ”. Với nhiệm vụ này, học sinh sẽ phải thêm một bước tư duy,
suy luận, mô hình hóa toán học chọn hình thích hợp để tạo ra hình thoi đó là hình chữ nhật hoặc
hình vuông rồi mới thao tác tiếp.
Sau khi học sinh thực hiện nhiệm vụ học tập cá nhân thao tác tạo ra hình thoi, giáo viên giao nhiệm
vụ cho các nhóm trong lớp như sau: “Các em hãy thảo luận nhóm về cách tạo ra hình thoi, sau đó
hãy so sánh hình thoi với hình bình hành có điểm gì giống và khác nhau”. Với nhiệm vụ hoạt động
nhóm như thế, học sinh yếu cũng có thể tự tin nói về cách gấp hình thoi của mình, còn học sinh 15
khá, giỏi cũng thích thú thảo luận về so sánh điểm giống và khác nhau giữa hình bình hành và hình
thoi,… Từ đó sản phẩm học tập được hoàn thành với sự tham gia tích cực của các đối tượng học sinh
Trong dạy học hợp tác nhóm, nếu giáo viên chia nhóm một cách phù hợp thì
chính các học sinh trong nhóm có thể giúp nhau hoàn thành được nhiệm vụ
học tập, đây là một vấn đề rất quan trọng nâng cao được hiệu quả dạy học.
Vì vậy, có thể nói dạy học hợp nhằm và dạy học phân hóa có mối quan hệ mật thiết với nhau.
c. Dạy học phân hoá trong dạy học trực quan
Phương pháp dạy học trực quan là phương pháp được sử dụng nhiều ở Tiểu
học. Trong phương pháp này, giáo viên phải giúp học sinh thông qua những
hình ảnh trực quan để xây dựng và hình thành trí thức mới. Thông thường,
từ những tranh vẽ, những đồ vật thật hay những đoạn phim ảnh, giáo viên
yêu cầu học sinh nêu nội dung, tên gọi của tranh vẽ, đồ vật hay đoạn phim,
tiếp đó yêu cầu học sinh nêu ý nghĩa của bức tranh hay đoạn phim hoặc đặc
điểm, tính chất của đồ vật,... để hưởng vào nội dung bài học. Vì vậy, nếu
giáo viên biết phân hoá đối tượng học sinh để đưa ra nội dung câu hỏi phù
hợp thì sẽ giúp học sinh phối hợp cùng nhau xây dựng được bài một cách tốt nhất. Ví dụ:
Khi dạy về Bài: Hỗn số (Toán 5; Trang 12), giáo viên cho học sinh quan sát
trực quan (hình vẽ 2 cái bánh và ¾ cái bánh).
Khi yêu cầu học sinh nêu “nhận xét về số bánh không bị chia ra và số phần
bánh bị chia ra” thì nên gọi học sinh yếu hoặc trung bình; còn khi yêu cầu
học sinh rút ra kết luận về hỗn số thì nên yêu cầu học sinh khá giỏi. Hoặc 16
khi tổ chức cho học sinh khám phá, ghi nhớ đặc điểm hình vuông ở lớp 3,
giáo viên có thể yêu cầu học sinh yếu “quan sát và nêu tên gọi của hình”,
còn học sinh trung bình hoặc khá, giỏi sẽ khái quát nêu hai đặc điểm của hình vuông;…
C. HOẠT ĐỘNG THỰC HÀNH
Ví dụ 1: Có thể minh họa kiểu dạy học phân hóa tổ chức trong dạy học
Toán ở Tiểu học như sau:
Khi dạy học về dạng bài toán Tìm số trung bình cộng, giáo viên có thể chia
học sinh trong lớp thành các nhóm có bốn trình độ học tập tương ứng với bốn bài toán như sau:
1. Nhóm học sinh yếu, kém (nếu có): Giải bài toán theo mẫu hoàn toàn
tương tự với bài toán đã được giáo viên hướng dẫn trên lớp. (Ví dụ: Sách
Toán 4, tập 2; Chủ đề 8; Bài 46; Câu 1, trang 30). Đáp án:
Mục tiêu: Bài tập này giúp HS củng cố về tìm số trung bình cộng của nhiều số
Phương pháp giải bài toán này dựa vào định nghĩa sách giáo khoa: Muốn tìm
số trung bình cộng của nhiều số, ta tính tổng của các số đó, rồi chia tổng đó
cho số các số hạng. Bài toán này rất căn bản, học sinh chỉ cần nắm khái
niệm tìm số trung bình cộng rồi áp dụng khái niệm, tính toán tìm ra số ghi ở nhụy hoa. Lời giải chi tiết:
Số ghi ở nhụy hoa thứ nhất là: (28 + 24 + 26) : 3 = 26
Số ghi ở nhụy hoa thứ hai là: (13+ 15 + 17 + 19 + 21) : 5 = 17 17
2. Nhóm học sinh trung bình: Bài toán có nội dung thực tiễn và diễn đạt
thành một bài toán có lời văn. (Ví dụ: Sách Toán 4, tập 2; Chủ đề 8; Bài 46; Câu 2, trang 30).
Mục tiêu: Bài tập này giúp HS củng cố về tìm số trung bình cộng của nhiều
số cũng như củng cố về giải toán có lời văn và chia cho số có hai chữ số Phương pháp giải:
- Tìm tổng số bao thóc = Số bao thóc tẻ + Số bao thóc nếp
- Cân nặng trung bình của mỗi bao thóc = Tổng cân nặng của các bao thóc : số bao thóc Tóm tắt: 8 bao thóc tẻ: 400 kg 4 bao thóc nếp: 224 kg Trung bình mỗi bao: ... kg? Bài giải:
Nhà bác Vân có số bao thóc là: 8 + 4 = 12 (bao thóc)
Trung bình mỗi bao thóc nhà bác Vân nặng số ki-lô-gam là: (400 + 224) : 12 = 52 (kg) Đáp số: 52 kg thóc
3. Nhóm học sinh khá: Bài toán có lời văn nhưng mối quan hệ về hai số
dữ liệu thể hiện gián tiếp. (Ví dụ: Sách Toán 4, tập 2; Chủ đề 8; Bài 46; Câu 3, trang 30).
Mục tiêu: Bài tập này giúp HS củng cố về tìm số trung bình cộng của nhiều
số cũng như củng cố về giải toán có lời văn và chia cho số có hai chữ số 18 Phương pháp giải:
Bước 1: Tìm số cái bánh giầy Rô-bốt làm được trong ngày thứ hai
Bước 2: Trung bình mỗi ngày = Tổng số cái bánh giầy làm trong 2 ngày : 2 Tóm tắt:
Ngày thứ nhất :20 cái bánh giầy
Ngày thứ hai hơn ngày thứ nhất: 4 cái bánh giầy
Trung bình mỗi ngày : ... cái bánh giầy? Bài giải:
Số cái bánh giầy Rô-bốt làm được trong ngày thứ hai là: 20 + 4 = 24 (cái)
Trung bình mỗi ngày Rô-bốt làm được số cái bánh giầy là: (20 + 24) : 2 = 22 (cái)
Đáp số: 22 cái bánh giầy.
4. Nhóm học sinh giỏi: Bài toán mang tính đánh đố học sinh nhằm giúp
học sinh tư duy, suy luận. (Ví dụ: Sách Toán 4, tập 2; Chủ đề 8; Bài 46; Câu 4, trang 30).
Mục tiêu: Bài tập này nhằm giúp học sinh củng cố về tìm số trung bình cộng của hai số. Phương pháp giải:
- Tìm tổng hai số của Mai và Rô-bốt viết = Số trung bình cộng x 2 19
- Số của Rô-bốt viết = Tổng hai số của Mai và Rô-bốt viết – số Mai viết Lời giải chi tiết:
Ta có: Trung bình cộng của hai số là 15.
Vậy tổng của hai số là: 15 x 2 = 30 Ta thấy: Mai viết số 18
Vậy số Rô-bốt đã viết là: 30 – 18 = 12
Ví dụ 2: Có thể minh hoạ cho kiểu dạy học phân hoá nội tại trong dạy học
Toán ở Tiểu học như sau:
Thiết kế hoạt động dạy phù hợp với nhiều loại đối tượng học sinh trong lớp
cùng một nội dung dạy học
(VD: Toán 5, Bài 6: Luyện Tập, tr.9) I. Mục tiêu Giúp HS:
- Biết đọc, viết các phân số thập phân trên một đoạn của tia số. Biết
chuyển một phân số thành một phân số thập phân.
- Làm đúng bài tập 1, 2, 3. II.
Các hoạt động dạy học Hoạt động của GV Hoạt động của HS 1.Ki ểm tra bài cũ
- Muốn chuyển một phân số thành phân số
thập phân ta làm như thế nào?
- Cho HS làm 1 hoặc 2 ví dụ 2.Dạ y học bài mới a. Giới thiệu
b. Hướng dẫn luyện tập Bài 1 - HS làm bài 3 ; 4 ;…; 9 10 10 10
-Vẽ tia số lên bảng, gọi 1 HS lên bảng làm bài,
yêu cầu các HS khác vẽ tia số vào vở và điền
vào các phân số thập phân.
-Yêu cầu HS yếu đọc các phân số thập phân trên tia số Bài 2 20