Đang tải lên

Vui lòng đợi trong giây lát...

Preview text:

TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠ I KHOA MARKETING -------- --------
ĐỀ TÀI THẢO LUẬN
HỌC PHẦN TRIẾT HỌC MÁC – LÊNIN Đề tài:
QUAN ĐIỂM CỦA CHỦ NGHĨA DUY VẬT BIỆN CHỨNG
VỀ MỐI QUAN HỆ GIỮA VẬT CHẤT VÀ Ý TH ỨC
NGHĨA PHƯƠNG PHÁP LUẬN ĐƯ ỢC RÚT RA TỪ VẤN
ĐỀ NÀY. VẬN DỤNG VÀO XÂY DỰNG CHỦ NGHĨA XÃ HỘI Ở VIỆT NAM. Nhóm: 7
Lớp học phần: 22107MLNP0221
Người hướng dẫn: Phạm Thị Hương
Hà Nam, tháng 11 năm 2022 MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU...........................................................................................................1
PHẦN NỘI DUNG......................................................................................................2
Chương 1:.....................................................................................................................2
QUAN ĐIỂM CỦA CHỦ NGHĨA DUY VẬT BIỆN CHỨNG VỀ MỐI QUAN
HỆ GIỮA VẬT CHẤT VÀ Ý THỨC........................................................................2
I. PHẠM TRÙ VẬT CHẤT, Ý THỨC......................................................................2
1. Vật chất..................................................................................................................................................2
2. Ý thức......................................................................................................................................................4
II. MỐI QUAN HỆ GIỮA VẬT CHẤT VÀ Ý THỨC.............................................5
1.Quan niệm của các nhà triết học trước Mác.........................................................................5
2. Quan quan niệm của triết học Mác-Lênin............................................................................6
3. Ý nghĩa phương pháp luận...........................................................................................................8
Chương 2:...................................................................................................................15
VẬN DỤNG MỐI QUAN HỆ GIỮA VẬT CHẤT VỚI Ý THỨC VÀO MỐI
QUAN HỆ GIỮA KINH TẾ VỚI VĂN HÓA Ở NƯỚC TA HIỆN NAY............15
I. SỰ PHÁT TRIỂN KINH TẾ VÀ VĂN HOÁ Ở NƯỚC TA TRONG GIAI
ĐOẠN HIỆN NAY....................................................................................................15
1. Quá trình phát triển kinh tế, văn hoá...................................................................................15
2. Những thuận lợi và thành tựu của quá trình phát triển kinh tế, văn hoá...........16
3. Những khó khăn và hạn chế của quá trình phát triển kinh tế, văn hoá..............19
4. Nguyên nhân của hạn chế............................................................................................................19
II. PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁT KHẮC PHỤC HẠN CHẾ VÀ TIẾP
TỤC PHÁT TRIỂN KINH TẾ, VĂN HOÁ TRONG THỜI GIAN TỚI.............20
1. Phương hướng khắc phục hạn chế và tiếp tục phát triển kinh tế, văn hoá
trong thời gian tới.................................................................................................................................20
2. Giải pháp khắc phục hạn chế và tiếp tục phát triển kinh tế, văn hoá trong thời
gian tới.......................................................................................................................................................24
3.Vai trò của sinh viên trong việc phát triển kinh tế và văn hóa..................................28
PHẦN KẾT LUẬN....................................................................................................30
TÀI LIỆU THAM KHẢO........................................................................................30 1 PHẦN MỞ ĐẦU
Trong suốt chiều dài lịch sử hình thành và phát triển thì ngày nay Triết học
Mác-Lênin là một trong những thành tựu vĩ đại nhất của
tư tưởng triết học nhân loại
và đang là hình thức phát triển cao nhất của triết học tr
ong lịch sử. Triết học Mác-
Lênin không chỉ trang bị cho con người hệ thống các
khái niệm, quy luật và phạm trù
mà còn là công cụ nhận thức khoa học; giúp con n
gười phát triển tư duy khoa học, đó
là tư duy ở cấp độ phạm trù, quy luật…
Trong Triết học Mác - Lênin có đề cập đến
quan niệm của chủ nghĩa duy vật biện chứ
ng về vật chất và ý thức, mối quan hệ giữa
vật chất và ý thức giúp ta thấy rõ bản chất và rằng vật chất, ý thức tồn tại trong mối
quan hệ biện chứng với nhau, tác động lẫn n
hau thông qua hoạt động thực tiễn. Đặc
biệt trong mối quan hệ đó thì vật chất giữ
vai trò quyết định đối với ý thức. Những lý
luận, bài học có tính chất phương pháp luận rút ra
từ mối quan hệ giữa vật chất và ý
thức có vai trò vô cùng quan trọng trong các
h mạng cũng như sự nghiệp đổi mới ở
Việt Nam. Bằng cách vận dụng sáng tạo và phù hợp với điều kiện lịch sử, xã hội Việt
Nam, đất nước ta chưa bao giờ có được tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày
nay. Và đây cũng là cơ sở để em chọn đề tài: “Quan điểm của chủ nghĩa duy vật biện
chứng về mối quan hệ giữa vật chất và ý thức, ý nghĩa phương pháp luận được rút ra
từ vấn đề này. Vận dụng vào xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam”. 2 3
rằng vật chất là nước, không khí, lửa,... Một số quan điểm điển hình thời kỳ này là:
Taket coi vật chất là nước, Anaximen coi vật chất là không khí, Heraclitus coi vật chất
là lửa, Anximang coi vật chất là hạt praton, đây là một thực thể không xác định về chất.
Đặc biệt đỉnh cao của quan niệm về vật chất của thời kỳ Hy Lạp cổ đại là thuyết nguyên
tử của Leucipe và Democritos. Theo thuyết này thì thực thể tạo nên thế giới là nguyên
tử và nó là phần tử nhỏ bé nhất và không thể phân chia được, khôg thể xâm nhập và
quan sát được, chỉ có thể nhận biết được bằng tư duy. Các nguyên tử không khác nhau
về chất mà chỉ khác nhau về hình dạng. Sự kết hợp các nguyên tử khác nhau theo một
trật tự khác nhau sẽ tạo nên vật thể khác nhau. Thuyết nguyên tử tồn tại đến cuối thế kỷ
19 đầu thế kỷ 20 mới bị khoa học đánh đổ và có hạn chế lịch sử nhất định. Tuy nhiên
nó có ý nghĩa to lớn đối với sự định hướng cho sự phát triển khoa học nói chung đặc
biệt là lĩnh vực vật lý sau này. Đồng thời nó có tác dụng to lớn trong cuộc đấu tranh
chống chủ nghĩa duy tâm, thần học, tôn giáo.
- Quan niệm chủ nghĩa duy vật thế kỉ XV – XVIII: Bắt đầu từ thời kì phục hưng
(thế kỉ XV), phương Tây có sự bứt phá hơn so với phương Đông ở chỗ khoa học thực
nghiệm ra đời, đặc biệt là sự phát triển mạnh của cơ học, công nghiệp. Đến thế kỉ XVII
– XVIII, chủ nghĩa duy vật mang hình thức chủ nghĩa duy vật siêu hình, máy móc. Họ
đồng nhất vật chất với khối lượng, coi những định luật cơ học như những chân lí không
thể thêm bớt và giải thích mọi hiện tượng trên thế giới theo những chuẩn mực thuần túy
cơ học; xem vật chất, vận động, không gian, thời gian như những thực thể khác nhau,
không có mối liên hệ nội tại với nhau... Thuyết nguyên tử vẫn được các nhà triết học và
khoa học tự nhiên thời kì phục hưng và cận đại tiếp tục nghiên cứu, khẳng định trên lập
trường duy vật, chứng minh sự tồn tại thực sự của nguyên tử thông qua thực nghiệm
của vật lí học cổ điển.
Quan niệm của triết học Mác – Lênin về vật chất:
Lênin cho rằng vật chất là một phạm trù triết học dùng để chỉ thực tại khác quan
được đem lại cho con người trong cảm giác, được cảm giác chép lại, chụp lại, phản ánh
và tồn tại không lệ thuộc vào cảm giác.
Nội dung quan điểm của triết học Mac-Lênin về vật chất: 4
+ Trước hết vật chất là cái tồn tại khách quan bên ngoài ý thức của con người và
không phụ thuộc vào ý thức. Đây chính là nội dung quan trọng nhất của quan điểm về
vật chất. Không phải là khi con người ý thức được một cái gì đó thì nó là vật chất mà
vật chất là cái đã tồn tại một cách khách quan, như là trước khi các nhà vật lý tìm ra các
tia phóng xạ thì chúng đã tồn tại rồi,…
+ Thứ hai là con người có thể cảm giác được sự tồn tại khách quan của vật chất.
Nếu cái gì đó mà con người không thể cảm giác được thì nó không phải là vật chất, vật
chất nó luôn tồn tại trước ý thức của con người nhưng con người luôn có thể cảm giác được nó.
+ Thứ ba là ý thức của con người chỉ là sự phản ánh thế giới hiện thực. Những điều
kiện vật chất cụ thể, hoàn cảnh cụ thể mà nó quyết định tới việc hình thành lên ý thức của con người.
về vật chất:Ví dụ
+ Các phương tiện giao thông như xe máy, xe ô tô, tàu hỏa, tàu điện ngầm…
+ Các vật dụng trong gia đình như: Bàn ghế, điều hòa, giường tủ…
+ Các vật phục vụ cho công việc của con người như: máy tính, điện thoại, máy in… 2. Ý thức
Ý thức là sự phản ánh năng động, sáng tạo thế giới khách quan vào đầu óc con
người, là hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan. Ý thức là toàn bộ sản phẩm những
hoạt động tinh thần của con người, bao gồm những tri thức, kinh nghiệm, những trạng
thái tình cảm, ước muốn, hy vọng, ý chí niềm tin,... của con người trong cuộc sống.
Ý thức là sản phẩm của quá trình phát triển của tự nhiên và lịch sử - xã hội, là kết
quả của quá trình phản ánh thế giới khách quan vào trong đầu óc của con người.
Ý thức là hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan. Điều đó có nghĩa là những
nội dung mà ý thức đều xuất phát từ thực tiễn, những yếu tố xuất hiện trong thực tiễn sẽ
là cơ sở để ý thức được hình thành. 5
Sự phán ánh ý thức là sáng tạo, vì nó bao giờ cũng do nhu cầu thực tiễn cần sử
dụng mà bắt buộc phải tạo ra những giá trị, phát minh thiết kế hiện đại và hữu ích hơn
để đáp ứng cho nhu cầu thực tế của xã hội.
Phản ánh ý thức là sự sáng tạo, vì phản ánh đó bao giớ cũng dựa trên hoạt động
thực tiễn và là sản phẩm của các quan hệ xã hội. Là sản phẩm của các quan hệ xã hội,
bản chất ý thức có tính xã hội.
Ví dụ về bản chất của ý thức: Trong quá trình lao động để cải tạo thế giới khách
quan, con người tác động vào sự vật một cách có định hướng, chọn lọc, tùy theo nhu
cầu của mình. Cụ thể như ví dụ như các hoạt động xây nhà, cày ruộng, đào mương, xây
cầu, làm đường,… mỗi thời kỳ, mỗi giai đoạn hay ở mỗi địa phương có sự khác nhau
và đều được con người tác động theo mục đích, nhu cầu khác nhau phù hợp điều kiện
vật chất, kinh tế - xã hội,... Chính vì thế, ý thức của con người là sự phản ánh năng động,
sáng tạo, có định hướng, chọn lọc về hiện thực khách quan.
II. MỐI QUAN HỆ GIỮA VẬT CHẤT VÀ Ý THỨC
1.Quan niệm của các nhà triết học trước Mác
- Quan niệm của chủ nghĩa duy tâm:
+ Ý thức là tồn tại duy nhất, tuyệt đối, có tính quyết định; còn thế giới vật chất chỉ
là bản sao, biểu hiện khác của ý thức tinh thần, là tính thứ hai, do ý thức tinh thần sinh ra.
+ Phủ nhận tính khách quan, cường điệu vai trò nhân tố chủ quan, duy ý chí, hành
động bất chấp điều kiện, quy luật khách quan.
Ví dụ: Thời kì cổ đại thì các triết học đã đồng nhất vật chất với dạng vật chất cụ
thể, như Talet đã cho rằng vật chất là nước... Quan điểm này chỉ mang tính chất trực quan, cảm tính.
- Quan niệm của chủ nghĩa duy vật siêu hình:
+ Tuyệt đối hóa yếu tố vật chất sinh ra ý thức, quyết định ý thức.
+ Phủ nhận tính độc lập tương đối và tính năng động, sáng tạo của ý thức trong
hoạt động thực tiễn; rơi vào trạng thái thụ động, ỷ lại, trông chờ không đem lại hiệu quả hoạt động thực tiễn. 6
Ví dụ: Thời kì cận đại thế kỷ X Ⅶ- Ⅷ X : thời kì này các nhà triết học đã đồng
nhất vật chất với thuộc tính của vật chất, như Niuton đã cho rằng khối lượng là vật chất...
Quan điểm này mang tính chất siêu hình, máy móc…
2. Quan quan niệm của triết học Mác-Lênin.
a. Vật chất quyết định ý thức
Thứ nhất, vật chất quyết định nguồn gốc của ý thức. Vật chất tồn tại khách quan,
độc lập với ý thức nên vật chất là cái có trước, là tính thứ nhất. Ý thức chỉ là hình thức
phản ánh của vật chất vào trong bộ óc con người nên ý thức là cái có sau, là tính thứ
hai. Phải có sự vận động của vật chất trong tự nhiên (bộ óc người và thế giới khách
quan) và vật chất trong xã hội (lao động và ngôn ngữ) thì mới có sự ra đời ý thức.
Thứ hai, vật chất quyết định nội dung của ý thức. Dưới bất kỳ hình thức nào, ý
thức đều là phản ánh hiện thực khách quan. Nội dung của ý thức là kết quả của sự phản
ánh hiện thực khách quan trong đầu óc con người. Sự phát triển của hoạt động thực tiễn
là động lực mạnh mẽ nhất quyết định tính phong phú và độ sâu sắc nội dung của ý thức
con người qua các thế hệ.
Thứ ba, vật chất quyết định bản chất của ý thức. Bản chất của ý thức là phản ánh
tích cực, sáng tạo hiện thực khách quan, tức là thế giới vật chất được dịch chuyển vào
bộ óc con người và được cải biên trong đó. Vậy nên vật chất là cơ sở để hình thành bản chất của ý thức.
Thứ tư, vật chất quyết định sự vận động, phát triển của ý thức. Mọi sự tồn tại,
phát triển của ý thức đều gắn liền với sự biến đổi của vật chất. Vật chất thay đổi thì ý
thức cũng phải thay đổi theo. Vật chất luôn vận động và biến đổi nên con người cũng
ngày càng phát triển cả về thể chất lẫn tinh thần, thì dĩ nhiên ý thức cũng phát triển cả
về nội dung và hình thức phản ánh.
Ví dụ: Tục ngữ có câu “có thực mới vực được đạo”, nghĩa là có ăn uống đầy đủ
thì mới có sức để đi theo đạo, hoàn cảnh sẽ quyết định lối suy nghĩ, đời sống vật chất
phải được đáp ứng thì chúng ta mới hướng tới đời sống tinh thần. Điều này đã chứng
minh cho quan niệm vật chất có trước, ý thức có sau, vật chất quyết định ý thức. b. Ý
thức tác động trở lại vật chất 7
Thứ nhất, tính độc lập tương đối của ý thức thể hiện ở chỗ ý thức là sự phản ánh
thế giới vật chất vào trong đầu óc con người nhưng khi đã ra đời thì ý thức có “đời sống”
riêng, không lệ thuộc máy móc vào vật chất mà tác động trở lại thế giới vật chất.
Thứ hai, sự tác động của ý thức đối với vật chất phải thông qua hoạt động thực
tiễn của con người. Nhờ hoạt động thực tiễn, ý thức có thể làm biến đổi những điều
kiện, hoàn cảnh vật chất để phục vụ cho cuộc sống con người.
Thứ ba, vai trò của ý thức thể hiện ở chỗ chỉ đạo hoạt động, hành động của con
người, nó có thể quyết định làm cho hoạt động của con người đúng hay sai, thành công
hay thất bại. Ý thức không trực tiếp tạo ra hay làm thay đổi thế giới mà nó trang bị cho
con người tri thức về hiện tượng khách quan để con người xác định mục tiêu, kế hoạch,
hành động nên làm. Sự tác động của ý thức đối với vật chất diễn ra theo hai hướng:
+ Tích cực: Khi phản ánh đúng đắn hiện thực, ý thức sẽ là động lực thúc đẩy vật chất phát triển.
+ Tiêu cực: Khi phản ánh sai lạc hiện thực, ý thức có thể kìm hãm sự phát triển của vật chất.
Thứ tư, xã hội càng phát triển thì vai trò của ý thức ngày càng to lớn, nhất là trong
thời đại ngày nay, khi mà tri thức khoa học đã trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp.
Tính năng động, sáng tạo của ý thức mặc dù rất to lớn nhưng không thể vượt quá
tính quy định của những tiền đề vật chất đã xác định, phải dựa vào các điều kiện khách
quan và năng lực chủ quan của các chủ thể hoạt động.
Ví dụ: Có nhận thức đúng đắn về thực tế kinh tế đất nước, từ sau Đại hội VI,
Đảng ta chuyển nền kinh tế tự cung, quan liêu sang nền kinh tế thị trường để phát triển
đất nước như hôm nay. Điều này cho thấy ý thức đã phản ánh được thực tiễn và đưa ra
mục tiêu, phương hướng để tác động lại vật chất, tạo sự phát triển cho vật chất.
3. Ý nghĩa phương pháp luận 8
Tôn trọng tính khách quan: Mỗi chúng ta phải xem xét sự vật, hiện tượng như
chính sự tồn tại của nó, không bị những yếu tố chủ quan chi phối để nhận thức sai lệch,
tô hồng hay bôi đen cho sự vật, cần phải có phương pháp nhận thức thức khoa học và
tuân thủ theo các nguyên tắc phương pháp luận trong triết học để luôn tôn trọng điều kiện khách quan.
+ Trong mọi hoạt động, khi đề ra phương hướng hoạt động phải căn cứ vào điều
kiện khách quan, quy luật khách quan để đảm bảo hoạt động đạt hiệu quả và không bị
các yếu tố khách quan cản trở.
+ Khi xác định phương pháp, cách thức tổ chức hoạt động phải căn cứ vào các
quy luật khách quan để lựa chọn phương pháp, cách thức phù hợp với từng điều kiện
khách quan đảm bảo cho sự phát triển của đối tượng tác động và hoạt động đó theo đúng
ý thức của mỗi người.
+ Có kế hoạch điều chỉnh mục tiêu của bản thân cho phù hợp khi điều kiện khách
quan có sự biến đổi để phát huy ý thức của bản thân luôn năng động và sáng tạo trong
mọi điều kiện khách quan.
Phát huy tính năng động chủ quan: Theo quan điểm của chủ nghĩa duy vật biện
chứng thì ý thức không thụ động mà nó có tính động lập, tương đối với vật chất và nó
tác động trở lại vật chất thông qua hoạt động thực tiễn của con người. Bản chất của ý
thức mang tính năng động, sáng tạo.
+ Tri thức khoa học và vận dụng tri thức khoa học có vai trò vô cùng quan trọng
trong cuộc sống của mỗi người. Vì tri thức khoa học giúp cho hành động của mỗi người
trở nên đúng quy luật và có hiệu quả hơn.
+ Luôn phát huy tính tích cực của ý thức và tìm tòi cái mới, phương pháp mới.
Vì những yếu tố này giúp ta phát triển đột phá, khác biệt so với những cá nhân khác
luôn hoạt động theo quy luật mà không chịu đổi mới.
+ Luôn phát huy tính sáng tạo vì sáng tạo mới giúp phát triển trí tuệ và tạo nên
đột phá, biết dự đoán một cách khoa học, phù hợp quy luật khách quan khi đó chúng ta
có thể đối phó với những biến đổi của quy luật khách quan. 9
Phải phát huy tính năng động sáng tạo của ý thức: Trên cơ sở quan điểm về bản
chất vật chất của thế giới, bản chất năng động, sáng tạo của ý thức và mối quan hệ biện
chứng giữa vật chất và ý thức, chủ nghĩa duy vật biện chứng xây dựng nên nguyên tắc
phương pháp luận cơ bản, chung nhất đối với hoạt động nhận thức và thực tiễn của con
người. Nguyên tắc đó là: Trong hoạt động nhận thức và thực tiễn phải xuất phát từ thực
tế khách quan, tôn trọng khách quan, đồng thời phát huy tính năng động chủ quan. Theo
nguyên tắc phương pháp luận này, mọi hoạt động nhận thức và thực tiễn của con người
chỉ có thể đúng đắn, thành công và có hiệu quả tối ưu khi và chỉ khi thực hiện đồng thời
việc xuất phát từ thực tế khách quan, tôn trọng khách quan với phát huy tính năng động chủ quan.
Xuất phát từ thực tế khách quan, tôn trọng khách quan là xuất phát từ tính khách
quan của vật chất, có thái độ tôn trọng đối với hiện thực khách quan, mà căn bản là tôn
trọng quy luật, nhận thức và hành động theo quy luật; tôn trọng vai trò quyết định của
đời sống vật chất đối với đời sống tinh thần của con người, của xã hội. Điều đó đòi hỏi
trong nhận thức và hành động, con người phải xuất phát từ thực tế khách quan để xác
định mục đích, đề ra đường lối, chủ trương, chính sách, kế hoạch, biện pháp; phải lấy
thực tế khách quan làm cơ sở, phương tiện; phải tìm ra những nhân tố vật chất, tổ chức
những nhân tố ấy thành lực lượng vật chất để hành động.
Phát huy tính năng động chủ quan là phát huy vai trò tích cực, năng động, sáng
tạo của ý thức và phát huy vai trò nhân tố con người trong việc vật chất hóa tính tích
cực, năng động, sáng tạo ấy. Điều này đòi hỏi con người phải tôn trọng tri thức khoa
học; tích cực học tập, nghiên cứu để làm chủ tri thức khoa học và truyền bá vào quần
chúng đề nó trở thành tri thức, niềm tin của quần chúng, hướng dẫn quần chúng hành
động. Mặt khác, phải tự giác tu dưỡng, rèn luyện để hình thành, củng cố nhân sinh quan
cách mạng, tình cảm, nghị lực cách mạng để có sự thống nhất hữu cơ giữa tính khoa
học và tính nhân văn trong định hướng hành động.
Thực hiện nguyên tắc tôn trọng khách quan, phát huy tính năng động chủ quan
trong nhận thức và thực tiễn đòi hỏi phải phòng, chống và khắc phục bênh chủ quan duy
ý chí; là những hành động lấy ý chí áp đặt cho thực tế, lấy ảo tưởng thay cho hiện thực, 10
lấy ý muốn chủ quan làm chính sách, lấy tình cảm làm điểm xuất phát cho chiến lược,
sách lược... Mặt khác, cũng cần chống chủ nghĩa kinh nghiệm, xem thường tri thức khoa
học, xem thường lý luận, bảo thủ, trì trệ, thụ đông… trong hoạt động nhận thức và thực tiễn.
Thực hiện nguyên tắc tôn trọng tính khách quan kết hợp phát huy tính năng động chủ quan. 11
Ở Việt Nam, trong khoảng 10 năm sau khi thống nhất đất nước, bên cạnh những 12
thành tựu đạt được, chúng ta nôn nóng, tách rời hiện thực, vi phạm nhiều quy luật khách
quan trong đó quan trọng nhất là quy luật về sự phù hợp của quan hệ sản xuất với trình
độ phát triển của lực lượng sản xuất, nên đã vi phạm những sai lầm trong việc xác định
mục tiêu, xác định các bước xây dựng cơ sở vật chất - kỹ thuật, cải tạo xã hội chủ nghĩa
và quản lý kinh tế. Tình trạng khủng hoảng kinh tế xã hội ngày càng trầm trọng xuất
phát từ nguyên nhân chủ quan, bắt nguồn từ những sai lầm nghiêm trọng và kéo dài về
chủ trương, chính sách lớn, sai lầm về chủ đạo chiến lược và tổ chức thực hiện. Đánh
giá về mức độ sai lầm do chủ quan duy ý chí của Đảng trong thời kỳ này, Đại hội lần
thứ VI đã chỉ rõ Đảng đã “nóng vội chạy theo nguyện vọng chủ quan”, “giản đơn hóa,
muốn thực hiện nhiều mục tiêu của CNXH trong điều kiện nước ta mới có chặng đường
đầu tiên”. Do chủ quan duy ý chí, trong nhận thức và hành động của Đảng trong giai
đoạn này vi phạm các quy luật khách quan, biểu hiện qua một số lĩnh vực cụ thể được
Văn kiện Đại hội Đảng lần VI đánh giá như sau: “chưa thật sự thừa nhận cơ cấu kinh tế
nhiều thành phần ở nước ta tồn tại trong một thời gian tương đối dài” nên “đã có những
biểu hiện nóng vội muốn xóa bỏ ngay các thành phần kinh tế phi xã hội chủ nghĩa”,
“chưa nắm vững và vận dụng đúng quy luật về sự phù hợp giữa quan hệ sản xuất với
tính chất và trình độ sản xuất” nên “có lúc đẩy mạnh quá mức việc xây dựng công nghiệp
nặng mà không chú ý phát triển công nghiệp nhẹ”. Ngoài ra, cũng do chủ quan duy ý
chí trong việc dùng kế hoạch pháp lệnh để chỉ huy toàn bộ nền kinh tế đất nước, “duy
trì quá lâu cơ chế quản lý kinh tế tập trung quan liêu bao cấp” - một cơ chế “gắn liền
với tư duy kinh tế dựa trên những quan niệm giản đơn về chủ nghĩa xã hội, mang nặng
tính chất chủ quan, duy ý chí”, “có nhiều chủ trương sai trong việc cải cách giá cả tiền
lương, tiền tệ” cùng với việc “bố trí cơ cấu kinh tế trước hết là sản xuất và đầu tư thường
chỉ xuất phát từ lòng mong muốn đi nhanh, không tính đến điều kiện khả năng thực tế
” nên dẫn đến việc sản xuất chậm phát triển, mâu thuẩn giữa cung và cầu ngày càng gay
gắt do việc áp dụng những chính sách, chủ trương trên đã vi phạm những quy luật khách
quan của nền kinh tế sản xuất hàng hóa (quy luật cung cầu quy luật giá trị, quy luật cạnh
tranh, phá sản…). Việc bỏ qua không thừa nhận và vận dụng những quy luật khách quan
của phương thức sản xuất, của nền kinh tế hàng hóa... vào việc chế định các chủ trương
chính sách kinh tế làm cho nền kinh tế nước ta bị trì trệ, khủng hoảng trầm trọng. 13
Trên cơ sở quán triệt mối quan hệ biện chứng giữa vật chất và ý thức, rút kinh
nghiệm từ những sai lầm do chủ quan duy ý chí, từ Đại hội VI của Đảng (1986), Đảng
đã chỉ rõ bài học kinh nghiệm trong thực tiễn cách mạng ở nước ta là muốn đảm bảo
thành công thì phải vận dụng đúng nguyên tắc khách quan “Đảng phải luôn xuất phát
từ thực tế, tôn trọng và hành động theo quy luật là điều kiện đảm bảo sự dẫn đầu của
Đảng” (Văn kiện Đại hội Đảng lần V). Đây là sự thừa nhận vai trò quyết định của vật
chất và các quy luật khách quan vốn có của nó trong việc đề ra các chế định, chủ trương,
chính sách vào thực tế của công cuộc xây dựng đất nước ta.
Trong cơ cấu sản xuất và cơ cấu đầu tư, tôn trọng nguyên tắc quan hệ sản xuất phải
phù hợp với lực lượng sản xuất, Đại hội VI đã xác định phải điều chỉnh lại các cơ cấu
này theo hướng “không bố trí xây dựng công nghiệp nặng vượt quá điều kiện và khả
năng thực tế”, tập trung sức người, sức của vào việc thực hiện ba chương trình mục tiêu:
sản xuất lương thực - thực phẩm, sản xuất hàng tiêu dung và sản xuất hàng xuất khẩu.
Đây là những chương trình chẳng những đáp ứng được nhu cầu bức xúc nhất lúc bấy
giờ mà còn là điều kiện thúc đẩy sản xuất và lưu thông hàng hóa, là cái gốc tạo ra sản phẩm hàng hóa.
Về cơ chế mới quản lý kinh tế, trước đây trong các văn kiện Đại hội Đảng chỉ nêu
nhiệm vụ “xây dựng nền kinh tế hàng hóa”, thì nay nói rõ và đầy đủ hơn: “Phát triển
nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần theo định hướng xã hội chủ nghĩa, vận hành theo
cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước” (Cương lĩnh xây dựng đất nước trong
thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội). Theo Đại hội VI, cơ chế quản lý kinh tế có 2 đặc
trưng: “Tính kế hoạch là đặc trưng số một của cơ chế quản lý kinh tế ngay từ buổi đầu của thời kỳ quá độ.
Sử dụng đúng đắn quan hệ hàng hóa - tiền tệ là đặc trưng thứ hai của cơ chế về
quản lý kinh tế”. Vì vậy, chúng ta phấn đấu thi hành chính sách một giá, đó là giá kinh
doanh thương nghiệp và xây dựng hệ thống ngân hàng chuyên nghiệp kinh doanh tín
dụng và dịch vụ ngân hàng, hoạt động theo chế độ hạch toán kinh tế. Vấn đề phân phối
đã được chú trọng hơn trong quan hệ sản xuất bằng việc thực hiện nhiều hình thức phân
phối, lấy phân phối theo kết quả lao động và hiệu quả kinh tế là chủ yếu, đồng thời dựa 14
trên mức đóng góp các nguồn lực khác vào kết quả sản xuất kinh doanh và phân phối
thông qua phúc lợi xã hội.
Tăng trưởng kinh tế phải gắn liền với tiến bộ và công bằng xã hội ngay trong từng
bước và trong suốt quá trình phát triển. Đồng thời với các đổi mới trong lĩnh vực kinh
tế, việc đổi mới bắt đầu từ việc Đảng phải đổi mới tư duy lý luận, nâng cao năng lực,
trình độ lý luận của Đảng để nhận thức đúng và hành động đúng phù hợp với hệ thống
các quy luật khách quan. Đồng thời với việc đổi mới tư duy lý luận, việc tăng cường
phát huy dân chủ, phát huy tiềm năng cán bộ khoa học kỹ thuật, đội ngũ cán bộ quản lý
và tăng cường công tác tổng kết thực tiễn, tổng kết cái mới, không ngừng bổ sung, phát
triển, hoàn chỉnh lý luận về mô hình, mục tiêu, bước đi, đổi mới và kiện toàn tổ chức và
phương thức hoạt động của hệ thống chính trị… là những biện pháp nhằm từng bước
sửa chữa sai lầm và khắc phục bệnh của chủ quan duy ý chí.
Thời gian đầu sau Đại hội X, đất nước phát triển thuận lợi, Việt Nam trở thành
thành viên của Tổ chức Thương mại thế giới (WTO). Nhưng từ cuối năm 2007, đầu năm
2008, kinh tế và đời sống gặp nhiều khó khăn. Các thế lực thù địch tiếp tục chống phá,
kích động bạo loạn, đẩy mạnh hoạt động “diễn biến hòa bình”. Trong bối cảnh đó, toàn
Đảng, toàn dân ta đã nỗ lực phấn đấu vượt qua khó khăn, thách thức, “đạt được những
thành tựu quan trọng trong việc thực hiện các mục tiêu, nhiệm vụ Đại hội X đề ra, nhưng
cũng còn nhiều hạn chế, khuyết điểm cần khắc phục”. 15
Nền kinh tế vượt qua nhiều khó khăn, thách thức, kinh tế vĩ mô cơ bản ổn định,
duy trì được tốc độ tăng trưởng khá, tiềm lực và quy mô nền kinh tế tăng lên, nước ta
đã ra khỏi tình trạng kém phát triển. Tuy nhiên, kinh tế phát triển chưa bền vững: Chất
lượng, hiệu quả, sức cạnh tranh thấp, chưa tương xứng với tiềm năng, cơ hội và yêu cầu
phát triển của đất nước, một số chỉ tiêu không đạt kế hoạch. Giáo dục và đào tạo, khoa
học và công nghệ, văn hóa và các lĩnh vực xã hội có tiến bộ, bảo vệ tài nguyên, môi
trường được chú trọng hơn; đời sống các tầng lớp nhân dân được cải thiện nhưng bên
cạnh đó vẫn còn nhiều hạn chế, yếu kém, gây bức xúc xã hội. Quốc phòng, an ninh, đối
ngoại được tăng cường nhưng vẫn còn nhiều hạn chế. Dân chủ xã hội chủ nghĩa có tiến
bộ, sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc được củng cố nhưng chưa được phát huy đầy đủ.
Việc xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa được đẩy mạnh, hiệu lực và
hiệu quả được nâng lên tuy vậy vẫn chưa theo kịp được yêu cầu phát triển kinh tế và quản lý đất nước.
Công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng được tăng cường, đạt một số kết quả tích cực
nhưng vẫn còn nhiều hạn chế, yếu kém, chậm được khắc phục.
Từ thực tiễn lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện Nghị quyết Đại hội X, Đảng ta đã rút ra một số kinh nghiệm sau:
Một là, trong bất kỳ điều kiện và tình huống nào, “phải kiên trì thực hiện đường
lối và mục tiêu đổi mới, kiên định và vận dụng sáng tạo, phát triển chủ nghĩa Mác Lênin,
tư tưởng Hồ Chí Minh, kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội”.
Hai là, “phải thực sự coi trọng chất lượng, hiệu quả tăng trưởng và phát triển bền
vững”, nâng cao chất lượng và hiệu quả của nền kinh tế, đồng thời duy trì tốc độ tăng
trưởng hợp lý, giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô. Tăng cường huy động các nguồn lực trong và ngoài nước.
Ba là, phải coi trọng việc kết hợp chặt chẽ giữa tăng trưởng kinh tế với thực hiện
tiến bộ và công bằng xã hội.
Bốn là, đặc biệt chăm lo củng cố, xây dựng Đảng cả về chính trị, tư tưởng và tổ chức. 16
Năm là, trong công tác lãnh đạo và chỉ đạo phải rất nhạy bén, kiên quyết, sáng tạo,
bám sát thực tiễn đất nước, chú trọng công tác dự báo, kịp thời đề ra các giải pháp phù
hợp với tình hình mới.
Thực tế hiện nay, Văn kiện Đại hội XI đã nhận định, hơn 20 năm qua, “Việt Nam
đã đạt được những thành tựu to lớn và có ý nghĩa lịch sử. Chúng ta đã thực hiện thành
công chặng đường đầu của công cuộc đổi mới, đưa đất nước ra khỏi tình trạng kém phát
triển, đời sống nhân dân có nhiều thay đổi tích cực...”, tuy nhiên “nước ta vẫn đang đứng
trước nhiều thách thức lớn, đan xen nhau và diễn biến phức tạp không thể xem thường”.
Đất nước ta đang bước vào thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa hiện đại hóa, Đảng ta
chủ trương: “Tăng cường huy động phải gắn với sử dụng có hiệu quả các nguồn lực
trong và ngoài nước. Phát triển lực lượng sản xuất phải đồng thời với xây dựng, hoàn
thiện quan hệ sản xuất, củng cố và tăng cường định hướng xã hội chủ nghĩa”, muốn vậy
phải “tiếp tục nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng; đẩy mạnh toàn
diện công cuộc đổi mới; xây dựng hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh; phát huy
dân chủ và sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc; phát triển kinh tế nhanh, bền vững...”
để đến năm 2020 “nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại”,
thực hiện “dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh”.
Xuất phát từ thực tế khách quan trên, Đảng ta cũng cần tôn trọng quy luật khách
quan, đồng thời phát huy tính năng động chủ quan của mình. Trong việc ban hành các
chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của nhà nước, các chương trình,
kế hoạch đều phải xuất phát từ thực tế khách quan, nếu chỉ xuất phát từ ý muốn chủ
quan, lấy ý chí áp đặt cho thực tế, lấy ảo tưởng thay cho hiện thực sẽ mắc phải bệnh chủ quan duy ý chí.
Tổng kết quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng ta đã rút ra kết luận mang tính định
hướng là: “Mọi đường lối, chủ trương của Đảng phải xuất phát từ thực tế, tôn trọng
khách quan”. Hiện nay, thực trạng trình độ lực lượng sản xuất ở nước ta còn thấy cơ sở
vật chất - kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội chưa đầy đủ, vững chắc, đời sống của nhân dân
chưa cao, trong khi chúng ta có nhiều tiềm năng cả về tài nguyên thiên nhiên, con người
cũng như các quan hệ trong và ngoài nước mà chúng ta chưa khai thác được một cách
tốt nhất thì việc Đảng và nhà nước chủ trương thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa, 17
chủ trương thực hiện nhất quán, lâu dài chính sách phát triển nền kinh thế thị trường
định hướng xã hội chủ nghĩa là nhằm phát huy tối ưu tài lực, trí lực, nhân lực còn tiềm
tàng ấy, nhằm tạo ra sự chuyển hóa về chất trong toàn bộ đời sống xã hội để đáp ứng
nhu cầu mà thực tiễn cách mạng Việt Nam đang đặt ra. Chương 2:
VẬN DỤNG MỐI QUAN HỆ GIỮA VẬT CHẤT VỚI Ý THỨC VÀO MỐI
QUAN HỆ GIỮA KINH TẾ VỚI VĂN HÓA Ở NƯỚC TA HIỆN NAY I.
SỰ PHÁT TRIỂN KINH TẾ VÀ VĂN HOÁ Ở NƯỚC TA TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY.
1. Quá trình phát triển kinh tế, văn hoá
Như chúng ta đã biết, sau khi giải phóng Miền nam thống nhất đất nước, nền kinh
tế miền Bắc còn nhiều nhược điểm. Cơ sở vật chất kỹ thuật yếu kém, cơ cấu kinh tế
nhiều mặt mất cân đối, năng suất lao động thấp, sản xuất chỉ đảm bảo nhu cầu đời sống,
sản xuất nông nghiệp chỉ cung cấp đủ thực phẩm cho nhân dân, nguyên liệu cho công
nghiệp, hàng hoá cho xuất khẩu. Mặt khác, nền kinh tế miền Bắc còn bị chiến tranh phá
hoại bằng không quân của đế quốc Mỹ tàn phá nặng nề. Ở miền Nam, sau 20 năm chiến
tranh, nền kinh tế bị đảo lộn và suy sụp, nông nghiệp nhiều vùng hoang hoá, lạm phát trầm trọng...
Trước tình hình đó, Đại hội đảng lần thứ IV lại đề ra những chỉ tiêu kế hoạch năm
1976 – 1980 quá cao và phát triển sản xuất quá khả năng của nền kinh tế, như năm 1975,
phấn đấu đạt 21 triệu tấn lương thực, 1 triệu tấn cá biển, 1 triệu héc ta khai hoang, 1
triệu 200 héc ta rừng mới trồng, 10 triệu tấn than sạch, 2 triệu tấn xi măng... Đặc biệt là
đã đề ra việc xây dựng thêm nhiều cơ sở mới về công nghiệp nặng, đặc biệt là cơ khí và
đặt nhiệm vụ hoàn thành về cơ bản cải tạo xã hội chủ nghĩa ở miền Nam. Những chủ
trương sai lầm do cùng với cơ chế quản lý tập trung quan liêu bao cấp đã tác động xấu
đến kinh tế, ảnh hưởng không tốt tới đời sống của nhân dân... 18
Đến hết năm 1980, nhiều chỉ tiêu kinh tế chỉ đạt khoảng 50 – 60% mức đề ra, nền kinh
tế tăng trưởng rất chậm chạp: tổng sản phẩm xã hội tăng bình quân 1,5%, công nghiệp
tăng 2,6%, nông nghiệp giảm 0,15%.
Đại hội Đảng lần thứ V cũng chỉ tìm ra được đầy đủ những nguyên nhân đích thực
sự trì trệ trong nền kinh tế của nước ta và cũng chỉ đề ra các chủ trương chính sách và
toàn diện về đổi mới, nhất là về kinh tế. Trong năm năm 1981 – 1985 chúng ta chỉ kiên
quyết khắc phục chủ quan, trì trệ trong bố trí cơ cấu kinh tế, cải tạo xã hội chủ nghĩa và
quản lý kinh tế, lại phạm những sai lầm mới nghiêm trọng trong lĩnh vực phân phối lưu
thông. Nhìn chung, chúng ta chỉ thực hiện được mục tiêu tổng quát do Đại hội lần thứ
V đề ra là cơ bản ổn định tình hình kinh tế, ổn định đời sống nhân dân.
2. Những thuận lợi và thành tựu của quá trình phát triển kinh tế, văn hoá
Trước tình hình ngày càng nghiêm trọng trong khủng hoảng kinh tế xã hội ở nước
ta, Đảng và Nhà nước đã đi sâu nghiên cứu, phân tích tình hình, lấy ý kiến rộng rãi của
cơ sở, của nhân dân, và đặc biệt là đổi mới tư duy về kinh tế. Đại hội lần thứ VI của
Đảng đã rút ra bốn kinh nghiệm lớn, trong đó kinh nghiệm phải luôn xuất phát từ thực
tế, tôn trọng và hành động theo quy luật khách quan. Đảng đã đề ra đường lối đổi mới,
mở ra bước ngoặt trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta.
Tại Đại hội VI, Đảng đã tự phê bình một cách nghiêm khắc, đã phân tích đúng
nguyên nhân của tình hình khủng hoảng kinh tế xã hội, đề ra các định hướng lớn và xác
định chủ trương đổi mới, đặc biệt là đổi mới về kinh tế, đã thực hiện mục tiêu của ba
chương trình kinh tế: lương thực, thực phẩm, hàng tiêu dùng, hàng xuất khẩu; tình hình
nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần, đổi mới cơ chế quản lý kinh tế, sử dụng đúng
đắn quan hệ hàng hoá – tiền tệ. Trong quá trình thực hiện Nghị quyết đại hội đại biểu
toàn quốc lần thứ VIII, ta đã đánh giá tình hình chính trị xã hội Việt Nam sau hơn bốn
năm thực hiện đường lối đổi mới: Công cuộc đổi mới bước đầu hình thành nền kinh tế
hàng hoá nhiều thành phần, vận động theo cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước,
nguồn lực sản xuất của xã hội được huy động tốt hơn, tốc độ lạm phát được hạn chế bớt;
đời sống vật chất tinh thần của một bộ phận nhân dân có phần được cải thiện so với 19