Đang tải lên
Vui lòng đợi trong giây lát...
Preview text:
TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI
KHOA KINH TẾ VÀ KINH DOANH QUỐC TẾ
------
BÀI THẢO LUẬN
MÔN TRIẾT HỌC MÁC L – ÊNIN ĐỀ TÀI
QUAN ĐIỂM CỦA CHỦ NGHĨA DUY VẬT BIỆN CHỨNG VỀ
PHẠM TRÙ VẬT CHẤT. Ý NGHĨA PHƯƠNG PHÁP LUẬN. SỰ
VẬN DỤNG CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM TRONG QUÁ
TRÌNH ĐỔI MỚI ĐẤT NƯỚC. LIÊN HỆ VẤN ĐỀ TRONG HỌC
TẬP VÀ RÈN LUYỆN BẢN THÂN CỦA SINH VIÊN HIỆN NAY
NHÓM THỰC HIỆN : NHÓM 6
GIẢNG VIÊN HƯỚNG DẪN : PGS.TS. ĐẶNG MINH TIẾN
LỚP HỌC PHẦN : 2281MLNP0221
MỤC LỤC
ĐÁNH GIÁ THÀNH VIÊN VÀ ĐIỂM THẢO LUẬN . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 4
LỜI CẢM ƠN . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 5
LỜI CAM ĐOAN . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 5
LỜI MỞ ĐẦU . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 6
PHẦN I. QUAN ĐIỂM CỦA CHỦ NGHĨA DUY VẬT BIỆN CHỨNG VỀ
PHẠM TRÙ VẬT CHẤT . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 7
1.1. Một số khái niệm liên quan . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 7
1.1.1. Chủ nghĩa duy vật biện chứng . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 7
1.1.1.1. Nội dung khái quát của chủ nghĩa duy vật . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 7
1.1.1.2. Quá trình hình thành và phát triển của chủ nghĩa duy vật biện chứng . . . . 8
1.1.1.3. Các quy luật của biện chứng . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 8
1.1.1.4. Các phạm trù cơ bản của phép biện chứng duy vật . . . . . . . . . . . . . . . . . . 14
1.1.2. Vật chất . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 15
1.1.2.1. Nội dung . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 15
1.1.2.2. Định nghĩa vật chất . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 16
1.1.2.3. Ý nghĩa định nghĩa vật chất của Lênin . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 16
1.2. Đặc tính của vật chất theo quan điểm của chủ nghĩa duy vật biện chứng . . . . 18
1.2.1. Các hình thức tồn tại của vật chất . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 18
1.2.1.1. Vận động . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 19
1.2.1.2. Không gian, thời gian . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 19
1.2.2. Tính thống nhất vật chất của thế giới . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 20
1.3. Ý nghĩa phương pháp luận . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 20
PHẦN II: SỰ VẬN DỤNG CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM TRONG
QUÁ TRÌNH ĐỔI MỚI ĐẤT NƯỚC . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 20
2.1. Thực trạng, hoàn cảnh nước ta sau ngày Giải phóng miền Nam . . . . . . . . . . . 20
2.2. Nguyên nhân . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 22
2.3. Sự vận dụng mối quan hệ giữa vật chất và ý thức vào công cuộc đổi mới đất
nước của Đảng . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 23
PHẦN III: LIÊN HỆ VẤN ĐỀ TRONG HỌC TẬP VÀ RÈN LUYỆN BẢN
THÂN SINH VIÊN HIỆN NAY . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .25
3.1. Thực trạng trong học tập của sinh viên hiện nay . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 25
3.2. Liên hệ sinh viên trong học tập và rèn luyện . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 28
KẾT LUẬN . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .31
TÀI LIỆU THAM KHẢO . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .32
ĐÁNH GIÁ THÀNH VIÊN VÀ ĐIỂM THẢO LUẬN STT Họ tên
Nhiệm vụ Đánh giá Điểm 51 - Phân công công Hoàn thành tốt, A
Trần Thị Thu Hương việc đúng hạn, tích cực (Nhóm trưởng) - Làm PPT thảo luận 52 Hoàn thành tốt A Lương Sỹ Huy - Nội dung công việc được - Thuyết trình giao 53
Ngô Thị Thu Huyền - Nội dung Hoàn thành đúng, B+ đủ công việc 54 Hoàn thành tốt, A
Nguyễn Thị Thu - Nội dung đúng hạn Huyền 55 Hoàn thành đúng, B+
Phạm Thị Khánh - Nội dung đủ Huyền Nộp muộn 56 Hoàn thành tốt, A
Phùng Thúy Huyền - Nội dung đúng hạn - Phản biện Tích cực tham gia phản biện Hoàn thành đủ, 57
Vũ Thị Thu Huyền - Nội dung đúng hạn A - Phản biện Tham gia phản biện Hoàn thành đúng 58
Nguyễn Đình Khánh - Nội dung nội dung B+ Nộp muộn 59 Vũ Mai Khuê - Làm word Hoàn thành tốt, A đúng hạn Tích cực đóng góp ý kiến 60
Tống Thanh Lan - Tổng hợp nội Hoàn thành tốt, B+ dung đúng hạn
LỜI CẢM ƠN
Trước khi bước vào bài thảo luận, nhóm 6 chúng em xin gửi lời cảm ơn chân
thành đến Trường Đại học Thương mại đã đưa môn Triết học vào chương tr``ình giảng
dạy và tạo điều kiện cơ sở vật chất để chúng em có cơ hội tốt nhất trong học tập. Đặc
biệt, chúng em xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến giảng viên bộ môn – PGS.TS Đặng Minh
Tiến đã giảng dạy, truyền đạt những kiến thức quý báu cho chúng em suốt thời gian học
tập vừa qua. Trong thời gian tham gia lớp học của Thầy, chúng em đã tiếp thêm cho bản
thân rất nhiều kiến thức bổ ích. Đây chắc chắn sẽ là những kiến thức quý bổ ích, quý
báu, là hành trang để chúng em có thể vững bước sau này.
Bộ môn Triết học là bộ môn vô cùng thú vị, bổ ích và có tính thực tế cao đảm bảo
cung cấp đủ kiến thức, gắn liền với nhu cầu thực tiễn của sinh viên. Tuy nhiên, do vốn
kiến thức còn nhiều hạn chế và khả năng tiếp thu thực tế còn nhiều bỡ ngỡ nên mặc dù
chúng em đã cố gắng hết sức nhưng chắc chắn bài tiểu luận khó có thể tránh khỏi những
thiếu sót và còn nhiều chỗ chưa chính xác. Kính mong Thầy xem xét và góp ý để bài tiểu
luận của chúng em được hoàn thiện hơn.
Chúng em xin chân thành cảm ơn! LỜI CAM ĐOAN
Chúng tôi xin cam đoan bài tiểu luận môn Triết học Mác – Lênin với đề tài “Quan
điểm của chủ nghĩa duy vật biện chứng về phạm trù vật chất. Ý nghĩa phương pháp
luận. Sự vận dụng của Đảng, Cộng Sản Việt Nam trong quá trình đổi mới đất nước.
Liên hệ vấn đề này trong học tập và rèn luyện của bản thân sinh viên hiện nay” là
công trình nghiên cứu của tập thể nhóm 6 cũng như của mỗi thành viên trong nhóm.
Những phần sử dụng tài liệu tham khảo trong bài thảo luận đã được nêu rõ trong phần Tài
liệu tham khảo. Các thông tin số liệu, kết quả trình bày trong thảo luận là hoàn toàn trung
thực, nếu sai chúng tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm và chịu mọi kỷ luật của Bộ môn và Nhà trường đề ra.
Hà Nội, ngày 14 tháng 11 năm 2022 Đại diện nhóm 6
LỜI MỞ ĐẦU
Hiện nay, nền kinh tế thế giới đang càng ngày càng hiện đại và phát triển. Quá
trình hội nhập và giao lưu ngày càng mở rộng hơn cho Việt Nam. Với sự phát triển của
Cách mạng Khoa học – Công nghệ và xu hướng thế giới, Đảng và Nhà nước cần tiến
hành công cuộc đổi mới toàn diện để ngày càng bước tiến trên con đường hội nhập quốc
tế trên nhiều lĩnh vực. Mục tiêu của Đảng và Nhà nước ta là làm sao để cho dân giàu,
nước mạnh, xã hội công bằng dân chủ văn minh. Tuy nhiên, làm thế nào để thực hiện tốt
nhiệm vụ đó thì Đảng ta đã chỉ ra rằng phải lấy chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí
Minh làm nền tảng, làm kim chỉ nam cho mọi hoạt động. Điều đó có nghĩa là chúng ta
phải dựa trên lập trường, quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin cũng như tư tưởng mà
Bác Hồ đã vạch ra để áp dụng vào thực tế hoàn cảnh xã hội đất nước hiện nay, tìm ra
đường lối đúng đắn, phương châm phù hợp để phát triển theo định hướng xã hội chủ
nghĩa. Hơn thế nữa, đối với thế hệ sinh viên hiện nay cũng rất cần áp dụng chủ nghĩa
Mác – Lênin để phục vụ cho học tập và công việc, vận dụng vào đời sống để tìm ra
những đường lối, cách thức đúng đắn để mang lại nhiều lợi ích cho bản thân mỗi sinh viên.
Làm đề tài tiểu luận này với tư các là sinh viên, công dân nước Cộng hòa xã hội
chủ nghĩa Việt Nam, một mặt chúng em muốn cùng mọi người tìm hiểu sâu hơn và kĩ
hơn về Triết học Mác – Lênin phần quan điểm của chủ nghĩa duy vật biện chứng về
phạm trù vật chất. Mặt khác chúng em cũng tìm hiểu, học hỏi về sự nghiệp cách mạng
lớn lao của toàn Đảng, toàn dân ta hiện nay trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội
mà nền tảng tư tưởng là chủ nghĩa Mác – Lênin. Đây là một vấn đề hết sức quan trọng,
bởi nó quyết định sự thành công hay thất bại trên con đường đi tới xã hội chủ nghĩa nước
ta. Điều này sẽ được lí giải rõ ràng trong phần nội dung của đề tài “Quan điểm của chủ
nghĩa duy vật biện chứng về phạm trù vật chất. Ý nghĩa phương pháp luận. Sự vận dụng
của Đảng Cộng Sản trong quá trình đổi mới đất nước. Liên hệ vấn đề này trong học tập
và rèn luyện bản thân sinh viên hiện nay”. Để nghiên cứu kỹ hơn về đề tài, chúng em sẽ
chia đề tài thành 3 phần:
PHẦN I: Quan điểm của chủ nghĩa duy vật biện chứng về phạm trù vật chất
PHẦN II: Sự vận dụng của Đảng Cộng Sản trong quá trình đổi mới đất nước
PHẦN III: Liên hệ vấn đề trong học tập và rèn luyện bản thân sinh viên hiện nay
PHẦN IV: Kết luận nội dung đề tài
PHẦN I. QUAN ĐIỂM CỦA CHỦ NGHĨA DUY VẬT BIỆN CHỨNG VỀ
PHẠM TRÙ VẬT CHẤT
1.1. Một số khái niệm liên quan
1.1.1. Chủ nghĩa duy vật biện chứng
1.1.1.1. Nội dung khái quát của chủ nghĩa duy vật
Chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm được biết đến là hai trường phái triết học
lớn trong lịch sử triết học, giữa chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm có sự đối lập
căn bản trong quan niệm về nguồn gốc, bản chất và tính thống nhất của thế giới. Chủ
nghĩa duy vật biện chứng được biết đến chính là hình thức cơ bản thứ ba của chủ
nghĩa duy vật, do C.Mác và Ph.Ăngghen xây dựng vào những năm 40 của thế kỷ
XIX, sau đó được V.I.Lênin phát triển. Chủ nghĩa duy vật biện chứng ngay từ khi
mới được ra đời đã có vai trò quan trọng và giúp có thể khắc phục được hạn chế của
chủ nghĩa duy vật chất phác thời cổ đại, chủ nghĩa duy vật siêu hình và chủ nghĩa
duy vật biện chứng là đỉnh cao trong sự phát triển của chủ nghĩa duy vật. Theo quan
điểm duy vật thì nguồn gốc, bản chất và tính thống nhất của thế giới là vật chất, còn
theo quan điểm duy tâm thì đó là ý thức (hay tinh thần).
Chủ nghĩa duy vật biện chứng không chỉ phản ánh hiện thực đúng như chính bản
thân nó tồn tại mà chủ nghĩa duy vật biện chứng còn là một công cụ hữu hiệu giúp
những lực lượng tiến bộ trong xã hội cải tạo hiện thực ấy. Đặc trưng cơ bản của chủ
nghĩa duy vật biện chứng đó chính là coi một sự vật hay một hiện tượng trong trạng
thái luôn phát triển và xem xét nó trong mối quan hệ với các sự vật và hiện tượng
khác. Chủ nghĩa duy vật biện chứng cũng chính là cơ sở lý luận của thế giới quan
khoa học; là khoa học về những quy luật chung nhất của sự vận động và phát triển
trong tự nhiên, xã hội và tư duy.
Triết học Mác – Lênin về bản chất chính là triết học duy vật, bởi triết học đó coi ý
thức là tính chất của dạng vật chất có tổ chức cao là bộ não người và nhiệm vụ của
bộ não người đó chính là phản ánh giới tự nhiên. Sự phản ánh đó sẽ có tính biện
chứng, bởi vì thông qua đó mà con người nhận thức được mối quan hệ qua lại chung
nhất giữa các sự vật, hiện tượng của thế giới vật chất; bên cạnh đó cũng sẽ nhận thức
được rằng, sự vận động và phát triển của thế giới là kết quả của các mâu thuẫn đang
tồn tại bên trong thế giới đang vận động đó.
1.1.1.2. Quá trình hình thành và phát triển của chủ nghĩa duy vật biện chứng
Chủ nghĩa duy vật tính từ khi được hình thành cũng đã trải qua hàng nghìn năm phát
triển, chủ nghĩa duy vật phát sinh ngay từ thời kỳ cổ đại từ chủ nghĩa duy vật chất
phác thời cổ đại đến chủ nghĩa duy vật siêu hình thời cận đại (các nước Tây Âu thế
kỷ XVII đến XVIII) và sự ra đời của chủ nghĩa duy vật biện chứng do C.Mác và Ph.Ăngghen sáng lập.
Tư tưởng về chủ nghĩa duy vật thời kỳ cổ đại sẽ thường mang tính trực giác là chủ
yếu, các tư tưởng này đều chưa mang tính nghiên cứu khoa học cao bởi thời kỳ đó
chưa có sự xuất hiện của công nghệ nên sự nghiên cứu của con người về các sự vật,
hiện tượng thời kỳ cổ đại về cơ bản đều sẽ chỉ mang tính trực giác và suy đoán.
Những chủ thể là các nhà triết học duy vật thời kỳ cổ đại thông thường sẽ phát triển
các quan điểm khác biệt so với các trường phái triết học sau này. Bắt đầu từ thời kỳ
phục hung cho đến thế kỷ XVIII, thời kỳ này, chủ nghĩa duy vật được gọi là chủ
nghĩa siêu hình. Tuy phổ biến vẫn là chủ nghĩa duy vật bằng trực giác nhưng tại thời
kỳ cận đại này, các chủ thể là những nhà triết học đã dựa vào khá nhiều phương pháp
thực nghiệm mà không còn mang nặng về tính chủ quan và trực giác như trước nữa.
Quá trình hình thành và phát triển của phép biện chứng:
- Cũng giống như chủ nghĩa duy vật, phép biện chứng cũng xuất hiện từ thời cổ đại
- Phép biện chứng thời kỳ cổ đại: Phép biện chứng cổ đại được hình thành và
phát triển từ tư tưởng của triết học Ấn Độ cổ đại, triết học Trung Quốc cổ đại
và triết học Hy Lạp cổ đại.
- Phép biện chứng thời kỳ cận đại: Từ thời kỳ Phục hưng cho đến khoảng thế kỷ
XVIII, phép biện chứng trong thời kỳ lúc này không được thể hiện một cách rõ
ràng và cụ thể. Đa số với các nhà triết học trong giai đoạn này thì tư tưởng về
phép biện chứng chủ yếu dựa trên quan điểm duy tâm. Sau này, C.Mác còn đưa
ra nhận xét về tư tưởng của Hê-gen là phép biện chứng lộn sâu xuống đất.
1.1.1.3. Các quy luật của biện chứng Gồm 3 quy luật cơ bản:
- Quy luật thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập có nội dung bao gồm:
+ Các khái niệm về mâu thuẫn và mặt đối lập, thống nhất, đấu tranh và
chuyển biến của các mặt đối lập
• Mặt đối lập: là những mặt có đặc điểm, những thuộc tính, những quy
định có khuynh hướng biến đổi trái ngược nhau, tồn tại một cách
khách quan trong tự nhiên, xã hội và tư duy.
• Mâu thuẫn biện chứng: là trạng thái các mặt đối lập liên hệ, tác động
qua lại lẫn nhau. Chúng tồn tại một cách khách quan và phổ biến trong
tự nhiên, xã hội và tư duy. Mâu thuẫn biện chứng trong tư duy là phản
ánh mâu thuẫn trong hiện thực và nguồn gốc phát triển của nhận thức.
• Thống nhất (giữa các mặt đối lập): là sự nương tựa lẫn nhau, tồn tại
không tách rời nhau giữa các mặt đối lập, sự tồn tại của mặt này phải
lấy sự tồn tại của mặt kia làm tiền đề.Chúng thường có những nhân tố
giống nhau, những nhân tố đó là “ sự đồng nhất “ của các mặt đối lập
• Đấu tranh (giữa các mặt đối lập): Là sự tác động qua lại theo xu
hướng bài trừ và phủ định lẫn nhau của các mặt đó. Hình thức đấu
tranh của các mặt hết sức phong phú, đa dạng tuỳ thuộc vào tính chất,
mối quan hệ qua lại giữa các mặt đối lập và điều kiện để diễn ra đấu tranh
+ Quy luật thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập có nội dung là đưa ra
vai trò của thống nhất, đấu tranh và chuyển biến của các mặt đối lập trong
quá trình tồn tại, vận động và phát triển của sự vật, hiện tượng
• Các mặt đối lập, sự thống nhất và đấu tranh giữa các mặt đối lập
➢ Trong sự thống nhất đã ẩn chứa sự đối lập, trong mâu thuẫn, sự
thống nhất không tách rời với sự đấu tranh giữa chúng. Do quy
định ràng buộc nhau, các mặt đối lập vẫn có xu hướng phát triển
trái ngược và đấu tranh lẫn nhau.
➢ Sự đấu tranh có thể chia làm nhiều giai đoạn, thông thường giai
đoạn đầu chưa thể hiện rõ các đặc tính, sự đối đầu chưa rõ ràng.
Nhưng đến một mức nào đó thì sẽ xuất hiện các mâu thuẫn, lúc này
các mặt đối lập sẽ bài trừ, phủ định lẫn nhau.
• Mâu thuẫn với sự vận động phát triển
➢ Từ khi CNXH ra đời, các mức xã hội chủ nghĩa đều thực hiện nền
kinh tế hoá tập trung,cơ chế vận hành được duy trì trong một thời
gian khá dài, là nét đặc trưng cơ bản của CNXH, nó đối lập với
kinh tế thị trường. Các nước tư bản cũng từng sử dụng kinh tế tập
trung nhưng nhanh chóng bỏ nó sau chiến tranh để thu được nhiều
thành tựu to lớn về kinh tế, xã hội. Tuy nhiên nền kinh tế thị
trường còn nhiều tồn đọng, chứa đựng nhiều mâu thuẫn
• Tình khác quan và phổ biến của quy luật thống nhất và đấu tranh giữa các mặt đối lập
➢ Sự thống nhất và đấu tranh giữa các mặt đối lập có tính khách quan
vì cái vốn có của sự vật, hiện tượng và tính phổ biến do sự thống
nhất đấu tranh của các mặt đối lập tồn tại trong tất cả các lĩnh vực.
Do sự thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập có tính khách
quan và phổ biến nên có tính đa dạng và phức tạp. Mâu thuẫn xuất
hiện ở mỗi lĩnh vực khác nhau, không chỉ có một mâu thuẫn, sự
đấu tranh giữa các mặt đối lập đạt đến một mức nào đó thì mâu
thuẫn được giải quyết, sự vật mới ra đời. Mâu thuẫn cũ mất đi,
mâu thuẫn mới ra đời làm cho sự vật không ngừng phát triển và vận động
• Những đặc điểm của nền kinh tế thị trường nhìn từ góc độ triết học
➢ Nền kinh tế trong thời kỳ quá độ là nền kinh tế thị trường vận động
theo cơ chế của nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần. Nếu để tự
phát, nền kinh tế nhiều thành phần sẽ đi lên Chủ nghĩa tư bản.
Nhưng nếu có sự đấu tranh thì có thể giữ vững được định hướng xã
hội chủ nghĩa. Trong nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội
chủ nghĩa thì vai trò quản lý của nhà nước là vô cùng quan trọng.
Nhà nước trực tiếp quyết định các vấn đề kinh tế, xã hội.
➢ Hiện nay, cơ chế quản lý trong đang ở giai đoạn mới hình thành
nên còn đang thiếu hụt, chưa hoàn chỉnh, dẫn tới môi trường sản
xuất, kinh doanh thiếu ổn định, an toàn. Tính chất không rõ ràng,
thiếu xác định trên cả phương diện kinh tế – xã hội dường như
đang rất phổ biến, rất đặc trưng cho các quan hệ trong nền kinh tế
nước ta. Do đó, quá trình chuyển hóa này vấp phải khá nhiều mâu thuẫn nội tại.
+ Ý nghĩa phương pháp luận và thực tiễn của quy luật
• Phải có thái độ khách quan trong việc nhận thức mâu thuẫn của sự vật
đó là thừa nhận tính khách quan của mâu thuẫn, phát hiện kịp thời
mâu thuẫn, xuất phát từ bản thân sự vật để tìm ra mâu thuẫn của nó,
phải xem xét phân tích một cách chi tiết, cụ thể.
• Phải nắm vững phương pháp giải quyết mâu thuẫn đó là thông qua đấu
tranh giữa các mặt đối lập chứ không được phép dung hòa các mặt đối
lập, tuy nhiên phải vận dụng linh hoạt các hình thức đấu tranh.
• Phải biết vận dụng linh hoạt các hình thức giải quyết mâu thuẫn thông
qua hình thức chuyển hóa mặt đối lập. Đó có thể là một trong hai mặt
đối lập chuyển hóa vào mặt còn lại, hoặc mặt này thủ tiêu mặt kia,
hoặc cả hai mặt cùng chuyển hóa sang những hình thức mới của mình.
+ Ví dụ đấu tranh giữa các mặt đối lập: Mối quan hệ giữa giai cấp thống trị và
giai cấp bị trị của xã hội xưa. Họ mâu thuẫn nhau về quyền lợi, ý chí, 2 giai
cấp này luôn đấu tranh với nhau để bảo vệ quyền lợi cho mình
- Quy luật chuyển hóa những thay đổi về lượng thành những thay đổi về chất và
ngược lại có nội dung bao gồm:
+ Vị trí của quy luật trong phép biện chứng là một nội dung của quy luật
chuyển hóa những thay đổi về lượng thành những thay đổi về chất và ngược lại.
• Quy luật chuyển hoá những thay đổi về lượng thành những thay đổi về
chất và ngược lại là một trong ba quy luật cơ bản của phép biện chứng
duy vật. Quy luật chỉ ra cách thức của sự vận động, phát triển, theo đó
sự phát triển được tiến hành theo cách thức thay đổi lượn trong mỗi sự
vật dẫn đến chuyển hoá về chất của sự vật và đưa sự vật trong một
trạng thái phát triển tiếp theo.
+ Nội dung quy luật: Các khái niệm: “chất”, “lượng”, “độ”, “điểm nút”, “bước nhảy”.
• Chất: là phạm trù triết học dùng để chỉ tính quy định khách quan vốn
có của sự vật, hiện tượng, đó là sự thống nhất hữu cơ của những thuộc
tính, những yếu tố cấu thành sự vật, hiện tượng, nói lên sự vật, hiện
tượng đó là gì, phân biệt nó với các sự vật, hiện tượng khác. Mỗi sự
vật, hiện tượng trong thế giới đều có những chất vốn có, làm nên
chính chúng. Nhờ đó chúng mới khác với các sự vật, hiện tượng khác.
• Lượng: là phạm trù triết học dùng để chỉ tính quy định vốn có của sự
vật về mặt số lượng, quy mô, trình độ, nhịp điệu của sự vận động và
phát triển cũng như các thuộc tính của sự vật, biểu hiện bằng con số
các thuộc tính, các yếu tố cấu thành nó. Lượng là cái khách quan, vốn
có của sự vật, quy định sự vật ấy là nó. Lượng của sự vật không phụ
thuộc vào ý chí, ý thức của con người. Lượng của sự vật biểu thị kích
thước dài hay ngắn, số lượng nhiều hay ít, quy mô lớn hay nhỏ, trình
độ cao hay thấp, nhịp điệu nhanh hay chậm.
• Độ: là một phạm trù triết học dùng để chỉ sự thống nhất giữa lượng và
chất, là giới hạn mà trong đó sự thay đổi về lượng chưa làm thay đổi
căn bản về chất của sự vật, sự vật chưa biến thành cái khác.
• Điểm nút: là phạm trù triết học dùng để chỉ thời điểm mà tại đó sự
thay đổi về lượng đã đủ làm thay đổi về chất của sự vật.
• Bước nhảy: là sự kết thúc một giai đoạn biến đổi về lượng, là sự đứt
đoạn trong liên tục, nó không chấm dứt sự vận động nói chung mà chỉ
chấm dứt một dạng vận động cụ thể, tạo ra một bước ngoặt mới cho sự
thống nhất biện chứng giữa chất và lượng trong một độ mới.
+ Biện chứng giữa chất và lượng
• Bất kì sự vật, hiện tượng nào cũng là một thể thống nhất giữa chất và
lượng. Sự thay đổi và lượng tất yếu dẫn đến sự thay đổi về chất của sự
vật, quá trình diễn ra: lượng thay đổi dần dần, vượt quá giới hạn độ tại
điểm nút làm cho chất cũ mất đi, chất mới ra đời, quy định một lượng
mới, lượng mới tích lũy vượt quá giới hạn độ tại điểm nút và lại sinh
ra chất mới… quá trình này diễn ra liên tục tạo thành phương thức cơ
bản, phổ biến của các quá trình vận động, phát triển trong tự nhiên, xã hội và tư duy.
• Khi chất mới ra đời lại có sự tác động trở lại lượng của sự vật. Chất
mới ra đời sẽ quy định một lượng mới biểu hiện trên phương diện làm
thay đổi kết cấu, quy mô, trình độ, nhịp điệu vận động và phát triển
của sự vật, làm thay đổi giới hạn đó, điểm nút tạo ra những biến đổi
mới về lượng của sự vật.
• Quy luật lượng chất đã vạch ra cách thức của sự vận động phát triển,
trong đó lượng biến đổi sẽ mâu thuẫn với chất cũ, phá vỡ chất cũ, hình
thành nên chất mới với lượng mới. Sự tác động qua lại lẫn nhau giữa
lượng và chất sẽ tạo nên một sự vận động liên tục của sự vật
+ Ý nghĩa và phương pháp luận của quy luật
• Trong hoạt động nhận thức và hoạt động thực tiễn phải biết tích lũy về
lượng để có biến đổi về chất, không được nôn nóng.
• Khi lượng đã đạt đến điểm nút thì thực hiện bước nhảy là yêu cầu
khách quan. Chống tư tưởng bảo thủ, trì trệ không dám thực hiện bước nhảy.
• Trong hoạt động thực tiễn, phải có quyết tâm và nghị lực để thực hiển
bước nhảy khi điều kiện đã chín muồi.
• Phải biết lựa chọn phương pháp phù hợp để tác động vào phương thức
liên kết của sự vật trên cơ sở hiểu rõ bản chất, quy luật của chúng.
+ Ví dụ: Bạn chịu khó dành nhiều thời gian học bài (lượng) thì bạn sẽ hiểu bài sâu hơn (chất)
- Quy luật phủ định của phủ định
+ Vị trí của quy luật trong phép biện chứng
• Là một trong ba quy luật cơ bản của phép duy vật biện chứng duy vật,
chỉ ra khuynh hướng của sự phát triển, theo đó sự phát triển của sự
vật, hiện tượng có xu hướng, khuynh hướng lặp lại giai đoạn đầu
nhưng ở trình độ cao hơn, phát triển theo hình xoắn trôn ốc
+ Các khái niệm “phủ định”, “phủ định của phủ định”
• Phủ định: là sự thay thế bằng sự vật khác trong quá trình vận động và phát triển.
• Phủ định biện chứng: là phạm trù triết học dùng để chỉ sự phủ định tự
thân, sự phát triển tự thân, là mắt khâu trong quá trình dẫn tới sự ra
đời sự vật mới, tiến bộ hơn sự vật cũ.
• Phủ định của phủ định: là quy luật nói lên mối liên hệ, sự kế thừa giữa
cái bị phủ định và cái phủ định; do sự kế thừa đó, phủ định biện chứng
không phải là sự phủ định sạch trơn, bác bỏ tất cả sự phát triển trước
đó, mà là điều kiện cho sự phát triển, nó duy trì và gìn giữ nội dung
tích cực của các giai đoạn trước, lặp lại một số đặc điểm cơ bản của
cái xuất phát nhưng trên cơ sở mới cao hơn; do vậy, sự phát triển có
tính chất tiến lên không phải theo đường thẳng mà theo đường xoáy ốc.
+ Tính chu kỳ và khuynh hướng xoáy ốc của sự phát triển
• Trong sự vận động vĩnh viễn của thế giới vật chất, dây chuyền của
những lần phủ định biện chứng là vô tận, cái mới phủ định cái cũ,
nhưng rồi cái mới lại trở nên cũ và lại bị cái mới sau phủ định. Cứ như
vậy, sự phát triển của sự vật, hiện tượng diễn ra theo khuynh hướng
phủ định của phủ định từ thấp đến cao một cách vô tận theo đường
“xoáy ốc” hay “vòng xoáy trôn ốc”. Sau mỗi chu kỳ phủ định của phủ
định, cái mới được ra đời lặp lại cái cũ nhưng trên cơ sở cao hơn.
• Sự phát triển theo đường “xoáy ốc” là sự biểu thị rõ ràng, đầy đủ các
đặc trưng của quá trình phát triển biện chứng của sự vật: tính kế thừa,
tính lặp lại, tính tiến lên. Mỗi vòng của đường “xoáy ốc” thể hiện sự
lặp lại nhưng cao hơn, thể hiện trình độ cao hơn của sự phát triển.
+ Ý nghĩa phương pháp luận của quy luật
• Quy luật phủ định của phủ định cho ta cơ sở để hiểu sự ra đời của cái
mới,mối liên hệ giữa cái cũ và cái mới
• Trong nhận thức và hoạt động thực tiễn cần chống thái độ phủ định
sạch trơn. Đồng thời phải biết sàng lọc những gì tích cực của cái cũ.
• Chống thái độ hư vô chủ nghĩa, đồng thời chống thái độ bảo thủ, khư
khư ôm lấy những gì đã lạc hậu, lỗi thời không còn phù hợp, không chịu đổi mới.
• Phải hiểu phát triển không còn là đường thẳng mà theo đường xoắn ốc
đi lên. Nghĩa là có nhiều khó khăn, phức tạp trong quá trình vận động.
Phát triển không phải là đường thẳng.
+ Ví dụ: Hạt thóc - Hạt thóc nảy mầm thành cây lúa (phủ định của hạt thóc) –
Cây lúa sinh ra hạt thóc (Phủ định của hạt thóc nảy mầm ra cây lúa) – Phủ
định của phủ định – Khẳng định
1.1.1.4. Các phạm trù cơ bản của phép biện chứng duy vật Có 6 phạm trù cơ bản: - Cái chung – cái riêng
+ Cái chung là phạm trù triết học chỉ ra những thuộc tính, những mặt giống
nhau và được lặp lại trong cái riêng khác.
+ Phạm trù cái riêng chỉ ra một hiện tượng, một sự vật, một hệ thống hay một
quá trình mà sự vật tạo thành chỉnh thể độc lập với các cái riêng khác.
+ Phạm trù cái chung cái riêng: Cái chung chỉ tồn tại ở trong cái riêng, thông
qua cái riêng để biểu hiện sự tồn tại của mình - Nội dung – hình thức
+ Bản chất là phạm trù chỉ ra tổng hợp các mặt cũng như các mối liên hệ
tương đối ổn định trong sự vật, bản chất quy định sự phát triển và vận động của sự vật đó.
+ Phạm trù bản chất và hiện tượng
• Hiện tượng là phạm trù chỉ ra biểu hiện bên ngoài của bản chất.
• Hiện tượng là biểu hiện của một bản chất và bản chất bao giờ cũng thể
hiện ra thành những hiện tượng nhất định. Bản chất quyết định tới
hiện tượng, bản chất thế nào thì hiện tượng sẽ thế đó.
- Nguyên nhân – Kết quả
+ Nguyên nhân là phạm trù được dùng để chỉ tác động qua lại giữa các bộ
phận, các mặt và các thuộc tính trong một sự vật hoặc giữa các sự vật với
nhau gây nên những biến đổi nhất định.
+ Kết quả là phạm trù chỉ ra những biến đổi đã xuất hiện do phạm trù nguyên nhân tạo ra.
+ Nguyên nhân sẽ sinh ra kết quả nên nguyên nhân có trước, kết quả có sau
và nguyên nhân như thế nào thì sẽ sinh ra kết quả tương tự như thế đó.
- Tất nhiên – Ngẫu nhiên
Phạm trù tất nhiên sẽ vạch ra đường đi cho mình qua rất nhiều cái ngẫu nhiên,
tất nhiên sẽ quy định cái ngẫu nhiên đồng thời ngẫu nhiên sẽ bổ sung cho tất
nhiên. Do đó trong thực thế mọi việc đều phải căn cứ vào tất nhiên chứ không
căn cứ vào phạm trù ngẫu nhiên, nhưng cũng không được bỏ quá ngẫu nhiên,
không được tách rời tất nhiên ra khỏi ngẫu nhiên.
- Khả năng – hiện thực
Phạm trù khả năng và hiện thực luôn tồn tại thống nhất, luôn chuyên hóa và
không tách rời nhau. Khả năng khi ở trong điều kiện nhất định sẽ biến thành
hiện thực. Do đó, trong việc nhận thức về thực tiễn cần dựa vào hiện thực. Để
khả năng biến thành hiện thực, con người cần phát huy tối đa tính chủ động
của mình trong nhận thức và thực tiễn.
- Bản chất – Hiện tượng
Bản chất và hiện tượng đều tồn tại một cách khách quan. Theo chủ nghĩa Marc
– Lenin thì quan điểm duy tâm không thừa nhận hoặc không hiểu đúng sự tồn
tại khách quan của bản chất và hiện tượng, họ cho rằng, bản chất không tồn tại
thật sự, bản chất chỉ là tên gọi trống rỗng do con người bịa đặt ra, còn hiện
tượng dù có tồn tại nhưng đó chỉ là tổng hợp những cảm giác của con người,
chỉ tồn tại trong chủ quan con người.
1.1.2. Vật chất
1.1.2.1. Nội dung
Vật chất được phản ánh với hình thức tồn tại cụ thể của nó. Dùng để chỉ thực tại
khách quan phản ánh qua cảm giác. Khi đó, vật chất mang đến hình thức chứa đựng
cụ thể và có dạng tồn tại hữu hình. Từ khái niệm này, có thể thấy được với tính chất
tồn tại được chứng minh. Từ đó, đánh giá được đưa ra dễ dàng với các dạng tồn tại
đó có được xác định là vật chất hay không.Vật chất (dưới hình thức tồn tại cụ thể của
nó) là cái có thể gây nên cảm giác ở con người. Con người thông qua cảm giác để
đánh giá về sự tồn tại của vật chất. Cũng như khẳng định được, phân biệt được giữa
vật chất và ý thức. Hai khái niệm này tách rời nhau, và mang đến các dạng tồn tại
khác hoàn toàn. Khi nó trực tiếp hay gián tiếp tác động đến giác quan của con người.
Vật chất là cái được ý thức phản ánh bằng cảm giác thỏa mãn với khái niệm trên.
Vật chất với tư cách là phạm trù triết học theo nghiên cứu. Là kết quả của sự khái
quát hóa, trừu tượng hóa những thuộc tính, những mối liên hệ vốn có của các sự vật,
hiện tượng. Khi đó, hướng đến các giải thích cho sự tồn tại bên cạnh ý nghĩa trong
xác định. Nên nó phản ánh cái chung, vô hạn, vô tận, không sinh ra, không mất đi.
Vật chất có dạng tồn tại cố định hoặc không, nhưng được đảm bảo cho cảm giác phản ánh.
1.1.2.2. Định nghĩa vật chất
- Theo Lênin: “Vật chất là một phạm trù triết học dùng để chỉ thực tại khách
quan được đem lại cho con người trong cảm giác, được cảm giác của chúng ta
chép lại, chụp lại, phản ánh, và tồn tại không lệ thuộc vào cảm giác”. - Những nội dung:
+ Vật chất là phạm trù triết học: Thông thường chúng ta nhắc đến và hình dung
về vật chất như một vật dụng, một tài sản của con người… Tuy nhiên, vật
chất trong định nghĩa vật chất của Lênin là kết quả của sự khái quát hóa, trừu
tượng hóa những thuộc tính, những mối liên hệ vốn có của các sự vật, hiện
tượng nên nó phản ánh cái chung, vô hạn, vô tận, không sinh ra, không mất
đi; do đó không thể đồng nhất vật chất với một hay một số dạng biểu hiện cụ thể của vật chất.
+ Vật chất dùng để chỉ thực tại khách quan: Vật chất tồn tại khách quan trong
hiện thực, nằm bên ngoài ý thức và không phụ thuộc vào ý thức của con
người. “Tồn tại khách quan” là thuộc tính cơ bản của vật chất, là tiêu chuẩn
để phân biệt cái gì là vật chất, cái gì không phải là vật chất. Con người có
nhận thức được hay không nhận thức được vật chất thì vật chất vẫn tồn tại.
+ Vật chất được đem lại cho con người trong cảm giác, được cảm giác chúng
ta chép lại, chụp lại, phản ánh và tồn tại không lệ thuộc vào cảm giác. Có thể
hiểu rằng vật chất là cái có thể gây nên cảm giác ở con người khi nó trực tiếp
hay gián tiếp tác động đến giác quan của con người; ý thức của con người là
sự phản ánh đối với vật chất, còn vật chất là cái được ý thức phản ánh.
1.1.2.3. Ý nghĩa định nghĩa vật chất của Lênin
- Phát hiện vật chất có trước và ý thức có sau. Vật chất là nguồn gốc khách quan
của cảm giác, ý thức con người. Ý thức con người là sự phản ánh thực tại
khách quan đó. Con người có khả năng nhận thức thế giới.
- Định nghĩa này khắc phục tính chất siêu hình, máy móc trong quan niệm về vật
chất của chủ nghĩa duy vật Mác
- Liên kết chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử thành một thể thống nhất
- Bác bỏ quan điểm duy tâm về phạm trù vật chất với sự phát hiện vật chất có
trước, ý thức có sau, vật chất là nguồn gốc của ý thức.
- Định nghĩa vật chất của Lênin đã liên kết chủ nghĩa duy vật biện chứng với chủ
nghĩa duy vật lịch sử thành một thể thống nhất (vật chất trong tự nhiên, vật
chất trong xã hội đều là những dạng cụ thể của vật chất mà thôi, đều là thực tại khách quan).
- Tóm lại, định nghĩa vật chất của Lênin có những ý nghĩa sau:
+ Bằng việc chỉ ra thuộc tính cơ bản nhất, phổ biến nhất là thuộc tính tồn tại
khách quan, đã giúp chúng ta phân biệt được sự khác nhau căn bản giữa phạm
trù vật chất với tư cách là phạm trù triết học, khoa học chuyên ngành, từ đó
khắc phục được hạn chế trong các quan niệm của các nhà triết học trước đó,
cung cấp căn cứ khoa học để xác định những gì thuộc và không thuộc về vật chất.
+ Với định nghĩa vật chất, Lê-nin đã giải quyết triệt để vấn đề cơ bản của triết
học đó là vật chất là cái có trước, ý thức là cái có sau, vật chất quyết định ý
thức. Đó là con người có thể nhận thức được thế giới khách quan thông qua
sự chép lại, chụp lại, phản ánh của con người đối với thực tại khách quan.
Định nghĩa vật chất của Lê-nin đã tạo cơ sở nền tảng, tiền đề để xây dựng
quan niệm duy vật về xã hội. - Phương pháp luận:
+ Vật chất là nguồn gốc của ý thức, song ý thức có thể tác động trở lại vật
chất thông qua hoạt động thực tiễn của con người, con người phải tôn trọng
tính khách quan, đồng thời phát huy tính sáng tạo năng động, chủ quan của mình.
+ Ý thức có thể giúp con người quyết định, hành động thành công khi phản
ánh đúng đắn, sâu sắc thế giới khách quan. Ngược lại, ý thức có thể làm
cho con người hoạt động sai và thất bại khi con người phản ánh sai thế giới khách quan.
Vì vậy, phải phát huy tính năng động sáng tạo của ý thức đồng thời khắc phục
bệnh bảo thủ trì trệ, thái độ tiêu cực, thụ động. ỷ lại hoặc bệnh chủ quan duy ý chí.
- Đảng ta đã chỉ rõ: Mọi đường lối chủ chương của Đảng phải xuất phát từ thực
tế, tôn trọng quy luật khách quan
- Phát huy năng động, sáng tạo của ý thức trong quá trình học tập và công tác
- Chống bệnh chủ quan duy ý chí, có thái độ tích cực trong học tập và công tác.
1.2. Đặc tính của vật chất theo quan điểm của chủ nghĩa duy vật biện chứng
Vật chất là một phạm trù triết học, một phạm trù rộng nhất, cho nên không thể định
nghĩa bằng phương pháp thông thường, VI. Lênin định nghĩa bằng phương pháp đặc
biệt: đối lập vật chất với ý thức.
Phân biệt vật chất với tư cách là phạm trù triết học với quan niệm về vật chất trong
các ngành khoa học tự nhiên. Vật chất với tư cách là phạm trù triết học chỉ vật chất
nói chung, vô cùng, vô tận, không sinh ra, không mất đi; còn các dạng vật chất cụ thể
là hữu hạn, có sinh ra và có mất đi.
Vật chất là thực tại khách quan - cái tồn tại hiện thực bên ngoài, không phụ thuộc vào
ý thức → thuộc tính khách quan.
Vật chất là cái gây nên cảm giác ở con người khi trực tiếp hoặc gián tiếp tác động lên
các giác quan của con người → thuộc tính phản ánh.
Vật chất là cái mà ý thức chẳng qua chỉ là sự phản ánh của nó (vật chất có trước, ý thức có sau)
Ý nghĩa khoa học của định nghĩa vật chất:
- Định nghĩa vật chất của V.I. Lênin đã chống lại được quan niệm duy tâm và
khắc phục được những hạn chế trong quan niệm của chủ nghĩa duy vật cũ về vật chất.
- Thông qua định nghĩa vật chất, V.I. Lênin đã giải quyết vấn để triết học trên
lập trường duy vật và khả tri.
- Định nghĩa vật chất của V.I. Lênin đã định hướng cho các nhà khoa học tự
nhiên trong việc tìm kiếm, khám phá ra những dạng và những cấu trúc vật chất mới...
- Định nghĩa vật chất của V.I. Lênin đã định hướng cho quan điểm duy vật nhận
thức về các vấn đề xã hội.
1.2.1. Các hình thức tồn tại của vật chất
1.2.1.1. Vận động
Theo Ph. Ăngghen: “Vận động, hiểu theo nghĩa chung nhất, - tức được hiểu là một
phương thức tồn tại của vật chất, là một thuộc tính cố hữu của vật chất, - thì bao gồm
tất cả mọi sự thay đổi và mọi quá trình diễn ra trong vũ trụ, kể từ sự thay đổi vị trí
giản đơn cho đến tư duy”.
Như vậy, vận động theo quan điểm duy vật biện chứng không bị quy về hình thức
giản đơn là sự di chuyển vị trí của vật thể trong không gian, mà chỉ mọi sự biến đổi
nói chung. Với cách hiểu như thế, vận động là hình thức tồn tại của vật chất, nhờ vận
động và thông qua vận động mà vật chất biểu hiện sự tồn tại của mình. Vận động của
vật chất là tự thân vận động, là tuyệt đối, vĩnh viễn.
Các hình thức vận động cơ bản của vật chất: Dựa vào các thành tựu khoa học Ph.
Angghen chia vận động thành 5 hình thức cơ bản: (cơ học, vật lí, hoá học, sinh vật, xã hội)
- Vận động cơ học: Sự di chuyển vị trí của sự vật trong không gian.
- Vận động vật lý: sự vận động của các phân tử, điện tử, các hạt cơ bản, của các
quá trình nhiệt, điện...
- Vận động hóa học: sự phân giải và hóa hợp của các chất...
- Vận động sinh vật: sự biến đổi gen, trao đổi chất giữa cơ thể sinh vật với môi trường.
- Vận động xã hội: sự biến đổi trong các lĩnh vực của xã hội, sự thay thế nhau
các hình thái kinh tế - xã hội
Mỗi hình thức vận động cơ bản trên khác nhau về chất, nhưng giữa chúng lại có mối
quan hệ hữu cơ với nhau, trong đó hình thức vận động cao xuất hiện trên cơ sở của
hình thức vận động thấp hơn và bao hàm trong nó những hình thức vận động thấp
hơn và các hình thức vận động có thể chuyển hoá cho nhau (hình thức vận động cao
bao hàm hình thức vận động thấp).
Đứng im là một trạng thái đặc biệt của vận động, vận động trong trạng thái cân bằng,
trong sự ổn định tương đối, nói lên sự vật còn là nó mà chưa chuyển hóa thành cái khác.
1.2.1.2. Không gian, thời gian
- Không gian là hình thức tồn tại của vật chất xét về mặt quảng tính (chiều cao,
chiều rộng, chiều dài), sự cùng tồn tại, trật tự (trước hay sau, trên hay dưới, bên
phải hay bên trái) và sự tác động lẫn nhau
- Thời gian là hình thức tồn tại của vật chất, xét về mặt độ dài diễn biến, sự kế
tiếp nhau của các quá trình vật chất (lâu, mau, nhanh, chậm)
- Không gian và thời gian có tính khách quan, vĩnh cửu và vô tận. Không gian có
tính ba chiều, thời gian có tính một chiều
1.2.2. Tính thống nhất vật chất của thế giới
- Chỉ có một thế giới duy nhất là thế giới vật chất, thế giới vật chất tồn tại khách quan.
- Thế giới vật chất tồn tại vĩnh viễn, vô hạn và vô tận, không được sinh ra và không bị mất đi
- Tính thống nhất vật chất của thế giới gắn liền với tính đa dạng của nó
1.3. Ý nghĩa phương pháp luận
Ý nghĩa phương pháp luận chủ đạo: Tôn trọng tính khách quan kết hợp với phát huy
tính năng động chủ quan.
- Tôn trọng tính khách quan: Vật chất quyết định ý thức, do đó mọi suy nghĩ và
hành động đều phải xuất phát từ hiện thực khách quan, chống chủ quan duy ý
chí. Mọi chủ trương, đường lối, kế hoạch... đều phải xuất phát từ điều kiện, tiền
đề vật chất hiện có. Nhận thức sự vật phải chân thực.
- Phát huy tính năng động chủ quan: Vì ý thức có vai trò tác động trở lại đối với
vật chất, cho nên trong nhận thức và hoạt động thực tiễn, chúng ta phải biết
phát huy tính năng động chủ quan: phát huy tính năng động, sáng tạo của ý
thức, phát huy vai trò nhân tố con người, chống tư tưởng thụ động; coi trọng
công tác tư tưởng và giáo dục tư tưởng
+ Muốn thực hiện tốt nguyên tắc tôn trọng tính khách quan kết hợp với phát
huy tính năng động chủ quan, cần nhận thức và giải quyết đúng đắn các quan
hệ lợi ích giữa cá nhân, tập thể, xã hội có động cơ trong sáng, không vụ lợi,
có thái độ thật sự khách quan, khoa học trong nhận thức và hoạt động thực tiễn
PHẦN II: SỰ VẬN DỤNG CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM TRONG
QUÁ TRÌNH ĐỔI MỚI ĐẤT NƯỚC
2.1. Thực trạng, hoàn cảnh nước ta sau ngày Giải phóng miền Nam
Cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước (1954 – 1975) kết thúc thắng lợi, hoà bình
được lập lại, đất nước độc lập thống nhất về mặt lãnh thổ, cả nước đi lên chủ nghĩa
xã hội. Nhưng ở mỗi miền lại có một hình thức tổ chức nhà nước khác nhau, có
nhiều thuận lợi và cũng không ít khó khăn.