Đang tải lên
Vui lòng đợi trong giây lát...
Preview text:
TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI KHOA MARKETING
----------------
ĐỀ TÀI THẢO LUẬN
HỌC PHẦN TRIẾT HỌC MÁC-LÊNIN Đề tài:
QUAN ĐIỂM CỦA CHỦ NGHĨA DUY VẬT
LỊCH SỬ VỀ LÃNH TỤ. VẬN DỤNG
QUAN ĐIỂM NÀY VÀO THỰC TIỄN.
Hà Nội, tháng 11 năm 2021 DANH SÁCH NHÓM 1 MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU.................................................................................8
CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ THUYẾT...........................................................9
I. KHÁI NIỆM CHỦ NGHĨA DUY VẬT LỊCH SỬ, ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU,
NỘI DUNG:......................................................................................9
1. KHÁI NIỆM CHỦ NGHĨA DUY VẬT LỊCH SỬ:.....................................9
2. ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU:...................................................................................................9
3. NỘI DUNG CƠ BẢN:.................................................................................................................9
II. KHÁI NIỆM LÃNH TỤ VÀ VAI TRÒ:................................................10
1. KHÁI NIỆM LÃNH TỤ:.................................................................10
2. VAI TRÒ CỦA LÃNH TỤ:..............................................................11
III. QUAN HỆ GIỮA LÃNH TỤ VÀ QUẦN CHÚNG NHÂN DÂN:..............12
CHƯƠNG II: VẬN DỤNG THỰC TIỄN...................................................14
I. TÓM TẮT SƠ LƯỢC VỀ THỰC TRẠNG CỦA LÃNH TỤ:......................14
1. THỰC TRẠNG:............................................................................14
2. NHỮNG ƯU ĐIỂM, THÀNH TỰU CỦA ĐẢNG CỌ:.........................................................14 2
3. NHỮNG HẠN CHẾ CỦA LÃNH TỤ: (NGHỊ QUYẾT TRUNG ƯƠNG 7 NÊU
RÕ)............................................................................................... 16
II. PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP:.................................................18
1. MỤC TIÊU VÀ PHƯƠNG CHÂM:........................................................................................18
2. NHỮNG PHƯƠNG HƯỚNG, GIẢI PHÁP ĐỂ PHÁT TRIỂN CHỦ NGHĨA
DUY VẬT LỊCH SỬ VỀ LÃNH TỤ TRONG THỜI GIAN TỚI:......................19
PHẦN KẾT LUẬN.............................................................................21
TÀI LIỆU THAM THẢO......................................................................22 PHẦN MỞ ĐẦU
Vấn đề về con người luôn là chủ đề trung tâm trong suốt chiều dài
lịch sử phát triển của Triết học từ cổ đại đến hiện đại. Triết học Mác
- Lênin nhằm giải quyết những nội dung liên quan đến con người
như: Bản chất con người là gì? Vị trí, vai trò của con người đối với
thế giới như thế nào? Mối quan hệ giữa cá nhân và xã hội trong đời
sống con người ... Tất cả những vấn đề trên, về thực chất là học
thuyết về con người - một giá trị làm nên sức sống trường tồn, vĩnh cửu của chủ nghĩa Mác.
Một trong những nội dung rất quan trọng của triết học Mác phải kể
đến chính là “Vai trò của quần chúng nhân dân và lãnh tụ trong lịch
sử”. Nội dung này được triết học Mác luận giải một cách rất khoa
học dựa trên cơ sở quán triệt sâu sắc chủ nghĩa duy vật biện chứng
và toàn bộ các nội dung khác của chủ nghĩa duy vật lịch sử, là sự
vận dụng nhất quán chủ nghĩa duy vật và phương pháp biện chứng
duy vật vào lý luận về vai trò con người trong tiến trình lịch sử.
Trong mối quan hệ này, lãnh tụ đóng vai trò thiết yếu và hết sức to
lớn. Khi lịch sử đặt ra những nhiệm vụ cần giải quyết thì từ trong
quần chúng nhân dân sẽ bước ra những lãnh tụ để có thể giải quyết
những nhiệm vụ đó của lịch sử. Đã có rất nhiều “bằng chứng” cho
thấy rằng mọi phong trào đều bị sụp đổ và thất bại nếu chưa tìm ra
cho chính nó những vị lãnh tụ xứng đáng. V.I Lênin đã từng nói rằng
: “Trong lịch sử chưa hề có một giai cấp nào giành được quyền
thống trị, nếu nó không đào tạo được trong hàng ngũ của mình
những lãnh tụ chính trị, những đại biểu tiền phong có đủ khả năng
tổ chức và lãnh đạo phong trào”. Để cụ thể hóa vấn đề này, bằng
cách thông qua những tìm hiểu, nghiên cứu cụ thể, nhóm 9 chúng 3
em xin phép được trình bày bài thảo luận của mình với chủ đề:
“Quan điểm của chủ nghĩa duy vật lịch sử về lãnh tụ và vận dụng
quan điểm này vào thực tiễn”. PHẦN NỘI DUNG ***
CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ THUYẾT I.
KHÁI NIỆM CHỦ NGHĨA DUY VẬT LỊCH SỬ, ĐỐI TƯỢNG
NGHIÊN CỨU, NỘI DUNG: 1.
Khái niệm chủ nghĩa duy vật lịch sử:
Chủ nghĩa duy vật lịch sử là một bộ phận hợp thành triết học Mác.
Chủ nghĩa duy vật lịch sử là hệ thống quan điểm duy vật biện
chứng về xã hội của triết học Mác-Lênin, là kết quả của sự vận
dụng phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và phép
biện chứng duy vật vào việc nghiên cứu đời sống xã hội và lịch sử nhân loại.
Chủ nghĩa duy vật lịch sử lý giải sự tiến hóa của xã hội loài
người bằng sự phát triển của trình độ sản xuất. Trình độ sản xuất
thay đổi khiến quan hệ sản xuất cũng thay đổi dẫn đến những mối
quan hệ xã hội thích ứng với những quan hệ sản xuất đó cùng với 4
những tư tưởng nảy sinh ra từ những quan hệ xã hội đó cũng thay
đổi kéo theo sự thay đổi hệ thống pháp lý và chính trị.
Chủ nghĩa duy vật lịch sử của Mác trở thành phương pháp luận
của nhiều nhà nghiên cứu trong các bộ môn như sử học, xã hội học...
2. Đối tượng nghiên cứu:
Chủ nghĩa duy vật lịch sử không nghiên cứu những mặt riêng
biệt của sinh hoạt xã hội, mà nghiên cứu toàn bộ xã hội như một
thể thống nhất với tất cả các mặt, các quan hệ xã hội, các quá
trình có liên hệ nội tại và tác động lẫn nhau của xã hội. Khác với
những khoa học xã hội cụ thể, chủ nghĩa duy vật lịch sử không
nghiên cứu những quy luật cục bộ, riêng biệt, chi phối sự phát triển
của các quá trình về kinh tế, chính trị hay tư tưởng, mà nghiên cứu
những quy luật chung nhất phổ biến nhất của sự phát triển xã hội.
Chủ nghĩa duy vật lịch sử nghiên cứu xã hội với tư cách là một
chỉnh thể thống nhất để vạch ra những nét chung của sự phát triển
xã hội, những động lực, những nguyên nhân cơ bản của sự chuyển
biến từ một hình thái kinh tế - xã hội này sang một hình thái kinh
tế - xã hội khác, mối liên hệ qua lại và sự phụ thuộc lẫn nhau giữa
những hiện tượng khác nhau của đời sống xã hội: kinh tế, chính trị, tư tưởng…
Chủ nghĩa duy vật lịch sử vạch ra những quy luật chung nhất
của sự vận động và phát triển xã hội, chỉ ra vị trí và vai trò của mỗi
mặt của đời sống xã hội, trong hệ thống xã hội nói chung, vạch ra
những nét cơ bản của các giai đoạn phát triển của xã hội loài người.
3. Nội dung cơ bản:
Sản xuất vật chất là cơ sở của sự tồn tại và phát triển của xã hội.
Cốt lõi là học thuyết hình thái kinh tế-xã hội, theo đó, trong các
quan hệ xã hội, các quan hệ sản xuất là cơ sở hiện thực của mỗi xã
hội nhất định, cở sở hạ tầng, trên đó xây dựng lên kiến trúc thượng
tầng: chính trị, pháp luật và các hình thái ý thức xã hội khác, với
những thiết chế của chúng. Mỗi hệ thống quan hệ sản xuất của
một xã hội nhất định, phụ thuộc vào tính chất và trình độ phát
triển của các lực lượng sản xuất.
Lực lượng sản xuất quyết định quan hệ sản xuất và quan hệ sản
xuất tác động trở lại lực lượng sản xuất, quan hệ sản xuất phải phụ
thuộc vào thực trạng phát triển của lực lượng sản xuất tại mỗi giai
đoạn lịch sử xác định vì quan hệ sản xuất chỉ là hình thái kinh tế-xã
hội còn lực lượng sản xuất mới là nội dung vật chất và kỹ thuật của 5
quá trình đó. Các lực lượng sản xuất luôn luôn phát triển không
ngừng, đến một giai đoạn nhất định sẽ mâu thuẫn với những quan
hệ sản xuất cũ đã lỗi thời và đòi hỏi phải thay đổi các quan hệ sản
xuất ấy bằng những quan hệ sản xuất mới, tiến bộ hơn. Trong xã
hội có giai cấp, sự thay đổi ấy được thực hiện bằng cách mạng xã hội.
Cơ sở hạ tầng quyết định đến kiến trúc thượng tầng và kiến trúc
thượng tầng phản ánh với cơ sở hạ tầng, phụ thuộc vào cơ sở hạ
tầng và tác động trở lại đối với cơ sở hạ tầng. Một khi cơ sở hạ tầng
đã thay đổi, thì toàn bộ cấu trúc thượng tầng sớm muộn cũng thay
đổi theo. Hình thái kinh tế - xã hội cũ được thay thế bằng một hình
thái kinh tế - xã hội mới tiến bộ hơn. Như vậy, lịch sử loài người là
lịch sử thay thế của những hình thái kinh tế - xã hội khác nhau.
Tồn tại xã hội quyết định ý thức xã hội nhưng ý thức xã hội vẫn
có tính độc lập tương đối.
Chủ nghĩa duy vật lịch sử nhằm phát hiện ra những quy luật
chung nhất của sự vận động phát triển của lịch sử, là nguyên nhân
dẫn đến sự thay thế các hình thái kinh tế - xã hội thấp đến trình độ
cao hơn, vận động theo hình xoáy ốc và đỉnh cao của nó là xã hội
cộng sản chủ nghĩa, một xã hội công bằng, dân chủ, văn minh, tiến bộ. II.
KHÁI NIỆM LÃNH TỤ VÀ VAI TRÒ: 1. Khái niệm lãnh tụ:
Trong số các cá nhân trong thời kỳ lịch sử nhất định, trong
những điều kiện, hoàn cảnh cụ thể, xác định xuất hiện những cá
nhân kiệt xuất trở thành người lãnh đạo quần chúng nhân dân
nhằm thực hiện mục tiêu nhất định. Đó chính là lãnh tụ. Lãnh tụ
thường được xem là những vĩ nhân, là những người có các phẩm chất sau:
Là người có trí tuệ, có tri thức khoa học uyên bác.i
Nhanh nhạy trong việc nắm bắt thời cuộc, xu hướng vận động
của dân tộc cũng như của quốc tế và thời đại.
Có năng lực lãnh đạo và tập hợp quần chúng thành một thể
thống nhất về ý chí và hành động để phục vụ cho nhiệm vụ của
dân tộc cũng như quốc tế và thời đại lúc bấy giờ.
Có sự gắn bó thân thiết với quần chúng nhân dân, được quần
chúng nhân dân yêu mến và kính trọng.i
Sjn sàng hy sinh quên mình vì lí tưởng, lợi ích của dân tộc và thời đại. 6
Khái niệm lãnh tụ thường được dùng để chỉ những cá nhân kiệt
xuất do phong trào cách mạng của quần chúng nhân dân tạo nên,
gắn bó mật thiết với quần chúng nhân dân. Ví dụ, C. Mác, Ph.
Ăngghen, V.I. Lênin, Hồ Chí Minh, ... là những lãnh tụ tiêu biểu nhất
của phong trào cách mạng vô sản thế giới, ... 2. Vai trò của lãnh tụ:
Bất cứ một thời kỳ nào, một cộng đồng xã hội nào, nếu lịch sử đặt
ra những nhiệm vụ cần giải quyết thì từ trong phong trào quần
chúng nhân dân, tất yếu sẽ xuất hiện những lãnh tụ đáp ứng nhiệm vụ đó.
Trong mối quan hệ với quần chúng nhân dân, lãnh tụ có nhiệm vụ chủ yếu sau:
Thứ nhất, nắm bắt xu thế của dân tộc, quốc tế và thời đại. Để
làm được điều này người lãnh tụ phải có những hiểu biết về quy
luật vận động khách quan của các yếu tố như chính trị, kinh tế,
văn hóa, xã hội. Do đó một người lãnh tụ cần phải có trí tuệ và kiến thức uyên bác.
Thứ hai, định hướng chiến lược và hoạch định chương trình hành động cách mạng.
Thứ ba, tổ chức lực lượng, giáo dục thuyết phục quần chúng,
thống nhất ý chí và hành động của quần chúng nhằm hướng vào
giải quyết những mục tiêu cách mạng đề ra.
Từ nhiệm vụ trên ta thấy lãnh tụ có vai trò to lớn đối với phong trào quần chúng như sau:
Ngưi lnh t đng vai tr quyt đnh trong vic pht trin ca
x h i (Có thể thúc đẩy hoặc kìm hãm):
Nếu người lãnh tụ nắm bắt được chính xác quy luật vận
động cũng như xu hướng phát triển của xã hội thì sẽ thúc
đẩy xã hội ấy không ngừng đi lên.
Ngược lại, nếu vị lãnh tụ của một xã hội không nắm bắt
được quy luật cũng như xu thế của thời cuộc sẽ kìm hãm sự
tiến bộ của xã hội ấy.
Ngưi lnh t l! ngưi sng l#p v! quyt đnh vic t$ ch%c
ch&nh tr 'y c tồn tại v! pht trin v*ng mạnh hay không.
Có thể nói người lãnh tụ là linh hồn của tổ chức, là người
điều khiển và định hướng tư tưởng chính trị xã hội của tổ chức ấy. Họ cũng chính
là người thổi hồn cho một tổ chức, cảm
hóa và thống nhất tư tưởng ý chí của quần chúng nhân dân
vào nhiệm vụ của dân tộc và thời đại lúc bấy giờ. Do đó 7
người lãnh tụ là người quyết định sự tồn tại và phát triển của một tổ chức.
Ngưi lnh t c vai tr ho!n th!nh nghim v, s% mnh cch
mạng ca thi đại đ.iMỗi một người lãnh tụ chỉ có thể hoàng
thành được nhiệm vụ cách mạng của một thời đại nhất định.
Không có vị lãnh tụ nào cho mọi thời đại. Sau khi lãnh tụ hoàn
thành sứ mệnh và nhiệm vụ của mình sẽ trở thành một biều tượng cho thế hệ sau.
Như vậy chúng ta có thể thấy không có một phong trào quần
chúng nhân dân nào có thể thiếu người lãnh tụ. Nếu một phong trào
không có lãnh tụ phong trào ấy chắc chắn thất bại.i
Ví dụ 1 : Hồ Chí Minh là người đã tìm ra đường lối đúng đắn để
giải phóng dân tộc. Người thành lập những tổ chức như Hội Việt
Nam Cách mạng Thanh niên, Đảng Cộng sản Việt Nam,..và thổi hồn
vào những tổ chức chính trị này, để tạo nên chỗ dựa vững chắc cho
sự phát triển của Cách mạng Việt Nam. Bác đã góp công lớn trong
việc đưa Việt Nam thành đất nước tự do, dân chủ, phát triển. Có thể
khẳng định Hồ Chí Minh là một vị lãnh tụ sáng suốt, tài giỏi.
Ví dụ 2: Những phong trào dù lớn dù nhỏ hay những thành viên
bên trong dù có tài giỏi đến đâu đi chăng nữa thì nếu không có
người chỉ huy thì cũng giống như rắn mất đầu vĩnh viễn không thể về tới hang.
Trước 1945 không hề thiếu những phong trào công cuộc đấu
tranh tự phát của những người nông dân, công nhân bên trong
không hề thiếu những thành phần tài giỏi
Các cuộc khởi nghĩa thất bại do không có người chỉ huy: Phong
trào Cần Vương, Cuộc khởi nghĩa Yên Thế, phong trào Đông Du, Phong trào Duy tân III.
QUAN HỆ GIỮA LÃNH TỤ VÀ QUẦN CHÚNG NHÂN DÂN:
Tính biện chứng của mối quan hệ trên biểu hiện như sau:
Thứ nhất, tính thống nhất giữa quần chúng nhân dân và
lãnh tụ. Không có phong trào cách mạng của quần chúng nhân
dân, không có các quá trình kinh tế, chính trị, xã hội của đông đảo
quần chúng nhân dân, thì cũng không thể xuất hiện lãnh tụ.
Những cá nhân ưu tú, những lãnh tụ kiệt xuất là sản phẩm của
thời đại, vì vậy, họ sẽ là nhân tố quan trọng thúc đẩy sự phát triển
của phong trào quần chúng.
Thứ hai, quần chúng nhân dân và lãnh tụ thống nhất
trong mục đích và lợi ích của mình. Sự thống nhất về các mục
tiêu của cách mạng, của hành động cách mạng giữa quần chúng 8
nhân dân và lãnh tụ do chính quan hệ lợi ích quy định. Lợi ích biểu
hiện trên nhiều khía cạnh khác nhau: lợi ích kinh tế, lợi ích chính trị, lợi ích văn hóa…
Quan hệ lợi ích là cầu nối liền, là nội lực để liên kết các cá nhân
cũng như quần chúng nhân dân và lãnh tụ với nhau thành một
khối thống nhất về ý chí và hành động. Lợi ích đó vận động phát
triển tùy thuộc vào thời đại, vào địa vị lịch sử của giai cấp cầm
quyền mà lãnh tụ là đại biểu, phụ thuộc vào khả năng nhận thức
và vận dụng để giải quyết mối quan hệ giữa các cá nhân, các giai
cấp và tầng lớp xã hội.
Từ đó, có thể thấy rằng, mức độ thống nhất về lợi ích là cơ sở
quy định sự thống nhất về nhận thức và hành động giữa quần
chúng nhân dân và lãnh tụ trong lịch sử.
Thứ ba, sự khác biệt giữa quần chúng nhân dân và lãnh
tụ biểu hiện trong vai trò khác nhau của sự tác động đến
lịch sử. Tuy cùng đóng vai trò quan trọng đối với tiến trình phát
triển của lịch sử xã hội, nhưng quần chúng nhân dân là lực lượng
quyết định sự phát triển, còn lãnh tụ là người định hướng, dẫn dắt
phong trào, thúc đẩy sự phát triển của lịch sử.
Và điều này còn được thể hiện rõ qua những tác phẩm văn học
Việt nam, điển hình là qua văn bản: “ Lời kêu gọi toàn quốc kháng
chiến” của Hồ Chí Minh, trong đó có đoạn trích sau:
“Hỡi anh em binh sĩ, tự vệ, dân quân!
Giờ cứu nước đã đến. Ta phải hi sinh đến giọt máu cuối cùng, để
giữ gìn đất nước. Dù phải gian lao kháng chiến, nhưng với một
lòng kiên quyết hi sinh, thắng lợi nhất định về dân tộc ta!”
Bởi vậy, quan hệ giữa quần chúng nhân dân và vĩ nhân lãnh tụ là
biện chứng, vừa thống nhất vừa khác biệt.
Ví dụ: Cả dân tộc Việt Nam coi lãnh tụ vĩ đại Hồ Chí Minh là người
Cha già kính yêu, còn coi Đại tướng Võ Nguyên Giáp là Anh Cả Của
Quân đội Nhân Dân Việt Nam.
Chủ nghĩa Mác – Lênin khẳng định vai trò quyết định của
quần chúng nhân dân, đồng thời đánh giá cao vai trò của
lãnh tụ, kiên quyết chống lại tệ sùng bái cá nhân.
Tệ sùng bái cá nhân, thần thánh hóa cá nhân người lãnh đạo, sẽ
dẫn đến tuyệt đối hóa cá nhân kiệt xuất, vai trò người lãnh đạo mà
xem nhẹ vai trò của tập thể lãnh đạo và của quần chúng nhân dân.
Căn bệnh trên dẫn đến hạn chế hoặc tước bỏ quyền làm chủ của
nhân dân, làm cho nhân dân thiếu tin tưởng vào chính bản thân họ, 9
dẫn đến thái độ phục tùng tiêu cực, mù quáng, không phát huy
được tính năng động sáng tạo chủ quan của mình.
Người mắc căn bệnh sùng bái cá nhân thường đặt mình cao hơn
tập thể, đứng ngoài đường lối chính sách, pháp luật của Đảng và
Nhà nước. Họ không thực hiện đúng chính sách cán bộ của Đảng, vi
phạm nguyên tắc sinh hoạt Đảng, chia rẽ, bè phái, mất đoàn kết,
tạo ra nhiều hiện tượng tiêu cực, đánh mất lòng tin trong cán bộ và
nhân dân, phá hoại sự nghiệp cách mạng của Đảng và nhân dân ta. { i
CHƯƠNG II: VẬN DỤNG THỰC TIỄN I.
TÓM TẮT SƠ LƯỢC VỀ THỰC TRẠNG CỦA LÃNH TỤ: 1. Thực trạng:
Xuất thân từ gia đình trí thức trong xã hội tư sản, chứng kiến cảnh
áp bức, bóc lột, bất công mà chế độ tư bản đã tạo ra vì lợi ích, vì lợi
nhuận của giai cấp tư sản, các vị lãnh tụ thông qua con đường hoạt
động khoa học, hoạt động thực tiễn đã chuyển biến thế giới quan
của mình từ chủ nghĩa duy tâm sang chủ nghĩa duy vật, chuyển từ
lập trường dân chủ cách mạng sang lập trường cộng sản – đứng hẳn
vào vị trí tiên phong của những người đấu tranh cho lợi ích của giai cấp công nhân.
Họ là những cá nhân kiệt xuất, xuất hiện trong phong trào quần
chúng nhân dân, nhận thức được một cách đúng đắn, nhanh nhạy,
kịp thời những yêu cầu, các quy luật, những vấn đề căn bản nhất
của một lĩnh vực hoạt động nhất định của đời sống xã hội hoặc là 10
kinh tế, hoặc là chính trị, hoặc là văn hóa, khoa học, nghệ thuật,…
Họ dám quên mình vì lợi ích của quần chúng nhân dân, có năng lực
nhận thức và tổ chức hoạt động thực tiễn. Lãnh tụ còn là người có
phẩm chất xã hội như được quần chúng tín nhiệm, gắn bó mật thiết
với quần chúng, có khả năng tập hợp quần chúng nhân dân, thống
nhất nhận thức, ý chí và hành động của nhân dân, có năng lực tổ
chức quần chúng nhân dân thực hiện các mục tiêu, nhiệm vụ mà thời đại đặt ra. 2. Những
ưu điểm, thành tựu của Đảng Cộng sản Việt Nam - Đảng cầm quyền
lãnh đạo đất nước) :
Thực tế lịch sử cách mạng Việt Nam đã chứng minh Đảng Cộng
sản Việt Nam xứng đáng với niềm tin của dân tộc và sự giao phó
của lịch sử. Dưới sự lãnh đạo của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh,
cách mạng nước ta đã giành hết thắng lợi này đến thắng lợi khác,
lập nên những kỳ tích vang dội trong thế kỷ XX và gần hai thập
niên đầu thế kỷ XXI. Đó là thắng lợi của cách mạng Tháng Tám
năm 1945 lật đổ ách thống trị gần 100 năm của thực dân Pháp và
triều đình phong kiến, lập nên nhà nước công nông đầu tiên ở
Đông Nam châu Á. Ngày 02/9/1945, tại quảng trường Ba Đình lịch
sử, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đọc bản Tuyên ngôn độc lập khai sinh
ra nước Việt Nam dân chủ cộng hòa nay là nước Cộng hòa xã hội
chủ nghĩa Việt Nam. Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Chẳng
những giai cấp lao động và nhân dân Việt Nam ta có thể tự hào,
mà giai cấp lao động và những dân tộc bị áp bức nơi khác cũng có
thể tự hào rằng: Lần này là lần đầu tiên trong lịch sử cách mạng
của các dân tộc thuộc địa, một Đảng mới 15 tuổi đã lãnh đạo cách
mạng thành công, đã nắm chính quyền toàn quốc”. Đó là thắng lợi
của cuộc kháng chiến 9 năm chống thực dân Pháp và can thiệp Mỹ
kết thúc bằng chiến dịch Điện Biên Phủ “lừng lẫy năm châu, chấn
động địa cầu”. Đó là thắng lợi của cuộc kháng chiến 21 năm chống
Mỹ giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất tổ quốc, đưa cả
nước đi lên chủ nghĩa xã hội; thắng lợi của sự nghiệp đổi mới đất
nước tiến hành hơn 30 năm qua vượt qua mọi khó khăn, bao vây
cấm vận, đưa nước ta ra khỏi khủng hoảng kinh tế - xã hội, đứng
vững và tiếp tục đi lên trong cơn “động đất chính trị” trên thế giới
khi mà chế độ xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và Đông Âu sụp đổ
(1989-1991) làm cho hệ thống các nước xã hội chủ nghĩa trên thế
giới tạm thời lâm vào thoái trào. 11
Ngày nay, Đảng Cộng Sản Việt Nam đã và đang đạt được những
bước tiến mới trong công cuộc phát triển đất nước trong giai đoạn
công nghiệp hóa, hiện đại hóa cụ thể như sau:
Quy mô nền kinh t tăng nhanh: Trong suốt 35 năm qua, kinh
tế Việt Nam đã đạt tốc độ tăng trưởng khá ấn tượng. Nếu như
trong giai đoạn đầu đổi mới (1986 - 1990), mức tăng trưởng
GDP bình quân hằng năm chỉ đạt 4,4% thì giai đoạn 1991 -
1995, GDP bình quân đã tăng gấp đôi, đạt 8,2%/năm; các giai
đoạn sau đó đều có mức tăng trưởng khá cao; giai đoạn 2016 -
2019 đạt mức bình quân 6,8%. Mặc dù năm 2020, kinh tế chịu
ảnh hưởng nặng nề của dịch bệnh Covid-19 nhưng tốc độ tăng
GDP của Việt Nam vẫn thuộc nhóm các nước tăng trưởng cao
nhất khu vực, thế giới.
Pht trin gắn kt h!i ha với pht trin văn ha - x h i:
Trong suốt quá trình 35 năm đổi mới, việc tăng trưởng kinh tế
đã cơ bản gắn kết hài hòa với phát triển văn hóa, xây dựng con
người, tiến bộ và công bằng xã hội, bảo vệ tài nguyên và môi
trường. Tăng trưởng kinh tế đi đôi với bảo đảm tiến bộ và công
bằng xã hội ngày trong từng bước phát triển. Từ chỗ Nhà nước
bao cấp toàn bộ trong việc giải quyết việc làm đã dần chuyển
trọng tâm sang thiết lập cơ chế, chính sách để các thành phần
kinh tế và người lao động đều tham gia tạo việc làm; từ chỗ
không chấp nhận có sự phân hóa giàu - nghèo đã đi đến khuyến
khích mọi người làm giàu hợp pháp đi đôi với tích cực xóa đói giảm nghèo.
Quy mô giáo dục tiếp tục được phát triển, cơ sở vật chất được
nâng cao, chất lượng đào tạo từng bước đáp ứng yêu cầu về
nguồn nhân lực. Nhiều chỉ số về giáo dục phổ thông của Việt
Nam được đánh giá cao trong khu vực, như: Tỷ lệ huy động trẻ
6 tuổi vào lớp 1 đạt 99% (đứng thứ 2 trong khu vực ASEAN sau
Singapore); tỷ lệ học sinh đi học và hoàn thành chương trình
tiểu học sau 5 năm đạt 92,08%, đứng ở tốp đầu của khối ASEAN.
Năng lực của hệ thống các cơ sở y tế được củng cố và phát
triển. Nhờ đó, người dân dễ dàng tiếp cận với các dịch vụ y tế
hơn. Bên cạnh đó, cơ sở vật chất, trang thiết bị y tế cũng được
chú trọng đầu tư, đáp ứng tốt hơn nhu cầu khám, chữa bệnh
của nhân dân… Việt Nam là một trong số ít quốc gia có hệ
thống y tế hoàn chỉnh, tổ chức rộng khắp tới tận thôn, bản; làm
chủ được nhiều kỹ thuật công nghệ cao mang tầm thế giới như: 12
ghép chi, tim, gan, thận...; kiểm soát được nhiều dịch bệnh
nguy hiểm, trong đó có Covid-19; chủ động sản xuất được nhiều
loại vắc xin phòng bệnh, mới đây nhất là vắc xin phòng Covid.
H i nh#p quốc t sâu r ng, v th ng!y c!ng được nâng cao:
35 năm đổi mới cũng là một chặng đường hội nhập kinh tế quốc
tế sâu rộng trên nhiều cấp độ, đa dạng về hình thức. Việt Nam
đã thiết lập được nhiều quan hệ đối tác chiến lược về kinh tế;
tích cực xây dựng Cộng đồng ASEAN 2015 và hoàn thiện thị
trường trong nước đầy đủ hơn theo cam kết WTO. Đến nay, đã
có 71 quốc gia công nhận nền kinh tế Việt Nam là nền kinh tế
thị trường, trong đó có các đối tác thương mại lớn của Việt Nam.i
Việt Nam cũng là thành viên chủ động, tích cực và có trách
nhiệm cao trong các tổ chức quốc tế. Việt Nam đã tham gia vào
Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN), Diễn đàn hợp tác
kinh tế châu Á - Thái Bình Dương (APEC), các tổ chức của Liên
hợp quốc... đóng góp tích cực và đang trở thành nước có vị thế
và vai trò ngày càng cao ở khu vực, được cộng đồng quốc tế tôn
trọng. Bên cạnh đó, Việt Nam đã được tín nhiệm bầu vào các cơ
quan quan trọng của Liên hợp quốc, như: Hội đồng Nhân quyền
nhiệm kỳ 2014 - 2016, Ủy ban Di sản Thế giới của UNESCO
nhiệm kỳ 2013 - 2017, Hội đồng kinh tế - xã hội của Liên hợp
quốc (ECOSOC) nhiệm kỳ 2016 - 2018.
Những thành tựu của 35 năm thực hiện công cuộc đổi mới đã tiếp
tục khẳng định đường lối đổi mới của Đảng ta là đúng đắn, sáng
tạo. Những thành tựu to lớn và có ý nghĩa lịch sử kết tinh sức sáng
tạo của Đảng và nhân dân ta, khẳng định con đường đi lên chủ
nghĩa xã hội của nước ta là phù hợp với thực tiễn Việt Nam và xu
thế phát triển của thời đại; khẳng định sự lãnh đạo đúng đắn của
Đảng là nhân tố hàng đầu quyết định thắng lợi của cách mạng Việt Nam. 3.
Những hạn chế của lãnh tụ : (Nghị quyết Trung ương 7 nêu rõ)
Phát biểu chỉ đạo hội nghị về vấn đề xây dựng đội ngũ cán bộ
các cấp, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nhấn mạnh, “Cán bộ và
công tác cán bộ là vấn đề đặc biệt quan trọng trong công tác xây
dựng Đảng, xây dựng hệ thống chính trị, có ý nghĩa quyết định sự
thành bại của cách mạng”.
Nhờ đó, đội ngũ các cấp đã có bước trưởng thành, phát triển về
nhiều mặt, chất lượng ngày càng được nâng lên; cơ cấu độ tuổi, giới 13
tính, dân tộc, ngành nghề, lĩnh vực công tác có sự cân đối, hợp lý hơn.
Tổng Bí thư đánh giá, nhìn chung, đội ngũ cán bộ có lập trường
tư tưởng vững vàng, kiên định mục tiêu, lý tưởng độc lập dân tộc và
chủ nghĩa xã hội, có đạo đức, lối sống giản dị, gương mẫu, có ý thức
tổ chức kỷ luật, luôn rèn luyện, phấn đấu, hoàn thành nhiệm vụ
được giao. Đa số cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp có năng lực,
phẩm chất, uy tín; cán bộ cấp chiến lược có bản lĩnh chính trị, kiên
định chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, có tư duy đổi mới,
có khả năng hoạch định đường lối và lãnh đạo, chỉ đạo tổ chức thực
hiện. Gần đây, việc xử lý kịp thời, nghiêm minh một số tổ chức, cá
nhân vi phạm đã góp phần cảnh tỉnh, cảnh báo, răn đe, ngăn chặn
tiêu cực, làm trong sạch đội ngũ cán bộ, từng bước củng cố niềm tin
của cán bộ, đảng viên và nhân dân đối với Đảng và Nhà nước.
Tuy nhiên, theo Tổng Bí thư, đội ngũ cán bộ và công tác cán bộ
còn bộc lộ không ít những hạn chế, yếu kém:
Thứ nhất, về đội ngũ cán bộ: Đội ngũ cán bộ đông nhưng
chưa đủ mạnh; tình trạng vừa thừa, vừa thiếu cán bộ xảy ra ở
nhiều nơi; sự liên thông giữa các cấp, các ngành còn hạn chế.
Tỷ lệ cán bộ trẻ, cán bộ nữ, cán bộ người dân tộc thiểu số chưa
đạt mục tiêu đề ra. Thiếu những cán bộ lãnh đạo, quản lý giỏi,
nhà khoa học và chuyên gia đầu ngành trên nhiều lĩnh vực.
Năng lực của đội ngũ cán bộ chưa đồng đều, có mặt còn hạn
chế, yếu kém; nhiều cán bộ, trong đó có cán bộ cấp cao thiếu
tính chuyên nghiệp, làm việc không đúng chuyên môn, sở
trường; trình độ ngoại ngữ, kỹ năng giao tiếp và khả năng làm
việc trong môi trường quốc tế còn nhiều hạn chế. Không ít cán
bộ trẻ thiếu bản lĩnh, ngại rèn luyện.
Một bộ phận không nhỏ cán bộ phai nhạt lý tưởng, giảm sút ý
chí, làm việc hời hợt, ngại khó, ngại khổ, suy thoái về tư tưởng
chính trị, đạo đức lối sống, có biểu hiện “tự diễn biến”, “tự
chuyển hóa”. Một số cán bộ lãnh đạo, quản lý, trong đó có cán
bộ cấp chiến lược, thiếu gương mẫu, uy tín thấp, năng lực,
phẩm chất chưa ngang tầm nhiệm vụ, quan liêu, xa dân, cá
nhân chủ nghĩa, vướng vào tham nhũng, lãng phí, tiêu cực, lợi
ích nhóm. Không ít cán bộ quản lý doanh nghiệp nhà nước thiếu
tu dưỡng, rèn luyện, thiếu tính Đảng, lợi dụng sơ hở trong cơ
chế, chính sách pháp luật, cố ý làm trái, trục lợi, làm thất thoát
vốn, tài sản của nhà nước, gây hậu quả nghiêm trọng, bị xử lý
kỷ luật đảng và xử lý theo pháp luật. 14
Tình trạng chạy chức, chạy quyền, chạy tuổi, chạy quy hoạch,
chạy luân chuyển, chạy bằng cấp, chạy khen thưởng, chạy danh
hiệu, chạy tội…, trong đó có cả cán bộ cao cấp, chậm được ngăn chặn, đẩy lùi.
Thứ hai, về công tác cán bộ: Việc thực hiện một số nội
dung còn hình thức. Đánh giá cán bộ vẫn là khâu yếu, chưa
phản ánh đúng thực chất, chưa gắn với kết quả, sản phẩm cụ
thể, không ít trường hợp còn cảm tính, nể nang, dễ dãi hoặc
định kiến. Quy hoạch cán bộ thiếu tính tổng thể, liên thông giữa
các cấp, các ngành, các địa phương; còn dàn trải, khép kín,
chưa đảm bảo phương châm “động” và “mở”.
Công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ chậm đổi mới, chưa kết
hợp chặt chẽ giữa lý luận với thực tiễn, chưa gắn với quy hoạch và theo chức danh.
Việc sắp xếp, bố trí, phân công, bổ nhiệm, giới thiệu cán bộ
ứng cử vẫn còn tình trạng đúng quy trình nhưng chưa đúng người, đúng việc.
Công tác tuyển dụng, thi nâng ngạch công chức, viên chức
còn nhiều hạn chế, chất lượng chưa cao, chưa đồng đều, có nơi
còn xảy ra sai phạm, tiêu cực.
Chính sách cán bộ giữa các cấp, các ngành có mặt còn thiếu
thống nhất, chưa đồng bộ; chính sách tiền lương, nhà ở và việc
xem xét thi đua, khen thưởng chưa thực sự tạo động lực để cán
bộ toàn tâm, toàn ý với công việc.
Phân cấp quản lý cán bộ chưa theo kịp tình hình, còn tập
trung nhiều ở cấp trên. Một số chủ trương thí điểm chỉ đạo chưa
quyết liệt, tổ chức thực hiện thiếu nhất quán, đồng bộ và chưa
kịp thời đánh giá, rút kinh nghiệm. 4.
Nguyên nhân của những hạn chế:
Nhận thức và ý thức trách nhiệm của một số lãnh tụ, là người
đứng đầu, chưa thật sự đầy đủ, sâu sắc, toàn diện. Công tác giáo
dục chính trị, tư tưởng chưa được coi trọng đúng mức.
Công tác lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức thực hiện một số nội dung
nêu trong các nghị quyết, kết luận của việc lãnh đạo về công tác
cán bộ và xây dựng đội ngũ cán bộ còn thiếu quyết liệt, chưa
thường xuyên, nghiêm túc; chậm thể chế hóa, cụ thể hóa; ít kiểm
tra, đôn đốc và chưa có chế tài xử lý nghiêm.
Một số nội dung trong công tác cơ quan chậm được đổi mới.
Chưa có tiêu chí, cơ chế hiệu quả để đánh giá đúng cán bộ, tạo
động lực, bảo vệ cán bộ và thu hút, trọng dung nhân tài; chính 15
sách cán bộ còn bất cập, chưa phát huy tốt tiềm năng của cán bộ.
Công tác quản lý nội bộ có nơi, có lúc bị buông lỏng; chưa có cơ
chế sàng lọc, thay thế kịp thời những người yếu kém, uy tín thấp, không đủ sức khỏe.
Phân công, phân cấp, phân quyền chưa gắn với ràng buộc trách
nhiệm, với tăng cường kiểm tra, giám sát và chưa có cơ chế đủ
mạnh để kiểm soát chặt chẽ quyền lực. Chưa có biện pháp hữu
hiệu để kịp thời ngăn chặn, đẩy lùi tình trạng chạy chức, chạy
quyền và những tiêu cực trong công tác nhà nước. Thiếu chặt chẽ,
hiệu quả trong phối hợp kiểm tra, thanh tra, giám sát và xử lý vi
phạm. Công tác bảo vệ chính trị nội bộ chưa được đầu tư, quan tâm đúng mức.
Chưa phát huy đúng mức vai trò giám sát của các cơ quan dân
cử; giám sát, các tổ chức chính trị - xã hội; thiếu cơ chế phù hợp để
cán bộ gắn bó mật thiết với nhân dân; chưa phát huy có hiệu quả
vai trò, trách nhiệm của các cơ quan truyền thông, báo chí.
Chức năng, nhiệm vụ của các cơ quan tham mưu về tổ chức, cán
bộ còn chồng chéo, chậm được đổi mới. Chưa quan tâm đúng mức
xây dựng đội ngũ làm công tác cán bộ; năng lực, phẩm chất, uy tín
của một số cán bộ chưa đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ. Còn coi nhẹ
công tác sơ kết thực tiễn, nghiên cứu khoa học, xây dựng và phát
triển lý luận về cán bộ và công tác cán bộ.
II. PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP:
1. Mục tiêu và phương châm: *Mục tiêu:
Nghị quyết khẳng định mục tiêu: "Phải tạo được sự chuyển biến
rõ rệt, khắc phục được những hạn chế, yếu kém trong công tác xây
dựng Đảng, nhằm xây dựng Đảng ta thật sự là đảng cách mạng
chân chính, ngày càng trong sạch, vững mạnh, không ngừng nâng
cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của Đảng, củng cố niềm tin
trong Đảng và nhân dân, động viên toàn Đảng, toàn dân, toàn
quân thực hiện thắng lợi các chủ trương, nghị quyết của Đảng".
Trong mục tiêu, cần đặc biệt lưu ý:
Phải tạo được sự chuyển biến rõ rệt.
Tập trung khắc phục những hạn chế, yếu kém nổi lên, tức là ba vấn đề cấp bách.
Phải tạo được niềm tin vào Đảng trong nhân dân và trong cán bộ, đảng viên. *Phương châm: 16
Để tránh tình trạng Nghị quyết thì hay, học tập kỹ, mất nhiều
thời gian, công sức mà thực hiện không đến đâu, không đạt được
mục tiêu đề ra, cần phải xác định: "Làm tốt nhiệm vụ xây dựng
Đảng cũng chính là để thúc đẩy thực hiện nhiệm vụ chính trị".
Vì vậy, lần này trong Nghị quyết nêu rõ phương châm trong tổ
chức thực hiện nghị quyết. Ở đây, có một số điểm cần lưu ý:
Khch quan, trung thực:
Nhìn thẳng vào sự thật, đánh giá đúng sự thật, khách quan, không nể nang, né tránh. Nói đi đôi với làm.
Cch l!m phải khoa học, hiu quả:
Các giải pháp phải bảo đảm đồng bộ, có trọng tâm, trọng
điểm, khả thi, tập trung giải quyết những vấn đề bức xúc, trì trệ nhất.
Xác định rõ lộ trình thực hiện, thời gian hoàn thành, làm từng
bước vững chắc, thường xuyên kiểm tra, giám sát chặt chẽ.
Gi* thi đ kiên quyt với quyt tâm cao nh't nhưng bình tĩnh:
Phải làm kiên quyết, kiên trì.
Phải bình tĩnh, tỉnh táo, không nóng vội, cực đoan; đồng thời
không để rơi vào trì trệ, hình thức, không chuyển biến được tình
hình; giữ đúng nguyên tắc.
Chỉ đạo, tổ chức thực hiện với trách nhiệm và quyết tâm
chính trị cao trong toàn Đảng. Ban Chấp hành Trung ương, Bộ
Chính trị, Ban Bí thư, các cấp ủy đảng, cán bộ chủ chốt, nhất là
cấp trung ương, người đứng đầu làm trước và phải thật sự
gương mẫu để cho các cấp noi theo.
Không đ b lợi dng:
Kết hợp "chống và xây", "xây và chống".
Không để các thế lực thù địch, những phần tử cơ hội lợi dụng,
kích động, xuyên tạc, đả kích gây rối nội bộ. 2.
Những phương hướng, giải pháp để phát triển chủ nghĩa
duy vật lịch sử về lãnh tụ trong thời gian tới:
Một là, kiên định, vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác-Lênin, tư
tưởng Hồ Chí Minh về dân chủ Xã Hội Chủ Nghĩa và xây dựng nền dân chủ Xã
Hội Chủ Nghĩa phù hợp với điều kiện mới của đất nước và tình hình thế giới.
Theo đó, cần nhận thức sâu sắc và thực hiện tốt quan điểm dân là chủ, dân làm chủ;
việc có lợi cho dân phải hết sức làm, việc có hại đến dân phải hết sức tránh; thực
hành dân chủ là chìa khóa vạn năng để giải quyết mọi khó khăn. 17
Hai là, dưới sự lãnh đạo của Đảng, Nhà nước phải làm tốt vai trò kiến tạo phát
triển thông qua hệ thống cơ chế, chính sách, pháp luật phù hợp. Trong đó, bảo đảm:
Giải quyết hài hòa các quan hệ về lợi ích, trước hết là lợi ích kinh tế của các
thành phần kinh tế, các giai cấp, tầng lớp xã hội, giữa lợi ích cá nhân và lợi ích tập
thể, giữa chủ và thợ, giữa lợi ích của công nhân, nông dân, trí thức, doanh nghiệp
và lợi ích của nhà nước, lợi ích trước mắt và lâu dài, lợi ích quốc gia và quốc tế.
Kinh tế nhà nước thực sự “giữ những vị trí then chốt, đi đầu ứng dụng tiến bộ
khoa học và công nghệ, nêu gương về năng suất, chất lượng, hiệu quả kinh tế xã
hội và chấp hành pháp luật.
Các chủ thể thuộc các thành phần kinh tế bình đẳng, hợp tác, cạnh tranh theo pháp luật.
Các tổ chức xã hội có điều kiện hợp tác, hỗ trợ nhà nước, khi cần thiết có thể
đấu tranh với các thế lực tự phát của thị trường để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân.
Ba là, Đảng phải thường xuyên tự đổi mới, tự chỉnh đốn để thúc đẩy, nâng cao
năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng; xây dựng đội ngũ cán bộ, nhất là
đội ngũ cán bộ cấp chiến lược, đủ năng lực và phẩm chất; nâng cao hiệu lực, hiệu
quả của Nhà nước. Tiếp tục tập trung đầu tư nghiên cứu bổ sung, phát triển, làm
sáng tỏ về nhận thức lý luận, hoàn thiện về mặt thể chế và quyết liệt, đồng bộ trong tổ
chức thực thi để đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước gắn với phát triển
kinh tế tri thức, bảo vệ tài nguyên, môi trường. Đây là những vấn đề hệ trọng của
quốc gia nên việc tìm kiếm phương án tối ưu cũng như việc thực thi các phương án
đó nhất thiết phải huy động được sức mạnh tinh thần và vật chất của toàn dân tộc.
Không thể thực hiện thành công việc tái cấu trúc nền kinh tế, đổi mới mô hình tăng
trưởng để hướng đến tăng trưởng nhanh và phát triển bền vững thực sự chỉ dựa vào
tài năng, trí tuệ, tâm huyết của một số ít người và nếu chỉ bảo đảm lợi ích của một số nhóm người nào đó. 18 PHẦN KẾT LUẬN
Tóm lại, từ những phân tích trên ta có thể khẳng định lại một lần
nữa rằng lãnh tụ đóng một vai trò thực sự rất to lớn và quan trọng
trong lịch sử. Họ là những người tiên phong trong những phong trào
quần chúng nhân dân, dám quên mình vì lợi ích của nhân dân, có
năng lực nhận thức và tổ chức hoạt động thực tiễn.
Thông qua quan điểm của chủ nghĩa duy vật lịch sử về lãnh tụ, ta
đã hiểu hơn về thực trạng của lãnh tụ, để rồi từ đó đề ra giải pháp
hợp lý nhằm khắc phục hạn chế cũng như phương hướng để phát
triển vấn đề đang bàn luận tới.i
Nghiên cứu đề tài giúp chúng em càng hiểu một cách sâu sắc hơn,
cũng như có cái nhìn toàn diện hơn về vấn đề. Tuy nhiên, trong quá
trình tìm hiểu và áp dụng vào thực tiễn, nhóm 9 không thể tránh
khỏi những thiếu sót không đáng có, chúng em hy vọng rằng sẽ
nhận được sự góp ý của cô và các bạn để bài thảo luận được hoàn chỉnh hơn. 19 TÀI LIỆU THAM THẢO
1. GS.TS Phạm Văn Đức (2019). Gio trình Trit học Mc – Lênin
Trưng Đại học Thương mại, Hà Nội.
2. Chung Seo (2020) . “Lãnh tụ là gì?” (Trích https://palda.vn/).
3. Mai Trung Dũng (2021). “Điểm mạnh của lãnh tụ” (Trích https://phutho.gov.vn/).
4. “Khái niệm chủ nghĩa duy vật lịch sử” (Trích https://vi.wikipedia.org/).
5. “Những giải pháp khắc phục” (Trích https://moha.gov.vn/).
6. “Hạn chế và nguyên nhân những hạn chế” (Trích https://dangcongsan.vn/).
7. “Thực trạng” (Trích https://nhandan.vn/). 20