TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI BỘ MÔN TRIẾT HỌC ĐỀ TÀI
Quan điểm của Hồ Chí Minh về con người và phát huy nhân tố con người trong
sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội của Đảng ta. NHÓM: 01
LỚP HP: 232_MLN0221_29
CHUYÊN NGÀNH: TÀI CHÍNH- NGÂN HÀNG HÀ NỘI, 2023-2024 BIÊN BẢN HỌP NHÓM
(Về việc xét xếp loại thảo luận nhóm)
I. THỜI GIAN, ĐỊA ĐIỂM, THÀNH PHẦN THAM DỰ
1. Thời gian và địa điểm
Hôm nay, vào lúc 10 giờ ngày 28 tháng 01 năm 2024 Địa điểm: Google Meet 2. Thành phần tham dự: Có mặt: Đầy Đủ
II. NỘI DUNG CUỘC HỌP
Họp xét xếp loại các thành viên trong nhóm làm các nội dung liên quan đến đề
tài thảo luận “Chủ đề 14. Quan điểm của Hồ Chí Minh về con người và phát huy
nhân tố con người trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội của Đảng ta.
”.
Sau cuộc họp nhóm 01 thống nhất kết quả xếp loại như sau:
1. Dương Thị Vân Anh xếp loại: A
2. Trần Phương Anh xếp loại: A
3. Đinh Tuấn Anh xếp loại: A
4. Lê Quang Anh xếp loại: A
5. Nguyễn Phương Anh xếp loại: A
6. Tạ Đức Anh xếp loại: A
7. Nguyễn Tiến Anh xếp loại: A
8. Nguyễn Lan Anh xếp loại: A
9. Lê Đức Anh xếp loại: A
10. Đỗ Nhật Anh xếp loại: A
Biên bản được lập 02 bản, 01 bản đóng kèm với nội dung thảo luận, 01 bản nhóm giữ. 1
Cuộc họp kết thúc và lúc 11 giờ cùng ngày. Chủ toạ Thư ký Ký, họ tên Ký, họ tên Dương Thị Vân Anh Trần Phương Anh MỤC LỤC
Chủ đề 14. Quan điểm của Hồ Chí Minh về con người và phát huy nhân tố con
người trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội của Đảng ta.

Chương 1. QUAN ĐIỂM CỦA HỒ CHÍ MINH VỀ CON NGƯỜI
1.1. Khái niệm con người theo tư tưởng Hồ Chí Minh
1.2. Tư tưởng Hồ Chí Minh về giải phóng con người, coi con người vừa là mục tiêu,
vừa là động lực của cách mạng, về phát triển con người toàn diện
1.2.1. Tư tưởng Hồ Chí Minh về giải phóng giai cấp, giải phóng dân tộc
1.2.2. Tư tưởng Hồ Chí Minh coi con người vừa là mục tiêu, vừa là động lực của cách mạng
1.2.3. Tư tưởng Hồ Chí Minh về phát triển toàn diện con người
Chương 2. PHÁT HUY NHÂN TỐ CON NGƯỜI TRONG SỰ NGHIỆP XÂY
DỰNG CHỦ NGHĨA XÃ HỘI THEO TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH CỦA ĐẢNG TA
2.1. Đấu tranh chống lại sự thoái hoá biến chất, suy thoái về chính trị, tư tưởng, đạo đức
2.2. Xây dựng con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước. 2

Preview text:

TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI BỘ MÔN TRIẾT HỌC ĐỀ TÀI
Quan điểm của Hồ Chí Minh về con người và phát huy nhân tố con người trong
sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội của Đảng ta. NHÓM: 01
LỚP HP: 232_MLN0221_29
CHUYÊN NGÀNH: TÀI CHÍNH- NGÂN HÀNG HÀ NỘI, 2023-2024 BIÊN BẢN HỌP NHÓM
(Về việc xét xếp loại thảo luận nhóm)
I. THỜI GIAN, ĐỊA ĐIỂM, THÀNH PHẦN THAM DỰ
1. Thời gian và địa điểm
Hôm nay, vào lúc 10 giờ ngày 28 tháng 01 năm 2024 Địa điểm: Google Meet 2. Thành phần tham dự: Có mặt: Đầy Đủ
II. NỘI DUNG CUỘC HỌP
Họp xét xếp loại các thành viên trong nhóm làm các nội dung liên quan đến đề
tài thảo luận “Chủ đề 14. Quan điểm của Hồ Chí Minh về con người và phát huy
nhân tố con người trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội của Đảng ta.
”.
Sau cuộc họp nhóm 01 thống nhất kết quả xếp loại như sau:
1. Dương Thị Vân Anh xếp loại: A
2. Trần Phương Anh xếp loại: A
3. Đinh Tuấn Anh xếp loại: A
4. Lê Quang Anh xếp loại: A
5. Nguyễn Phương Anh xếp loại: A
6. Tạ Đức Anh xếp loại: A
7. Nguyễn Tiến Anh xếp loại: A
8. Nguyễn Lan Anh xếp loại: A
9. Lê Đức Anh xếp loại: A
10. Đỗ Nhật Anh xếp loại: A
Biên bản được lập 02 bản, 01 bản đóng kèm với nội dung thảo luận, 01 bản nhóm giữ. 1
Cuộc họp kết thúc và lúc 11 giờ cùng ngày. Chủ toạ Thư ký Ký, họ tên Ký, họ tên Dương Thị Vân Anh Trần Phương Anh MỤC LỤC
Chủ đề 14. Quan điểm của Hồ Chí Minh về con người và phát huy nhân tố con
người trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội của Đảng ta.

Chương 1. QUAN ĐIỂM CỦA HỒ CHÍ MINH VỀ CON NGƯỜI
1.1. Khái niệm con người theo tư tưởng Hồ Chí Minh
1.2. Tư tưởng Hồ Chí Minh về giải phóng con người, coi con người vừa là mục tiêu,
vừa là động lực của cách mạng, về phát triển con người toàn diện
1.2.1. Tư tưởng Hồ Chí Minh về giải phóng giai cấp, giải phóng dân tộc
1.2.2. Tư tưởng Hồ Chí Minh coi con người vừa là mục tiêu, vừa là động lực của cách mạng
1.2.3. Tư tưởng Hồ Chí Minh về phát triển toàn diện con người
Chương 2. PHÁT HUY NHÂN TỐ CON NGƯỜI TRONG SỰ NGHIỆP XÂY
DỰNG CHỦ NGHĨA XÃ HỘI THEO TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH CỦA ĐẢNG TA
2.1. Đấu tranh chống lại sự thoái hoá biến chất, suy thoái về chính trị, tư tưởng, đạo đức
2.2. Xây dựng con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước. 2 MỞ ĐẦU
Hồ Chí Minh là một nhà lãnh đạo vĩ đại của Việt Nam và ông đã có những quan
điểm rất sâu sắc về con người và cách phát huy nhân tố con người trong sự
nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội của Đảng ta. Theo ông, con người là trung
tâm của mọi hoạt động và phải được đặt lên hàng đầu trong mọi quyết định và
hành động của Đảng và nhà nước. Hồ Chí Minh cho rằng, để phát triển đất
nước, chúng ta cần phải phát huy tối đa nhân tố con người. Điều này đòi hỏi
chúng ta phải tạo điều kiện để mỗi cá nhân có thể phát huy tối đa khả năng của
mình. Để làm được điều này, chúng ta cần phải đầu tư vào giáo dục và đào tạo,
tạo ra môi trường làm việc và học tập thuận lợi, đồng thời đảm bảo quyền lợi và
nhu cầu cơ bản của người lao động. Hồ Chí Minh cũng cho rằng, để phát huy tối
đa nhân tố con người, chúng ta cần phải tôn trọng và khai thác tối đa các giá trị
văn hóa, truyền thống và tài năng của dân tộc. Điều này đòi hỏi chúng ta phải
bảo vệ và phát triển các giá trị văn hóa, truyền thống và tài năng của dân tộc,
đồng thời tạo điều kiện để các cá nhân có thể phát huy tối đa khả năng của mình.
Ngoài ra, Hồ Chí Minh cũng cho rằng, để phát huy tối đa nhân tố con người,
chúng ta cần phải xây dựng một xã hội công bằng, vì chỉ khi xã hội công bằng
thì mỗi cá nhân mới có thể phát huy tối đa khả năng của mình. Điều này đòi hỏi
chúng ta phải đấu tranh để loại bỏ những bất công, bảo vệ quyền lợi của người
lao động, đồng thời tạo ra một môi trường kinh doanh và đầu tư thuận lợi để các
cá nhân có thể phát huy tối đa khả năng của mình. Tóm lại, quan điểm của Hồ
Chí Minh về con người và cách phát huy nhân tố con người trong sự nghiệp xây
dựng chủ nghĩa xã hội của Đảng ta rất quan trọng và có ảnh hưởng lớn đến sự
phát triển của đất nước. Chúng ta cần phải áp dụng những quan điểm này vào
thực tiễn để phát triển đất nước và nâng cao đời sống của người dân. NỘI DUNG
Phần I: QUAN ĐIỂM CỦA HỒ CHÍ MINH VỀ CON NGƯỜI
1.1. Khái niệm con người theo tư tưởng Hồ Chí Minh
Theo Hồ Chí Minh, con người là một chỉnh thể thống nhất giữa mặt sinh học
và mặt xã hội, con người là chủ thể của các mối quan hệ xã hội và lịch sử. Hồ
Chí Minh coi con người là chủ thể của quyền lợi và tự do cá nhân. Tin tưởng
rằng mỗi người có quyền được sống trong tự do, bình đẳng và công bằng. Quyền 3
lợi cá nhân không được xâm phạm, và mỗi người có quyền tham gia vào quyết
định của xã hội hướng tới một quốc gia nơi mỗi cá nhân không chỉ có cơ hội
phát triển kinh tế mà còn được khuyến khích để phát triển toàn diện về mặt tinh
thần, văn hóa và xã hội. Nhấn mạnh sự quan trọng của giáo dục và văn hóa
trong quá trình phát triển con người. Người coi con người không chỉ là cá nhân
mà còn là một phần quan trọng của xã hội khuyến khích tinh thần trách nhiệm
và tương tác tích cực giữa các thành viên xã hội để đảm bảo sự phát triển toàn
diện cho cả cộng đồng đặt mục tiêu cao cả là xây dựng một xã hội công bằng và
hòa bình. Coi tự do và độc lập của quốc gia là điều kiện tiên quyết để con người
có thể phát triển và đạt được hạnh phúc đặt mục tiêu cao cả là xây dựng một xã
hội công bằng và hòa bình. Ông coi tự do và độc lập của quốc gia là điều kiện
tiên quyết để con người có thể phát triển và đạt được hạnh phúc. Coi tình thần
đoàn kết và đồng lòng là yếu tố quan trọng để xây dựng một xã hội mạnh mẽ và
phát triển con người không chỉ là đối tượng của lịch sử mà còn là chủ thể chủ
động tạo ra và thay đổi lịch sử. Người khuyến khích tinh thần tự chủ và trách
nhiệm của con người trong việc xây dựng tương lai của mình và của cộng đồng.
Luôn nhấn mạnh quyền lực là của nhân dân, con người không nên bị áp đặt, mà
phải tự do, tự chủ và có quyền lực trong quá trình xây dựng xã hội đặt tôn trọng
và sự đoàn kết giữa con người lên hàng đầu khuyến khích tinh thần đồng lòng,
sự hiểu biết lẫn nhau và sự hợp tác trong cộng đồng nhằm phát triển xã hội. Giáo
dục là chìa khóa quan trọng để phát triển con người. Người đề xuất việc nâng
cao tri thức, phẩm chất đạo đức và kỹ năng làm việc cho mọi người, từ đó đảm
bảo sự phát triển toàn diện của cá nhân và xã hội. Tư tưởng về con người theo
Hồ Chí Minh hướng tới việc tạo điều kiện cho con người phát triển toàn diện
trong một xã hội công bằng và hòa bình, với sự tôn trọng đối với quyền lợi và tự
do, không chỉ là vấn đề của cá nhân mà còn là vấn đề của cộng đồng, với sự chủ
động, đoàn kết và tình yêu thương là những giá trị cốt lõi
1.2. Tư tưởng Hồ Chí Minh về giải phóng con người, coi con người vừa là mục tiêu,
vừa là động lực của cách mạng, về phát triển con người toàn diện.
1.2.1 Tư tưởng Hồ Chí Minh về giải phóng giai cấp, giải phóng dân tộc. 4
Nội dung cốt lõi của tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề dân tộc là độc lập, tự
do, là quyền thiêng liêng, bất khả xâm phạm của tất cả các dân tộc. Tư tưởng Hồ
Chí Minh về giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, giải phóng con người soi
sáng con đường cách mạng Việt Nam, dẫn dắt Ðảng và nhân dân ta giành độc
lập dân tộc, thống nhất đất nước, thực hiện thành công sự nghiệp đổi mới, dân
giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh. Không có gì quý hơn
độc lập, tự do Ra đi tìm đường cứu nước, Hồ Chí Minh mang theo hành trang
truyền thống, bản lĩnh và trí tuệ của dân tộc. Người đã đến với chủ nghĩa Mác –
Lênin, tìm hiểu thêm tư tưởng của một số nhà yêu nước lỗi lạc trên thế giới,
nâng lên tầm cao mới của thời đại, gắn quyện thành tư tưởng giải phóng dân tộc,
giải phóng giai cấp, giải phóng con người. Nội dung cốt lõi của tư tưởng Hồ Chí
Minh về vấn đề dân tộc là độc lập, tự do, là quyền thiêng liêng, bất khả xâm
phạm của tất cả các dân tộc. Thấm đượm tinh thần yêu nước truyền thống Việt
Nam, trong tư tưởng Hồ Chí Minh, cái quý nhất trên đời là độc lập của Tổ quốc,
tự do của nhân dân. Hồ Chí Minh nói: “Cái mà tôi cần nhất trên đời là: Đồng
bào tôi được tự do, Tổ quốc tôi được độc lập...”. Kháng chiến toàn quốc bùng
nổ, thể hiện quyết tâm bảo vệ độc lập và chủ quyền dân tộc, Người ra lời kêu gọi
toàn quốc kháng chiến: “... thà hy sinh tất cả, chứ nhất định không chịu mất
nước, nhất định không chịu làm nô lệ”. Khi đế quốc Mỹ điên cuồng tiến hành
chiến tranh cục bộ ở miền Nam, mở rộng chiến tranh miền Bắc, Chủ tịch Hồ Chí
Minh đã khẳng định một chân lý bất hủ, có giá trị cho mọi thời đại: “Không có
gì quý hơn độc lập, tự do”. “Không có gì quý hơn độc lập, tự do” không chỉ là tư
tưởng mà còn là lẽ sống, là học thuyết cách mạng của Hồ Chí Minh. Vì thế,
Người không chỉ được tôn vinh là “anh hùng giải phóng dân tộc” của Việt Nam
mà còn được thừa nhận là “Người khởi xướng cuộc đấu tranh giải phóng của các
dân tộc thuộc địa trong thế kỷ XX”. Giải phóng dân tộc, mang lại hạnh phúc cho
nhân dân Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, vấn đề dân tộc và giải phóng dân tộc cần
được tiến hành dưới ánh sáng của chủ nghĩa Mác – Lênin, giành độc lập dân tộc
để tiến lên xây dựng chủ nghĩa xã hội. Đây là một vấn đề lý luận quan trọng, có
ý nghĩa thực tiễn to lớn trong thời đại cách mạng vô sản của chủ nghĩa Mác –
Lênin. Theo Người, chỉ đứng trên lập trường của giai cấp vô sản và cách mạng
vô sản mới giải quyết được đúng đắn vấn đề dân tộc. Xuất phát từ chủ nghĩa yêu
nước, từ thương nước, thương nòi, Hồ Chí Minh luôn luôn gắn liền mục tiêu giải
phóng dân tộc với việc mang lại hạnh phúc cho nhân dân. Người lựa chọn con 5
đường giải phóng dân tộc trên lập trường vô sản chính vì cách mạng vô sản
không chỉ giải phóng giai cấp công nhân mà còn giải phóng mọi giai cấp và tầng
lớp khác thoát khỏi sự áp bức, bóc lột giai cấp. Người nói: Giành độc lập rồi
phải xây dựng chủ nghĩa xã hội vì chủ nghĩa xã hội “làm cho dân giàu, nước
mạnh”,... “làm cho mọi người được ăn no, mặc ấm, sung sướng, tự do”. Quan
điểm giải phóng con người của Hồ Chí Minh được nâng lên, trở thành tâm điểm
của hoạt động cách mạng của Người. Khi chưa giành được độc lập, Người thể
hiện ý chí độc lập bằng câu nói “Dù phải đốt cháy cả dãy Trường Sơn cũng
quyết giành cho được tự do, độc lập”. Nhưng sau đó Người nói: “Nếu nước độc
lập mà dân không được hưởng hạnh phúc, tự do, thì độc lập cũng chẳng có
nghĩa lý gì”. Do đó, theo tư tưởng Hồ Chí Minh, giải phóng dân tộc phải gắn
liền với giải phóng giai cấp, giải phóng con người. Hồ Chí Minh viết: “Tôi chỉ
có một sự ham muốn, ham muốn tột bậc,... đồng bào ai cũng có cơm ăn, áo mặc,
ai cũng được học hành”. Tư tưởng giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, giải
phóng con người luôn luôn gắn chặt, hòa quyện với nhau trong tư tưởng Hồ Chí
Minh. Có thể nói, mục đích cao nhất trong suốt cuộc đời hoạt động cách mạng
của Chủ tịch Hồ Chí Minh là giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, giải phóng
con người theo lập trường của chủ nghĩa Mác - Lênin, quan điểm nhân đạo cộng
sản chủ nghĩa. Trong tư tưởng giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, giải
phóng con người của Bác bao trùm lên tất cả là chủ nghĩa nhân văn cao cả, thấm
đậm tình thương yêu đồng bào, đồng chí và nhân loại bị áp bức, bóc lột. Cuộc
đời của Bác là tấm gương tiêu biểu về lòng thương yêu nhân dân, thương yêu
con người, nhất là với những người nghèo khổ, bị áp bức, bất công. Nhớ lại,
ngay sau ngày Tuyên bố độc lập, trong phiên họp đầu tiên của Chính phủ, Chủ
tịch Hồ Chí Minh nêu sáu vấn đề cấp bách mà tất cả đều vì con người, cho con
người: Ðó là cứu đói, bảo đảm quyền được ăn để sống cho dân; chống nạn mù
chữ; xây dựng Hiến pháp, thực hiện quyền tự do dân chủ; giáo dục tinh thần cần,
kiệm, liêm, chính; chống lối bóc lột vô nhân đạo, cấm hút thuốc phiện; tín
ngưỡng tự do, lương giáo đoàn kết. Tư tưởng Hồ Chí Minh nói chung và nói
riêng về giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, giải phóng con người soi sáng
con đường cách mạng Việt Nam, dẫn dắt Ðảng và nhân dân ta tiến hành tổng
khởi nghĩa Tháng Tám năm 1945, giành độc lập dân tộc; kháng chiến chống
thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược thắng lợi, thu non sông về một mối, Tổ
quốc thống nhất, cả nước quá độ đi lên xây dựng chủ nghĩa xã hội và thực hiện 6
thành công sự nghiệp đổi mới đất nước, dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh.
1.2.2 Tư tưởng Hồ Chí Minh coi con người vừa là mục tiêu, vừa là động lực của cách mạng.
Trong lý luận về xây dựng chế độ mới, Hồ Chủ tịch đã khẳng định xây
dựng chế độ dân chủ nhân dân gắn liền với việc thực hiện bước tiến lên chủ
nghĩa xã hội. Trong kháng chiến giải phóng dân tộc cần xây dựng chế độ dân
chủ nhân dân để đẩy mạnh công cuộc kháng chiến, đồng thời tạo ra những tiền
đề cho việc xây dựng chủ nghĩa xã hội; trong xây dựng chủ nghĩa xã hội cần
phải thực hiện chế độ dân chủ nhân dân, vì như Người nói: "Đây là cuộc chiến
đấu khổng lồ chống lại những cái gì đã cũ kỹ, hư hỏng, để tạo ra những cái mới
mẻ, tốt tươi". Cuộc chiến đấu ấy sẽ không đi đến thắng lợi, nếu không "dựa vào
lực lượng của toàn dân". Về chủ nghĩa xã hội, Hồ Chí Minh không bao giờ quan
niệm hình thái xã hội đó như một mô hình hoàn chỉnh, một công thức bất biến.
Bao giờ Người cũng coi trọng những điều kiện kinh tế, xã hội, chính trị, văn hóa
khách quan. Người chỉ đề ra những mục tiêu của công cuộc xây dựng chủ nghĩa
xã hội với những bước đi thiết thực và những nội dung cơ bản nhất. Hồ Chí
Minh khẳng định: “ Tôi chỉ có một sự ham muốn, ham muốn tốt bậc là làm sao
nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng
có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành”. Điều đó có nghĩa rằng theo Hồ Chí
Minh, độc lập, tự do mới chỉ là điều kiện cần, điều kiện đủ là phải xây dựng một
chế độ xã hội mới”. Theo Người: "Nói một cách tóm tắt, mộc mạc, chủ nghĩa xã
hội trước hết là làm cho nhân dân lao động thoát khỏi bần cùng, làm cho mọi
người có công ăn việc làm, được ấm no và được sống đời hạnh phúc"; "Chủ
nghĩa xã hội là nhằm nâng cao đời sống vật chất và văn hóa của nhân dân" xây
dựng chủ nghĩa xã hội tức là làm cho nhân dân ta có một đời sống thật sung
sướng, tốt đẹp. Người dạy xây dựng chủ nghĩa xã hội phải thiết thực, phù hợp
với điều kiện khách quan, phải nắm được quy luật và phải biết vận dụng quy 7
luật một cách sáng tạo trên cơ sở nắm vững tính đặc thù, tránh giáo điều, rập
khuôn máy móc. Sự sáng tạo đó gần gũi, tương đồng, nhất quán với luận điểm
của Ăngghen: "Đối với chúng ta, chủ nghĩa cộng sản không phải là trạng thái
cần phải sáng tạo ra, không phải là một lý tưởng mà hiện thực phải khuôn theo.
Chúng ta gọi chủ nghĩa cộng sản là một phong trào hiện thực, nó xóa bỏ trạng
thái hiện nay". Vì vậy, không chỉ trong lý luận về đấu tranh giành độc lập dân
tộc mà cả trong lý luận xây dựng chủ nghĩa xã hội khi định ra những mục tiêu
của chủ nghĩa xã hội, trước hết, "cần có con người xã hội chủ nghĩa", Hồ Chí
Minh đã thể hiện nhất quán quan điểm về con người: con người là mục tiêu,
đồng thời vừa là động lực của sự nghiệp giải phóng xã hội và giải phóng chính bản thân con người.
1.2.3 Tư tưởng Hồ Chí Minh về phát triển toàn diện con người
Liên quan đến tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng con người mới phát triển toàn diện
thì bao gồm hai vấn đề lớn:
1. Nội dung con người mới phát triển toàn diện
2. Phương thức xây dựng con người mới phát triển toàn diện.
1.1 Về xây dựng con người mới
-Con người mới theo tư tưởng Hồ Chí Minh là con người xã hội chủ nghĩa, con người
phát triển toàn diện để phục vụ Tổ quốc, phục vụ nhân dân.
-Con người mới xã hội chủ nghĩa không phải tự nhiên mà có, nó được gắn với sự
nghiệp cách mạng, sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, gắn với công cuộc xây
dựng xã hội chủ nghĩa trên mọi lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa, tư tưởng.
-Người đưa ra một định nghĩa về con người rất mộc mạc mà độc đáo: “ Chữ
người,nghĩa hẹp là gia đình, anh em, họ hàng, bầu bạn. Nghĩa rộng là đồng bào cả
nước.Rộng hơn nữa là cả loài người”.. Khái niệm con người đã mang trong nó bản
chất xã hội, phản ánh các quan hệ xã hội.
-Quan điểm về con người mới xã hội chủ nghĩa của Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn gắn
với quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin: vận dụng quan điểm mác xít về con người 8
để xây dựng con người mới, những con người mang thế giới quan và nhân sinh quan
của chủ nghĩa Mác – Lênin, con người thấm nhuần tư tưởng xã hội chủ nghĩa và chủ
nghĩa nhân văn Hồ Chí Minh:
+ Một mặt, là sự phấn đấu vươn lên không ngừng của mỗi người theo hướng tự giác
đấu tranh với những mặt lạc hậu, mặt xấu vốn tồn tại như mặt bản năng tự nhiên của
con người, đồng thời học tập, tu dưỡng đạo đức cách mạng được xem như tinh hoa văn hóa của nhân loại
+ Mặt khác, đó là sự tham gia tích cực của con người vào việc cải tạo xã hội theo
hướng xây dựng chủ nghĩa xã hội, đối với nước ta là thực hiện cách mạng giải phóng
dân tộc, kết hợp với cách mạng xã hội chủ nghĩa. Hai mặt gắn kết
-Chủ tịch Hồ Chí Minh không chỉ khẳng định một điều kiện có tính quyết định đối với
sự nghiệp cách mạng ở nước ta mà còn chỉ rõ vị trí, vai trò quan trọng của con người
mới xã hội chủ nghĩa trong quá trình phát triển đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa.
1.2 Về xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện
-Bối cảnh hiện nay: Đối mặt với những vấn đề lớn lao như cuộc cách mạng khoa học
và công nghệ đang phát triển; vấn đề môi trường; dân số; vấn đề dân chủ,nhân quyền,
nhân sinh, an sinh xã hội; vấn đề dân tộc, tôn giáo, khủng bố và các tệ nạn xã hội mới
phát sinh  buộc con người phải tự hoàn thiện bản thân để theo kịp xu thế mới của thời
đại. Để làm được như vậy con người phải phát triển một cách toàn diện.
-Xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện là nhằm tới mục tiêu xây dựng xã
hội mới, thực hiện công bằng xa hội, dân chủ trong quản lý đất nước, đó là bản chất
của chế độ xã hội mới mà chúng ta đang hướng tới.
a. Chiến lược con người của chủ tịch Hồ Chí Minh
-Con người mới phát triển toàn diện, theo Chủ tịch Hồ Chí Minh:
1. Là con người có lí tưởng sống cao đẹp, sống vì mọi người và có tinh thần đấu tranh
vì sự nghiệp giải phóng con người và xã hội loài người, đó là con người“hồng thắm”
2. Là con người có đạo đức trung thực, thẳng thắn, liêm khiết, khiêm tốn, dũng 9
cảm, đó là con người “có đức”. \ Theo Người, “hồng thắm” và “chuyên sâu”, “có
đức” và “có tài” phải được kết hợp chặt chẽ với nhau, quan hệ mật thiết với nhau
-Chủ tịch Hồ Chí Minh đã sớm thấy những biểu hiện của chủ nghĩa cá nhân phát sinh
từ lớp người còn trẻ, đó là nguyên nhân xuất hiện những thanh, thiếu niên hư hỏng 
Đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân
-Luôn nâng niu, trân trọng những tài năng, tạo điều kiện để phát triển, vì đây là những
hạt giống đỏ của đất nước.
b. Phương pháp xây dựng con người phát triển toàn diện
-Theo Hồ Chí Minh, trước hết muốn phát triển con người Việt Nam toàn diện phải giải
phóng họ khỏi mọi ách áp bức, bóc lột, xây dựng chủ nghĩa xã hội thông qua cách
mạng vô sản: chỉ có chủ nghĩa xã hội mới thực hiện được ước mơ lâu đời của nhân dân
lao động là vĩnh viễn thoát khỏi cảnh bị áp bức, bóc lột, nghèo nàn, lạc hậu, để sống
một cuộc đời ấm no, tự do, hạnh phúc  Chỉ có chủ nghĩa xã hội mới tạo ra mọi điều
kiện để con người được phát triển toàn diện năng lực của mình
-Theo Hồ Chí Minh, phát triển con người toàn diện, họ phải tham gia vào hoạt động
đấu tranh cách mạng, phải được tôi luyện và trưởng thành từ phong trào cách mạng:
Khi họ tham gia vào sự nghiệp đấu tranh cách mạng xây dựng chủ nghĩa xã hội sẽ là
môi trường quan trọng để thử thách, rèn luyện con người Việt Nam, thông qua đó họ
được phát triển về mọi mặt
+ Việc hình thành những năng lực bản chất người bao giờ cũng phải thông qua các
quá trình xã hội hóa, tiếp thu kinh nghiệm, văn hóa vật chất và tinh thần của loài
người, thông qua việc tham gia vào các quan hệ xã hội
-Xây dựng và phát triển một nền giáo dục mới là con đường cơ bản để phát triển con
người toàn diện. Giáo dục, đào tạo có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc hình thành
và phát triển nhân cách con người nói chung và toàn diện của con người nói riêng
+ Một trong những phương thức cơ bản nhất mà loài người đã sử dụng trong suốt mấy
nghìn năm qua để đào tạo, phát triển nhiều thế hệ người, đáp ứng những yêu cầu đặt ra
trong tiến trình phát triển của nhân loại
+ Nội dung giáo dục toàn diện cả về chính trị, quân sự, văn hóa, đạo đức, khoa học, kĩ
thuật,... của nền giáo dục mới sẽ cung cấp cho con người tri thức toàn diện, rèn luyện
cho con người năng lực toàn diện để tự tin bước vào xã hội mới. 10
+ Sự phát triển về tri thức và năng lực là thước đo đánh giá sự phát triển của con
người, theo Người, thông qua lao động sản xuất, sức khỏe, lí tưởng cách mạng, ý chí,
nghị lực, lòng nhiệt tình, cũng như tài năng của con người ngày càng trưởng thành về mọi mặt.
-Theo Hồ Chí Minh, phát triển con người toàn diện khi có sự chủ động, tích cực, tự
giác rèn luyện, vươn lên của cá nhân. Khi bàn về mối quan hệ giữa điều kiện,hoàn
cảnh với con người, C.Mác và Ph.Ăngghen đã chỉ ra: “Con người tạo ra hoàn cảnh đến
mức nào thì hoàn cảnh cũng tạo ra con người đến mức ấy”
+ Giữa sự biến đổi của hoàn cảnh và con người có quan hệ biện chứng lẫn nhau. Điều
kiện, hoàn cảnh càng thuận lợi bao nhiêu thì con người càng phát triển bấy nhiêu, con
người muốn phát triển toàn diện bao nhiêu, thì phải tạo ra hoàn cảnh,điều kiện thuận
lợi bấy nhiêu.  trong điều kiện, hoàn cảnh dù có thuận lợi đến mấy nhưng không có
sự nỗ lực, cố gắng của chủ thể thì hiệu suất của quá trình tiếp nhận và chuyển hóa hệ
thống các giá trị xã hội thông qua quá trình xã hội hóa các quan hệ xã hội thành những
năng lực của chủ thể sẽ không cao.
+ Hồ Chí Minh hết sức đề cao yếu tố tự giác rèn luyện, vươn lên của các cá nhân trong
sự phát triển toàn diện của mỗi con người. Đây là vấn đề có ý nghĩa quyết định đối với
sự phát triển toàn diện con người  Trong sự phát triển các phẩm chất, năng lực mọi
mặt của con người, các nhân tố khách quan dù quan trọng đến đâu cũng không thể thay
thế được nhân tố chủ quan, không thể thay thế được sự tự giác vươn lên về mọi mặt của các cá nhân
Theo Hồ Chí Minh, trong việc phát triển toàn diện các phẩm chất, năng lực của
con người Việt Nam, cần phải đặc biệt chú ý đến phát triển ý thức tự giác, tinh
thần tự lập, tự cường, năng lực tự vươn lên không biết mệt mỏi của con người
Phần II: PHÁT HUY NHÂN TỐ CON NGƯỜI TRONG SỰ NGHIỆP
XÂY DỰNG CHỦ NGHĨA XÃ HỘI THEO TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH CỦA ĐẢNG TA
2.1. Đấu tranh chống lại sự thoái hoá biến chất, suy thoái về chính trị, tư tưởng, đạo đức
a. Nhân tố con người là gì ? 11
- Khái niệm về nhân tố con người đã được nhiều nhà nghiên cứu đề cập
qua những cách tiếp cận khác nhau. Trong tài liệu triết học – xã hội về nhân tố
con người có nhiều cách tiếp cận khác nhau, trong đó có hai cách tiếp cận
chính: Thứ nhất, coi nhân tố con người như là hoạt động của con người riêng
biệt, những năng lực và khả năng của họ do các nhu cầu và lợi ích cũng như
tiềm năng trí lực và thể lực của mỗi người quyết định. Thứ hai, coi nhân tố con
người là tổng thể những phẩm chất, thuộc tính, đặc trưng, năng lượng đa dạng
của con người, biểu hiện trong các dạng thức hoạt động khác nhau

- Nhân tố con người là hệ thống các yếu tố, các đặc trưng quy định vai
trò chủ thể tích cực, sáng tạo của con người, bao gồm một chinh thể thống nhất
giữa mặt hoạt động với tổng hoà các đặc trưng về phẩm chất, năng lực của con
người trong một quá trình biến đổi và phát triển xã hội nhất định.

b. Vận dụng quan điểm của Hồ Chí Minh để phát triển kinh tế - xã hội của
quốc gia trong thời điểm hiện tại bằng cách tận dụng nhân tố con người:

- Trên cơ sở đánh giá thực tiễn và tổng kết lý luận, Đảng Cộng sản Việt
Nam đã tuyên bố trong hơn 30 năm đổi mới rằng sự phát triển của đất nước phụ
thuộc vào con người và các nguồn lực của con người. Cốt lõi của sự phát triển
là nhân tố con người; con người là mục tiêu và động lực của sự phát triển. Mặc
dù cơ sở vật chất và kỹ thuật là cần thiết, nhưng nhân tố con người là quan trọng nhất.

- Trong giai đoạn hiện nay, phát huy nhân tố con người luôn gắn liền với
xây dựng con người về đạo đức, nhân cách, lối sống, trí tuệ và năng lực làm
việc. Trong điều kiện khoa học và công nghệ hiện đại, kinh tế tri thức phát triển,
hội nhập gia tăng thì mối quan hệ biện chứng này càng trở nên quan trọng. Đối
với nước ta, để phát huy nguồn lực con người một cách hợp lý, hiệu quả cần
phải có một hệ thống các biện pháp đồng bộ, trong đó, cần tập trung vào một số
biện pháp chủ yếu sau:

+) Thứ nhất, phát triển mạnh mẽ giáo dục - đào tạo và khoa học - công nghệ:
Phát triển mạnh mẽ giáo dục - đào tạo và khoa học - công nghệ, một
mặt, phục vụ trực tiếp sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước; mặt
khác, xây dựng tiềm lực trí tuệ - cốt lõi của nguồn nhân lực chất lượng cao. Chủ
12
tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: một dân tộc dốt là một dân tộc yếu. Trí tuệ là
một trong những chỉ số quan trọng nhất của chất lượng nhân tố con người, nhất
là trong thời đại cách mạng khoa học và công nghệ có những bước phát triển
nhảy vọt, khoa học đang trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp và sự xuất hiện
của kinh tế tri thức hiện nay. Bên cạnh đó, cần phải chú trọng công tác giáo dục
đạo đức, lối sống cho con người, trước hết là với các thế hệ trẻ - những chủ
nhân tương lai của đất nước. Xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện
phải có sức khoẻ, năng lực, trình độ, có ý thức, trách nhiệm cao đối với bản
thân, gia đình, xã hội và Tổ quốc. Đẩy mạnh phát triển nguồn nhân lực, nhất là
nhân lực chất lượng cao. Chú trọng phát triển đội ngũ chuyên gia, nhà khoa
học đầu ngành; đội ngũ nhân lực kỹ thuật, nhân lực số, nhân lực quản trị công
nghệ, nhân lực quản lý, quản trị doanh nghiệp; nhân lực quản lý xã hội và tổ
chức cuộc sống, chăm sóc con người. Đào tạo con người theo hướng có đạo
đức, kỷ luật, kỷ cương, ý thức trách nhiệm công dân, xã hội; có kỹ năng sống, kỹ
năng làm việc, ngoại ngữ, công nghệ thông tin, công nghệ số, tư duy sáng tạo
và hội nhập quốc tế

+) Thứ hai, quan tâm giải quyết hài hoà các quan hệ lợi ích theo phương châm
bảo đảm công bằng xã hội trong từng chính sách, từng bước phát triển:

Lợi ích chính là điểm mấu chốt, là một trong những động lực hàng đầu nhằm
phát huy nhân tố con người. Theo đó, để phát huy vai trò của nhân tố con người
trong sự nghiệp đổi mới đất nước, không thể không đặt ra vấn đề giải quyết hài
hoà giữa lợi ích cá nhân với lợi ích cộng đồng và lợi ích toàn xã hội, giữa lợi
ích trực tiếp trước mắt với lợi ích lâu dài, giữa lợi ích vật chất với lợi ích tinh
thần... Bên cạnh đó, cần coi trọng và thực hiện tốt hệ thống chính sách xã hội
theo hướng lấy con người là trung tâm. Đặc biệt, Đảng và Nhà nước cần có
chính sách bảo đảm công bằng xã hội, tạo điều kiện cho tất cả mọi người đều
được hưởng lợi từ sự tăng trưởng của nền kinh tế, có cơ hội bình đẳng trong
việc tiếp cận các dịch vụ liên quan đến phát triển con người. Phấn đấu sớm
hoàn thành các mục tiêu theo Chương trình nghị sự 2030 vì phát triển bền vững.
Phát triển vì con người, tạo điều kiện cho mọi người, nhất là trẻ em, nhóm yếu
thế, đồng bào dân tộc thiểu số, người di cư hoà nhập, tiếp cận bình đẳng nguồn
lực, cơ hội phát triển và hưởng thụ công bằng các dịch vụ xã hội cơ bản.
13
+) Thứ ba, xây dựng và thực hiện một cơ chế dân chủ trong mọi mặt của đời
sống xã hội nhằm tạo môi trường, điều kiện thiết yếu để phát huy vai trò của
nguồn lực con người trong các lĩnh vực:

Nhân tố con người chỉ thực sự được khai thác và phát huy tối đa khi
họ làm chủ tự nhiên, xã hội và bản thân mình. Để thúc đẩy tính tích
cực, tự giác và sáng tạo của con người trong mọi lĩnh vực, cần thiết
phải xây dựng và thực hiện một cơ chế dân chủ, tập trung vào việc
thúc đẩy dân chủ trực tiếp và hiện thực hóa các giá trị dân chủ xã
hội trong cuộc sống. Việc này không chỉ tạo điều kiện thuận lợi cho
mọi người có thể đóng góp năng lực của mình cho xã hội mà còn
giúp tạo ra một môi trường văn hóa lành mạnh và khuyến khích
trách nhiệm công dân. Hơn nữa, phải đi đôi với việc tăng cường kỷ
cương pháp luật và khắc phục mọi biểu hiện dân chủ cực đoan hoặc
lợi dụng "dân chủ" để gây chia rẽ trong xã hội. Đảng và Nhà nước
cần phải lấy dân chủ làm nòng cốt để thực hiện quy chế dân chủ ở
cơ sở, nhằm tăng cường sự tham gia và đóng góp của quần chúng,
góp phần ổn định chính trị và xã hội, tạo điều kiện cho sự đổi mới thành công.

Trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế, việc nhận thức
sâu sắc vai trò to lớn của nhân tố con người và tập trung vào phát
triển con người là điều kiện cần thiết để thành công trong sự nghiệp
đổi mới của đất nước dưới sự lãnh đạo của Đảng. Phát huy nhân tố
con người là một điều có tính quy luật, và trong giai đoạn hiện nay,
việc này đặc biệt quan trọng để đảm bảo sự phát triển bền vững của
kinh tế - xã hội. Điều này yêu cầu sự chú trọng vào việc nâng cao
đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân thông qua mọi chính
sách và hành động của Đảng và Nhà nước.

c. Đấu tranh chống lại sự thoái hoá biến chất, suy thoái về chính trị, tư
tưởng, đạo đức : 14
-Các biểu hiện suy thoái về tư tưởng, chính trị, đạo đức, lối sống, biểu
hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” của cán bộ, đảng viên trong lĩnh
vực dân chủ, nhân quyền thường xuất hiện ở một số cán bộ, đảng viên
trước kia hoạt động cách mạng hoặc trước đây hay đang công tác
trong cơ quan Đảng, Nhà nước, nhưng vì lý do nào đó (tham nhũng,
tiêu cực, sa đọa về đạo đức, lối sống, bất mãn, ảo tưởng bản thân, bị
các thế lực chống đối mua chuộc, lung lạc,...) đã quay lại nói xấu
Đảng, Nhà nước và xuyên tạc, bóp méo sự thật lịch sử của Đảng, của
đất nước, của sự nghiệp đổi mới theo định hướng xã hội chủ nghĩa
(XHCN) hoặc phụ họa cùng với các thế lực phản động, thù địch; và ở
mức độ khác nhau trực tiếp xuyên tạc, công kích, chống đối công tác
tư tưởng chính trị của Đảng trong lĩnh vực dân chủ, nhân quyền.

- Các biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” của cán bộ, đảng viên trong
lĩnh vực dân chủ, nhân quyền có những đặc điểm sau:

+) Thứ nhất, về tư tưởng, chính trị:
Mặc dù nhiều khi mang danh mơ hồ, lưng chừng, “phái giữa”
tư tưởng tư sản và tư tưởng XHCN, song các biểu hiện này thực
chất là hệ tư tưởng tư sản.Nội dung có tính bản chất của loại
biểu hiện này là:Quan niệm một cách phiến diện, thậm chí tuyệt
đối hóa quyền cá nhân; coi nhẹ quyền của tập thể, của dân tộc
và chủ quyền quốc gia; coi nhẹ tính bình đẳng của các chủ thể
quyền và các nội dung quyền, nhất là các quyền kinh tế, xã hội,
văn hóa, vốn chiếm vị trí cơ bản và là yêu cầu có tính bức thiết
đối với các nước đang phát triển như Việt Nam. Về mặt chính
trị, đây là biểu hiện của chủ nghĩa đế quốc về văn hóa, coi tư
tưởng nhân quyền phương Tây mang tính phổ quát toàn nhân
loại, thậm chí cao hơn chủ quyền quốc gia.

Các biểu hiện này dao động hoặc mơ hồ, lưng chừng nằm giữa
hai loại hình giá trị tư tưởng XHCN và tư sản về dân chủ và
nhân quyền. Nó cho thấy, loại biểu hiện này không có giới tuyến
địch - ta rõ ràng, mà nằm ngay trong nhận thức của mỗi cán bộ,
15
đảng viên, trong mỗi tổ chức đảng và chính trị - xã hội. Vì thế
nhân dân, trước tiên là mỗi cán bộ, đảng viên, đều là chủ thể
đấu tranh với các biểu hiện này. Trong phương thức đấu tranh
với các biểu hiện này cần coi trọng cách thức, phương pháp,
biện pháp tư tưởng chính trị, như truyền thông, vận động nhằm
nâng cao nhận thức, tích cực phòng, chống “tự diễn biến”, “tự
chuyển hóa” và coi trọng cách thức kết hợp đấu tranh với đối
thoại hay ngược lại.

+) Thứ hai, về mục đích hoạt động: Các cán bộ, đảng viên có biểu
hiện suy thoái về tư tưởng, chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự
chuyển hóa” thường hùa theo các thế lực phản động, thù địch trong việc: Tuyên
truyền xuyên tạc, kích động, phủ nhận các giá trị lý luận, thực tiễn về quyền con
người để chống phá nền tảng tư tưởng của Đảng; tiến hành các hoạt động
chống phá thực tiễn bảo đảm QCN trên tất cả lĩnh vực: kinh tế, tôn giáo, dân
tộc, thông tin, truyền thông, giáo dục, đào tạo, văn hóa - nghệ thuật, tư pháp,...
kể cả hợp tác quốc tế, nhằm thúc đẩy sự chệch hướng XHCN của sự nghiệp đổi
mới ở nước ta. Tuyên truyền, ca ngợi các giá trị của nhân quyền tư sản nhằm
kích động, cổ vũ việc phân hóa, chuyển hóa tư tưởng chính trị XHCN, đồng thời
thúc đẩy “tự diễn biến, “tự chuyển hóa” sang tư tưởng nhân quyền tư sản,
trước tiên trong nội bộ Đảng, Nhà nước. Tạo dựng “ngọn cờ” về nhân quyền
thông qua việc tuyên truyền, ca ngợi nhiều nhân vật chống đối nhằm kích động
hình thành các tổ chức chính trị đối lập trong và ngoài nước và tìm cách xác
lập cơ chế “đa nguyên, đa đảng” trong thực tế ở nước ta.

+) Thứ ba, về chủ trương chống phá: Các cán bộ, đảng viên có biểu
hiện suy thoái về tư tưởng, chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự
chuyển hóa” thường phụ họa với âm mưu, thủ đoạn của các thế lực phản động,
thù địch về lấy chống phá chính trị, tư tưởng làm khâu đột phá; dùng sự suy
thoái về đạo đức, lối sống để hỗ trợ, hậu thuẫn; lấy mua chuộc kinh tế làm mũi
nhọn; lợi dụng vấn đề dân chủ, nhân quyền, dân tộc, tôn giáo làm ngòi nổ. Họ
cũng thường phụ họa, xuyên tạc, thậm chí lu loa kích động rằng: Đảng không
thể chống tham nhũng thành công, vì chế độ độc đảng sẽ thủ tiêu đấu tranh;
16
muốn chống tham nhũng thành công thì phải mở rộng dân chủ, thực hiện chế độ
đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập; chia sẻ trên các phương tiện truyền thông
xã hội những bài viết có nội dung xuyên tạc, phỉ báng Đảng, Nhà nước, chế độ
XHCN ở nước ta; nói xấu, xúc phạm lãnh tụ, lãnh đạo Đảng, Nhà nước; xuyên
tạc, bôi nhọ chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà
nước; chê bai quản lý yếu kém, tham nhũng; bịa đặt, suy diễn thiếu căn cứ gây
hiểu lầm, hoang mang trên cộng đồng mạng và trong nhân dân hòng làm giảm
lòng tin của nhân dân đối với Đảng, với chế độ,... Trên thực tế ở nơi này, nơi
khác, có một số đảng viên vẫn còn sinh hoạt đảng, lại đi phê phán đường lối,
chủ trương của Đảng là thiếu căn cứ. Cá biệt, còn có người nói rằng, còn ở
trong Đảng là vì quyền lợi chính trị của gia đình mình, chứ thật tình không thiết
tha với lý tưởng của Đảng.

+)Thứ tư, về phương thức chống phá: Các thế lực phản động, thù
địch với sự phụ họa của các cán bộ, đảng viên có biểu hiện suy thoái về tư
tưởng, chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” thường sử
dụng truyền thông đại chúng, đặc biệt là internet, xuất bản báo chí ở nước
ngoài, sản xuất băng, đĩa hình chuyển về trong nước; tài trợ cho một số cơ quan
báo chí nước ngoài chuyên chống phá Việt Nam, xuyên tạc, kích động về tư
tưởng, chính trị, đạo đức, lối sống nhằm thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển
hóa” trong cán bộ, đảng viên. Chúng lợi dụng các sai sót trong quản lý để
xuyên tạc, kích động biểu tình trái phép; tổ chức các hội thảo để xem xét lại các
vấn đề liên quan đến lịch sử, tuy âm thầm, nhưng thâm độc và tác hại lâu dài.
Các thế lực phản động, thù địch dùng chiêu bài “mớm lời”, “rắc thính”, kích
động để gây tâm lý hoang mang, hoài nghi, làm suy thoái về tư tưởng, chính trị
trong một bộ phận cán bộ, đảng viên; chúng tập trung xuyên tạc cái gọi là:
nhân quyền gắn với xã hội tư sản, còn quyền con người là quyền tập thể gắn với
chủ nghĩa xã hội, Hồ Chí Minh chỉ tiếp thu chủ nghĩa Mác - Lê-nin chứ không
có tư tưởng “cao siêu”, thậm chí còn không đề cập đến tư tưởng về nhân quyền,
xã hội công dân trong tư tưởng thời trẻ của C. Mác, Ph. Ăngghen...

- Trong bối cảnh hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng và công nghệ thông tin,
mạng xã hội phát triển mạnh mẽ, các thế lực phản động, thù địch tăng cường
móc nối, cấu kết với những cán bộ, đảng viên có biểu hiện “tự diễn biến”, “tự
17
chuyển hóa” ra sức xuyên tạc, phủ nhận nền tảng tư tưởng, với ý đồ làm lung
lay nhận thức, niềm tin của nhân dân vào chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ
Chí Minh và sự lãnh đạo của Đảng; lợi dụng các vấn đề “dân chủ”, “nhân
quyền”, khoét sâu những yếu kém, sơ hở, mất cảnh giác của ta để bóp méo,
xuyên tạc sự thật đổi mới theo định hướng XHCN,....

- Để đấu tranh với các biểu hiện suy thoái về tư tưởng, chính trị, đạo đức, lối
sống, biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá” của cán bộ, đảng viên trong
lĩnh vực dân chủ, nhân quyền, chúng ta cần có những giải pháp tổng thể, đồng bộ sau:

+) Thứ nhất, phân loại các đối tượng là chỗ dựa của các cán bộ, đảng viên
có biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”:

Các lực lượng phản động, thù địch: gồm lực lượng cực hữu ở một số
nước phương Tây, lực lượng cực hữu người Việt Nam ở ngoài nước và
những cá nhân người Việt Nam ở trong nước bị các thế lực cực hữu
nước ngoài mua chuộc, lợi dụng để chống phá nền tảng tư tưởng của
Đảng và chế độ chính trị - xã hội tại Việt Nam.

Các lực lượng khác bao gồm những người nghiên cứu lý luận, hoạt
động chính trị đảng phái tại một số nước phương Tây và cả những
người cơ hội chủ nghĩa, suy thoái về tư tưởng, chính trị tại Việt Nam.
Cuộc đối thoại, đấu tranh ý thức hệ giữa chủ nghĩa xã hội và chủ
nghĩa tư bản không chỉ diễn ra trên phạm vi thế giới, mà ngay tại Việt
Nam hiện nay. Trong đó phải coi trọng đấu tranh với những người cơ
hội chủ nghĩa, suy thoái về tư tưởng chính trị, trong đó gồm cả cán bộ,
đảng viên có biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”. Đây thực
chất là những đối tượng thù địch “giấu mặt” đóng vai “phái giữa”
nên có sức nguy hại rất lớn, vì họ “đánh từ trong đánh ra” theo kiểu
“người của ta”, gián tiếp thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”,
“chệch hướng” nền tảng tư tưởng của Đảng ngay từ nội bộ.
18