Đang tải lên

Vui lòng đợi trong giây lát...

Preview text:

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI - - - - - - BÀI THẢO LUẬN
HỌC PHẦN: TRIẾT HỌC MÁC – LÊNIN Đề
tài: Quan điểm của triết học Mác – Lênin về con người.
Vận dụng vào việc xây dựng con người Việt
Nam nhằm đáp ứng cho công cuộc đổi mới.
Giảng viên hướng dẫn: Nguyễn Quỳnh Hương Lớp HP: 2232MLNP0221 Nhóm: 7
Hà Nội, ngày 5 tháng 4 năm 2022 CÁC THÀNH VIÊN TRONG NHÓM
Nhóm trưởng: Lê Phương Thảo
Thư kí: Trần Phương Thảo Các thành viên: Thái Bá Quyền Nguyễn Thu Quỳnh Phạm Như Quỳnh Lê Nam Sơn Nghiêm Trung Sơn Phạm Hồng Sơn Khuất Hữu Thắng Phạm Thị Hương Thảo Hồ Diên Thông Lê Minh Thư Phạm Thị Út Thương Trần Thị Thúy Võ Phương Thùy MỤC LỤC
A. LỜI MỞ ĐẦU.................................................................................................4
B. PHẦN NỘI DUNG.........................................................................................5
CHƯƠNG I: QUAN ĐIỂM CỦA TRIẾT HỌC MÁC – LÊNIN VỀ CON
NGƯỜI.............................................................................................................6
1.1 Khái niệm con người..............................................................................6
1.2 Quan điểm triết học Mác – Lênin về nguồn gốc, bản chất con người
........................................................................................................................6
1.2.1 Con người là chủ thể và là sản phẩm của lịch sử.........................6
1.2.2 Con ngưởi là một chỉnh thể thống nhất giữa mặt sinh học và mặt
xã hội...........................................................................................................8
1.2.3. Bản chất con người là tổng hòa của những mối quan hệ xã hội.
...................................................................................................................10
1.2.4 Con người tồn tại, phát triển trong môi trường cư trú và mang
thuộc tính xã hội – hành tinh – vũ trụ...................................................11
1.2.5 Con người là một thực thể cá nhân – xã hội................................11
1.2.6 Sự thống nhất biện chứng giữa con người giai cấp và con người
nhân loại...................................................................................................12
1.2.7 Con người thống nhất biện chứng giữa tất yếu và tự do............14
1.2.8 Hiện tượng tha hóa con người.......................................................14
CHƯƠNG II: VẬN DỤNG QUAN ĐIỂM CỦA TRIẾT HỌC MÁC –
LÊNIN VÀO VIỆC XÂY DỰNG CON NGƯỜI VIỆT NAM NHẰM ĐÁP
ỨNG CHO CÔNG CUỘC ĐỔI MỚI..........................................................17
2.1 Quan niê ym triết học Mac Lenin về nhân tố con người.....................17
2.2. Phát huy nhân tố con người trong sự nghiệp đổi mới ở Việt Nam
hiện nay.......................................................................................................20
2.2.1 Trong sự nghiệp đổi mới phải đặt con người vào vị trí trung tâm
...................................................................................................................20
2.2.2 Vấn đề chiến lược con người ở Việt Nam hiện nay.....................22
2.2.3 Những động lực cơ bản phát huy nhân tố con người trong sự
nghiệp đổi mới Đất nước ngày nay........................................................25
2.2.4 Chiến lược của Đảng trong phát huy nhân tố con người............26
C. KẾT LUẬN...................................................................................................31
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO:.......................................................31 A. LỜI MỞ ĐẦU
Phát triển con người là mục tiêu cao cả nhất của toàn nhân loại. Làn sóng
văn minh thứ ba đang được loài người tới một kỉ nguyên mới, mở ra bao khả
năng để họ tìm ra những con đường tối ưu đi tới tương lai. Trong bối cảnh đó
sựtan rã của hệ thống xã hội chủ nghĩa càng làm cho các tư tưởng tự do tìm
kiếm con đường khả quan nhất cho sự nghiệp phát triển con người Việt Nam
càng dễđi đến phủ nhận vai trò và khả năng của chủ nghĩa Mác - Lênin.Trong
thực tế, không ít người rẽ ngang đi tìm khả năng phát triển đó trong chủ nghĩa
tư bản. Nhiều người trở về phục sinh và tìm sự hoàn thiện con người trong các
tôn giáo và hệ tư tưởng truyền thống, con người lại “sáng tạo” ra những tư
tưởng, tôn giáo mới cho “phù hợp” hơn với con người Việt Nam hiện nay. Song
nhìn nhận lại một cách thật sự khách quan và khoa học sự tồn tại của chủ nghĩa
Mác - Lênin trong xã hội ta, có lẽ không ai phủ nhận được vai trò ưu trội và
triển vọng của nó trong sự phát triển con người. Do nhận thức được tầm quan
trọng của vấn đề con người, đặc biệt là vấn đề con người trong sự nghiệp công
nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước ta hiện nay, nhóm 7 chúng tôi đã lựa chọn đề
tài: “Quan điểm của triết học Mác – Lênin về con người. Vận dụng vào việc xây
dựng con người Việt Nam nhằm đáp ứng cho công cuộc đổi mới.” 1. Phạm vi nghiên cứu:
Đề tài về quan điểm của triết học Mác – Lênin về con người và vận dụng vào
việc xây dựng con người Việt Nam nhằm đáp ứng cho công cuộc đổi mới. 2. Mục tiêu nghiên cứu:
- Hiểu được định nghĩa, nguồn gốc và bản chất của con người
- Giới thiệu các kiến thức cơ bản về quan điểm của triết học Mác – Lênin về con người
- Giới thiệu các kiến thức nâng cao bằng việc vận dụng quan điểm đó vào đời sống xã hội.
3. Phương pháp nghiên cứu :
Vận dụng các lí thuyết đã được học và tham khảo, đồng thời phân tích, thu
nhập chọn lọc các nguồn dữ liệu thông tin đáng tin cậy từ mạng internet, các bài
báo từ đó đánh giá được vấn đề cần nghiên cứu. B. PHẦN NỘI DUNG
CHƯƠNG I: QUAN ĐIỂM CỦA TRIẾT HỌC MÁC – LÊNIN VỀ CON NGƯỜI 1.1 Khái niệm con người
Trên cơ sở quan điểm duy vật biện chứng về lịch sử xã hội và về con
người, triết học Mác – Lênin đã đem lại một quan niệm hoàn chỉnh về con
người. Theo quan điểm chung nhất, con người là thực thể sinh học xã hội.
Con người là một sinh vật có tính xã hội, vừa là sản phẩm cao nhất trong
quá trình tiến hóa của tự nhiên và của lịch sử xã hội, vừa là chủ thể sáng tạo
mọi thành tựu văn hóa trên Trái đất. Triết học Mác chỉ rõ hai mặt, hai yếu tố cơ
bản cấu thành con người là mặt sinh học và mặt xã hội. Con người có mặt tự
nhiên, vật chất, nhục thể, sinh vật, tộc loại… Đồng thời, con người có mặt xã
hội, tinh thần, ngôn ngữ, ý thức, tư duy, lao động, giao tiếp, đạo đức… Hai mặt
đó hợp thành một hệ thống năng động, phức tạp, luôn luôn biến đổi, phát triển.
Về vai trò của con người, triết học Mác – Lênin khẳng định con người là chủ
thể hoạt động thực tiễn. Bằng hoạt động thực tiễn, con người sáng tạo ra mọi
của cải vật chất, tinh thần, đồng thời sáng tạo ra cả bộ óc và tư duy của mình.
1.2 Quan điểm triết học Mác – Lênin về nguồn gốc, bản chất con người
1.2.1 Con người là chủ thể và là sản phẩm của lịch sử
Triết học Mác – Lênin xuất phát từ quan điểm duy vật biện chứng về lịch
sử đã tiếp cận sự hình thành, phát triển con người trong lịch sử sản xuất vật
chất, từ đó khẳng định lao động là điều kiện chủ yếu quyết định sự hình thành,
phát triển của con người. Chính trong lao động, thông qua lao động mà con
người biến đổi điều kiện tự nhiên bên ngoài; làm biến đổi bản chất tự nhiên, cải
tạo bản năng sinh học của con người; đồng thời, hình thành và phát triển những
phẩm chất xã hội của mình.
Không có thế giới tự nhiên, không có lịch sử xã hội thì không tồn tại con
người. Bởi vậy, con người là sản phẩm của lịch sử, của sự tiến hóa lâu dài của
giới hữu sinh. Song, điều quan trọng hơn cả là, con người luôn luôn là chủ thể
của lịch sử - xã hội. C.Mác đã khẳng định: "Cái học thuyết duy vật chủ nghĩa
cho rằng con người là sản phẩm của những hoàn cảnh và của giáo dục... cái học
thuyết ấy quên rằng chính những con người làm thay đổi hoàn cảnh và bản thân
nhà giáo dục cũng cần phải được giáo dục". Ăng ghen cũng khẳng định trong
tác phẩm Biện chứng của tự nhiên : “thú vật cũng có một lịch sử phát triển dần
dần của chúng cho tới trạng thái hiện nay của chúng. Nhưng lịch sử ấy không
phải do chúng làm ra và trong chừng mực mà chúng tham dự vào việc làm ra
lịch sử ấy thì điều đó diễn ra mà chúng không hề biết và không phải do ý muốn
của chúng. Ngược lại con người càng cách xa con vật, hiểu theo nghĩa hẹp của
từ này bao nhiêu thì con người tự mình làm ra lịch sử của mình một cách có ý
thức bấy nhiêu”. Như vậy, với tư cách là thực thể xã hội, con người hoạt động
thực tiễn, tác động vào tự nhiên, cải biến giới tự nhiên, đồng thời thúc đẩy sự
vận động và phát triển của lịch sử xã hội. Thế giới loài vật dựa vào những điều
kiện sẵn có của tự nhiên. Con người thì trái lại, thông qua hoạt động thực tiễn
của mình để làm phong phú thêm thế giới tự nhiên, cải tạo lại tự nhiên theo mục đích của mình.
Triết học Mác – Lênin khẳng định thông qua lịch sử sản xuất vật chất, nhờ
lao động mà một loài sinh vật mới ra đời, đó là Homo sapiens – con người có lí
tính, mang tính chất xã hội. Lao động đã cải tạo bản năng sinh học của con
người, bắt bản năng phục tùng lý trí, phát triển bản năng con người thành một
trạng thái mới về chất. Lao động là điều kiện chủ yếu quyết định sự hình thành
phát triển phẩm chất xã hội của con người. Ăng ghen khẳng định: Trên ý nghĩa
cao cả nhất thì lao động sáng tạo ra chính bản thân con người
Trong quá trình cải biến tự nhiên, con người cũng làm ra lịch sử của mình.
Con người là sản phẩm của lịch sử, đồng thời là chủ thể sáng tạo ra lịch sử của
chính bản thân con người. Hoạt động lao động sản xuất vừa là điều kiện cho sự
tồn tại của con người, vừa là phương thức để làm biến đổi đời sống và bộ mặt
xã hội. Trên cơ sở nắm bắt quy luật của lịch sử xã hội, con người thông qua hoạt
động vật chất và tinh thần, thúc đẩy xã hội phát triển từ thấp đến cao, phù hợp
với mục tiêu và nhu cầu do con người đặt ra. Không có hoạt động của con người
thì cũng không tồn tại quy luật xã hội, và do đó, không có sự tồn tại của toàn bộ
lịch sử xã hội loài người.
Không có con người trừu tượng, chỉ có con người cụ thể trong mỗi giai
đoạn phát triển nhất định của xã hội. Do vậy, bản chất con người, trong mối
quan hệ với điều kiện lịch sử xã hội luôn luôn vận động biến đổi, cũng phải thay
đổi cho phù hợp. Bản chất con người không phải là một hệ thống đóng kín, mà
là hệ thống mở, tương ứng với điều kiện tồn tại của con người. Mặc dù là "tổng
hoà các quan hệ xã hội", con người có vai trò tích cực trong tiến trình lịch sử
với tư cách là chủ thể sáng tạo. Thông qua đó, bản chất con người cũng vận
động biến đổi cho phù hợp. Có thể nói rằng, mỗi sự vận động và tiến lên của
lịch sử sẽ quy định tương ứng (mặc dù không trùng khớp) với sự vận động và
biến đổi của bản chất con người.
1.2.2 Con ngưởi là một chỉnh thể thống nhất giữa mặt sinh học và mặt xã hội
Kế thừa các quan điểm tiến bộ trong lịch sử triết học, dựa trên những
thành tựu của khoa học tự nhiên, trực tiếp là thuyết tiến hóa và thuyết tế bào,
triết học Mác khẳng định con người vừa là sản phẩm phát triển lâu dài của giới
tự nhiên, vừa là sản phẩm hoạt động của chính bản thân con người. Con người
là một chỉnh thể tồn tại và phát triển trong sự thống nhất giữa mặt sinh học và mặt xã hội.
Trước hết, con người là sản phẩm của lịch sử tự nhiên. Đó là quá trình tạo
thành phương diện sinh học và khả năng thoả mãn những nhu cầu sinh học như:
ăn, mặc, ở; hoạt động và nhu cầu tái sản sinh con người. Như vậy, con người
trước hết là một tồn tại sinh vật, con người tự nhiên là con người mang tất cả
bản tính sinh học, tính loài. Yếu tố sinh học trong con người, trước hết là tổ
chức cơ thể và mối quan hệ của nó với tự nhiên, là những thuộc tính, những đặc
điểm sinh học, quá trình tâm sinh lý, các giai đoạn phát triển khác nhau thể hiện
bản chất sinh học của cá nhân con người.
Tuy nhiên, mặt tự nhiên không phải là yếu tố duy nhất quy định bản chất
con người. Đặc trưng quy định sự khác biệt giữa con người và thế giới loài vật
là mặt xã hội, là quá trình lao động của con người.
Thứ hai, con người còn là sản phẩm của lịch sử xã hội và chính lao động là
nhân tố giữ vai trò quyết định cho quá trình hình thành con người, khẳng định
con người có tính xã hội. Trong lịch sử triết học trước Mác đã có nhiều quan
niệm khác nhau phân biệt con người với thế giới loài vật, như con người là động
vật biết sử dụng công cụ lao động, hoặc con người có tư duy, v.v… Nhưng,
nhưng quan niệm đó cũng chỉ nhấn mạnh một khía cạnh nào đó trong bản chất xã hội của con người.
Thông qua hoạt động sản xuất vật chất, con người đã làm thay đổi, cải biến
toàn bộ giới tự nhiên: “con vật chỉ tái sản xuất ra bản thân nó, còn con người thì
tái sản xuất ra toàn bộ giới tự nhiên”. Tính xã hội của con người biểu hiện trong
hoạt động sản xuất vật chất, con người sản xuất ra của cải vật chất và tinh thần
để phục vụ đời sống của mình, hình thành phát triển ngôn ngữ và tư duy, xác lập các quan hệ xã hội.
Con người tồn tại và phát triển trong tính toàn vẹn thống nhất của hai quá
trình sinh học và xã hội. Sự hình thành phát triển con người thông qua một quá
trình thống nhất giữa cơ chế di truyền và hoạt động xã hội. Cơ chế di truyền
quyết định quá trình tiến hóa sinh học của con người, tạo nên cơ sở sinh học cho
sự tiến hóa xã hội. Quá trình gia nhập hoạt động xã hội, gia nhập vào bối cảnh
văn hóa lịch sử của quần thể xã hội đã quyết định sự hình thành phát triển
những phẩm chất xã hội của con người. Đây là một quá trình thống nhất và
phức tạp. Trong đó, cơ chế di truyền không chỉ quyết định về mặt sinh học là
chủ yếu mà còn gắn liền với sự hình thành phát triển “bản năng xã hội” của con
người. Ngược lại quá trình tập nhiễm trong cuộc sống xã hội không chỉ quyết
định mặt xã hội của con người mà còn cải biến mặt sinh học, làm cho cái sinh
học thích nghi với hoạt động xã hội.
1.2.3. Bản chất con người là tổng hòa của những mối quan hệ xã hội.
Con người là một thực thể xã hội được tách ra như một lực lượng đối lập với
giới tự nhiên, sự tác động qua lại giữa cái sinh học và cái xã hội tạo thành bản
chất con người. Bởi vậy, để nhấn mạnh bản chất xã hội của con người, C. Mác
đã nêu lên luận điểm nổi tiếng: “Bản chất con người không phải là một cái trừu
tượng cố hữu của cá nhân riêng biệt. Trong tính hiện thực của nó, bản chất con
người là tổng hòa những quan hệ xã hội”.
Luận điểm trên chỉ rõ: không có con người trừu tượng, thoát ly mọi điều kiện
hoàn cảnh cụ thể của lịch sử và xã hội. Luận đề đã khẳng định bản chất xã hội
không có nghĩa là phủ nhận mặt tự nhiên trong đời sống con người. Trái lại,
điều đó muốn nhấn mạnh sự phân biệt giữa con người và động vật trước hết là
bản chất xã hội và đó cũng là để khắc phục sự thiếu xót của những nhà triết học
trước Mác, không thấy được bản chất xã hội của con người. Mặt khác, cái bản
chất với ý nghĩa là cái phổ biến, là cái mang tính quy luật. Vì vậy cần phải thấy
được các biểu hiện riêng biệt, phong phú và đa dạng của mỗi cá nhân về cả
phong cách, nhu cầu và lợi ích trong cộng đồng xã hội.
Con người là sản phẩm của giới tự nhiên, song con người không hoàn toàn
phụ thuộc vào giới tự nhiên mà đã vươn lên, tách xa thế giới động vật, trở thành
con người của xã hội, sáng tạo ra lịch sử. Với vai trò là chủ thể của lịch sử con
người phải được tự do, hạnh phúc, phải được phát triển nhiều khả năng của
mình. Nhưng không phải lúc nào và ở đâu con người cũng có đủ điều kiện để
phát triển toàn diện. Vì vậy, một vấn đề đã và đang đặt ra là các quốc gia nói
riêng, nhân loại nói chung, phải coi con người là mục tiêu của sự phát triển của xã hội.
1.2.4 Con người tồn tại, phát triển trong môi trường cư trú và mang thuộc
tính xã hội – hành tinh – vũ trụ.
Triết học Mác – Lênin tiếp cận con người trong hệ thống con người – môi
trường cư trú, từ Trái đất đến vũ trụ. Môi trường là điều kiện cần thiết cho sự
tồn tại và phát triển của con người. Đó là toàn bộ hoàn cảnh tự nhiên và xã hội
được thu hút vào quá trình đời sống con người. Theo nghĩa rộng nhất, môi
trường bao gồm môi trường tự nhiên và môi trường xã hội.
Con người tồn tại trong hệ thống tương tác của tất cả các lực lượng tự nhiên.
Con người là một bộ phận tự nhiên, giao tiếp với tự nhiên và phụ thuộc vào tự
nhiên. Con người thuộc về giới tự nhiên, nằm trong giới tự nhiên, sống trên
hành tinh và phụ thuộc vào quá trình cơ, lí, hóa, sinh học của hành tinh. Con
người phụ thuộc vào các hiện tượng tự nhiên mà trong đó nhiều hiện tượng ở
trình độ khoa học hiện nay chưa giải thích được. Con người giao tiếp và phụ
thuộc vào tự nhiên ở cả cấp độ chức năng – cơ thể và cấp độ cảm xúc – tinh
thần. Khoa học tự nhiên đã phát hiện sự tương tác giữa “nhịp điệu vũ trụ” với
“nhịp điệu sinh học”. Điều đó nói lên con người mang thuộc tính xã hội – hành
tinh – vũ trụ và phụ thuộc vào môi trường.
Con người tồn tại trong môi trường xã hội, thông qua xã hội mà thích nghi
với tự nhiên. Bởi vì, xã hội là một bộ phận của giới tự nhiên, một kết cấu vật
chất đặc thù của giới tự nhiên. Toàn bộ quần thể xã hội hoạt động trong giới tự
nhiên; chỉ có thể tồn tai và phát triển trong mối quan hệ hài hòa với tự nhiên.
Mác khẳng định: “Chừng nào loài người còn tồn tại thì lịch sử của họ và lịch sử
tự nhiên quy định lẫn nhau”. Như vậy, bản chất con người là tổng hòa các thuộc
tính tự nhiên – sinh học – xã hội.
1.2.5 Con người là một thực thể cá nhân – xã hội
Con người vừa là một chỉnh thể đơn nhất, vừa mang những phẩm chất của hệ
thống các quan hệ xã hội. Đó là một hệ thống năng động, phát triển thống nhất
giữa cái chung, cái đặc thù và cái riêng. Trước hết, con người là một nhân cách
mang đặc trưng chung, đại biểu cho nhân loại, tộc loại. Thuộc tính chung nhất
và cao nhất của con người là sáng tạo. Con người mang những phẩm chất đặc
thù đại biểu cho một xã hội lịch sử - cụ thể, đại biểu cho một dân tộc, giai cấp,
tập đoàn xã hội, tập thể, nhóm xã hội, gia đình… Những phẩm chất xã hội của
con người mang dấu ấn của một thời đại lịch sử và những quan hệ xã hội cụ thể.
Những phẩm chất riêng có của mỗi người là cái đơn nhất, cái đặc thù của cá
nhân tạo nên kinh nghiệm, tính đơn nhất về tâm lý xã hội của mỗi người. Cái
riêng của con người do đặc điểm di truyền, do điều kiện sống riêng của mỗi
người quy định. Nhờ những phẩm chất riêng mà phân biệt được giữa cá nhân
này và cá nhân khác về trí tuệ, tình cảm, ý chí, động cơ hành động, tính cách…
Mác nói: “con người là một thực thể xã hội mang tính cá nhân”.
1.2.6 Sự thống nhất biện chứng giữa con người giai cấp và con người nhân loại
Con người mang tính nhân loại. Đây là thuộc tính vốn có hình thành trong
suốt chiều dài lịch sử của cuộc sống cộng đồng phổ biến rộng lớn nhất. Tính
nhân loại thể hiện trong thuộc tính chung nhất cao nhất của con người là sáng
tạo và trong những giá trị văn hóa chung mà nhân loại đạt được. Tính nhân loại
còn được thể hiện trong những quy tắc chuẩn mực của cuộc sống chung được
hình thành như những đạo lý. Tính nhân loại thể hiện trong những giá trị chung
mà con người quan tâm như nhân đạo, dân chủ, công bằng xã hội, hòa bình, bảo
vệ môi trường sinh thái… Cơ sở của tính nhân loại là từ bản chất xã hội của con
người, do yêu cầu khách quan của cuộc sống cộng đồng là con người phải dựa
vào người khác, nương tựa vào nhau để tồn tại và phát triển.
Tính xã hội có giai cấp, con người mang tính giai cấp. Mỗi người là một
thành viên của giai cấp mang địa vị kinh tế xã hội của giai cấp đó. Địa vị kinh tế
xã hội mang tính khách quan, do toàn bộ điều kiện sinh hoạt vật chất quy định,
mặc dù mỗi thành viên giai cấp có thể ý thức được hoặc không ý thức được địa vị của mình.
Tính giai cấp và tính nhân loại trong con người vừa đồng nhất vừa khác biệt.
Con người tồn tại thông qua những cá nhân hiện thực với tư cách là các chủ thể
hành động xã hội. Tính nhân loại vĩnh hằng. Bởi vì, trật tự kinh tế, chính trị xã
hội có thể bị thay đổi, nhưng quy luật con người luôn luôn phải biết dựa vào
người khác, khai thác sự phong phú của người khác để tồn tại, làm phong phú
cho mình là không bao giờ mất đi. Mặt khác, trong xã hội còn chế độ tư hữu về
tư liệu sản xuất, còn quan hệ đối kháng giai cấp thì con người còn mang tính
giai cấp. Các giai cấp và các hệ thống xã hội tương ứng vẫn là chủ thể chủ yếu
của xã hội hiện thực. Không bao giờ có một “lợi ích nhân loại thuần khiết”. Nó
được phản ánh trong nhận thức, trong hoạt động thực tiễn không tách rời với lợi ích giai cấp.
Trong các tác phẩm của mình: “Góp phần phê phán triết học pháp quyền Hêghen” (1843),
“Bản thảo kinh tế - triết học” (1844), “Luận cương về
Phoiơbắc” (1845) … Các Mác đã chỉ rõ con người là thể thống nhất hoàn chỉnh,
là thực thể sinh học - xã hội, hình thành nên từ hai mặt: tự nhiên và xã hội; tự
nhiên và xã hội thống nhất với nhau trong bản chất con người; đồng thời khẳng
định mối quan hệ giữa con người với tự nhiên, với xã hội. Xã hội có vai trò
quan trọng đối với sự hình thành cá nhân và cá nhân cũng có vai trò không kém
phần quan trọng đối với sự hình thành xã hội: “Bản thân xã hội sản xuất ra con
người với tính cách là con người như thế nào thì nó cũng sản xuất ra xã hội như
thế” Trình độ giải phóng xã hội luôn được thể hiện ra ở sự tự do của cá nhân
con người, vì cá nhân được giải phóng sẽ tạo ra động lực cho giải phóng xã hội
và đến lượt mình, giải phóng xã hội lại trở thành điều kiện thiết yếu cho sự giải
phóng cá nhân. Con người tự giải phóng cho mình và qua đó, giải phóng xã hội,
thúc đẩy tiến bộ xã hội - đó chính là sự khẳng định vị thế và vai trò của con
người trong tiến trình lịch sử.
1.2.7 Con người thống nhất biện chứng giữa tất yếu và tự do
Hoạt động con người bị chi phối bởi tính tất yếu. Tính tất yếu tồn tại dưới
hình thức các quy luật khách quan. Mặc dù con người nhận thức đươc quy luật
khách quan hay không thì lịch sử xã hội vẫn vận động phát triển theo quy luật.
Hoạt động của con người biểu hiện ra như là tất yếu “mù quáng”. Con người tự
do là con người nhận thức sâu sắc quy luật và hoạt động tự giác. Tự do là tiền
đề, điều kiện cho hoạt động sáng tạo của con người.
Hoạt động của con người là sự thống nhất giữa tất yếu và tự do. Hoạt động
con người có ý thức là hoạt động tiếp cận dần, nắm bắt quy luật khách quan làm
tiền đề cho sự sáng tạo. Lịch sử xã hội loài người là lịch sử con người vươn lên
giành lấy tự do ngày càng cao hơn. Con người muốn tự do, trước hết phải được
giải phóng về mặt xã hội, phải có chế độ kinh tế xã hội, tạo điều kiện tốt nhất
cho hoạt động con người vươn tới tự do. Một xã hội bao gồm trong đó những
con người phát triển tự do, toàn diện chính là mục tiêu của chủ nghĩa cộng sản.
Với tham vọng lớn lao và cao đẹp giải phóng nhân loại khỏi mọi sự áp bức
bóc lột, khỏi tình trạng bị tha hóa, đem lại tự do thực sự cho con người, những
nhà sáng lập chủ nghĩa Marx (MarxEngels, Lenin) đã dành trọn cuộc đời mình
cho sự nghiệp đấu tranh cao cả ấy không chỉ trong lĩnh vực lý luận mà ngay
chính trong hoạt động thực tiễn. Và chính trongnhững hoạt động ấy đã đem lại
cho các ông những quan điểm đúng đắn, khoa học trên lập trường duy vật biện
chứng về tự do, tạo nên bước ngoặt vĩ đại trong lịch sử tư tưởng nhân loại trên
con đườngtìm kiếm tự do. Chúng ta sẽ thấy được điều đó khi đi sâu nghiên cứu
lý luận về tự do của chủ nghĩa Marx
1.2.8 Hiện tượng tha hóa con người
Tha hóa là quá trình xã hội trong đó hoạt động của con người và sản phẩm
của nó biến thành một lực lượng đối lập thù địch và thống trị lại con người.
Nguồn gốc của tha hóa là do sự phát triển của phân công lao động xã hội và sự
xuất hiện chế độ tư hữu. Triết học Mác – Lênin nghiên cứu những dấu hiệu đặc
trưng của sự tha hóa từ các phương diện: sự tha hóa của điều kiện lao động; sự
tha hóa của kết quả lao động; sự tha hóa của thiết chế chính trị xã hội; sự tha
hóa của tư tưởng, sự tha hóa của tự nhiên… Khắc phục sự tha hóa là một quá
trình lâu dài, gắn liền với xóa bỏ chế độ tư hữu. Triết học Mác – Lênin chính là
lý luận triết học về khắc phục sự tha hóa của con người, trước hết là lý luận giải
phóng con người khỏi mọi áp bức bóc lột.
Như vậy, triết học Mác – Lênin trên cơ sở quan điểm duy vật biện chứng về
lịch sử, tiếp cận con người trong tính chỉnh thể của nó, đem lại một hình ảnh
toàn vẹn, đúng đắn về con người, khôi phục lại địa vị vốn có của con người
trong lịch sử. Triết học Mác – Lênin là học thuyết về sự giải phóng con người,
vì hạnh phúc con người. Đây là cơ sở để bác bỏ những luận điểm tư sản, xét lại
cho rằng triết học Mác bỏ quên vấn đề con người, không xây dựng học thuyết
về con người, chỉ xây dựng học thuyết về giai cấp và đấu tranh giai cấp.
Thực chất của triết học Mác – Lênin là học thuyết giải phóng con người, vìsự
phát triển toàn diện của con người, từ giải phóng con người cụ thể sẽ dẫn
đếngiải phóng nhân loại. Các học thuyết triết học duy tâm và tôn giáo quan
niệm giải phóng conngười là giải thoát về mặt tâm linh để con người có thể đạt
được cuộc sống cực lạcvĩnh cửu ở kiếp sau trong một thế giới khác ngoài tự
nhiên, hay nói cách khác chỉlà giải phóng ảo tưởng. Khi xây dựng quan niệm
duy vật về lịch sử, triết học Mác- Lê Nin giải đápmột cách duy vật vấn đề con
người, bản chất con người, con người với tư cáchthực thể sinh học- xã hội, vị trí
vai trò của con người trong tiến trình lịch sử nhânloại. Những quan niệm duy
vật đó không chỉ nhằm mục đích xây dựng lý luận vềcon người, mà hơn thế nữa
còn nhằm mục đích giải phóng con người, giải phóngxã hội. Giải phóng con
người là xóa bỏ người bóc lột người, xóa bỏ tha hóa để conngười trở về với
chính mình, phát triển bản tính chân chính của mình. Lênin nhậnđịnh rằng điểm
chủ yếu trong học thuyết của Mác là ở chỗ nó làm sáng tỏ vai tròlịch sử thế giới
của giai cấp vô sản là thực hiện sứ mệnh giải phóng co người. Xã hội tư bản,
theo Các-Mác, là một bước tiến trong lịch sử phát triển củanhân loại. Nội dung
bước tiến ấy là cơ sở cho sự phát triển của bản chất con người, là điều kiện cho
sự giải phóng xã hội, giải phóng nhân loại. Nhưng trong khuônkhổ của chủ
nghĩa tư bản, khi mà tư liệu sản xuất chủ yếu còn nằm trong tay giaicấp tư sản
thì con người chưa thực sự được giải phóng về chính trị, cũng chưađược giải
phóng về kinh tế, văn hóa. Do vậy, nếu không xóa bỏ nó (chế độ tư hữu tư sản)
thì tuyệt đại đa số nhân dân lao động sẽ không có sở hữu, và như thế thìtình
trạng con người chịu sự nô lệ vào người khác còn tồn tại. Từ đó, C. Mác - Ph.
Ăngghen đã khẳng định: không thể thực hiện 1 sự giải phóng hực sự nào khác
nếu không thực hiện sự giải phóng ấy trong thế giới hiện thực vàbằng những
phương tiện hiện thực”. Xóa bỏ đi kiểu quan hệ sản xuất tư bản chủnghĩa - cũng
đồng thời với việc lật đổ sự thống trị của giai cấp tư sản là cơ sở xóabỏ tận gốc
mọi điều kiện con người bị áp bức. Chính điều này, trong “Tuyên ngôn của
Đảng cộng sản”, C. Mác - Ph. Ăngghen đã nói, cuộc cách mạng xã hội do
giaicấp công nhân lãnh đạo không xóa đi cái quyền sở hữu cơ bản của con
người, màchỉ xóa đi cái hình thức sở hữu mà nhờ nó người ta dùng để nô dịch
ngườikhác. Và xã hội cộng sản chủ nghĩa sẽ là chế độ tốt đẹp nhất trong lịch sử
nhânloại, đảm bảo cho những quyền của con người, giải phóng con người một
cách triệtđể nhất. Sự nghiệp giải phóng ấy, theo C. Mác, “chỉ có thể thực hiện
được khi chếđộ sở hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa về tư liệu sản xuất chủ yếu
được xóa bỏ và lựclượng xã hội có sứ mệnh lịch sử thực hiện thành công sự
nghiệp giải phóng conngười, giải phóng xã hội là giai cấp vô sản”. Mục tiêu
cuối cùng của giai cấp công nhân, của cách mạng xã hội chủ nghĩa là giải phóng
con người, giải phóng xã hội. Chủ nghĩa xã hội không chỉ dừng lại ởý thức, ở
khẩu hiệu giải phóng con người, mà từng bước thực hiện việc giải phóng con
người trên thực tế, biến con người từ vương quốc của tất yếu sang vương
quốccủa tự do, tạo nên một sự liên hiệp, trong đó sự phát triển tự do của mỗi
con người là điều kiện cho sự phát triển tự do của tất cả mọi người. Sự tự do
đem lại cho conngười quyền được lao động, được phân phối công bằng của cải
vật chất và tinh thần, được tham gia vào tất cả các công việc xã hội, được phát
triển và vận dụngcác năng lực của mình với tư cách sự thực hiện những nhu cầu
cơ bản, quyền đượcnghỉ ngơi. Tự do cá nhân trong chủ nghĩa xã hội không chỉ
biểu hiện trong cácquyền cá nhân được hưởng, mà còn được biểu hiện trong
nghĩa vụ, trách nhiệm cánhân. Chỉ có chủ nghĩa xã hội mới là phải pháp tối ưu
cho các vấn đề xã hội liên quan tới sự phát triển xã hội và con người. CHƯƠNG II: VẬN DỤNG
QUAN ĐIỂM CỦA TRIẾT HỌC
MÁC – LÊNIN VÀO VIỆC XÂY DỰNG CON NGƯỜI VIỆT
NAM NHẰM ĐÁP ỨNG CHO CÔNG CUỘC ĐỔI MỚI.
2.1 Quan niê ym triết học Mác – Lênin về nhân tố con người.
Nhân tố con người là một phạm trù triết học dùng để chỉ hệ
thống các thuộc tính, các đặc trưng quy định vai trò của chủ thể
tích cực, tự giác, sáng tạo của con người, bao gồm một chỉnh
thể thống nhất giữa mặt hoạt động với tổng hòa những đặc
trưng về phẩm chất, năng lực của con người trong quá trình
phát triển lịch sử. Quan niệm về nhân tố con người trong triết
học Mác – Lênin đã chỉ ra sự thống nhất giữa hai mặt là hoạt
động và phẩm chất, năng lực của con người. Hoạt động của con
người bao gồm hoạt động nhận thức và hoạt động thực tiễn;
hoạt động vật chất và hoạt động tinh thần. Phẩm chất và năng
lực của con người bao gồm: phẩm chất chính trị, đạo đức, ... và
năng lực nhận thức, tư duy, hành động, ... Giữa mặt hoạt động
và mặt phẩm chất, năng lực có mối quan hệ biện chứng. Trong
đó, hoạt động là cơ sở để hình thành, phát triển phẩm chất và
năng lực của con người. Ngược lại, phẩm chất và năng lực của
con người là cơ sở cho hoạt động của con người đạt hiệu quả.
Cả hoạt động, phẩm chất và năng lực là những đặc trưng xã hội
quy định vai trò chủ thể tích cực, tự giác, sáng tạo của con người.
Quan niệm nhân tố con người trong triết học Mác – Lênin đã chỉ
ra vai trò chủ thể tích cực, tự giác, sáng tạo của con người.
Chính vì vậy, nhân tố con người là cội nguồn của mọi sự phát
triển, của mọi nền văn minh xã hội.
2.2. Phát huy nhân tố con người trong sự nghiệp đổi mới ở Việt Nam hiện nay
2.2.1 Trong sự nghiệp đổi mới phải đặt con người vào vị trí trung tâm
Việc đặt con người vào vị trí trung tâm trong sự nghiệp đổi mới vừa là
mục tiêu, vừa là động lực phát triển. Việc đề cao nhân tố con người, đặt con
người vào vị trí trung tâm của chiến lược phát triển là tư tưởng nhất quán của
Đảng ta, trong điều kiện nền kinh tế thị trường đang thúc đẩy sự phát triển lực
lượng sản xuất, nâng cao năng suất lao động, tạo ra cơ sở vật chất và văn hóa
tinh thần ngày càng đa dạng, phong phú. Lợi ích cá nhân ngày càng được chú ý,
tạo cơ hội mới để phát triển cá nhân.
Độc lập, tự do, hạnh phúc của con người là vấn đề trung tâm của chủ
nghĩa xã hội. Mục tiêu cao nhất, bao trùm của chủ nghĩa xã hội là độc lập, tự do,
hạnh phúc của con người. Đó là lợi ích lớn nhất của con người Việt Nam. Cách
mạng Việt Nam trải qua giai đoạn giành độc lập dân tộc, tiến lên chủ nghĩa xã
hội là một cuộc cách mạng vì mục đích giải phóng con người.
Mục tiêu chiến lược về phát triển con người mà Đảng, Nhà nước ta
hướng tới là “Con người có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, có điều kiện
phát triển toàn diện”. Để đưa đất nước sớm trở thành một nước công nghiệp
theo hướng hiện đại hóa và thực hiện được mục tiêu phát triển con người, Đảng
ta nêu quan điểm: “Mở rộng dân chủ, phát huy tối đa nhân tố con người; coi con
người là chủ thể, nguồn lực chủ yếu và là mục tiêu của sự phát triển”. Quan
điểm này tiếp nối tư tưởng nhất quán của Đảng cộng sản Việt Nam là coi con
người vừa là chủ thể, vừa là nguồn lực quan trọng nhất, quyết định sự phát triển
kinh tế- xã hội, đóng góp vào thắng lợi của sự nghiệp cách mạng Việt Nam, mọi
quá trình phát triển kinh tế- xã hội phải hướng tới mục tiêu cao cả là vì con người.
Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội
đã cụ thể hóa mục tiêu chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam phù hợp giai đoạn mới của
cách mạng; đồng thời từng bước hiện thực hóa mục tiêu đó. Để phát huy vai trò
nhân tố con người, cần tổ chức mọi hoạt động trên cơ sở khoa học, chú trọng
tuyên truyền giáo dục, động viên kịp thời các hành động tích cực của con người.
Đảng và Nhà nước đã thi hành các chính sách xã hội hướng tới con người, phát
động các phong trào cách mạng, thông qua đấu tranh cách mạng để phát huy
nhân tố con người, đồng thời phát hiện, khắc phục các nhân tố tiêu cực, chống chủ nghĩa cá nhân.
Nhấn mạnh thêm về con người là động lực của sự phát triển, Văn kiện
Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng Cộng sản Việt Nam khẳng
định con người và nền văn hóa Việt Nam thực sự trở thành sức mạnh nội sinh,
động lực phát triển đất nước và bảo vệ Tổ quốc. Xây dựng và tạo môi trường và
điều kiện xã hội thuận lợi nhất để khơi dậy tinh thần yêu nước, niềm tự hào dân
tộc, niềm tin, khát vọng phát triển, tài năng, phẩm chất của con người Việt Nam
là trung tâm, mục tiêu và động lực phát triển quan trọng nhất của đất nước. Đi
đôi với đường lối tiếp tục đổi mới phát triển kinh tế, Đại hội XIII của Đảng
nhấn mạnh việc phát huy giá trị văn hóa, sức mạnh con người Việt Nam. Trong
đó, Đại hội nêu bật chủ trương:
• Tập trung nghiên cứu, xác định và triển khai xây dựng hệ giá trị quốc gia,
hệ giá trị văn hóa và chuẩn mực con người gắn với giữ gìn, phát triển hệ giá trị
gia đình Việt Nam trong thời kỳ mới.
• Quan tâm chăm lo công tác giáo dục, bồi dưỡng và bảo vệ trẻ em, thiếu
niên, nhi đồng. Tăng cường giáo dục lòng yêu nước, lòng tự hào dân tộc, truyền
thống và lịch sử dân tộc, ý thức trách nhiệm xã hội cho các tầng lớp nhân dân, nhất là thanh niên.
• Thực hiện những giải pháp đột phá nhằm ngăn chặn có hiệu quả sự xuống
cấp về đạo đức, lối sống, đẩy lùi tiêu cực xã hội và các tệ nạn xã hội. Bảo vệ và
phát huy các giá trị tốt đẹp, bền vững trong truyền thống văn hóa Việt Nam.
Đẩy mạnh giáo dục nâng cao nhận thức, ý thức tôn trọng và chấp hành pháp
luật, bảo vệ môi trường, giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc của người Việt Nam,
đặc biệt là thế hệ trẻ. Từng bước vươn lên khắc phục các hạn chế của con người
Việt Nam; xây dựng con người Việt Nam thời đại mới, gắn kết chặt chẽ, hài hòa
giữa giá trị truyền thống và giá trị hiện đại.
• Có cơ chế, chính sách, giải pháp để xây dựng môi trường văn hóa thật sự
trong sạch, lành mạnh, cải thiện điều kiện thụ hưởng văn hóa của nhân dân. Phát
huy ý thức tự giác của toàn dân xây dựng và thực hiện các chế tài, quy định, quy
ước xã hội, bảo đảm công bằng về cơ hội và thụ hưởng văn hóa.
• Khắc phục sự chênh lệch về trình độ phát triển và đời sống văn hóa giữa
các vùng, miền, các giai tầng xã hội, đặc biệt quan tâm đến vùng sâu, vùng xa,
vùng đồng bào các dân tộc thiểu số, các khu công nghiệp...
• Đề cao vai trò của gia đình trong nuôi dưỡng, giáo dục thế hệ trẻ. Phát
huy các nhân tố tích cực, nhân văn trong các tôn giáo, tín ngưỡng. Phê phán và
ngăn chặn các biểu hiện tiêu cực, mê tín, dị đoan.
• Xây dựng và thực hiện các chuẩn mực văn hóa trong lãnh đạo quản lý.
Chú trọng xây dựng môi trường văn hóa công sở lành mạnh, dân chủ, đoàn kết,
nhân văn; đẩy lùi bệnh quan liêu, bè phái, mất đoàn kết, chủ nghĩa cơ hội và thực dụng.
• Xây dựng văn hóa doanh nghiệp, doanh nhân và kinh doanh.
Cụ thể hóa tinh thần đó, Chiến lược phát triển đất nước 10 năm 2021-
2030 khẳng định nội dung về phát huy nhân tố con người trong sự nghiệp phát