Đang tải lên

Vui lòng đợi trong giây lát...

Preview text:

TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI
KHOA QUẢN TRỊ NHÂN LỰC BÀI THẢO LUẬN
MÔN: TRIẾT HỌC MÁC-LÊNIN
NĂM HỌC: 2022 – 2023 CHỦ ĐỀ:
Quan điểm của Triết học Mác - Lênin về mối quan
hệ giữa tồn tại xã hội và ý thức xã hội và sự vận
dụng của Đảng ta trong việc xây dựng nền văn
hoá tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc. Nhóm : 6
Lớp học phần : 2294MLNP0221
Giảng viên : Nguyễn Thị Liên
Hà Nội, 2022 Mục lục
A. CƠ SỞ LÝ THUYẾT.....................................................................................1
I. Tồn tại xã hội................................................................................................1
1.1. Khái niệm................................................................................................1
1.2. Các yếu tố cơ bản của tồn tại xã hội.......................................................1
II. Ý thức xã hội và kết cấu xã hội.................................................................2
2.1. Khái niệm................................................................................................2
2.2. Kết cấu của ý thức xã hội........................................................................2
2.3. Tính giai cấp............................................................................................3
2.4. Các hình thái ý thức xã hội......................................................................5
2.4.1. Ý thức chính trị.................................................................................5
2.4.2. Ý thức pháp quyền............................................................................5
2.4.3. Ý thức đạo đức..................................................................................6
2.4.4. Ý thức thẩm mỹ.................................................................................6
2.4.5. Ý thức tôn giáo..................................................................................7
2.4.6. Ý thức khoa học................................................................................8
2.4.7. Ý thức triết học.................................................................................8
III. Mối quan hệ biện chứng giữa tồn tại xã hội và ý thức xã hội...............8
3.1. Vai trò quyết định của tồn tại xã hội với ý thức xã hội...........................8
3.2. Tính độc lập tương đối của ý thức xã hội................................................9
3.2.1. Ý thức xã hội thường lạc hậu hơn so với tồn tại xã hội....................9
3.2.2. Ý thức xã hội có thể vượt trước tồn tại xã hội................................10
3.2.3. Tính kế thừa trong sự phát triển ý thức của xã hội:........................11
3.2.4. Sự tác động qua lại giữa các hình thái ý thức xã hội:.....................11
3.2.5. Ý thức xã hội tác động qua lại với tồn tại xã hội............................12
3.3. Ý nghĩa phương pháp luận....................................................................12
B. Sự vận dụng của Đảng ta trong việc xây dựng nền văn hoá tiên tiến đậm
đà bản sắc dân tộc.
............................................................................................13
1. Sự phóng phú, đa dạng của nền văn hoá dân tộc và một số tồn tại, hạn
chế.
...............................................................................................................13
2. Sự vận dụng mối quan hệ giữa tồn tại xã hội và ý thức xã hội của Đảng
ta trong việc xây dựng nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc.
.......14
Danh mục tham khảo.......................................................................................17
A. CƠ SỞ LÝ THUYẾT
I. Tồn tại xã hội 1.1. Khái niệm.
Tồn tại xã hội là toàn bộ sinh hoạt vật chất và những điều kiện sinh hoạt vật
chất của xã hội. Tồn tại xã hội của con người là thực tại xã hội khách quan, là một
kiểu vật chất xã hội, là các quan hệ xã hội vật chất được ý thức xã hội phản ánh. Trong
quá các quan hệ xã hội vật chất ấy thì quan hệ giữa con người với giới tự nhiên và
quan hệ giữa con người với con người là những quan hệ cơ bản nhất.
VD: Thời tiền sử ở Việt Nam có các bộ lạc săn bắt (bán), hái lượm, dùng đá
cuội để chế tác công cụ. Công cụ còn rất thô sơ song đã có những bước tiến lớn trong
kỉ thuật chế tác, đã có nhiều hình loại ổn định nhằm phục vụ đời sống. Thời kì này con
người nhận biết, tận dụng và sử dụng nhiều loại nguyên vật liệu như đá, đất sét,
xương, sừng, tre gỗ…Bên cạnh đó điều kiện khí hậu thuận lợi cho đời sống con người
cộng với sự đa dạng phong phú của các loài quán động thực vật phương Nam nên
nguồn tài nguyên rất phong phú.
1.2. Các yếu tố cơ bản của tồn tại xã hội.
Các yếu tố chính tạo thành tồn tại xã hội là: phương thức sản xuất vật chất,
điều kiện tự nhiên, hoàn cảnh địa lý, dân số và mật độ dân số v.v.; trong đó phương
thức sản xuất vật chất là yếu tố cơ bản nhất.
Phương thức sản xuất ra của cải vật chất là cách thức mà con người
dùng để làm ra của cải vật chất cho mình trong một giai đoạn lịch sử
nhất định, theo cách đó con người có quan hệ với nhau trong sản xuất,
VD: phương thức kỹ thuật canh nông lúa nước là nhân tố cơ bản tạo thành
điều kiện sinh hoạt vật chất truyền thống của người Việt Nam.
Các yếu tố thuộc về điều kiện tự nhiên – hoàn cảnh địa lý, bao gồm:
các điều kiện khí hậu, đất đai, sông hồ,… tạo nên đặc điểm riêng có
của không gian sinh tồn của cộng đồng xã hội.
VD: Việt Nam nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa nóng ẩm, lượng
mưa lớn, thời tiết diễn biến thất thường…
Các yếu tố dân cư, bao gồm: cách thức tổ chức dân cư, tính chất lưu
dân cư, mô hình tổ chức dân cư,…
VD: Dân cư của nước ta phân bố không đều tập trung đông đúc ở đồng bằng,
ven biển và thưa thớt ở miền núi.
Vai trò của tồn tại xã hội: Tồn tại xã hội không chỉ quyết định sự hình thành
của ý thức xã hội mà còn quyết định cả nội dung và hình thức biểu hiện của nó. Mỗi
yếu tố của tồn tại xã hội có thể được các hình thái ý thức xã hội khác nhau theo những
cách thức khác nhau. Tuy nhiên, đến lượt mình, các hình thái ý thức này cũng sẽ tác 1
động, ảnh hưởng ngược trở lại tồn tại xã hội. Đó chính là tính độc lập tương đối của ý thức xã hội.
II. Ý thức xã hội và kết cấu xã hội 2.1. Khái niệm.
Ý thức xã hội là xã hội tự nhận thức về mình, về sự tồn tại xã hội của mình và
về hiện thực xung quanh mình. Là mặt tinh thần của đời sống xã hội, là bộ phận hợp
thành của văn hóa tinh thần của xã hội
2.2. Kết cấu của ý thức xã hội.
Ý thức xã hội gồm những hiện tượng tinh thần, những bộ phận, những hình thái
khác nhau phản ánh tồn tại xã hội bằng phương thức khác nhau. Chúng ta có thể phân
ý thức xã hội thành các dạng: Ý thức xã hội thông thường và ý thức lý luận; Tâm lý xã
hội và hệ tư tưởng xã hội. Cụ thể:
Thứ nhất: Đối với ý thức xã hội thông thường và ý thức lý luận
Ý thức xã hội thông thường là những tri thức, những quan niệm của con người
hình thành một cách trực tiếp trong hoạt động thực tiễn hàng ngày, chưa được
hệ thống hoá, khái quát hoá.
Ý thức lý luận là những tư tưởng, quan điểm được hệ thống hoá, khái quát hoá
thành học thuyết xã hội, được trình bày dưới dạng những khái niệm, phạm trù,
quy luật. Ý thức lý luận (lý luận khoa học) có khả năng phản ánh hiện thực
khách quan một cách khái quát, sâu sắc và chính xác, vạch ra các mối liên hệ
bản chất của các sự vật và hiện tượng.
Thứ hai: Tâm lý xã hội và hệ tư tưởng xã hội
Tâm lý xã hội là bộ phận của ý thức xã hội bao gồm tình cảm, ước muốn, thói
quen, tập quán… của con người, của một bộ phận xã hội hoặc của toàn bộ xã
hội hình thành dưới ảnh hưởng trực tiếp của đời sống hàng ngày của họ và
phản ánh đời sống đó. Đặc điểm của tâm lý xã hội phản ánh trực tiếp điều kiện
sống của xã hội và phản ánh có tính tự phát. Tâm lý xã hội ghi lại những mặt
bề ngoài không có khả năng vạch ra đầy đủ, rõ ràng, sâu sắc bản chất các mối
quan hệ xã hội. Tâm lý xã hội còn mang nặng tính kinh nghiệm, chưa được thể
hiện về mặt lý luận, yếu tố tình cảm đan xen yếu tố lý luận. Bên cạnh đó, tâm
lý xã hội có vai trò nhất định trong đời sống xã hội.
Hệ tư tưởng là bộ phận của ý thức xã hội phản ánh tồn tại xã hội một cách gián
tiếp, tự giác, khái quát hoá thành những quan điểm, tư tưởng (chính trị, triết
học, nghệ thuật, tôn giáo). Đặc điểm của hệ tư tưởng có khả năng đi sâu vào
bản chất các mối quan hệ xã hội do vậy có khả năng phản ánh sâu sắc những
điều kiện sinh hoạt vật chất của xã hội. Hệ tư tưởng có ảnh hưởng lớn đến sự
phát triển của khoa học, và tới toàn bộ xã hội, biểu hiện ở chỗ, hệ tư tưởng là
cơ sở lý luận để định hướng sự phát triển của khoa học và các hoạt động cải tạo xã hội
Tâm lý xã hội và hệ tư tưởng xã hội tuy là hai trình độ, hai phương thức phản
ánh khác nhau của ý thức xã hội, nhưng chúng có mối quan hệ với nhau. Tâm 2
lý xã hội là toàn bộ đời sống tình cảm, tâm trạng, khát vọng, ý chí…. của
những cộng đồng người nhất định, phản ánh trực tiếp và tự phát đối với hoàn
cảnh sống của họ. Hệ tư tưởng xã hội là toàn bộ các hệ thống quan niệm, quan
điểm xã hội như: chính trị, triết học, đạo đức, nghệ thuật, tôn giáo,…; là sự
phản ánh gián tiếp và tự giác đối với tồn tại xã hội 2.3. Tính giai cấp.
Trong xã hội có giai cấp, do các giai cấp có những điều kiện sinh hoạt vật chất
khác nhau, những lợi ích khác nhau do địa vị xã hội mỗi giai cấp quy định, nên
ý thức xã hội của các giai cấp có nội dung và hình thức phát triển khác nhau hoặc đối lập nhau.
Tính giai cấp của ý thức xã hội biểu hiện ở tâm lý xã hội, cũng như ở hệ tư tưởng xã hội.
Về mặt tâm lý xã hội, mỗi giai cấp đều có tình cảm, tâm trạng, thói quen riêng,
có thiện cảm hay ác cảm với tập đoàn xã hội này hay tập đoàn xã hội khác.
Ở trình độ hệ tư tưởng thì tính giai cấp của ý thức xã hội biểu hiện sâu sắc hơn
nhiều. Trong xã hội có đối kháng giai cấp bao giờ cũng có những tư tưởng
hoặc hệ tư tưởng đối lập nhau: Tư tưởng của giai cấp bóc lột và bị bóc lột, của
giai cấp thống trị và bị thống trị.
Về điều này C.Mác và Ph.Angghen viết: “Trong mọi thời đại, những tư tưởng của giai
cấp thống trị là những tư tưởng thống trị. Điều đó có nghĩa là giai cấp nào là lực lượng
vật chất thống trị trong xã hội thì cũng là lực lượng tinh thần thống trị trong xã hội.
Giai cấp nào chi phối những tư liệu sản xuất vật chất thì cũng chi phối luôn cả những
tư liệu sản xuất tinh thần”.
Những tư tưởng thống trị của một thời đại bao giờ cũng là tư tưởng của giai cấp thống
trị về kinh tế và chính trị ở thời đại đó.
Nếu hệ tư tưởng của giai cấp bóc lột thống trị ra sức bảo vệ địa vị của giai cấp đó, thì
hệ tư tưởng của giai cấp bị trị, bị bóc lột thể hiện nguyện vọng và lợi ích của quần
chúng lao động chống lại xã hội người bóc lột người, xây dựng một xã hội công bằng
không có áp bức, bóc lột.
Chủ nghĩa Mác – Lênin là hệ tư tưởng khoa học và cách mạng của giai cấp
công nhân, ngọn cờ giải phóng của quần chúng bị áp bức, bóc lột, phản ánh
tiến trình khách quan của sự phát triển lịch sử.
Hệ tư tưởng Mác – Lênin đối lập với hệ tư tưởng tư sản – hệ tư tưởng bảo vệ lợi ích
của giai cấp tư sản, bảo vệ chế độ người bóc lột người. Cuộc đấu tranh giai cấp giữa
giai cấp tư sản và giai cấp vô sản từ hàng thế kỷ nay diễn ra gay gắt trên tất cả các lĩnh
vực, trong đó có lĩnh vực hệ tư tưởng. 3
Trong điều kiện xã hội ngày nay, cuộc đấu tranh giai cấp trên lĩnh vực ý thức
hệ vẫn đang tiếp tục diễn ra. Các thế lực thù địch đang không ngừng tấn công
vào chủ nghĩa Mác – Lênin, muốn phủ nhận, xóa bỏ nó.
Do vậy, bảo vệ và phát triển chủ nghĩa Mác – Lênin trong điều kiện thế giới ngày nay
là một nhiệm vụ quan trọng của cuộc đấu tranh vì mục tiêu độc lập dân tộc, dân chủ và chủ nghĩa xã hội.
Khi khẳng định tính giai cấp của ý thức xã hội, chủ nghĩa duy vật lịch sử cho
rằng, ý thức của các giai cấp trong xã hội có sự tác động qua lại với nhau.
Trong xã hội có áp bức giai cấp, các giai cấp bị trị do bị tước đoạt tư liệu sản
xuất, phải chịu sự áp bức về vật chất nên không tránh khỏi bị áp bức về tinh
thần, không tránh khỏi ảnh hưởng tư tưởng của giai cấp thống trị.
Tuy nhiên, mức độ ảnh hưởng của tư tưởng giai cấp thống trị đối với xã hội tùy thuộc
vào trình độ phát triển ý thức cách mạng của giai cấp bị trị.
Giai cấp thống trị cũng chịu ảnh hưởng của giai cấp bị trị. Ở thời kỳ đấu tranh
cách mạng phát triển mạnh, thường có một số người trong giai cấp thống trị,
nhất là những trí thức tiến bộ, từ bỏ giai cấp xuất thân chuyển sang hàng ngũ
giai cấp cách mạng và chịu ảnh hưởng của tư tưởng giai cấp đó.
Đặc biệt, một số người đã trở thành nhà tư tưởng của giai cấp cách mạng.
Trong xã hội có phân chia giai cấp thì ý thức cá nhân, về bản chất, là biểu hiện
mức độ này hay mức độ khác ý thức giai cấp.
Điều này là do địa vị và những điều kiện sinh hoạt vật chất chung của giai cấp quyết định.
Nhưng mỗi cá nhân lại có những hoàn cảnh sinh sống riêng, như hoàn cảnh giáo dục,
trường đời, tư tưởng chính trị tiếp thu được khi sống trong môi trường gia đình, bạn
bè, đồng nghiệp…, nên ý thức của mỗi người vừa biểu hiện ý thức giai cấp, vừa mang
những đặc điểm cá nhân, tạo thành cá tính và nhân cách riêng, khác với cá nhân khác cùng giai cấp.
Tuy nhiên, nếu quá nhấn mạnh điều kiện sinh hoạt của cá nhân, thổi phồng mặt cá
nhân, thì sẽ dẫn tới hiểu sai bản chất của ý thức cá nhân. Ta phải chú ý mối quan hệ
biện chứng giữa ý thức giai cấp và ý thức cá nhân.
Trong xã hội có giai cấp, ý thức xã hội không chỉ mang dấu ấn những điều kiện
sinh hoạt vật chất của giai cấp, mà còn phản ánh những điều kiện sinh hoạt
chung của dân tộc: Những điều kiện lịch sử, kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội,
điều kiện tự nhiên… hình thành trong quá trình phát triển lâu dài của dân tộc.
Vì vậy, trong ý thức xã hội, ngoài tâm lý và hệ tư tưởng xã hội của giai cấp, còn bao
gồm tâm lý dân tộc, tình cảm, ước muốn, tập quán, thói quen, tính cách… của dân tộc,
truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác tạo thành truyền thống dân tộc. 4
Tâm lý dân tộc tuy phản ánh những điều kiện sinh hoạt chung của dân tộc và mang
tính chất toàn dân tộc, nhưng có mối liên hệ hữu cơ với ý thức giai cấp. Giai cấp cách
mạng, tiến bộ phát huy những giá trị tinh thần của dân tộc, ngược lại những tư tưởng
của giai cấp phản động mâu thuẫn sâu sắc với những giá trị đó.
Giai cấp công nhân được vũ trang bằng hệ tư tưởng Mác – Lênin luôn luôn quan
tâm sâu sắc đến việc bảo vệ và phát triển những truyền thống tốt đẹp của dân tộc.
2.4. Các hình thái ý thức xã hội.
2.4.1. Ý thức chính trị
- Hình thái ý thức chính trị phản ánh các mối quan hệ kinh tế của xã hội bằng ngôn
ngữ chính trị cũng như mối quan hệ giữa các giai cấp, các dân tộc, các quốc gia và
thái độ của các giai cấp đối với quyền lực nhà nước
- Hình thái ý thức chính trị xuất hiện trong những xã hội có giai cấp và có nhà nước,
vì vậy nó thể hiện trực tiếp và rõ nhất là lợi ích giai cấp
- Ý thức chính trị, nhất là hệ tư tưởng chính trị, có vai trò rất quan trọng đối với sự
phát triển của xã hội, bởi vì hệ tư tưởng chính trị thể hiện trong cương lĩnh chính trị,
trong đường lối và các chính sách của đảng chính trị, pháp luật của nhà nước, đồng
thời cũng là công cụ thống trị xã hội của giai cấp thống trị. Hệ tư tưởng chính trị tiến
bộ sẽ thúc đẩy mạnh mẽ sự phát triển các mặt của đời sống xã hội; ngược lại, hệ tư
tưởng chính trị lạc hậu, phản động sẽ kìm hãm, thậm chí kéo lùi sự phát triển đó
- Hệ tư tưởng chính trị giữ vai trò chủ đạo trong đời sống tinh thần của xã hội và
xâm nhập vào tất cả các hình thái ý thức xã hội khác
- Trong thời đại hiện nay, hệ tư tưởng của giai cấp công nhân là hệ tư tưởng tiến bộ,
cách mạng và khoa học đang dẫn dắt giai cấp công nhân và nhân dân lao động đấu
tranh nhằm xóa bỏ chế độ người bóc lột người, tiến tới xây dựng xã hội mới tốt đẹp
hơn chế độ tư bản chủ nghĩa
2.4.2. Ý thức pháp quyền
- Ý thức pháp quyền phản ánh trực tiếp các mối quan hệ kinh tế của xã hội bằng
ngôn ngữ pháp luật, ý thức pháp quyền gần gũi với cơ sở kinh tế hơn là các hình thái ý thức xã hội khác
- Ý thức pháp quyền ra đời trong xã hội có giai cấp và có nhà nước, vì vậy nó cũng
mang tính giai cấp. Do pháp luật là ý chí của giai cấp thống trị thể hiện thành luật lệ
cho nên trong xã hội có giai cấp đối kháng thì thái độ và quan điểm của các giai cấp
khác nhau đối với pháp luật cũng khác nhau
- Ý thức pháp quyền là toàn bộ những tư tưởng , quan điểm của một giai cấp về bản
chất và vai trò của pháp luật, về quyền, trách nhiệm và nghĩa vụ của nhà nước, của các
tổ chức xã hội và của công dân, về tính hợp pháp và không hợp pháp của hành vi con người trong xã hội. 5
- Pháp luật và hệ tư tưởng pháp quyền xã hội chủ nghĩa dựa trên nền tảng tư tưởng
của giai cấp công nhân là chủ nghĩa Mác – Lênin, phản ánh lợi ích của toàn thể nhân
dân, bảo vệ nhà nước của dân, do dân và vì dân, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa. Vì
vậy, việc đẩy mạnh và tăng cường công tác giáo dục ý thức pháp luật cho toàn dân là
nhiệm vụ quan trọng, thường xuyên và lâu dài của cả hệ thống chính trị 2.4.3. Ý thức đạo đức
- Ý thức đạo đức là toàn bộ những quan niệm về thiện, ác, tốt, xấu, lương tâm, trách
nhiệm, nghĩa vụ, công bằng, hạnh phúc,...và về những quy tắc đánh giá những chuẩn
mực điều chỉnh hành vi cùng cách ứng xử giữa các cá nhân với nhau và giữa các cá
nhân với xã hội. Ý thức đạo đức là hình thái ý thức xã hội xuất hiện sớm nhất
- Sự phát triển của hình thái đạo đức không tách rời sự phát triển của xã hội, phản ánh
tồn tại xã hội dưới dạng các quy tắc điều chỉnh hành vi con người. Sự tự ý đánh thức
của con người về lương tâm, trách nhiệm, nghĩa vụ , danh dự,... nói lên sức mạnh của
đạo đức, đồng thời cũng là biểu hiện bản chất xã hội của con người. Với ý nghĩa đó,
sự phát triển của ý thức đạo đức là nhân tố biểu hiện sự tiến bộ của xã hội
- Ý thức đạo đức bao gồm hệ thống những tri thức về giá trị và định hướng giá trị đạo
đức; những tình cảm và lí tưởng đạo đức, trong đó tình cảm đạo đức là yếu tố quan
trọng nhất, bởi vì nếu không có tình cảm đạo đức thì tất cả những khái niệm, những
phạm trù và tri thức đạo đức thu nhận được bằng con đường lý tính không thể chuyển
hóa thành hành vi đạo đức
- Trong các xã hội có giai cấp, những nội dung chủ yếu của đạo đức mang tính giai
cấp, giai cấp nào đang đi lên thì giai cấp đó sẽ đại diện cho xu hướng đạo đức tiến bộ
trong xã hội. Ngược lại, giai cấp đang đi xuống, lụi tàn hoặc phản động đại diện cho
xu hướng đạo đức suy thoái
- Từ xưa đến nay, trong tiến trình phát triển của lịch sử nhân loại, ở các hệ thống đạo
đức khác nhau, vẫn có những yếu tố chung mang tính toàn nhân loại. Đó là những quy
tắc ứng xử nhằm điều chỉnh hành vi của con người, nhằm duy trì trật tự xã hội hiện
hành và các sinh hoạt thường ngày của con người trong cộng đồng xã hội. Những quy
tắc chung mang tính toàn nhân loại này đã từng tồn tại rất lâu, và chắc chắn sẽ còn tồn
tại lâu dài cùng với sự tồn tại của con người suốt trong lịch sử nhân loại
- Hiện nay, chúng ta đang sống trong điều kiện kinh tế thị trường, hội nhập quốc tế
ngày càng sâu rộng và toàn cầu hóa cho nên con người chịu sự tác động và ảnh hưởng
không nhỏ của nhiều loại đạo đức khác nhau. Vì vậy nhiệm vụ giáo dục các giá trị đạo
đức lành mạnh, tiến bộ là nhiệm vụ hết sức quan trọng, nhất là đối với thế hệ trẻ 2.4.4. Ý thức thẩm mỹ
- Ý thức thẩm mỹ phản ánh tồn tại xã hội. Tuy nhiên, nếu khoa học và triết học phản
ánh thế giới bằng khái niệm, bằng phạm trù và quy luật, thì nghệ thuật phản ánh thế
giới bằng hình tượng nghệ thuật. Hình tượng nghệ thuật là sự nhận thức sự lĩnh hội cái 6
chung trong cái riêng; là sự nhận thức cái bản chất trong cái hiện tượng, cái phổ biến
trong cái cá biệt nhưng mang tính điển hình
- Nghệ thuật chân chính gắn với cuộc sống của nhân dân và các hình tượng nghệ
thuật có giá trị thẩm mỹ cao đáp ứng những nhu cầu thẩm mỹ lành mạnh, đa dạng của
nhiều thế hệ. Chúng có tác động tích cực đến sự trải nghiệm, xúc cảm, tình cảm, lý trí,
là nhân tố kích thích mạnh mẽ hoạt động của con người và qua đó thúc đẩy sự tiến bộ
xã hội. Nghệ thuật và những giá trị nghệ thuật cao đó còn có tác dụng giáo dục các thế
hệ tương lai, góp phần hình thành ở họ thế giới quan và vốn văn hóa tiên tiến
- Trong xã hội có phân chia giai cấp thì nghệ thuật mang tính giai cấp và chịu sự chi
phối của các quan điểm chính trị, của các quan hệ kinh tế. Tuy nhiên, cũng như hình
thái ý thức đạo đức, nghệ thuật và ý thức thẩm mỹ vẫn có những yếu tố mang tính
toàn nhân loại, do vậy nhiều nền nghệ thuật, nhiều tác phẩm nghệ thuật, nhiều giá trị
văn hóa vật thể và phi vật thể ở các giai đoạn lịch sử khác nhau, của các tác giả thuộc
các giai cấp và các dân tộc khác nhau đã trở thành những giá trị văn hóa chung tiêu
biểu, trường tồn và vô giá của nhân loại. Nghệ thuật tiến bộ đồng thời vừa phục vụ
cho dân tộc mình, vừa phục vụ cho cả nhân loại; vừa phục vụ cho thế hệ hiện tại lẫn
cho cả thế hệ tương lai 2.4.5. Ý thức tôn giáo
Giải thích nguồn gốc và bản chất của tôn giáo là một trong những vấn đề phức
tạp của triết học. Chủ nghĩa duy tâm và các tôn giáo đã và sẽ còn giải thích một cách
sai lầm, xuyên tạc về vấn đề này.
Tôn giáo là một hình thái ý thức xã hội phản ánh thế giới một cách hoang đường,
hư ảo, thần thánh hóa bằng các tín điều. Ph.Ăngghen viết: “Bất tôn giáo nào cũng đều
là sự phản ánh hư ảo vào đầu óc người ta sức mạnh ở bên ngoài chi phối cuộc sống
hàng ngày của họ; chỉ là sự phản ánh mà trong đó sức mạnh ở thế gian đã mang hình
thức sức mạnh siêu thế gian” .
Nguồn gốc tôn giáo gồm có nguồn gốc nhận thức và nguồn gốc xã hội, và xét
đến cùng đều gắn liền với tồn tại xã hội. Đó là:
- Sự bất lực và sợ hãi của con người trước những sức mạnh của tự nhiên chưa
được nhận thức và chế ngự là nguồn gốc nhận thức của tôn giáo.
- Sự bất lực, sợ hãi và đau khổ của con người trong điều kiện xã hội có áp lực,
bóc lột là nguồn gốc xã hội của tôn giáo. Trong điều kiện ấy, các quy luật xã hội biểu
hiện ra như là những lực lượng mù quáng, tự phát, trói buộc con người thường xuyên
quyết định số phận của họ. Cho nên họ cũng cảm nhận các lực lượng hiện thực này
của xã hội dưới hình thức thần bí hóa của lực lượng siêu nhiên. Khi bàn về xã hội tư
sản, V.I.Lênin viết: “Sự sợ hãi đã tạo ra thần linh, sợ hãi trước thế lực mù quáng của
tư bản, mù quáng vì quần chúng nhân dân không thể đoán trước được nó, là thế lực
bất cứ lúc nào trong đời sống của người vô sản và người tiểu chủ, cũng đe dọa đem lại 7
cho họ và đang đem lại cho họ sự phá sản “đột ngột”, “bất lực”, “ngẫu nhiên”, làm
cho họ phải diệt vong, biến họ thành một người ăn xin, một kẻ bần cùng, một gái điếm
và dồn họ vào cảnh chết đói, đó chính là nguồn gốc xấu xa của tôn giáo hiện đại mà
người duy vật phải chú ý đến trước hết và trên hết, nếu người ấy không muốn cứ mãi
mãi là một người duy vật sơ đẳng” .
Là một hình thái ý thức xã hội, tôn giáo bao gồm cả tâm lý tôn giáo và hệ tư
tưởng tôn giáo. Tâm lý tôn giáo là những tình cảm, niềm tin, tập quán, biểu tượng tín
ngưỡng, tôn giáo... Hệ tư tưởng tôn giáo là hệ thống giáo lý do các giáo sĩ, các nhà
thần học tạo ra và truyền bá trong xã hội. 2.4.6. Ý thức khoa học
Khoa học là sự khái quát cao nhất của thực tiễn, là phương thức nắm bắt tất cả
các hiện tượng của hiện thực, cung cấp những tri thức chân thực về bản chất các hiện
tượng các quá trình các quy luật của tự nhiên và xã hội.
Ý thức khoa học phản ánh hiện thực một cách chân thực và chính xác dựa vào sự
thật và lý trí con người. Khác với các hình thái xã hội khác, ý thức khoa học phản ánh
sự vận động và sự phát triển của giới tự nhiên, của xã hội loài người và của tư duy con
người bằng tư duy logic, thông qua hệ thống các khái niệm , các phạm trù, các quy luật và các lý thuyết.
Ý thức khoa học hướng con người vào việc biến đổi hiện thực, cải tạo thế giới
nhằm phục vụ cho đời sống ngày càng tốt hơn, cao hơn của con người. Khoa học đang
góp phần quan trọng vào việc giải quyết các vấn đề toàn cầu của thời đại, ngăn chặn
những tác động xấu do sự vô ý thức và sự tham lam của con người trong quá trình phát triển kinh tế.
2.4.7. Ý thức triết học
Hình thức đặc biệt và cao nhất của tri thức cũng như của ý thức xã hội là triết
học. Triết học, nhất là triết học Mác-Lênin, cung cấp cho con người tri thức về thế
giới như một chỉnh thể thông qua việc tổng kết toàn bộ lịch sử phát triển của khoa học
và của chính bản thân triết học.
Triết học nói chung và nhất là triết học duy vật biện chứng nói riêng có sứ mệnh
trở thành thế giới quan, mà cơ sở và hạt nhân của thế giới quan chính là tri thức. Thế
giới gian triết học bao hàm trong nó cả nhân sinh quan.
Ý thức triết học có vai trò rất quan trọng để nhận thức đúng đắn ý nghĩa vai trò
và vị trí của các hình thái ý thức xã hội khác để nhận thức đặc điểm, tính quy luật
trong tiến trình phát triển của chúng.
III. Mối quan hệ biện chứng giữa tồn tại xã hội và ý thức xã hội
3.1. Vai trò quyết định của tồn tại xã hội với ý thức xã hội. 8
Tồn tại xã hội quyết định đến sự hình thành và phát triển của ý thức xã hội, tồn tại
xã hội có trước rồi ý thức xã hội có sau. Tồn tại xã hội phát triển theo chiều hướng
như thế nào thì ý thức xã hội sẽ phát triển theo chiều hướng như thế. C.Mác và
Ăngghen đã chứng minh rằng đời sống tinh thần của xã hội hình thành và phát triển
trên cơ sở của đời sống vật chất, không thể tìm nguồn gốc tư tưởng, tâm lý xã hội trong chính bản thân nó.
Sự biến đổi của một thời đại nào đó cũng sẽ không thể giải thích được nếu chỉ căn
cứ vào ý thức của cả thời đại đó.
Ví dụ: trong xã hội cộng sản nguyên thủy, do trình độ của lực lượng sản xuất
còn yếu kém, hoạt động lao động được diễn ra đồng nhất và của cải đều được
chia đều cho mọi người. Tuy nhiên khi chế độ công xã nguyên thủy tan rã,
quan hệ sản xuất chiếm hữu nô lệ dần xuất hiện, xã hội đã bắt đầu có sự phân chia giàu nghèo.
Từ đây mà mầm mống của sự bóc lột bắt đầu hình thành, kéo theo sự ra đời của
chủ nghĩa cá nhân, tư tưởng chủ nô. Khi quan hệ sản xuất phong kiến bị quan hệ sản
xuất tư bản chủ nghĩa dần thay thế thì vị trí đặc trưng trong đời sống tinh thần xã hội
của hệ tư tưởng phong kiến bị xóa bỏ, được thay thế hoàn toàn bởi hệ tư tưởng tư sản.
Những luận điểm của C.Mác đã bác bỏ hoàn toàn những quan điểm sai lầm của
chủ nghĩa duy tâm trước đó là muốn đi tìm ý thức tư tưởng trong bản thân ý thức tư
tưởng, xác định tinh thần, tư tưởng là nguồn gốc của xã hội, quyết định ý thức xã hội,
chính là sự phản ánh của tồn tại xã hội, phụ thuộc vào tồn tại xã hội, ý thức xã hội.
Ngoài ra, giữa hình thái ý thức xã hội và tồn tại xã hội vẫn luôn có sự tác động qua
lại lẫn nhau. Cụ thể trong mỗi thời đại tùy vào từng hoàn cảnh lịch sử, có những hình
thái ý thức xã hội nào đó nổi lên hàng đầu tác động và chi phối các hình thái ý thức xã
hội khác. Điều này nói lên rằng, các hình thái ý thức xã hội không chỉ chịu sự tác động
quyết định của tồn tại xã hội, ngoài ra còn chịu sự tác động qua lại lẫn nhau. Sự tác
động này làm cho mỗi hình thái ý thức xã hội có những tính chất và những mặt không
thể giải thích trực tiếp bằng các quan hệ vật chất.
3.2. Tính độc lập tương đối của ý thức xã hội.
- Là một chỉnh thể tương đối độc lập phản ánh tồn tại xã hội dưới những góc độ khác
nhau, các hình thái ý thức xã hội có quy luật nội tại riêng, logic của sự phát triển riêng của nó.
- Trong xã hội có những lực lượng xã hội cố duy trì, sử dụng ý thức xã hội phục vụ
lợi ích riêng. Do đó, ý thức xã hội không phụ thuộc hoàn toàn vào tồn tại xã hội mà có
tính độc lập tương đối.
3.2.1. Ý thức xã hội thường lạc hậu hơn so với tồn tại xã hội 9
Lịch sử xã hội loài người cho thấy, nhiều khi xã hội cũ đã mất đi rất lâu rồi,
song ý thức xã hội do xã hội đó sản sinh ra vẫn tiếp tục tồn tại. Điều này biểu hiện rõ
nhất ở các khía cạnh khác nhau của tâm lý xã hội như truyền thống, thói quen và nhất
là tập quán. Chính vì vậy, V.I.Lênin đã khẳng định, “sức mạnh của tập quán ở hàng
triệu và hàng chục triệu người là một sức mạnh ghê gớm nhất”.
- Ý thức xã hội là cái phản ánh nên là cái có sau tồn tại xã hội. Tồn tại xã hội cũ bị
thay thế bằng tồn tại xã hội mới. Phương thức sản xuất cũ mất đi, phương thức sản
xuất mới ra đời nhưng ý thức xã hội cũ chưa mất đi.
- Tính lạc hậu được biểu hiện trong ý thức xã hội thông thường, ý thức lý luận và
đặc biệt là trong tâm lý xã hội, tình cảm, ước muốn, thói quen, tập quán. - Nguyên nhân:
Tồn tại xã hội thường biến đổi với tốc độ nhanh mà ý thức xã hội có thể phản
ánh không kịp và trở nên lạc hậu. Hơn nữa, ý thức xã hội là cái phản ánh nên
chỉ biến đổi sau khi có sự biến đổi của tồn tại xã hội. Nói cách khác, ý thức xã
hội là cái phản ánh, tồn tại xã hội là cái bị phản ánh cho nên tồn tại xã hội bao
giờ cũng biến đổi trước còn ý thức xã hội là cái biến đổi sau.
Do sức mạnh của thói quen, tập quán, truyền thống, cũng như do tính lạc hậu,
bảo thủ của một số hình thái ý thức xã hội.
Ý thức xã hội mang tính giai cấp nên những tư tưởng cũ, lạc hậu thường được
các thế lực xã hội phản tiến bộ lưu giữ và truyền bá nhằm chống các lực lượng xã hội tiến bộ.
Ý nghĩa: Những tư tưởng lạc hậu, tiêu cực thường không mất đi một cách dễ dàng.
Do đó, trong sự nghiệp xây dựng xã hội mới phải thường xuyên tăng cường công tác
tư tưởng, đấu tranh chống lại những âm mưu và hành động phá hoại của những lực
lượng thù địch về mặt tư tưởng; kiên trì xoá bỏ những tàn dư cũ, những tư tưởng và ý
thức xã hội cũ đồng thời ra sức giữ gìn, phát huy, bồi đắp và xây dựng ý thức xã hội
mới. Tuy nhiên, khi thực hiện những nhiệm vụ này thì không được nóng vội, không
được dùng các biện pháp hành chính như đã từng xảy ra ở các nước XHCN và cả ở
nước ta nhiều năm trước đây.
3.2.2. Ý thức xã hội có thể vượt trước tồn tại xã hội
- Triết học Mác thừa nhận rằng, ý thức xã hội thường lạc hậu hơn tồn tại xã hội nhưng
cũng có thể vượt trước tồn tại xã hội. Thực tế là nhiều tư tưởng khoa học và triết học
trong những điều kiện nhất định có thể vượt trước tồn tại xã hội của thời đại rất xa,
hướng hoạt động thực tiễn của con người vào mục đích nhất định. Sở dĩ ý thức xã hội
có khả năng đó là do nó phản ánh đúng được những mối liên hệ logic, khách quan, tất
yếu, bản chất của tồn tại xã hội. Lịch sử đã cho thấy nhiều dự báo của các nhà tư
tưởng lớn phải sau một thời gian, có thể ngắn hoặc rất dài, mới được thực tiễn xác
nhận. Nhiều dự báo của C.Mác đang trở thành sự thật trong thời đại chúng ta đã hoàn
toàn khẳng định điều đỏ. 10
Ví dụ về vấn đề này, ta có thể thấy được ở sự phát triển mạnh mẽ của khoa học kĩ
thuật giúp con người chinh phục được không gian và tiên đoán được những việc sẽ
xảy ra trong tương lai (thời tiết, các hiện tượng thiên nhiên,...)
- Hay như Chủ nghĩa Mác – Lênin cũng là một ví dụ điển hình khác. Chủ nghĩa Mác-
Lênin là hệ tư tưởng của giai cấp cách mạng nhất của thời đại – giai cấp công nhân,
tuy ra đời vào thế kỷ XIX trong lòng chủ nghĩa tư bản nhưng đã chỉ ra được những
quy luật vận động tất yếu của xã hội loài người nói chung, của xã hội tư bản nói riêng,
qua đó chỉ ra rằng xã hội tư bản nhất định sẽ bị thay thế bằng xã hội cộng sản.
- Trong thời đại ngày nay, chủ nghĩa Mác–Lênin vẫn là thế giới quan và phương pháp
luận chung nhất cho nhận thức và cải tạo thế giới trên mọi lĩnh vực, vẫn là cơ sở lý
luận và phương pháp khoa học cho sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội.
3.2.3. Tính kế thừa trong sự phát triển ý thức của xã hội:
Trong lịch sử phát triển của đời sống tinh thần xã hội, những quan điểm lý luận
của mỗi thời đại không xuất hiện trên mảnh đất trống không mà những quan điểm lý
luận này sẽ được tạo ra trên cơ sở kế thừa những tài liệu lý luận của các thời đại trước.
Vì vậy, khi chúng ta tiến hành cuộc đấu tranh trên lĩnh vực ý thức hệ thì không
những phải vạch ra tính chất phản khoa học của những trào lưu tư tưởng phản động
trong điều kiện tại, mà còn phải chỉ ra những nguồn gốc lý luận của chúng trong lịch sử.
Bởi vì ý thức xã hội có tính kế thừa, nên khi các chủ thể thực hiện việc nghiên
cứu một tư tưởng nào đó đều sẽ cần phải dựa và quan hệ kinh tế hiện và phải chú ý
đến các giai đoạn phát triển tư tưởng trước đó.
Ví dụ như khi làm cách mạng tư ѕản chống phong kiến, các chủ thể là những
nhà tư tưởng tiên tiến của giai cấp tư ѕản đã khôi phục những tư tưởng duу ật ᴠ ᴠ à
nhân bản của thời cổ đại. Ngược lại ta nhận thấy thấy những giai cấp lỗi thời à ᴠ các
nhà tư tưởng của nó thì tiếp thu, khôi phục những tư tưởng, những lý thuуết хã hội
phản tiến bộ của những thời kỳ lịch ѕử trước.
3.2.4. Sự tác động qua lại giữa các hình thái ý thức xã hội:
Ta nhận thấy rằng, ý thức xã hội bao gồm nhiều bộ phận, nhiều hình thái khác
nhau, theo nguyên lý mối liên hệ thì giữa các bộ phận hay các hình thái này sẽ không
tách rời nhau, mà nhiều bộ phận, nhiều hình thái này sẽ thường xuyên tác động qua lại
lẫn nhau. Sự tác động giữa nhiều bộ phận, nhiều hình thái đó làm cho ở mỗi hình thái
ý thức có những mặt, những tính chất không phải là kết quả phản ánh một cách trực
tiếp của tồn tại xã hội. 11
Lịch sử phát triển của ý thức xã hội cho thấy, thông thường ở mỗi thời đại khác
nhau và tuỳ theo hoàn cảnh lịch sử cụ thể có những hình thái ý thức nào đó nổi lên
hàng đầu sẽ tác động mạnh đến các hình thái khác nhau.
3.2.5. Ý thức xã hội tác động qua lại với tồn tại xã hội
Chủ nghĩa duy vật lịch sử không những chống lại quan điểm duy tâm tuyệt đối
hoá vai trò của ý thức xã hội mà chủ nghĩa duy vật lịch sử còn bác bỏ quan điểm duy
vật tầm thường khi phủ nhận tác động tích cực của ý thức xã hội đối với tồn tại xã hội.
Ph.Ăng ghen từng viết như sau: “Sự phát triển về mặt chính trị, pháp luật, triết
học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật v.v đều dựa vào sự phát triển kinh tế. Nhưng tất cả
chúng cũng có ảnh hưởng lẫn nhau và ảnh hưởng đến cơ sở kinh tế”.
Mức độ ảnh hưởng của tư tưởng đối với sự phát triển xã hội phụ thuộc vào điều
kiện lịch sử cụ thể và cũng căn cứ vào tính chất của các mối quan hệ kinh tế mà trên
đó tư tưởng nảy sinh; vào vai trò lịch sử của giai cấp mang ngọn cờ tư tưởng và vào
mức độ mở rộng của tư tưởng trong quần chúng.
Ta nhận thấy rằng, nguyên lý của chủ nghĩa duy vật lịch sử về tính độc lập
tương đối của ý thức xã hội đã chỉ ra bức tranh phức tạp của lịch sử phát triển ý thức
xã hội, nguyên lý của chủ nghĩa duy vật lịch sử về tính độc lập tương đối của ý thức
xã hội cũng đã bác bỏ quan điểm siêu hình, máy móc, tầm thường về mối quan hệ
giữa tồn tại xã hội và ý thức xã hội
Ví dụ: trong chế độ công xã nguyên thủy do lực lượng sản xuất còn thấp, công
cụ thô sơ như gậy gộc hòn đá cung tên nên người nguyên thủy buộc phải thực hiện tư
hữu về tư liệu sản xuất, phải sống thành tập đoàn để kiếm ăn, chống thú dữ, tất cả của
cải được chia đều, không có tình trạng chiếm hữu làm của riêng. Nhưng khi công cụ
sắt xuất hiện, lực lượng sản xuất có bước phát triển mới. Sản phẩm làm ra có dư thừa
tạo điều kiện cho tư hữu xuất hiện, hình thức đầu là chiếm hữu nô lệ. Thời kì đầu nó
rất thích hợp, phá vỡ sự trói buộc con người trong thị tộc bộ lạc, tạo điều kiện cho
phân công lao động, từ đó tạo ra công trình đồ sộ, lao động trí óc tách khỏi lao động
chân tay tạo sự phát triển rực rỡ của thi ca điêu khắc, triết học thời cổ đại.
3.3. Ý nghĩa phương pháp luận.
- Để nhận thức đúng các hiện tượng thuộc đời sống ý thức xã hội một mặt, cần
phải căn cứ vào tồn tại xã hội đã làm nảy sinh ra nó, mặt khác cũng cần phải giải thích
các hiện tượng đó từ những phương diện khác nhau thuộc nội dung tích độc lập tương
đối của ý thức xã hội.
- Trong thực tiễn cải tạo xã hội cũ, xây dựng xã hội mới cần phải được tiến
hành đồng thời trên cả hai mặt tồn tại xã hội và ý thức xã hội. 12
B. Sự vận dụng của Đảng ta trong việc xây dựng
nền văn hoá tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc.
1. Sự phóng phú, đa dạng của nền văn hoá dân tộc và một số tồn tại, hạn chế.
Đất nước Việt Nam đã trải qua hàng ngàn năm lịch sử dựng
nước và giữ nước nên cũng qua đó hình thành một nền văn hoá dân
tộc Việt Nam rất riêng biệt. Nền văn hoá Việt Nam là kết quả của cả
một quá trình, là tinh hoa của lịch sử và thời đại. Cơ sở hình thành và
phát triển của văn hóa Việt Nam cụ thể như sau:9
Thời gian văn hóa Việt Nam: Văn hóa Việt Nam đã được định
hình từ khi hình thành nhà nước sơ khai đầu tiên của Việt Nam
cụ thể đó là kể từ khi có nhà nước Văn Lang của các Vua Hùng.
 Đặc điểm tự nhiên:9
Việt Nam là đất nước nằm ở trung tâm Đông Nam Á.9
Việt Nam có địa hình đa dạng; có nền khí hậu nhiệt đới nóng
ẩm, mưa nhiều; là xứ sở thực vật; nhiều sông ngòi9 và đồng
bằng phù sa; có bờ biển chạy dài suốt chiều dài đất nước (hơn
3.000 km); và là vùng sông nước – trồng lúa nước.9
Phương thức sản xuất nông nghiệp lúa nước giữ vị trí chủ đạo
đối với đất nước và đây chính là đặc trưng gốc chi phối đến sự
hình thành các đặc trưng bản sắc của văn hóa Việt Nam cho đến tận ngày nay.9
Điều kiện lịch sử – xã hội:
Đất nước ta liên tục bị xâm lược và đấu tranh chống xâm lược và có sự giao
lưu, tiếp xúc với các nền văn hóa khác trên thế giới.
Thành phần xã hội của Việt Nam: nông dân giữ vị trí chủ đạo.
Tổ chức xã hội của Việt Nam: làng là đơn vị cộng đồng nền tảng. Tại Việt Nam
thì văn hóa làng là hạt nhân cơ bản làm nên bản sắc văn hóa đất nước.
Chủ thể văn hóa Việt Nam: hiện nay đất nước ta bao gồm 54 dân tộc và là một
cấu trúc đa tộc người và đa văn hóa. Cấu trúc đa tộc người ở Việt Nam bao gồm:
Các tộc người bản địa đã có mặt trên lãnh thổ Việt Nam từ thời tiền sử, xuất
phát từ nhiều nguồn gốc nhân chủng và ngôn ngữ khác nhau.
Tộc người Việt (người Kinh) đóng vai trò chủ thể.
Ta nhận thấy rằng, văn hóa của người Việt giữ vai trò hạt nhân đối với sự hình
thành bản sắc văn hóa Việt Nam. 13
Từ cơ sở hình thành và phát triển của nền văn hóa Việt Nam ta rút ra những đặc
trưng của nền văn hóa Việt Nam như sau:
a. Nền văn hóa hình thành từ nền tảng nông nghiệp trồng lúa nước ở miền sông nước và biển đảo.
b. Nền văn hóa đề cao giá trị văn hóa gia đình truyền thống.
c. Nền văn hóa đậm tính cộng đồng, tự trị của văn hóa làng xã.
d. Nền văn hóa thấm đậm, bao trùm tinh thần yêu nước, ý thức quốc gia - dân tộc.
e. Nền văn hóa đa dân tộc, thống nhất trong đa dạng.
g. Nền văn hóa mở, thích ứng và tiếp biến hài hoà các nền văn minh nhân loại.
Tuy nhiên, cùng với sự hội nhập và phát triển bên cạnh những mặt tích cực nền
văn hóa Việt Nam đã xuất hiện những hiện tượng tự diễn biến, tự chuyển hóa, thậm
chí đánh mất bản sắc dân tộc. Đặc biệt là người trẻ không mặn mà với các giá trị văn
hóa truyền thống dân tộc mà thay vào đó lại rất ưa chuộng những điều mới lạ, “sính
ngoại”, dễ dàng đón nhận những nét văn hóa ngoại lại mà không có chọn lọc.
Ví dụ, Trong lĩnh vực giải trí, giới trẻ đang bị cuốn hút và mải mê chạy theo
những trào lưu du nhập từ nước ngoài, thậm chí vấn đề đã lên đến mức báo động. Giới
trẻ bị thu hút bởi những trào lưu văn hóa ngoại lại như: thời trang, âm nhạc Hàn Quốc,
Âu Mỹ,… ngược lại thờ ơ với các loại hình văn hóa truyền thống dân tộc như: tuồng, chèo, cải lương,....
Ngoài ra,vẫn còn tồn tại một số hủ tục, phong tục của đồng bào dân tộc thiểu số
không còn phù hợp, cản trở sự phát triển kinh tế - xã hội.
Ví dụ, Tảo hôn và hôn nhân cận huyết thống; mê tín dị đoan, tục bắt vợ,…
2. Sự vận dụng mối quan hệ giữa tồn tại xã hội và ý thức xã hội của Đảng ta trong
việc xây dựng nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc.

Trong công cuộc đổi mới đất nước, xây dựng ý thức xã hội mới là vấn đề bức
thiết. Xây dựng ý thức xã hội mới là sự nghiệp của toàn dân, đặt dưới sự lãnh đạo của
Đảng, trên cơ sở xây dựng và phát triển nền văn hoá tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc,
vận dụng sáng tạo và phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, kết
hợp chặt chẽ giữa “xây” và “chống”. Xây dựng ý thức xã hội mới, chúng ta cần phải
đẩy mạnh công cuộc xây dựng đời sống kinh tế mới, văn hoá mới, con người mới;
không ngừng hoàn thiện ý thức xã hội theo hướng khoa học, cách mạng, tiến bộ; đồng
thời tăng cường công tác tuyên truyền, giáo dục ý thức xã hội mới.
Có thể hiểu ý thức xã hội mới mà chúng ta đang xây dựng là toàn bộ quan
điểm, tư tưởng, tình cảm, tâm trạng... của xã hội mới mà hạt nhân là chủ nghĩa Mác -
Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, chủ trương của Đảng và Nhà nước phản ánh
lợi ích căn bản của nhân dân nhằm phục vụ công cuộc xây dựng xã hội mới. Trên thực
tế, ý thức xã hội mới đó biểu hiện rất phong phú, đa dạng. Ngoài hệ tư tưởng, nó còn 14
được biểu hiện ra ở tâm trạng, tình cảm, nhu cầu và cả thói quen, phong tục, tập quán
của cộng đồng xã hội.
Trong lĩnh vực văn hóa, Đảng ta xác định xây dựng ý thức xã hội mới trên cơ
sở đẩy mạnh sự nghiệp xây dựng và phát triển nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc
dân tộc, làm cho văn hoá thực sự trở thành mục tiêu, động lực của phát triển, thành
nền tảng tinh thần của xã hội.
Sự phát triển xã hội không chỉ có đời sống vật chất, mà còn có đời sống tinh
thần. Đó là hai mặt không thể thiếu và giữa chúng có sự gắn bó, tác động tương hỗ có
thể làm giàu, phong phú cho nhau và cũng có thể kìm hãm nhau trong quá trình phát
triển. Bên cạnh kinh tế, văn hoá luôn đóng vai trò quyết định trong quá trình phát triển
và sự trường tồn của mỗi quốc gia, dân tộc. Hơn nữa, từ trong bản chất, văn hoá đã
mang tính nhân văn, chứa đựng cái đúng, cái tốt, cái đẹp được cộng đồng dân tộc sáng
tạo, lưu giữ, truyền lại cho thế hệ sau thành truyền thống văn hoá, thành hồn thiêng
dân tộc. Các truyền thống này được chuyển tải vào các lĩnh vực chính trị, đạo đức,
pháp luật, nghệ thuật, tôn giáo, v.v. tạo thành môi trường văn hoá nuôi dưỡng đời
sống tinh thần mỗi cá nhân và cả cộng đồng. Trong điều kiện hiện nay, văn hoá còn
đóng vai trò quan trọng trong việc điều tiết nền kinh tế thị trường theo hướng phát
triển bền vững, hạn chế bớt những mặt trái của kinh tế thị trường. Chính vì vậy, xây
dựng và phát triển nền văn hoá tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc là nội dung cốt lõi
trong đời sống tinh thần xã hội, là nhiệm vụ quan trọng trong sự nghiệp xây dựng xã hội mới.
Quan điểm xây dựng và phát triển nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân
tộc đã được Đảng ta đề cập đến từ rất sớm, được phản ánh trong Đề cương văn hóa
Việt Nam (năm 1943), trong các văn kiện sau đó của Đảng. Ngay trong Đề cương văn
hoá Việt Nam, Đảng ta đã xác định văn hoá là một trong ba mặt trận: kinh tế, chính
trị, văn hoá và ba mặt trận này có quan hệ biện chứng với nhau, tạo thành động lực
đưa cách mạng tới thành công. Và cũng ở đây, văn hoá được xác định "gồm cả tư
tưởng, học thuật, nghệ thuật". Như vậy, văn hóa là cốt lõi của ý thức xã hội và xây
dựng nền văn hóa mới là cốt lõi của việc xây dựng ý thức xã hội mới. Với quan niệm
đó, Đảng ta đã xác định ba phương châm xây dựng văn hóa mới là: dân tộc, khoa học
và đại chúng. Trong Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa
xã hội được thông qua tại Đại hội VII (1991), Đảng ta đã chỉ rõ, xã hội mà chúng ta
xây dựng là xã hội có nền văn hoá tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc.
Trong thời kỳ đổi mới hiện nay, với việc tiếp thu, thừa kế các nghị quyết về
trước, nghị quyết “Xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản
sắc dân tộc” mà Hội nghị Trung ương 5 khóa VIII (1998) đưa ra đến nay là Nghị
quyết có ý nghĩa chiến lược, chỉ đạo quá trình xây dựng và phát triển sự nghiệp văn
hóa ở nước ta, cần được kế thừa, bổ sung và phát huy trong thời kỳ mới. Văn kiện Đại
hội X (2006) đã nhấn mạnh: “Tiếp tục phát triển sâu rộng và nâng cao chất lượng nền 15
văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, gắn kết chặt chẽ và đồng bộ hơn với phát
triển kinh tế - xã hội, làm cho văn hóa thấm sâu vào mọi lĩnh vực của đời sống xã hội
”.
Cương lĩnh xây dựng đất nước thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (Bổ sung,
phát triển 2011) được Đại hội XI của Đảng thông qua đã xác định: “Xây dựng nền văn
hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, phát triển toàn diện, thống nhất
trong đa dạng, thấm nhuần sâu sắc tinh thần nhân văn, dân chủ, tiến bộ; làm cho văn
hóa gắn kết chặt chẽ và thấm sâu vào toàn bộ đời sống xã hội, trở thành nền tảng tinh
thần vững chắc, sức mạnh nội sinh quan trọng của phát triển
”.
Đảng ta đã xác định: “Phương hướng chung của sự nghiệp văn hoá nước ta là
phát huy chủ nghĩa yêu nước và truyền thống đại đoàn kết dân tộc, ý thức độc lập tự
chủ, tự cường, xây dựng và bảo vệ tổ quốc xã hội chủ nghĩa
, xây dựng và phát triển
nền văn hoá Việt Nam tiên tiến, đạm đà bản sắc dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hoá
nhân loại, làm cho văn hoá thấm sâu vào toàn bộ đời sống và hoạt động xã hội, vào
từng người, từng gia đình, từng tập thể và cộng đồng, từng địa bàn dân cư, tạo ra trên
đất nước ta đời sống tinh thần cao đẹp, trình độ dân trí cao, khoa học phát triển, phục
vụ đắc lực sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh.
xã hội công bằng, văn minh, tiến bước vững chắc lên chủ nghĩa xã hội”.
- Về phương hướng xây dựng và phát triển văn hóa hiện nay, chúng ta cần nhấn mạnh hai điểm sau:
Thứ nhất, trong thời kỳ đổi mới hiện nay, chúng ta phải phát huy chủ nghĩa yêu
nước và truyền thống đại đoàn kết dân tộc, ý thức độc lập tự chủ tự cường để xây
dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa. Mặc dù đây là thời kỳ hoà bình và xây
dựng đất nước nhưng không phải là thời kỳ nghỉ ngơi, hưởng lạc mà là thời kỳ mở ra
một cuộc chiến đấu mới chống lại nghèo nàn, lạc hậu, đưa đất nước phát triển giàu mạnh.
Trong cuộc chiến đấu quyết liệt này, chủ nghĩa yêu nước, sự thông minh và
giàu năng lực sáng tạo của nhân dân, truyền thống đại đoàn kết dân tộc, ý thức độc
lập, tự chủ, tự cường là cơ sở tạo nên sự thống nhất về ý chí, bản lĩnh của dân tộc
trong quá trình đấu tranh gian khổ, vất vả, đầy thách thức để xây dựng và bảo vệ Tổ
quốc. Vì vậy, giáo dục truyền thống yêu nước, bổ sung những nội dung mới vào khái
niệm yêu nước, kết hợp chủ nghĩa yêu nước với tư tưởng cách mạng và tiến bộ của
thời đại; giáo dục tinh thần tự hào, tự tin dân tộc, tin vào con đường xã hội chủ nghĩa
mà Bác Hồ, Đảng ta và nhân dân ta đã lựa chọn; bồi dưỡng quyết tâm chính trị, xây
dựng ý chí và bản lĩnh của cả dân tộc trong cuộc chiến đấu mới này là nhiệm vụ chung
của toàn Đảng, toàn dân ta.
Thứ hai, về hành động, chúng ta phải chủ động, tích cực, sáng tạo hơn nữa
trong việc nâng cao chất lượng xây dựng nền văn hoá Việt Nam tiên tiến, đậm đà 16
bản sắc dân tộc, tạo điều kiện và cơ hội nhiều hơn nữa để nâng cao dân trí, phát triển
nguồn nhân lực và khoa học công nghệ, xây dựng môi trường văn hoá lành mạnh, thúc
đẩy sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá. Ở đây, cần phát huy tính tích cực
chính trị của công dân, chú trọng tới các phong trào quần chúng
trong tổ chức và
xây dựng sự nghiệp phát triển văn hoá, làm cho văn hóa gắn kết chặt và đồng bộ hơn
với phát triển kinh tế, xây dựng Đảng, củng cố hệ thống chính trị và thấm sâu vào toàn bộ đời sống xã hội.
Năm quan điểm chỉ đạo cơ bản trong quá trình xây dựng và phát triển sự
nghiệp phát triển văn hoá nước ta là:
- Văn hoá là nền tảng tinh thần của xã hội, vừa là mục tiêu, vừa là động lực thúc đẩy
sự phát triển kinh tế- xã hội.
- Nền văn hoá mà chúng ta đang xây dựng là nền văn hoá tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc.
- Nền văn hoá Việt Nam là nền văn hoá thống nhất mà đa dạng trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam.
- Xây dựng và phát triển văn hoá là sự nghiệp của toàn dân do Đảng lãnh đạo, trong
đó đội ngũ trí thức giữ vai trò quan trọng.
- Văn hoá là một mặt trận; xây dựng và phát triển văn hoá là một sự nghiệp cách mạng
lâu dài, đòi hỏi phải có ý chí cách mạng và sự kiên trì thận trọng.
Năm quan điểm này đều mang tầm chiến lược lâu dài cần quán triệt nhất quán và
xuyên suốt quá trình xây dựng và phát triển sự nghiệp văn hoá ở nước ta trong thời kỳ
đẩy mạnh công nghiệp hóa và hội nhập kinh tế quốc tế. Danh mục tham khảo
1. https://luatduonggia.vn/co-so-qua-trinh-hinh-thanh-va-phat-trien-cua-van- hoa-viet-nam/
2. “Xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc”:
https://dangcongsan.vn/tu-tuong-van-hoa/xay-dung-nen-van-hoa-viet-nam-tien-tien-
dam-da-ban-sac-dan-toc-208817.html
3. Giáo trình Triết học Mác-Lênin, Trường Đại học Thương Mại.   17