Đang tải lên

Vui lòng đợi trong giây lát...

Preview text:

TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI BỘ MÔN TRIẾT HỌC ĐỀ TÀI
Quan điểm của triết học Mác – Lênin về mối quan hệ giữa tồn tại xã hội và
ý thức xã hội. Sự vận dụng của Đảng Cộng sản Việt Nam vào chính sách
phát triển văn hoá để xây dựng nền tảng tinh thần ở nước ta hiện nay. NHÓM: 9
LỚP HP: 232_MLNP0221_05
GIẢNG VIÊN HƯỚNG DẪN: ĐÀO THU HÀ HÀ NỘI, 2024
BẢNG PHÂN CÔNG NHIỆM VỤ TT Họ và tên Nhiệm vụ Nhóm tự Đánh giá xếp loại của giảng viên 1Nguyễn Phương Làm nội dung II Trang 2Trần Thị Trang Làm nội dung 1.2.3 và 1.2.4
3Vũ Thị Thu Trang Làm nội dung 1.3.2.1 và 1.3.2.2 4Hồ Chí Trung Mở đầu, tài liệu tham khảo 5Nguyễn Thị Minh Làm nội dung II Tuyết 6Phạm Thị Ánh - Nhóm trưởng Tuyết - Làm nội dung 1.3.1 7Dương Hải Vân Làm nội dung 1.2.1. và 1.2.2
8Nguyễn Thanh Vân Làm powerpoint
9Nguyễn Hữu Vinh Làm nội dung 1.3.2.5 và kết luận 10 Phạm Khánh Vy Thuyết trình 11 Vũ Thị Xuân - Làm nội dung 1.1 - Làm word
12 Nguyễn Trinh Yến Làm nội dung 1.3.2.3 và 1.3.2.4 Contents
MỞ ĐẦU...............................................................................................................1
NỘI DUNG...........................................................................................................2
I. QUAN ĐIỂM CỦA TRIẾT HỌC MÁC – LÊNIN VỀ MỐI QUAN HỆ GIỮA
TỒN TẠI XÃ HỘI VÀ Ý THỨC XÃ HỘI...........................................................2
1.1. Khái niệm, cấu trúc của tồn tại xã hội............................................................2
1.1.1. Khái niệm tồn tại xã hội..........................................................................2
1.1.2. Các yếu tố cơ bản của tồn tại xã hội........................................................2
1.2. Khái niệm, kết cấu, tính giai cấp, các hình thái của ý thức xã hội.................4
1.2.1. Khái niệm về ý thức xã hội.....................................................................4
1.2.2. Kết cấu của ý thức xã hội........................................................................4
1.2.3. Tính giai cấp của ý thức xã hội...............................................................6
1.2.4. Các hình thái ý thức xã hội......................................................................9
1.3. Quan hệ biện chứng giữa tồn tại xã hội và ý thức xã hội.............................14
1.3.1. Tồn tại xã hội quyết định ý thức xã hội.................................................14
1.3.2. Tính độc lập tương đối của ý thức xã hội..............................................15
1.3.2.1. Ý thức xã hội thường lạc hậu so với tồn tại xã hội.........................15
1.3.2.2. Ý thức xã hội có thể vượt trước tồn tại xã hội................................16
1.3.2.3. Ý thức xã hội có sự kế thừa trong sự phát triển của nó..................17
1.3.2.4. Sự tác động qua lại giữa các hình thái ý thức xã hội trong sự phát
triển của chúng............................................................................................18
1.3.2.5. Ý thức xã hội tác động trở lại tồn tại xã hội...................................19
II. SỰ VẬN DỤNG CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM VÀO CHÍNH
SÁCH PHÁT TRIỂN VĂN HOÁ ĐỂ XÂY DỰNG NỀN TẢNG TINH THẦN
Ở NƯỚC TA HIỆN NAY...................................................................................21
2.1. Thực trạng....................................................................................................21
2.2. Giải pháp......................................................................................................27
KẾT LUẬN.........................................................................................................40
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO............................................................41 MỞ ĐẦU
Triết học Mác - Lênin quan tâm đặc biệt đến mối quan hệ giữa tồn tại xã
hội và ý thức xã hội, một trong những nguyên tắc cơ bản của triết học duy vật
lịch sử. Điều này là trung tâm của lý thuyết về “phản ánh”, một khái niệm quan
trọng trong triết học Mác - Lênin. Theo triết học Mác - Lênin, tồn tại xã hội (tức
là cách tổ chức và sản xuất của xã hội) quyết định ý thức xã hội (tức là cách mà
con người hiểu và tạo ra tri thức về thế giới xã hội). Ý thức xã hội không tồn tại
độc lập, mà nó phản ánh tồn tại xã hội. Triết học Mác - Lênin giải thích mối
quan hệ phức tạp giữa tồn tại xã hội và ý thức xã hội, làm sáng tỏ cách mà các
yếu tố kinh tế, xã hội và văn hóa tương tác với nhau để tạo ra và thay đổi xã hội.
Với những lý lẽ đã nêu trên, Đảng Cộng sản Việt Nam đã áp dụng nhiều chính
sách văn hóa để củng cố tinh thần quốc gia bằng cách sử dụng tư duy duy vật
lịch sử và phản ánh thực tế xã hội, họ xây dựng một văn hóa đa dạng và phong
phú. Đồng thời, họ thúc đẩy sự tham gia của cộng đồng trong các hoạt động văn
hóa, từ việc duy trì và phát triển di sản văn hóa dân tộc đến việc tham gia vào
các sự kiện văn hóa cộng đồng. Ngoài ra, việc nâng cao ý thức văn hóa qua giáo
dục và đào tạo, cùng với bảo tồn và phát triển văn hóa dân tộc, đã góp phần vào
việc duy trì và phát triển bền vững của văn hóa Việt Nam.
Chúng em chọn đề tài “Quan điểm của triết học Mác – Lênin về mối quan
hệ giữa tồn tại xã hội và ý thức xã hội. Sự vận dụng của Đảng Cộng sản Việt
Nam vào chính sách phát triển văn hoá để xây dựng nền tảng tinh thần ở nước
ta hiện nay
” là vì đề tài này tập trung vào quan điểm của triết học Mác - Lênin
về mối liên hệ cơ bản giữa tồn tại xã hội và ý thức xã hội, đồng thời đi sâu vào
cách mà Đảng Cộng sản Việt Nam vận dụng triết lý này vào chính sách văn hóa.
Nghiên cứu này sẽ phân tích cơ sở lý luận về triết học Mác - Lênin và sự áp
dụng của nó trong thực tiễn xã hội Việt Nam. Việc hiểu rõ hơn về triết lý này sẽ
giúp lý giải cách mà Đảng xây dựng nền tảng tinh thần, thúc đẩy sự đa dạng và
phát triển của văn hóa dân tộc. Qua đó, nghiên cứu cung cấp cái nhìn tổng thể về
vai trò và ảnh hưởng của triết lý Mác - Lênin trong phát triển văn hóa và xã hội của Việt Nam hiện nay. 1 NỘI DUNG
I. QUAN ĐIỂM CỦA TRIẾT HỌC MÁC – LÊNIN VỀ MỐI QUAN HỆ
GIỮA TỒN TẠI XÃ HỘI VÀ Ý THỨC XÃ HỘI
1.1. Khái niệm, cấu trúc của tồn tại xã hội
1.1.1. Khái niệm tồn tại xã hội
Tồn tại xã hội là khái niệm dùng để chỉ phương diện sinh hoạt vật chất và
các điều kiện sinh hoạt vật chất của xã hội trong những điều kiện lịch sử nhất
định. Tồn tại xã hội của con người là thực tại xã hội khách quan, là một kiểu vật
chất xã hội, là các quan hệ xã hội vật chất được ý thức xã hội phản ánh. Trong
các quan hệ xã hội vật chất ấy thì quan hệ giữa con người với giới tự nhiên và
quan hệ giữa con người với con người là những quan hệ cơ bản nhất.
Ví dụ: Thời tiền sử của Việt Nam có thể tính từ khi con người bắt đầu có mặt
trên lãnh thổ Việt Nam cho tới khoảng thế kỉ I TCN. Khi đó con người đã biết
sử dụng công cụ thô sơ bằng đá cuội để săn bắt, hái lượm. Công cụ còn rất thô
sơ song đã có những bước tiến lớn trong kĩ thuật chế tác nhằm phục vụ đời sống.
Bên cạnh đó còn có điều kiện khí hậu thuận lợi cho đời sống con người cộng với
sự đa dạng, phong phú của các loài động, thực vật phương Nam.
1.1.2. Các yếu tố cơ bản của tồn tại xã hội
Các yếu tố chính tạo thành tồn tại xã hội là: điều kiện tự nhiên, điều kiện
dân số và phương thức sản xuất.
a) Điều kiện tự nhiên
- Cung cấp cho con người những tư liệu sinh hoạt không cần thông qua chế biến.
- Tự nhiên cung cấp cho chúng ta những nguyên liệu để chế biến thành sản phẩm.
- Là địa bàn cho con người sinh sống và sản xuất.
- Tạo điều kiện cho sự phân công lao động xã hội.
=> Con người không thể tách rời khỏi tự nhiên. 2
Ví dụ: Nước ta có 3 nhóm đất chính là đất feralit hình thành trực tiếp tại các
miền đồi núi thấp (thích hợp trồng cây công nghiệp), đất mùn núi cao (chủ yếu
là đất rừng đầu nguồn cần được bảo vệ) và đất phù sa ở đồng bằng (phù hợp
trồng các cây lương thực, cây ăn quả...).
b) Điều kiện dân số
- Số lượng và mật độ dân cư có ảnh hưởng trực tiếp đến nguồn lao động xã hội,
tổ chức và phân công lao động.
- Chất lượng dân cư có vai trò quan trọng trong sản xuất.
- Sự gia tăng dân cư có ảnh hưởng lớn đến đời sống sản xuất.
Ví dụ: Cấu trúc dân cư của nền nông nghiệp trong xã hội Việt Nam xưa thì tổ
chức theo mô hình làng xã sẽ phù hợp và thuận lợi hơn so với tổ chức dân cư
theo lối du mục di động.
c) Phương thức sản xuất
- Là cách thức con người thực hiện quá trình sản xuất ở những giai đoạn lịch sử xã hội nhất định.
- Là sự thống nhất của lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất.
- Lịch sử phát triển của xã hội loài người là lịch sử phát triển của các phương thức sản xuất.
- Mỗi giai đoạn nhất định của lịch sử xã hội loài người bao giờ cũng được đặc
trưng bởi một phương thức sản xuất nhất định.
- Sự thay đổi của phương thức là sự thay đổi có tính chất cách mạng, làm cho xã
hội được chuyển sang một chất mới.
Ví dụ: Phương thức sản xuất của xã hội phong kiến ở Việt Nam là phương thức
sản xuất nông nghiệp chủ yếu dùng sức người kết hợp cùng với những công cụ
thô sơ như cuốc, xẻng,.. cày ruộng thì dùng trâu.
Các yếu tố trên tồn tại trong mối quan hệ thống nhất biện chứng, chúng
tác động lẫn nhau tạo thành điều kiện sinh tồn và phát triển của xã hội. Trong
đó, yếu tố phương thức sản xuất đóng vai trò quyết định. Bởi vì trình độ của
phương thức sản xuất như thế nào sẽ quyết định sự tác động của con người đến 3
môi trường tự nhiên và quy mô phát triển dân số như thế ấy. Khi phương thức
sản xuất thay đổi sẽ dẫn đến đời sống vật chất thay đổi theo.
1.2. Khái niệm, kết cấu, tính giai cấp, các hình thái của ý thức xã hội
1.2.1. Khái niệm về ý thức xã hội
Ý thức xã hội là khái niệm triết học dùng để chỉ các hình thái khác nhau
của tinh thần trong đời sống xã hội bao gồm những tư tưởng, quan điểm, tình
cảm, tâm trạng, thói quen, phong tục, tập quán, truyền thống...của cộng đồng xã
hội được sinh ra trong quá trình xã hội tồn tại và phản ánh tồn tại xã hội trong
từng giai đoạn lịch sử nhất định. Ý thức xã hội chỉ là một bộ phận của đời sống tinh thần. Ví dụ:
+ Truyền thống yêu nước, nhân đạo nhân nghĩa của dân tộc. Đức tính cần
cù chăm chỉ và truyền thống hiếu học được truyền từ đời này qua đời khác.
+ Một số câu ca dao, tục ngữ thể hiện tư tưởng : “ Ăn cỗ đi trước, lội
nước theo sau”, “Một giọt máu đào hơn ao nước lã” hay một số tư tưởng hiện
hành như bảo thủ, ganh ghét,...
1.2.2. Kết cấu của ý thức xã hội
Tùy thuộc vào góc độ xem xét, người ta thường chia ý thức xã hội thành:
ý thức xã hội thông thường và ý thức lý luận, tâm lý xã hội và hệ tư tưởng xã
hội. Được biểu diễn qua sơ đồ dưới đây: 4
a) Theo trình độ phản ánh gồm: ý thức thông thường và ý thức lý luận
- Ý thức thông thường: là toàn bộ những tri thức, kinh nghiệm của những con
người trong một cộng đồng nhất định được hình thành một cách trực tiếp từ hoạt
động thực tiễn hàng ngày chưa được hệ thống hóa, lý thuyết hóa thành lý luận.
Ví dụ: Khi một nhóm người thấy rằng việc bảo vệ và duy trì môi trường là quan
trọng và họ tham gia vào các hoạt động bảo vệ môi trường như tách rác, trồng
cây, hoặc tham gia vào các chiến dịch biểu quyết chống lại việc sử dụng nhựa
một lần. Hành động này phản ánh sự nhận thức và ý thức của nhóm về tầm quan
trọng của việc bảo vệ môi trường cho cả xã hội và hành động của họ được thúc
đẩy bởi giá trị và niềm tin chung của nhóm đó về môi trường sống bền vững và sức khỏe của hành tinh.
- Ý thức lý luận: Phản ánh trừu tượng, khái quát những tư tưởng, quan điểm đã
được hệ thống hóa, khái quát hóa thành các học thuyết xã hội, được trình bày
dưới dạng những khái niệm, phạm trù, quy luật. Ý thức lý luận có khả năng
phản ánh hiện thực khách quan một cách khái quát, sâu sắc và chính xác, vạch ra
các mối liên hệ bản chất của các sự vật và hiện tượng. Ý thức lý luận đạt trình
độ cao và mang tính hệ thống tạo thành các hệ tự tưởng. Tri thức lý luận : học thuyết, lý thuyết...
Ví dụ: Các cuộc biểu tình và phong trào xã hội đòi hỏi quyền công bằng cho phụ
nữ trong lĩnh vực lao động và lĩnh vực chính trị, hoặc các cuộc biểu tình chống
lại phân biệt chủng tộc và kỳ thị chủng tộc là một minh chứng rõ ràng cho sự
phát triển của ý thức lý luận về quyền công bằng.
b) Theo phương thức phản ánh gồm: hệ tư tưởng và tâm lý xã hội
- Hệ tư tưởng: Hệ tư tưởng là một khái niệm trong triết học và khoa học xã hội,
ám chỉ một tập hợp các quan điểm, ý kiến, giá trị và niềm tin được nhóm người
hoặc một cộng đồng chia sẻ và tin tưởng. Hệ tư tưởng thường phản ánh tri thức,
văn hóa và bối cảnh xã hội cụ thể mà nó phát triển ra. Các thành phần của hệ tư
tưởng có thể bao gồm các ý tưởng về đạo đức, chính trị, tôn giáo, xã hội, kinh tế
và văn hóa. Hệ tư tưởng không chỉ ảnh hưởng đến hành vi và quan điểm của cá 5
nhân, mà còn đóng vai trò quan trọng trong việc hình thành và duy trì cấu trúc
xã hội và văn minh xã hội.
Ví dụ: Hệ tư tưởng của ý thức xã hội trong xã hội phong kiến châu Âu thời
Trung cổ được xác định bởi sự kết hợp giữa tôn giáo, pháp luật và địa vị xã hội,
đồng thời tạo ra một hệ thống giá trị và quy tắc đạo đức mà toàn xã hội chia sẻ
và tuân theo: niềm tin vào quyền lực tối cao của Giáo hội Công giáo Rôma và vị
thế thống trị của các lãnh chúa và quý tộc.
- Tâm lý xã hội: là khái niệm chỉ toàn bộ tình cảm, ước muốn thói quen, tập
quán của con người, của một bộ phận xã hội hoặc của toàn xã hội hình thành
dưới sự ảnh hưởng trực tiếp của cuộc sống hàng ngày và phản ánh trực tiếp đời sống đó.
Ví dụ: Khi một cá nhân cảm thấy hạnh phúc và hứng khởi sau khi nhận được sự
công nhận và khen ngợi từ cộng đồng xã hội về thành tích của mình. Cảm giác
này có thể làm tăng lòng tự tin và tự giá trị của họ, đồng thời khuyến khích họ
tiếp tục nỗ lực và đóng góp cho xã hội. Ngược lại, sự phê phán hoặc phân biệt
đối xử từ xã hội có thể gây ra cảm giác thất vọng và tự ti, làm giảm sự tự tin và
sự hạnh phúc của cá nhân.
1.2.3. Tính giai cấp của ý thức xã hội
Về điều này C.Mác và Ph.Ăngghen viết: “Trong mọi thời đại, những tư
tưởng của giai cấp thống trị là những tư tưởng thống trị. Điều đó có nghĩa là giai cấp
nào là lực lượng vật chất thống trị trong xã hội thì cũng là lực
lượng tinh thần thống trị trong xã hội. Giai cấp nào chi phối những tư liệu sản
xuất vật chất thì cũng chi phối luôn cả những tư liệu sản xuất tinh thần
”.
- Trong xã hội có giai cấp: Những giai cấp khác nhau thì ý thức xã hội khác nhau.
- Tính giai cấp của ý thức xã hội thể hiện ở tâm lý xã hội và hệ tư tưởng xã hội.
- Hệ tư tưởng của giai cấp thống trị trong các xã hội có giai cấp đối kháng
bao giờ cũng bảo vệ địa vị và lợi ích của giai cấp thống trị, của chế độ người bóc
lột người, giai cấp thống trị có đủ điều kiện để phát triển xã hội, có đủ tầm ảnh
hưởng để quyết định các vấn đề trong xã hội. Vì vậy giai cấp thống trị có vai trò
quyết định trong ý thức xã hội. 6 Ví dụ:
+ Thời Trung Cổ ở Châu Âu: Giai cấp quý tộc và tầng lớp quản lý của giới tư
sản thường tôn thờ triều đình và quyền lực tôn giáo, coi chúng là pháp môn và
chìa khóa cho sự ổn định xã hội. Họ khẳng định quyền lực của mình qua việc
kiểm soát đất đai và tài sản, đồng thời duy trì các giá trị về tôn nghiêm, đạo đức
và phúc lợi cho cộng đồng.
+ Thời Công nghiệp hóa ở Anh: Giai cấp tư sản mới nổi của thế kỷ 19 thường
thúc đẩy tư duy về sự tiến bộ và tự do kinh doanh. Họ ủng hộ chủ nghĩa tư bản
và thị trường tự do, quan điểm cho rằng việc cạnh tranh và lợi nhuận cá nhân là
động lực chính của sự phát triển kinh tế và xã hội.
+ Thời Kỷ Nguyên Hiện Đại: Giai cấp tầng lớp quản lý và tư sản ở các quốc gia
phát triển thường tôn vinh các giá trị liên quan đến hiệu suất, tiêu chuẩn sống
cao và cá nhân hoá. Họ thường hưởng lợi từ việc duy trì trật tự xã hội và hệ
thống tài chính toàn cầu, cũng như ủng hộ các giá trị như sự đổi mới, tiêu thụ và công nghệ.
- Trái lại, hệ tư tưởng của giai cấp bị trị bao giờ cũng bảo vệ quyền lợi
của những người bị bóc lột, của đông đảo quần chúng nhân dân bị áp bức nhằm
lật đổ chế độ người bóc lột người đó.
Ví dụ: Cách mạng Nô lệ ở Hoa Kỳ:
Trong lịch sử Hoa Kỳ, phong trào chống nô lệ là một ví dụ rõ ràng về hệ tư
tưởng của nhóm bị trị bảo vệ quyền lợi của những người bị bóc lột và nhân dân
bị áp bức để lật đổ chế độ áp bức.
Người da đen, bị bóc lột và bị cưỡng bức vào nô lệ, đã dẫn đầu các nỗ lực đấu
tranh chống lại hệ thống nô lệ. Các nhà lãnh đạo như Frederick Douglass,
Harriet Tubman và Sojourner Truth đã nổi tiếng với việc tuyên truyền về quyền
tự do và bình đẳng cho người da đen. Họ đã sử dụng các phương tiện như viết
sách, phát biểu, và hoạt động ngầm để tuyên truyền thông điệp của mình và tổ
chức những cuộc lật đổ chế độ nô lệ. 7
Các phong trào chống nô lệ không chỉ bao gồm người da đen, mà còn có sự
tham gia của nhiều người da trắng và những người ủng hộ quyền tự do và công
bằng. Các nhóm này thường làm việc cùng nhau để tạo ra các tổ chức cộng
đồng, hỗ trợ các vụ kiện và hoạt động cải cách xã hội.
Cuối cùng, thông qua sự kiên trì và nỗ lực của những người bị áp bức và những
người ủng hộ, phong trào chống nô lệ đã giúp lật đổ hệ thống nô lệ ở Hoa Kỳ và
đặt nền móng cho sự phát triển của phong trào Dân Quyền trong thế kỷ 20.
- Ý thức của các giai cấp trong xã hội có sự tác động qua lại với nhau.
Không chỉ giai cấp bị thống trị chịu ảnh hưởng tư tưởng của giai cấp thống trị
mà giai cấp thống trị cũng chịu ảnh hưởng tư tưởng của giai cấp bị thống trị.
Ví dụ: Phong trào Công nhân trong thời kỳ Cách mạng Công nghiệp ở Anh:
Trong thời kỳ Cách mạng Công nghiệp ở Anh, giai cấp công nhân đã bắt đầu tổ
chức và đấu tranh cho quyền lợi của mình trước sự áp đặt của các chủ nhân nhà
máy và tư sản. Các nhà máy mới nổi đem lại sự tăng trưởng kinh tế lớn nhưng
cũng gây ra những điều kiện lao động khắc nghiệt và bất công cho công nhân.
Những người lao động bị bóc lột trong các nhà máy thường phải làm việc trong
điều kiện nguy hiểm và thiếu vệ sinh, nhận mức lương thấp và không có quyền
tự do cá nhân. Ý thức của họ dần dần trở nên đầy tự giác và họ bắt đầu tổ chức
lại để đấu tranh cho quyền lợi của mình.
Tuy nhiên, không chỉ có công nhân chịu ảnh hưởng tư tưởng của giai cấp thống
trị, mà ngược lại, các chủ nhân nhà máy và tư sản cũng bắt đầu phải đối mặt với
áp lực từ phía công nhân và các phong trào lao động. Những sự phản kháng và
cuộc đấu tranh của công nhân ảnh hưởng đến điều kiện lao động trong nhà máy,
đẩy các nhà máy phải thay đổi cách tiếp cận quản lý và chính sách lao động của họ.
Do đó, cả hai giai cấp có sự tác động qua lại lẫn nhau, với cả hai bên đều phải
điều chỉnh và thay đổi quan điểm của mình để đối phó với sự biến đổi xã hội và kinh tế.
- Trong giai đoạn phong trào cách mạng của giai cấp bị thống trị lên cao,
những người tiến bộ trong giai cấp thống trị, nhất là những trí thức, sẽ từ bỏ giai
cấp xuất thân để chuyển sang hàng ngũ của giai cấp cách mạng. Lịch sử cho 8
thấy, không ít những người trong số trí thức đó đã trở thành nhà tư tưởng của giai cấp cách mạng. 9
1.2.4. Các hình thái ý thức xã hội Các hình thái của ý thức xã hội
ý thức ý thức ý thức ý thức ý thức ý thức ý thức chính pháp đạo khoa thẩm tôn triết trị quyền đức học mỹ giáo học
a. Ý thức chính trị: Là nhận thức và ý thức về các vấn đề và quyết định chính
trị trong xã hội, bao gồm quan điểm về chính sách, lãnh đạo và quyền lực.
+ Ý thức chính trị trong các cuộc bầu cử: Trong các cuộc bầu cử, ý thức
chính trị của cử tri thường được thể hiện qua quan điểm về các vấn đề chính trị,
ứng viên và các chính sách.
Ví dụ: Trong một cuộc bầu cử tổng thống, cử tri có thể có ý thức chính trị khác
nhau về các vấn đề như kinh tế, chăm sóc sức khỏe, và an ninh quốc gia. Một số
cử tri có thể ủng hộ ứng viên với quan điểm về giảm thuế và tăng cường quốc
phòng, trong khi những người khác có thể ủng hộ ứng viên với cam kết về chăm
sóc sức khỏe công bằng và biến đổi khí hậu.
+ Ý thức chính trị trong các phong trào xã hội: Các phong trào xã hội
thường phản ánh ý thức chính trị của các nhóm dân cư nhất định và tập trung
vào các vấn đề cụ thể.
Ví dụ: Phong trào Những người yêu thích môi trường có thể tập trung vào việc
tăng cường bảo vệ môi trường và giảm phát thải, trong khi phong trào Người
biểu tình cho công bằng xã hội có thể tập trung vào việc đấu tranh cho quyền lợi
của người nghèo và những người bị kỳ thị xã hội. Ý thức chính trị của các nhóm
này thường dựa trên quan điểm và giá trị của họ về công bằng, nhân quyền và sự đồng thuận xã hội. 10
b. Ý thức pháp quyền: Là nhận thức và ý thức về các quy định, luật lệ và
quyền lợi pháp lý trong xã hội, bao gồm việc tuân thủ và bảo vệ quyền và nghĩa vụ pháp lý.
+ Ý thức pháp quyền trong hệ thống tư pháp: Trong một xã hội dân chủ, ý
thức pháp quyền thường được thể hiện qua sự hiểu biết về hệ thống tư pháp và
vai trò của các quy định và luật lệ. Công dân có ý thức pháp quyền thường biết
về quyền lợi và nghĩa vụ pháp lý của mình, và họ tuân thủ luật lệ để duy trì trật
tự xã hội và bảo vệ quyền của bản thân và người khác.
Ví dụ: Một người dân có ý thức pháp quyền có thể biết rõ về quy trình pháp lý
khi bị buộc tội, và họ có thể tìm kiếm sự giúp đỡ từ luật sư để bảo vệ quyền lợi của mình trong tòa án.
+ Ý thức pháp quyền trong các cuộc biểu tình và phản đối: Các cuộc biểu
tình và phản đối thường phản ánh ý thức pháp quyền của nhóm dân cư hoặc
cộng đồng đòi hỏi sự công bằng và tuân thủ pháp luật.
Ví dụ: Một cuộc biểu tình chống lại việc quản lý môi trường không đúng cách
có thể được tổ chức để yêu cầu chính phủ tuân thủ các quy định về bảo vệ môi
trường và áp dụng các biện pháp pháp lý đối với những người vi phạm. Trong
cuộc biểu tình này, người tham gia thường sử dụng quyền tự do ngôn luận và tự
do hòa nhạc để thể hiện quan điểm và đòi hỏi sự công bằng và tuân thủ pháp luật.
c. Ý thức đạo đức: Là nhận thức và ý thức về các giá trị, chuẩn mực và nguyên
tắc đạo đức trong hành vi và quan hệ xã hội.
+ Ý thức đạo đức trong lĩnh vực kinh doanh: Trong môi trường kinh
doanh, ý thức đạo đức thường được thể hiện qua việc áp dụng các nguyên tắc
đạo đức trong quản lý, quyết định kinh doanh và quan hệ với khách hàng và đối tác.
Ví dụ: Một doanh nghiệp có ý thức đạo đức có thể áp dụng các nguyên tắc công
bằng và minh bạch trong quản lý nhân sự, đảm bảo rằng mọi nhân viên được đối
xử công bằng và có cơ hội phát triển. Họ cũng có thể chấp nhận trách nhiệm xã
hội của mình bằng cách thực hiện các hoạt động từ thiện và bảo vệ môi trường. 11
+ Ý thức đạo đức trong lĩnh vực y tế: Trong lĩnh vực y tế, ý thức đạo đức
thường được thể hiện qua việc tôn trọng đạo đức nghề nghiệp, quyền lợi của
bệnh nhân và nguyên tắc không gây hại.
Ví dụ: Các nhà y học và y tá có ý thức đạo đức sẽ luôn tuân thủ nguyên tắc
không gây hại và tôn trọng quyền tự chủ của bệnh nhân trong quá trình điều trị.
Họ cũng sẽ giữ bí mật về thông tin y tế của bệnh nhân và không lạm dụng quyền
lực của mình trong việc quyết định điều trị.
d. Ý thức khoa học: Là nhận thức và ý thức về các lý thuyết, phương pháp và
tri thức khoa học trong nghiên cứu và hiểu biết về xã hội.
+ Ý thức lý luận trong lĩnh vực Khoa học Xã hội: Trong lĩnh vực Khoa
học Xã hội, ý thức lý luận thường được thể hiện qua việc áp dụng các lý thuyết
và phương pháp nghiên cứu khoa học để hiểu biết và giải thích các hiện tượng xã hội.
Ví dụ: Một nhà xã hội học có ý thức lý luận có thể sử dụng lý thuyết tầng lớp xã
hội của Karl Marx để phân tích các mối quan hệ xã hội dựa trên tầng lớp và
phân phối tài nguyên. Họ cũng có thể sử dụng phương pháp nghiên cứu định
tính như phỏng vấn và quan sát để thu thập dữ liệu và kiểm chứng lý thuyết của mình.
+ Ý thức lý luận trong lĩnh vực Khoa học Tự nhiên: Trong lĩnh vực Khoa
học Tự nhiên, ý thức lý luận thường được thể hiện qua việc áp dụng các lý
thuyết và phương pháp khoa học để nghiên cứu và giải quyết các vấn đề trong tự nhiên.
Ví dụ: Một nhà sinh học có ý thức lý luận có thể sử dụng lý thuyết tiến hóa của
Charles Darwin để hiểu biết về sự phát triển và đa dạng của các loài. Họ cũng có
thể áp dụng các phương pháp nghiên cứu thí nghiệm để kiểm chứng giả thuyết
về di truyền và tương tác sinh học.
e. Ý thức thẩm mỹ: Là nhận thức và ý thức về vẻ đẹp, sáng tạo và giá trị nghệ
thuật trong văn hóa và tác phẩm nghệ thuật.
+ Ý thức thẩm mỹ trong nghệ thuật hội họa: Trong nghệ thuật hội họa, ý
thức thẩm mỹ thường được thể hiện qua khả năng nhận biết và đánh giá vẻ đẹp 12
của các tác phẩm, cũng như hiểu biết về nguyên tắc và kỹ thuật sử dụng trong quá trình sáng tạo.
Ví dụ: Một người có ý thức thẩm mỹ cao có thể nhận ra và đánh giá giá trị nghệ
thuật của một bức tranh với các yếu tố như màu sắc, ánh sáng, cấu trúc và biểu
cảm. Họ cũng có thể hiểu biết về các kỹ thuật vẽ như phối màu, phong cách và
kỹ thuật cọ vẽ được sử dụng để tạo ra tác phẩm đó.
+ Ý thức thẩm mỹ trong âm nhạc: Trong lĩnh vực âm nhạc, ý thức thẩm
mỹ thường được thể hiện qua khả năng nhận biết và đánh giá sự sáng tạo và cảm
xúc trong âm nhạc, cũng như hiểu biết về các phong cách và kỹ thuật âm nhạc.
Ví dụ: Một người có ý thức thẩm mỹ trong âm nhạc có thể cảm nhận và đánh giá
giá trị nghệ thuật của một bản nhạc dựa trên yếu tố như giai điệu, âm hưởng,
điểm nhấn và cấu trúc. Họ cũng có thể hiểu biết về các phong cách âm nhạc như
jazz, classical hay pop, cũng như kỹ thuật sử dụng trong việc sáng tác và biểu diễn.
g. Ý thức tôn giáo: Là nhận thức và ý thức về các giá trị, tín ngưỡng và niềm tin
tôn giáo, ảnh hưởng đến quan điểm và hành vi xã hội.
+ Ý thức tôn giáo trong đời sống hàng ngày:
++ Trong đời sống hàng ngày, ý thức tôn giáo thường được thể hiện qua việc
thực hành các nghi lễ, lễ kính và nguyên tắc đạo đức theo tín ngưỡng của một tôn giáo cụ thể.
Ví dụ: Một người theo đạo Thiên Chúa giáo có thể thực hành việc đi lễ thường
kỳ vào các ngày chủ nhật và tuân thủ các nguyên tắc đạo đức như lòng nhân từ,
tha thứ và tôn trọng đời sống.
++ Ý thức tôn giáo cũng có thể ảnh hưởng đến quyết định và hành vi hàng ngày.
Ví dụ: việc quyết định về việc cấm rượu bia, không ăn thịt vào ngày lễ quan
trọng, hoặc thực hiện các hành động từ thiện và giúp đỡ người khác theo tinh thần tôn giáo.
+ Ý thức tôn giáo và quan điểm xã hội: Ý thức tôn giáo cũng có thể ảnh
hưởng đến quan điểm và hành vi xã hội của một cộng đồng hoặc quốc gia. 13
Ví dụ: Một quốc gia có đa dạng tôn giáo như Ấn Độ có thể có các quan điểm và
luật lệ pháp quyền phản ánh tôn giáo của mỗi tín ngưỡng. Trong một số trường
hợp, ý thức tôn giáo có thể dẫn đến sự phân chia và xung đột giữa các nhóm tôn
giáo hoặc giữa tôn giáo và chính phủ. Tuy nhiên, ý thức tôn giáo cũng có thể
làm nền tảng cho sự đoàn kết và sự thấu hiểu giữa các nhóm dân tộc và tôn giáo
khác nhau, khi nhận ra và tôn trọng sự đa dạng tín ngưỡng và niềm tin.
h. Ý thức triết học
- Đây là loại ý thức đặc biệt và cao nhất của tri thức cũng như của các ý thức xã hội.
- Triết học nhất là Triết học Mác - Lênin cung cấp cho con người tri thức về thế
giới như một chỉnh thể thông qua việc tổng kết toàn bộ lịch sử phát triển của
khoa học và chính bản thân triết học. Khi đánh giá mối liên hệ của tinh thần với
triết học, Hêghen khẳng định: “Xét từ góc độ tinh thần, chúng ta có thể gọi Triết
học là cái cần thiết nhất”. Với Mác thì “mọi triết học chân chính đều là tinh hoa
về mặt tinh thần của thời đại mình” nên nhất định sẽ có thời kì mà triết học,
không chỉ về bên trong, theo nội dung của nó mà về cả bên ngoài, theo sự biểu
hiện của nó, sẽ tiếp xúc và tác động qua lại với thế giới hiện thực của thời đại
mình. “Lúc đó triết học sẽ không còn là một hệ thống nhất định đối với các hệ
thống nhất định khác, nó trở thành triết học nói chung đối với thế giới, trở thành
triết học của thế giới hiện đại. Những biểu hiện bên ngoài chứng minh rằng triết
học đã có ý nghĩa khiến cho nó trở thành linh hồn sống của văn hóa…”.
- Đồng thời, với tư cách là một hình thái ý thức xã hội, triết học nói chung và
nhất là triết học duy vật biện chứng nói riêng, có sứ mệnh trở thành thế giới
quan, mà cơ sở và hạt nhân của thế giới quan đó là tri thức. thế giới quan đó
giúp con người trả lời cho các câu hỏi được nhân loại từ xưa tới nay thường
xuyên đặt ra cho mình. Chẳng hạn, thế giới xung quanh ta là gì? Thế giới ấy có
điểm bắt đầu và điểm kết thúc hay không? Sức mạnh nào chi phối sự tồn tại và
sự biến đổi đó? Con người là gì và sinh ra từ đâu và có quan hệ như thế nào với
thế giới ấy? Cuộc sống của con người có ý nghĩa gì? Con người có vị trí nào 14
trong thế giới đó? v.v… Như vậy, thế giới quan triết học bao hàm trong nó cả
nhân sinh quan. Trong thời đại hiện nay, thế giới quan khoa học chân chính nhất
là thế giới quan triết học duy vật biện chứng.
- Triết học duy vật biện chứng có vai trò to lớn để nhận thức đúng đắn ý nghĩa
và vai trò của các hình thái ý thức xã hội khác; để xác định đúng đắn vị trí của
những hình thái ấy trong cuộc sống và trong xã hội để nhận thức tính quy luật
cùng những đặc điểm và sự phát triển của chúng. 15 Ví dụ:
+ Ý thức được sự vận động phát triển của xã hội Việt Nam từ chế độ
phong kiến lên chủ nghĩa xã hội.
+ Ý thức được mối quan hệ giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất
trong xã hội. Như trong quá trình khai thác than, nếu mỗi người làm việc tách
biệt nhau, không có sự phối hợp giữacác cá nhân, không nghe lời chỉ đạo…tức
không tồn tại mối quan hệ giữa những con người thì không thể khai thác than hiệu quả.
1.3. Quan hệ biện chứng giữa tồn tại xã hội và ý thức xã hội
1.3.1. Tồn tại xã hội quyết định ý thức xã hội
- Tồn tại xã hội như thế nào thì ý thức xã hội được phản ánh như thế ấy. Ví dụ:
+ Xã hội chiếm hữu nô lệ có nền văn hóa chủ nô
+ Xã hội phong kiến có nền văn hóa quý tộc
+ Xã hội tư bản chủ nghĩa có nền văn hóa tư sản
+ Thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội có nền văn hóa xã hội chủ nghĩa
- Tồn tại xã hội là nguồn gốc khách quan, là cơ sở để hình thành và ra đời của ý thức xã hội.
Ví dụ: Văn hóa người Việt dựa trên hoạt động sản xuất canh nông lúa nước,
người dân phụ thuộc nhiều vào thiên nhiên  Ý thức tôn trọng và mong muốn
sống hòa hợp với thiên nhiên. Ngoài ra trong quá trình sản xuất nông nghiệp,
người dân phải hợp tác với nhau đưa nước vào ruộng, phòng tránh thiên tai( đắp
đê…)  Về mặt tổ chức cộng đồng, người Việt ưa sống theo nguyên tắc trọng
tình, sống đoàn kết hòa thuận với nhau  Tâm lý coi trọng cộng đồng, tập thể.
- Tồn tại xã hội quyết định nội dung, tính chất, đặc điểm, xu hướng vận
động, sự biến đổi, phát triển của các hình thái ý thức xã hôi.
Ví dụ: Trong thời phong kiến, khi sản xuất canh nông lúa nước là chủ yếu,
người Việt Nam có phương thức tư duy kinh nghiệm, lối sống duy tình, tiết
kiệm. Xã hội đó còn mang tư tưởng thống trị dựa trên Nho giáo chính thống như 16