Đang tải lên

Vui lòng đợi trong giây lát...

Preview text:


TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI
VIỆN ĐÀO TẠO QUỐC TẾ BÀI THẢO LUẬN
Tên học phần : Triết học Mác – Lênin
Mã lớp học phần : 22100MLNP0221
Giáo viên hướng dẫn : Nguyễn Thị Liên Nhóm : 6
Đề tài : Quan điểm của triết học Mác – Lênin
về mối quan hệ giữa tồn tại xã hội và ý
thức xã hội và sự vận dụng của Đảng ta
trong việc xây dựng nền văn hóa tiên tiến
đậm đà bản sắc dân tộc. HÀ NỘI 2022 1
Hà Nội, ngày 01 tháng 12 năm 2022 BIÊN BẢN ĐÁNH GIÁ TT Họ và tên Chức trách Công việc Tự Nhó Kết đánh m luận giá đánh giá 77 Nguyễn Thu Nguyệt Thành viên Lời cam đoan A A A 78 Tạ Thị Nguyệt Thành viên Làm powerpoint A A A 79 Nghiêm Thị Nhàn Thành viên Danh mục trích dẫn A A A 80 Lê Thị Yến Nhi Nhóm trưởng Thuyết trình, phản A A A biện 81 Nguyễn Thị Nhung Thành viên Lý thuyết ý thức xã A A A hội 82 Nguyễn Thị Cẩm Thành viên Đánh word A B B Nhung 83 Nông Thị Niềm Thành viên Lời hay ý đẹp A A A 84 Nguyễn Thị Oanh Thành viên Triết học Mác có ý A A A
nghĩa rất lớn đối với quá trình xây dựng ý thức xã hội Việt Nam 85
Volavongsa Phonesy Thành viên
Nền văn hóa Việt Nam A B B đậm đà bản sắc dân tộc 86 Nguyễn Cao Minh Thành viên Làm powerpoint A B B Phúc 87 Nguyễn Văn Phúc Thư kí Thuyết trình, phản A A A biện 88 Nguyễn Thúy Thành viên Sửa nội dung phần lý A A A Phương thuyết 89 Trần Thị Phương Thành viên Viết tầm quan trọng A A A của đề tài 90 Lê Thị Quyên Thành viên Phần mở đầu A A A MỤC LỤC 2 1.
Tồn tại xã hội và các yếu tố cấu thành………………………………………………….6
a) Khái niệm …..…………………………………………………..................6
b) Các yếu tố cấu thành của tồn tại xã hội……..……………………………..6 2.
Ý thức xã hội, kết cấu ý thức xã hội, tính giai cấp và các hình thái xã hội
a) Khái niệm…..……………………………………………………………....7
b) Kết cấu của ý thức xã hội…………..………………………………..……..8
Theo trình độ phản ánh ……………………………………………………8
Theo trình độ và phương thức phản ánh đối với tồn tại xã hội……….…....8
Mối quan hệ giữa tâm lý xã hội và hệ tư tưởng …………....................……9
Tính giai cấp của ý thức xã hội……………………………..………………9
Các hình thái xã hội……………………………..............…………………10 3.
Mối quan hệ biện chứng giữa tồn tại xã hội và ý thức xã hội………………………...…… 17 a) Tồn tại xã hội quy định ý thức xã
hội…………..............................................17
b) Tính độc lập tương đối ý thức xã hội………….…………………………...18 4. Kết luận
a) Ý nghĩa phương pháp luận từ mối quan hệ giữa vật chất và ý thức………….25
b) Vận dụng vào học tập và cuộc sống của bản thân tôi……………………..… 26 3
Ý đẹp lời hay
Đời sống xã hội gồm hai lĩnh vực là đời sống vật chất và đời sống tinh thần. Triết học Mác –
Lênin hiểu đời sống vật chất là tồn tại xã hội, đời sống tinh thần là ý thức xã hội. Đây là sự cụ
thể hoá vấn đề cơ bản của Triết học vào đời sống xã hội. Vậy, quan hệ hai lĩnh vực đó như thế nào?
Bài này giúp chúng ta trả lời được câu hỏi đó và hiểu được:
- Nội dung các khái niệm tồn tại xã hội và ý thức xã hội.
- Thấy được mối quan hệ biện chứng giữa tồn tại xã hội và ý thức xã hội.
-Trên cơ sở lí luận về tồn tại xã hội và ý thức xã hội, chúng ta cần hiểu rõ sự vận dụng của Đảng
ta trong việc xây dựng nền văn hóa đậm đà bản sắc dân tộc. Trong cuôc sống, chúng ta không
thụ động trước hoàn cảnh khách quan, biết tiếp thu các quan điểm tiến bộ, phê phán các hiện
tượng ý thức, tư tưởng lạc hậu, lỗi thời. Lời cam đoan
Trong suốt quá trình học tập dưới sự giảng dạy của cô Nguyễn Thị Liên, ngoài kiến thức trên
lớp, nhóm chúng em đã tham khảo một số giáo trình và tài liệu có liên quan đến bộ môn Triết
học để có thêm nhưng kiến thức, kỹ năng giúp cho bài thảo luận được đầy đủ và chính xác hơn.
Tuy nhiên, em xin cam đoan bài tiểu luận với chủ đề Quan điểm của triết học Mác - Lênin về
mối quan hệ giữa tồn tại xã hội và ý thức xã hội và sự vận dụng của Đảng ta trong việc xây dựng
nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc là công sức em và các bạn trong nhóm 6 đã bỏ ra
trong suốt thời gian học tập và nghiên cứu một cách cẩn trọng và nghiêm túc. Các tài liệu tham
khảo và trích dẫn đều được ghi rõ nguồn gốc. Nếu có bất kì vướng mắc hay vấn đề nào phát sinh
tôi xin được chịu trách nhiệm trước cô giáo và các bạn trong lớp. Lời cảm ơn
Tục ngữ có câu “Không thầy đố mày làm nên” đã khẳng định vai trò to lớn của người thầy đối
với sự nghiệp của người học trò. Quả đúng là như vậy để có thể hoàn thành bài thảo luận này
một cách tốt nhất, nhóm 6 chúng em xin đặc biệt gửi lời cảm ơn chân thành và sâu sắc nhất đến
giảng viên bộ môn – cô Nguyễn Thị Liên đã dạy dỗ và truyền đạt những kiến thức quý báu cho
chúng em trong suốt thời gian học tập vừa qua. Trong thời gian tham gia lớp học môn Triết học
Mác - Lênin do cô giảng dạy, chúng em đã có thêm cho mình rất nhiều những kiến thức mới, bổ
ích và tinh thần học tập nghiêm túc. Đây chắc chắn sẽ là hành trang vô giá để chúng em có thể vững bước sau này.
Bộ môn Triết học Mác - Lênin là một môn học có tính thực tế cao, đảm bảo cung cấp đủ kiến
thức, gắn liền với thực tiễn của sinh viên. Trong quá trình làm thảo luận nhóm, chúng em đã có 4
những tư duy mới hơn về môn học. Tuy nhiên với lượng kiến thức còn hạn chế và nhiều kỹ năng
còn bỡ ngỡ nên bài thảo luận của nhóm chúng em khó có thể tránh khỏi những thiếu xót và
những sai lầm, mong cô và các bạn có thể thông cảm và bỏ qua. Nhóm chúng em rất mong nhận
được những nhận xét và ý kiến đóng góp từ cô và các bạn cùng lớp để bài thảo luận của nhóm
chúng em được hoàn thiện hơn.
Lời cuối cùng, chúng em xin gửi lời kính chúc sức khỏe đến cô Nguyễn Thị Liên chúc cho buổi
thuyết trình của các nhóm trong lớp học được suôn sẻ và thành công.
Chúng em xin chân thành cảm ơn! NỘI DUNG LÍ THUYẾT
A. Quan điểm của triết học Mác – Lênin về mối quan hệ giữa tồn tại xã hội và ý thức xã hội.
1.Tầm quan trọng của đề tài
Thế giới chúng ta sống trong những thập kỷ qua và trong các thập kỷ tới đã, đang và sẽ thay đổi
một cách nhanh chóng, mà người ta gọi đó là thời kỳ đại biến động. Tuy nhiên, tư duy của con
người đã không thay đổi kịp, tạo ra một độ trễ, thậm chí là tụt hậu. Theo định hướng của xã hội
chủ nghĩa ở nước ta hiện nay, lý luận về nhận thức và ý thức tồn tại xã hội luôn đóng một vai trò
quan trọng, thu hút sự quan tâm của nhiều đối tượng. Triết học là khoa học đã có từ ngàn đời
nay. Ở mỗi thời kỳ, triết học được phát triển qua những trường phái khác nhau với nhiều quan
điểm khác nhau tại các quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới. Ngày nay, triết học là một bộ
phận không thể tách rời với sự phát triển hình thái kinh tế của bất kỳ quốc gia nào. Những vấn đề
triết học về mối quan hệ giữa tồn tại xã hội và ý thức xã hội là “vấn đề cơ bản lớn của mọi triết
học, đặc biệt là của triết học hiện đại” .Vấn đề này đã được giải quyết theo quan điểm của triết
học Mác – Lênin qua đường lối của chủ nghĩa duy vật biện chứng về ý thức và tồn tại xã hội.
Quan điểm của triết học Mác – Lênin về mối quan hệ giữa tồn tại xã hội và ý thức xã hội đã cung
cấp cho chúng ta những tri thức, phương pháp luận chung nhất, đúng đắn và khoa học, đóng vai
trò vô cùng to lớn và thiết thực trong thực tiễn và nhận thức của mỗi người và đặc biệt quan
trọng là đối với bản thân mỗi sinh viên - thế hệ tương lai của đất nước.
Trên cơ sở vận dụng quan điểm của Triết học Mác - Lênin về mối quan hệ giữa tồn tại xã hội và
ý thức xã hội, ngay từ tháng 2 năm 1943, Đảng ta đã ban hành “Đề cương văn hóa Việt Nam".
Đây là bản Cương lĩnh văn hoá đầu tiên của Đảng ta, đặt nền tảng lý luận cho sự nghiệp xây
dựng nền văn hóa kháng chiến, kiến quốc trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và soi
đường cho sự phát triển nền văn hóa Việt Nam trong suốt hơn 70 năm qua. Qua quan điểm này
sinh viên sẽ được trang bị đầy đủ về kiến thức, kĩ năng, tư tưởng về triết học Mác - Lênin và cụ
thể là quan điểm của chủ nghĩa duy vật biện chứng về mối quan hệ giữa tồn tại xã hội và ý thức.
Trước tiên về mặt kiến thức, giúp sinh viên nắm được những nội dung cơ bản, ý nghĩa phương 5
pháp luận trong nhận thức và thực tiễn trang bị cho sinh viên những kiến thức cơ bản về lí luận
nhận thức của chủ nghĩa duy vật biện chứng về ý thức và tồn tại xã hội. Không những vậy về mặt
kĩ năng, giúp sinh viên biết vận dụng nguyên tắc phương pháp luận rút ra từ nội dung lí luận của
chủ nghĩa duy vật biện chứng về ý thức và tồn tại xã hội vào nhận thức và thực tiễn. Cuối cùng là
về tư tưởng, giúp sinh viên khẳng định những nền tảng khoa học và cách mạng, đấu tranh chống
lại các quan điểm sai trái của chủ nghĩa duy tâm và chủ nghĩa duy vật siêu hình. Nhất là trong
điều kiện nền văn minh trí tuệ, kinh tế tri thức, toàn cầu hóa hiện nay thì việc vận dụng quan
điểm này là vô cùng đúng đắn, phù hợp, cấp thiết và tất yếu đối với mỗi cá nhân. Việc tìm hiểu
sâu sắc vấn đề này có ý nghĩa rất lớn và cần thiết đối với bản thân mỗi người đặc biệt là các sinh
viên - thế hệ tương lai của đất nước trong nhiệm vụ xây dựng ý thức xã hội mới, từ đó góp phần
vào thành công của quá trình xây dựng đất nước phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa
“dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh’’.
Do nhận thức được tầm quan trọng của vấn đề về sự vận dụng của Đảng ta trong việc xây dựng
nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc, nhóm em đã lựa chọn đề tài:” Quan điểm của Triết
học Mác - Lênin về mối quan hệ giữa tồn tại xã hội và ý thức xã hội và sự vận dụng của Đảng ta
trong việc xây dựng nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc”.
2.Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài:
Trên cơ sở lý luận về ý thức xã hội và tồn tại xã hội, nắm được những nội dung cơ bản về khái
niệm cũng như mối quan hệ biện chứng giữa tồn tại xã hội và ý thức xã hội, qua đó tìm hiểu về
sự vận dụng trong việc xây dựng ý thức xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay. Tức là biết vận
dụng bài học này vào hoạt động đời sống, học tập của mỗi người nói chung và vận dụng bài học
vào từng sinh viên, góp phần nâng cao hiệu quả nhận thức của từng người, đóng vai trò to lớn
trong việc xây dựng nền văn hoá tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc. Hệ thống hoá những lý luận
cơ bản về ý thức xã hội, tồn tại xã hội và mối quan hệ biện chứng giữa ý thức và tồn tại xã hội
theo quan điểm của triết học Mác - Lênin. Đề tài này đóng vai trò quan trọng mang tính cấp thiết
với đất nước ta đang trong đà phát triển và hội nhập. Nghiên cứu vấn đề này chúng ta cảm thấy
được ý nghĩa lý luận cũng như thực tiễn của nó hết sức sâu sắc.
I. TỒN TẠI XÃ HỘI VÀ CÁC YẾU TỐ CẤU THÀNH 1. Khái niệm.
- Tồn tại xã hội là khái niệm dùng để chỉ sinh hoạt vật chất và những điều kiện sinh hoạt vật chất
của xã hội, là những mối quan hệ vật chất – xã hội giữa con người với tự nhiên và giữa con người với nhau.
- Trong đó, quan hệ giữa con người với tự nhiên và quan hệ vật chất, kinh tế giữa con người với
nhau là hai quan hệ cơ bản. Những mối quan hệ này xuất hiện trong quá trình hình thành xã hội
loài người và tồn tại không phụ thuộc vào ý thức xã hội. 6
Ví dụ: Thời tiền sử của thời đại Việt Nam tính từ khi con người xuất hiện trên lãnh thổ Việt Nam
cho tới khoảng thế kỉ I trước công nguyên. Thời tiền sử các bộ lạc săn bắt, hái lượm, dùng đá
cuội để chế tác công cụ, công cụ còn rất thô sơ nhưng đã có bước tiến lớn trong kĩ thuật chế tác
nhằm phục vụ đời sống. Thời kì này con người nhận biết và sử dụng nhiều loại nguyên vật liệu
như đá, đất sét, xương, sừng, tre gỗ…Bên cạnh đó điều kiện khí hậu thuận lợi cộng với sự đa
dạng phong phú của các loài động thực vật phương Nam nên nguồn tài nguyên rất phong phú.
2. Các yếu tố cấu thành của tồn tại xã hội.
- Một là, các yếu tố thuộc về điều kiện tự nhiên - hoàn cảnh địa lý, các điều kiện khí hậu, đất đai,
sông hồ,... tạo nên đặc điểm riêng của không gian sinh tồn của cộng đồng xã hội.
Ví dụ: Nước ta có 2 nhóm đất chính là đất feralit ở miền núi (thích hợp để trồng các cây công
nghiệp lâu năm) và đất phù sa ở đồng bằng (thích hợp trồng các cây lương thực, cây ăn quả, ...).
- Hai là, các yếu tố dân cư, bao gồm: cách thức tổ chức dân cư, tính chất lưu dân cư, mô hình tổ chức dân cư, ...
Ví dụ: Cùng chung mục đích lí tưởng như Đảng cộng sản Việt Nam, cùng giai cấp như Hội nông
dân Việt Nam, cùng độ tuổi như Đoàn thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, cùng giới tính như Hội
liên hiệp Phụ Nữ, cùng chung sở thích như hội những người yêu thể thao, hội những người thích
văn học,... Họ liên kết nhau lại, tìm tiếng nói chung trong hình thức tổ chức xã hội nhằm đáp ứng
nhu cầu và bảo vệ những lợi ích chính đáng của mình.
- Ba là, phương thức sản xuất ra của cải vật chất của xã hội đó.
Ví dụ: + Người thợ may quần áo để phục vụ nhu cầu may mặc.
+ Người nông dân đi cày ruộng, sản xuất lúa gạo để đáp ứng, phục vụ nhu cầu về lương thực.
Các yếu tố đó tồn tại trong mối quan hệ thống nhất biện chứng trong đó phương thức sản xuất
vật chất là yếu tố cơ bản nhất, chúng tác động lẫn nhau tạo thành điều kiện sinh tồn và phát triển
của xã hội. Bởi vì trình độ của phương thức sản xuất như thế nào sẽ quyết định sự tác động của
con người đến môi trường tự nhiên và quy mô phát triển dân số như thế ấy.
II. Ý THỨC XÃ HỘI, KẾT CẤU Ý THỨC XÃ HỘI, TÍNH GIAI CẤP VÀ CÁC HÌNH THÁI XÃ HỘI. 1. Khái niệm.
- Ý thức xã hội là toàn bộ đời sống tinh thần của xã hội, bao gồm những quan điểm, tư tưởng
cùng những tình cảm, tâm trạng, truyền thống… nảy sinh từ tồn tại xã hội và phản ánh tồn tại xã
hội trong những giai đoạn phát triển nhất định. 7
Ví dụ: Trong thời kỳ chiến tranh bị thực dân Pháp xâm lược và bị áp bức bóc lột thì ý thức xã hội
xuất hiện như nhân dân ta đều có chung một lòng yêu nước, căm thù giặc ngoại xâm, đứng lên
chống lại sự áp bức bóc lột và đã giành được chiến thắng.
Ta cần thấy rõ sự khác nhau tương đối giữa ý thức xã hội và ý thức cá nhân.
- Ý thức cá nhân là thế giới tinh thần của những con người riêng biệt, cụ thể. Ý thức của các cá
nhân đều phản ánh tồn tại xã hội với những mức độ khác nhau. Do đó, nó hiển nhiên là mang
tính xã hội. Nhưng ý thức cá nhân không phải bao giờ cũng thể hiện quan điểm, tư tưởng, tình
cảm phổ biến của một cộng đồng, một thời đại xã hội nhất định.
- Ý thức xã hội gồm những hiện tượng tinh thần, những bộ phận, những hình thái khác nhau
phản ánh tồn tại xã hội bằng những phương thức khác nhau.
- Ý thức xã hội và ý thức cá nhân tồn tại trong mối liên hệ hữu cơ, biện chứng với nhau, thâm
nhập vào nhau và làm phong phú cho nhau.
2. Kết cấu của ý thức xã hội.
a) Theo trình độ phản ánh gồm: Ý thức xã hội thông thường và ý thức lý luận.
- Ý thức xã hội thông thường hay ý thức thường ngày là những tri thức, những quan niệm của
con người hình thành một cách trực tiếp trong các hoạt động trực tiếp hằng ngày nhưng chưa
được hệ thống hóa, chưa được tổng hợp và khái quát hóa thành lý luận.
Ví dụ: Khi nhắc đến thời tiết có ngay một câu nói quen thuộc có thể dự đoán được thời tiết chính
là “chuồn chuồn bay thấp thì mưa bay cao thì nắng bay vừa thì râm’’câu nói này bắt nguồn từ
quá trình lao động hằng ngày mà người lao động đã đúc kết ra để dự báo thời tiết sắp xảy ra khi
mà chưa có các thiết bị máy móc để dự báo một cách chính xác như bây giờ.
- Ý thức lý luận hay ý thức khoa học là những tư tưởng, những quan điểm được tổng hợp, hệ
thống hóa và khái quát hóa thành các học thuyết xã hội dưới dạng các khái niệm, các phạm trù, các quy luật.
Ví dụ: Gần gũi nhất với chúng ta chính là môn Triết mà chúng ta đang nghiên cứu đây chính là ý
thức lý luận nó được thể hiện bằng những hệ thống khái niệm, phạm trù, quy luật.
- Ý thức xã hội thông thường thuộc về mặt tinh thần của đời sống xã hội, nó phản ánh một cách
sinh động và trực tiếp các mặt khác nhau cuộc sống hằng ngày của con người. Ý thức xã hội
thông thường tuy ở trình độ thấp hơn ý thức lý luận nhưng lại phong phú hơn ý thức lý luận.
Chính những tri thức kinh nghiệm phong phú của ý thức thông thường là chất liệu, cơ sở và tiền
đề quan trọng cho sự hình thành những ý thức lý luận.
- Ý thức lý luận hay là ý thức khoa học có khả năng phản ánh hiện thực khách quan một cách sâu
sắc, chính xác, bao quát và vạch ra được những mối liên hệ khách quan, bản chất, tất yếu mang 8
tính quy luật của các sự vật và các quá trình xã hội. Đồng thời, ý thức khoa học có khả năng phản
ánh vượt trước hiện thực.
b) Theo trình độ và phương thức phản ánh đối với tồn tại xã hội gồm: Tâm lý xã hội và hệ tư tưởng.
- Tâm lý xã hội là bộ phận ý thức xã hội thông thường thể hiện trong ý thức cá nhân, nó bao gồm
những tâm tư tình cảm, những tập tục truyền thống, những thói quen, tập quán… của xã hội phản
ánh trực tiếp những điều kiện sinh hoạt hàng ngày của xã hội, đây là bộ phận có tính bền vững và bảo thủ cao.
Ví dụ: Tâm lý con người Việt Nam luôn có tình cảm yêu thương con người, giàu lòng vị tha, tinh
thần đoàn kế, hay ưa thích con trai hơn con gái. *Đặc điểm: - Hạn chế:
+ Phản ánh một cách trực tiếp điều kiện sinh hoạt hàng ngày của con người.
+ Đây là sự phản ánh có tính tự phát, chỉ ghi lại những mặt bề ngoài của tồn tại xã hội.
+ Không có khả năng vạch ra đầy đủ, rõ ràng, sâu sắc bản chất các mối quan hệ xã hội của con người.
+ Còn mang tính kinh nghiệm, chưa được thể hiện về mặt lý luận, trí tuệ thì vẫn đan xen với tình cảm.
- Tích cực: Tuy nhiên, không thể phủ nhận vai trò quan trọng của tâm lý xã hội trong sự phát
triển của ý thức xã hội ta có thể sớm nắm bắt dư luận xã hội, tâm lý và nhu cầu xã hội.
- Hệ tư tưởng là bộ phận của ý thức lý luận, nó bao gồm những quan điểm, tư tưởng chính trị,
triết học, đạo đức, nghệ thuật, tôn giáo…,đã được hệ thống hóa thành chỉnh thể học thuyết để
phản ánh những lợi ích cơ bản và địa vị của một giai cấp nhất định.
Ví dụ: Việt Nam có hệ thống tư tưởng lớn và chi phối dân tộc Việt trong nhiều thế kỉ, nhất là tư
tưởng Phật giáo nhà Lý - Trần là giai đoạn cực thịnh của hệ tư tưởng Phật giáo biểu hiện là nhiều
chùa tháp có quy mô lớn, kiến trúc độc đáo được xây dựng chùa Phật tích, hệ thống chùa Yên tử. *Đặc điểm:
- Được hình thành khi con người nhận thức sâu sắc về sự vật, hiện tượng.
- Có khả năng đi sâu vào bản chất các mối quan hệ xã hội.
- Được hình thành bởi các nhà tư tưởng của những giai cấp nhất định và truyền bá trong xã hội. 9
- Hệ tư tưởng là nhận thức lý luận về tồn tại xã hội.
- Chúng là kết quả của sự khái quát hóa những kinh nghiệm xã hội để hình thành những quan điểm, tư tưởng.
c) Mối quan hệ giữa tâm lý xã hội và hệ tư tưởng.
Tuy là hai trình độ, hai phương thức phản ánh khác nhau của ý thức xã hội, nhưng tâm lý xã hội
và hệ tư tưởng có mối liên hệ tác động qua lại lẫn nhau. Chúng có chung nguồn gốc là tồn tại xã
hội và đều phản ánh tồn tại xã hội.
- Tâm lý xã hội có thể tạo điều kiện thuận lợi hoặc cản trở cho sự hình thành, truyền bá, sự tiếp
thu của con người đối với một hệ tư tưởng nhất định.
- Trái lại, hệ tư tưởng, lý luận xã hội làm gia tăng yếu tố trí tuệ cho tâm lý xã hội. Hệ tư tưởng
khoa học thúc đẩy tâm lý xã hội phát triển theo chiều hướng đúng đắn, có lợi cho xã hội.
- Tuy nhiên, hệ tư tưởng không ra đời trực tiếp từ tâm lý xã hội cũng không phải là sự biểu hiện
trực tiếp của tâm lý xã hội.
Ví dụ: Người sinh ra trong gia đình công nhân sẽ tiếp thu tư tưởng của chủ nghĩa Mác thuận lợi
còn người sinh ra trong tầng lớp tư sản sẽ tiếp thu khó khăn hơn. Ngược lại người thuộc thành
phần giai cấp công nhân nếu được giáo dục hệ tư tưởng của chủ nghĩa mác sẽ tự hào về giai cấp
của mình và người thuộc giai cấp tư sản sẽ thấy tội lỗi.
→ Như vậy, hệ tư tưởng liên hệ với tâm lý xã hội, chịu sự tác động của tâm lý xã hội, nhưng nó
không đơn giản là sự “cô đặc” của tâm lý xã hội.
3. Tính giai cấp của ý thức xã hội:
– Trong xã hội có giai cấp, do các giai cấp có những điều kiện sinh hoạt vật chất khác nhau,
những lợi ích khác nhau, do địa vị xã hội mỗi giai cấp quy định nên ý thức xã hội của các giai
cấp có nội dung và hình thức phát triển khác nhau hoặc đối lập nhau.
Ví dụ: Người sinh ra trong gia đình giàu có sẽ có hệ tư tưởng và thói quen sống khác với những
người sinh ra trong một gia đình thuần nông, nghèo khó đơn giản là ở thói quen sống và cách chi tiêu của họ.
– Tính giai cấp của ý thức xã hội biểu hiện ở tâm lý xã hội lẫn ở hệ tư tưởng xã hội.
- Về mặt tâm lý xã hội, mỗi giai cấp đều có tình cảm, tâm trạng, thói quen riêng, có thiện cảm hay ác cảm riêng.
- Ở trình độ hệ tư tưởng thì tính giai cấp của ý thức xã hội biểu hiện sâu sắc hơn nhiều. Trong xã
hội có đối kháng giai cấp bao giờ cũng có những tư tưởng hoặc hệ tư tưởng đối lập nhau: Tư 10
tưởng của giai cấp bóc lột và bị bóc lột, của giai cấp thống trị và bị trị. Khi đó hệ tư tưởng thống
trị trong xã hội là hệ tư tưởng của giai cấp thống trị.
- Tuy nhiên, ý thức của các giai cấp trong xã hội cũng có sự tác động qua lại với nhau. Không chỉ
giai cấp bị trị chịu ảnh hưởng tư tưởng của giai cấp thống trị mà giai cấp thống trị cũng chịu ảnh
hưởng tư tưởng của giai cấp bị trị.
– Trong xã hội có giai cấp, ý thức xã hội không chỉ mang dấu ấn những điều kiện sinh hoạt vật
chất của giai cấp, mà còn phản ánh những điều kiện sinh hoạt chung của dân tộc, chẳng hạn như
những điều kiện lịch sử, kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, điều kiện tự nhiên được hình thành
trong quá trình phát triển lâu dài của dân tộc.
=> Vì vậy, trong ý thức xã hội, ngoài tâm lý và hệ tư tưởng xã hội của giai cấp, còn bao gồm tâm
lý dân tộc, tình cảm, ước muốn, tập quán, thói quen, tính cách… của dân tộc, truyền từ thế hệ
này sang thế hệ khác tạo thành truyền thống dân tộc.
4. Các hình thái xã hội
Ý thức xã hội tồn tại dưới nhiều hình thái khác nhau nhưng những hình thái chủ yếu của ý thức
xã hội bao gồm ý thức chính trị, ý thức pháp quyền, ý thức đạo đức, ý thức nghệ thuật hay còn
gọi là ý thức thẩm mỹ, ý thức tôn giáo, ý thức lý luận còn gọi là ý thức khoa học và ý thức triết
học. Tính phong phú đa dạng của các hình thái ý thức xã hội phản ánh tính phong phú, đa dạng
của bản thân đời sống xã hội. Trong các hình thái ý thức xã hội có những hình thái gần với cơ sở
kinh tế của tồn tại xã hội hơn có những hình thái ý thức xã hội xa cơ sở kinh tế hơn. Vì vậy các
hình thái ý thức chính trị và ý thức pháp quyền gần gũi với cơ sở kinh tế hơn cả.
a. Ý thức chính trị
- Hình thái ý thức chính trị là hình thái ý thức chỉ xuất hiện và tồn tại trong các xã hội có giai cấp
và nhà nước. Nó phản ánh các quan hệ chính trị, kinh tế, xã hội giữa các giai cấp, các dân tộc và
các quốc gia. Ý thức chính trị thực tiễn thông thường hình thành từ trực tiếp từ các hoạt động
thực tiễn trong môi trường chính trị của xã hội.
- Ở trạng thái tâm lí xã hội, những cảm xúc và tâm trạng về chính trị của quần chúng cảm xúc và
tâm trạng về chính trị của quần chúng thường thiếu bền vững và không ổn định nhưng lại đóng
vai trò to lớn và trực tiếp đối với hành vi chính trị của quần chúng. Thông qua đó hệ tư tưởng
chính trị tác động vào đời sống chính trị của xã hội.
- Hệ tư tưởng của một giai cấp chính trị nhất định sẽ phản ánh trực tiếp lợi ích giai cấp của giai cấp ấy.
- Ý thức chính trị được thể hiện trong đường lối, cương lĩnh chính trị của các chính đảng của các
giai cấp khác nhau và hình thành 1 cách tự giác được các nhà tư tưởng xây dựng và truyền bá. 11
- Ý thức chính trị, đặc biệt là hệ tư tưởng chính trị có vai trò rất quan trọng đối với sự phát triển
xã hội. Thông qua tổ chức nhà nước nó tác động trở lại cơ sở kinh tế và có thể làm thay đổi cơ sở
kinh tế. Hệ tư tưởng chính trị cũng giữ vai trò chủ đạo trong đời sống tinh thần, nó thâm nhập
vào các hình thái ý thức xã hội khác, tác động tích cực hoặc tiêu cực đến hệ tư tưởng chính trị
cũng như ý thức chính trị. khi giai cấp đó tiến bộ thì cách mạng tiêu biểu làm xu thế phát triển đi
lên thì hệ tư tưởng chính trị của nó tác động tích cực đến sự phát triển xã hội. Khi giai cấp đó trở
thành lạc hậu, phản động thì hệ tư tưởng chính trị của nó có tác động tiêu cực, kìm hãm sự phát triển của xã hội.
Ví dụ: Chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh là nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam hoạt
động của Đảng và cách mạng Việt Nam. Chủ nghĩa Mác - Lênin khoa học về cách mạng của
quần chúng bị áp bức và bị bóc lột, khoa học về sự thắng lợi của chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa
cộng sản. Đảng ta khẳng định lấy chủ nghĩa Mác - Lênin làm kim chỉ nam cho hành động và nêu
cao tư tưởng Hồ Chí Minh. Nội dung cốt lõi của chủ nghĩa Mác - Lênin là tư tưởng về sự giải
phóng con người khỏi chế độ bóc lột người. Vì vậy, trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội
của nhân dân ta tất nhiên phải lấy chủ nghĩa Mác - Lênin làm kim chỉ nam cho hoạt động của
Đảng và cách mạng Việt Nam.
b. Ý thức pháp quyền
- Ý thức pháp quyền là toàn bộ các tư tưởng, quan điểm của một giai cấp về bản chất và vai trò
của pháp luật, về quyền và nghĩa vụ của nhà nước, các tổ chức xã hội và công dân, về tính hợp
pháp và không hợp pháp của hành vi con người trong xã hội, cùng với nhận thức và tình cảm của
con người trong việc thực thi pháp luật của Nhà nước.
- Cũng như ý thức chính trị, ý thức pháp quyền ra đời cùng với nhà nước, hai hình thái này có sự
giống nhau về cả nội dung và hình thức. Ý thức pháp quyền phản ánh trực tiếp các quan hệ kinh
tế của xã hội, là các quan hệ sản xuất được thể hiện trong hệ thống pháp luật. Pháp luật là ý chí
của giai cấp thống trị được thể hiện thành luật lệ do đó mỗi chế độ xã hội, mỗi nhà nước chỉ có
một hệ thống pháp luật của giai cấp nắm chính quyền. Nhưng trong xã hội có các giai cấp đối
kháng, các giai cấp khác nhau lại có những ý thức khác nhau về pháp luật, phản ánh lợi ích của giai cấp mình.
- Hiệu lực phụ thuộc vào sức mạnh cưỡng chế của nhà nước và phụ thuộc vào trình độ hiểu biết
và tâm lí pháp luật của xã hội.
Ví dụ: Ở Việt Nam hiện nay, ý thức pháp quyền của xã hội ta là ý thức pháp quyền xã hội chủ
nghĩa. Sự thống nhất cao về mặt lợi ích cơ bản giữa giai cấp công nhân và nhân dân lao động đã
tạo nên hệ thống pháp luật do Nhà nước ban hành. Việc thể hiện ý chí của giai cấp công nhân
cũng đồng thời phản ảnh và thể hiện lợi ích dân tộc trong công cuộc đối mới tiến hành công
nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa Việt Nam của nhân dân, do dân và vì dân. 12
c. Ý thức đạo đức
- Ý thức đạo đức là toàn bộ những quan niệm, tri thức và các trạng thái cảm xúc, tâm lí chung
của các cộng đồng người về các giá trị thiện, ác, lương tâm, trách nhiệm, hạnh phúc, công bằng,
v.v… và về những quy tắc đánh giá, những chuẩn mực hành vi cùng cách ứng xử giữa các cá
nhân với nhau và giữa các cá nhân với xã hội.
- Ý thức đạo đức là một trong các hình thái ý thức ra đời từ rất sớm. Trong lịch sử, ngay từ xã
hội nguyên thủy đã có sự ý thức về lương tâm, danh dự và lòng tự trọng phản ánh khả năng tự chủ của con người
- Trong tiến trình phát triển của xã hội đã hình thành những giá trị đạo đức mang tính toàn nhân
loại, tồn tại trong mọi xã hội và ở các hệ thống đạo đức khác nhau. Đó là những quy tắc ứng xử
đơn giản nhằm điều chỉnh hành vi và các sinh hoạt của con người trong xã hội.
- Tuy nhiên, trong một xã hội có sự phân chia giai cấp thì nội dung chủ yếu của đạo đức phản
ánh quan hệ giai cấp nên nó có tính giai cấp.
- Mỗi giai cấp trong những giai đoạn nhất định của lịch sử xã hội đều có những quan niệm đạo
đức riêng. Giai cấp tiêu biểu cho sự phát triển đi lên của xã hội thì đại diện cho một nền đạo đức
tiến bộ. Còn các giai cấp phản động thì đại diện cho một đạo đức suy thoá:
Ví dụ: Từ xa xưa, ông cha ta đã đúc rút ra những bài học về đạo đức để răn dạy con người, thể
hiện qua những câu ca dao, tục ngữ như:
+ Về đạo làm con: Công cha như núi Thái Sơn
Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra
Một lòng thờ mẹ kính cha
Cho tròn chữ hiếu mới là đạo con.
+ Về quy tắc ăn nói, giao tiếp, cư xử: Lời nói chẳng mất tiền mua
Lựa lời mà nói cho vừa lòng nhau. d. Ý thức khoa học
- Ý thức khoa học vừa là một hình thái ý thức xã hội vừa là một hiện tượng xã hội đặc biệt. Xem
xét khoa học như một hình thái ý thức xã hội không thể tách rời, xem xét nó như một hiện tượng
xã hội. Ý thức khoa học với tính chất là một hình thái xã hội là hệ thống phản ánh tri thức chân
thực dưới dạng logic trừu tượng về thế giới đã được kiểm nghiệm thông qua thực tiễn. 13
- Đối tượng phản ánh của ý thức khoa học bao quát mọi lĩnh vực của tự nhiên, xã hội và tư duy
trong khi các hình thái ý thức xã hội khác chỉ phản ánh một mặt một khía cạnh nào đó của đời sống xã hội mà thôi.
- Khoa học có thể tồn tại dưới dạng hệ thống lý luận, phạm trù, định luật, quy luật chung nhất
hoặc dưới dạng cụ thể là các tri thức chuyên ngành.
- Tri thức khoa học thâm nhập vào các hình thái ý thức xã hội khác, hình thành các khoa học
tương ứng từng hình thái ý thức đó (ví dụ như ý thức chính trị và chính trị học, ý thức đạo đức và
đạo đức học, ý thức nghệ thuật và nghệ thuật học, v.v…). Nhờ tri thức khoa học mà con người
không ngừng vươn tới cái mới để tạo ra một thế giới mới và ngày càng thể hiện rõ vị thế làm chủ
tự nhiên, làm chủ xã hội và làm chủ bản thân mình.
Ví dụ: Các định luật của Newton về chuyển động là tập hợp của 3 định luật cơ học phát biểu bởi
nhà bác học Isaac Newton, đặt nền tảng cho cơ học cổ điển còn gọi là cơ học Newton. Nội dung 3 định luật:
Định luật 1 Newton: Nếu một vật không chịu tác dụng của bất cứ lực nào hoặc chịu tác dụng của
nhiều lực nhưng tổng hợp lực của các lực này bằng không thì vật giữ nguyên trạng thái chuyển
động thẳng đều hoặc đứng yên.
Định luật 2 Newton: Sự biến thiên động lượng của một vật tỉ lệ thuận với xung lực đã tác dụng
lên nó. Vectơ biến thiên động lượng với vectơ xung lực gây ra nó luôn cùng hướng. Hay gia tốc
của một vật sẽ cùng hướng với lực tác dụng lên vật. Độ lớn của gia tốc luôn tỉ lệ thuận với độ lớn
của lực và tỉ lệ nghịch với khối lượng của vật đó.
Định luật 3 Newton: Đối với mỗi lực tác động luôn luôn có một phản lực có cùng độ lớn. Hay
nói cách khác, các lực tương tác giữa 2 vật bao giờ cũng là những cặp lực có cùng phương, cùng
độ lớn, có chiều ngược nhau và khác điểm đặt.
e. Ý thức thẩm mỹ.
- Cũng như các hình thái ý thức xã hội khác, ý thức thẩm mĩ bắt nguồn từ tồn tại xã hội. Khác
với khoa học và triết học phản ánh thế giới bằng khái niệm, phạm trù, quy luật. Nghệ thuật phản
ánh thế giới phản ánh thế giới một cách sinh động, cụ thể, bằng những hình tượng nghệ thuật.
Hình tượng nghệ thuật tuy phản ánh cái bản chất của đời sống hiện thực nhưng phản ánh thông
qua cái cá biệt, cụ thể, cảm tính, sinh động.
- Sự phát triển của nghệ thuật về cả nội dung và hình thức không thể tách khỏi sự phát triển của
tồn tại xã hội nhưng nghệ thuật có tính độc lập tương đối rất rõ nét trong sự phát triển của mình.
Không phải bao giờ nghệ thuật cũng phản ánh tồn tại một cách trực tiếp, dễ thấy. Do đó, Mác đã
viết: “Đối với nghệ thuật, người ta biết rằng những thời kỳ hưng thịnh nhất của nó hoàn toàn
không tương ứng với sự phát triển chung của xã hội, do đó cũng không tương ứng với sự phát 14
triển của cơ sở vật chất của xã hội, cơ sở này dường như cấu thành cái xương sống của tổ chức xã hội”.
- Trong xã hội có sự phân chia giai cấp, bao giờ nghệ thuật cũng mang tính giai cấp. Tính giai
cấp của nghệ thuật biểu hiện ở chỗ nó không thể không chịu sự tác động của thế giới quan, các
quan điểm chính trị của một giai cấp. Khi nhấn mạnh tính giai cấp của nghệ thuật, trong xã hội
có giai cấp, quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin không phủ nhận tính nhân loại chung của nó,
không ít tác phẩm nghệ thuật mà giá trị của chúng được lưu truyền khắp thế giới qua các thời đại.
- Có những nền nghệ thuật của một dân tộc nhất định nhưng đã trở thành những giá trị văn hóa
tiểu biểu của cả nhân loại. Tính giai cấp của nghệ thuật, cách mạng tiến bộ không những không
mâu thuẫn với tính nhân loại mà ngược lại còn làm rõ sâu sắc giá trị toàn nhân loại.
Ví dụ: Trong quá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam, Đảng ta luôn đánh giá cao vai trò của văn
nghệ, của các văn nghệ sĩ, đồng thời cũng đòi hỏi ở văn nghệ và văn nghệ sĩ tinh thần trách
nhiệm cao cả đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. f. Ý thức tôn giáo
- Nói về bản chất của tôn giáo, Ăngghen viết: “Tất cả mọi tôn giáo chẳng qua chỉ là sự phản ánh
hư ảo vào trong đầu óc con người – của những lực lượng bên ngoài chi phối cuộc sống hàng
ngày của họ, chỉ là sự phản ánh trong đó những lực lượng ở trần thế đã mang những hình thức siêu trần thế”.
- Nguồn gốc của tôn giáo xuất phát từ trong tồn tại xã hội, trong quan hệ giữa con người với tự
nhiên lẫn trong các quan hệ xã hội của con người.
- Khi những công cụ lao động và phương tiện sản xuất còn kém phát triển, con người dễ cảm
thấy yếu đuối bất lực trước giới tự nhiên. Sự bất lực và sợ hãi của con người trước những sức
mạnh của giới tự nhiên là một trong những nguồn gốc của tôn giáo.
- Nguồn gốc của tôn giáo còn nằm trong những mối quan hệ xã hội. Trong điều kiện xã hội có áp
bức giai cấp và có tính tự phát còn là những đặc trưng của sự phát triển xã hội.
- Những quy luật xã hội biểu hiện như những thế lực mù quáng, trói buộc con người và thường
xuyên quyết định đến số phận của họ khiến con người sợ hãi đó là một trong những nguồn gốc của tôn giáo.
- Ý thức tôn giáo với tính cách là hình thái xã hội gồm có tâm lí tôn giáo và hệ tư tưởng tôn giáo.
Đứng về mặt lịch sử, tâm lí tôn giáo và hệ tư tưởng tôn giáo là hai giai đoạn phát triển của ý thức
tôn giáo nhưng chúng tác động qua lại và bổ sung nhau.
- Ý thức tôn giáo là một hình thái ý thức xã hội thực hiện chủ yếu chức năng chủ yếu của mình là
chức năng đền bù – hư ảo, trong một xã hội cần đến sự đền bù – hư ảo. Chức năng đó làm cho ý 15
thức tôn giáo có một đời sống lâu dài, một vị trí đặc biệt trong xã hội. Chức năng đền bù hư ảo
nói lên khả năng của tôn giáo có thể bù đắp, bổ sung một cách hư ảo cái hiện thực mà trong đó
con người bất lực trước sức mạnh của tự nhiên và những điều kiện khách quan của đời sống.
Những mâu thuẫn của đời sống hiện thực, những bất lực trong thực tiễn của con người được giải
quyết một cách hư ảo trong ý thức của họ. Vì vậy tôn giáo luôn được các giai cấp thống trị sử
dụng như một công cụ áp bức tinh thần, một phương tiện củng cố địa vị thống trị của họ.
- Nếu như ý thức tôn giáo hướng con người vào thế giới những ảo tưởng thì ý thức khoa học lại
hướng con người và việc biến đổi hiện thực, cải tạo thế giới . Chủ nghĩa Mác-Lênin cho rằng
điều kiện tiên quyết để khắc phục tôn giáo như một hình thái ý thức có tính chất tiêu cực là phải
xóa bỏ nguồn gốc xã hội của nó, nghĩa là phải tiến hành một cuộc cách mạng xã hội triệt để
nhằm cải tạo cả tồn tại xã hội lẫn ý thức xã hội. Bằng hoạt động cách mạng tích cực của mình,
quần chúng không những cải tạo xã hội mà còn cải tạo bản thân, giải phóng ý thức mình khỏi
những quan niệm sai lầm; kể cả những quan niệm tôn giáo.
Ví dụ: Nội dung cơ bản của đạo Bà la môn - đạo Hindu
+ Thừa nhận thế giới do thần tạo ra và sự bất tử của linh hồn. Thừa nhận Thuyết luân hồi.
+ Cho rằng một thực thể tinh thần tối cao tồn tại vĩnh viễn là Braman. Linh hồn cá thể là Át man
là một bộ phận của Braman.
+ Con người có sống chết nhưng linh hồn thì tồn tại mãi và luân hồi qua nhiều kiếp khác nhau
chỉ khi nào Át man hoà nhập với Braman thì mới chấm dứt được thuyết luân hồi.
g. Ý thức triết học
- Đây là loại ý thức đặc biệt và cao nhất của tri thức cũng như của các ý thức xã hội.
- Triết học nhất là Triết học Mác - Lênin cung cấp cho con người tri thức về thế giới như một
chỉnh thể thông qua việc tổng kết toàn bộ lịch sử phát triển của khoa học và chính bản thân triết
học. Khi đánh giá mối liên hệ của tinh thần với triết học, Hêghen khẳng định: “Xét từ góc độ tinh
thần, chúng ta có thể gọi Triết học là cái cần thiết nhất.” Với Mác thì “mọi triết học chân chính
đều là tinh hoa về mặt tinh thần của thời đại mình” nên nhất định sẽ có thời kì mà triết học,
không chỉ về bên trong, theo nội dung của nó mà về cả bên ngoài, theo sự biểu hiện của nó, sẽ
tiếp xúc và tác động qua lại với thế giới hiện thực của thời đại mình. “Lúc đó triết học sẽ không
còn là một hệ thống nhất định đối với các hệ thống nhất định khác, nó trở thành triết học nói
chung đối với thế giới, trở thành triết học của thế giới hiện đại. Những biểu hiện bên ngoài chứng
minh rằng triết học đã có ý nghĩa khiến cho nó trở thành linh hồn sống của văn hóa…”.
- Đồng thời, với tư cách là một hình thái ý thức xã hội, triết học nói chung và nhất là triết học
duy vật biện chứng nói riêng, có sứ mệnh trở thành thế giới quan, mà cơ sở và hạt nhân của thế
giới quan đó là tri thức. thế giới quan đó giúp con người trả lời cho các câu hỏi được nhân loại từ
xưa tới nay thường xuyên đặt ra cho mình. Chẳng hạn, thế giới xung quan ta là gì? Thế giới ấy 16
có điểm bắt đầu và điểm kết thúc hay không? Sức mạnh nào chi phối sự tồn tại và sự biến đổi
đó? Con người là gì và sinh ra từ đâu và có quan hệ như thế nào với thế giới ấy? Cuộc sống của
con người có ý nghĩa gì? Con người có vị trí nào trong thế giới đó? v.v… Như vậy, thế giới quan
triết học bao hàm trong nó cả nhân sinh quan. Trong thời đại hiện nay, thế giới quan khoa học
chân chính nhất là thế giới quan triết học duy vật biện chứng.
- Triết học duy vật biện chứng có vai trò to lớn để nhận thức đúng đắn ý nghĩa và vai trò của các
hình thái ý thức xã hội khác; để xác định đúng đắn vị trí của những hình thái ấy trong cuộc sống
và trong xã hội để nhận thức tính quy luật cùng những đặc điểm và sự phát triển của chúng.
Ví dụ: + Ý thức được sự vận động phát triển của xã hội Việt Nam từ chế độ phong kiến lên chủ nghĩa xã hội.
+ Ý thức được mối quan hệ giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất trong xã hội. Như
trong quá trình khai thác than, nếu mỗi người làm việc tách biệt nhau, không có sự phối hợp giữa
các cá nhân, không nghe lời chỉ đạo…tức không tồn tại mối quan hệ giữa những con người thì
không thể khai thác than hiệu quả.
III. MỐI QUAN HỆ BIỆN CHỨNG GIỮA TỒN TẠI XÃ HỘI VÀ Ý THỨC XÃ HỘI
1. Tồn tại xã hội quy định ý thức xã hội.
● Tồn tại xã hội nào thì có ý thức xã hội ấy. Tồn tại xã hội quyết định nội dung, tính chất, đặc
điểm và xu hướng biến đổi, phát triển của ý thức xã hội. Ý thức xã hội phản ánh cái logic khách
quan của tồn tại xã hội.
● Tồn tại xã hội thay đổi là điều kiện quyết định để ý thức xã hội thay đổi. Khi tồn tại xã hội,
nhất là phương thức sản xuất thay đổi thì những từ tưởng, quan điểm về chính trị, pháp luật và
triết học sớm hay muộn cũng sẽ có những sự thay đổi nhất định.
Ví dụ: Tâm lý ưa chuộng con trai thuộc về ý thức tinh thần của người phương đông nhưng nó lại
bắt nguồn từ chính tồn tại xã hội vì phương thức sản xuất truyền thống của người Việt Nam cũng
như các nước phương đông là sản xuất nông nghiệp đặc biệt là nền văn minh lúa nước, trong sản
xuất nông nghiệp con trai có sức khỏe dẻo dai bền bỉ hơn làm được những công việc nặng nhọc
nên tâm lý của ông bố, bà mẹ thời xưa luôn ưu ái con trai hơn con gái .
● Tồn tại xã hội quy định ý thức xã hội không giản đơn, trực tiếp mà thường thông qua các khâu
trung gian. Sự phản ánh tồn tại xã hội của ý thức xã hội phải được xem xét một cách biện chứng.
2. Tính độc lập tương đối ý thức xã hội.
● Ý thức xã hội thường lạc hậu so với tồn tại xã hội.
+ Lịch sử xã hội loài người cho thấy, nhiều khi xã hội cũ đã mất đi rất lâu rồi, nhưng ý thức xã
hội do xã hội đó sản sinh ra vẫn tiếp tục tồn tại. Điều này biểu hiện rõ nhất ở các khía cạnh khác 17
nhau của tâm lý xã hội như truyền thống, thói quen và nhất là tập quán. Chính vì vậy, V.I.Lênin
đã khẳng định, “sức mạnh của tập quán ở hàng triệu và hàng chục triệu người là một sức mạnh ghê gớm nhất”.
Ví dụ: Chế dộ phong kiến đã không còn nhưng tư tưởng phong kiến thì vẫn chưa mất đi ta thấy
điều này qua việc nhiều phong tục, tập quán lạc hậu ở Việt Nam như: bắt vợ cướp vợ ở Sapa, hủ tục ma chay,…
→ Nguyên nhân của điều này chúng ta có thể kể đến là:
- Thứ nhất, do tác động mạnh mẽ và nhiều mặt trong hoạt động thực tiễn của con người nên tồn
tại xã hội diễn ra với tốc độ nhanh hơn khả năng phản ánh của ý thức xã hội.
- Thứ hai, do sức mạnh của thói quen, tập quán, truyền thống và do cả tính bảo thủ của hình thái
ý thức xã hội. Hơn nữa, những điều kiện tồn tại xã hội mới cũng chưa đủ để làm cho những thói
quen, tập quán và truyền thống cũ hoàn toàn mất đi.
- Thứ ba, ý thức xã hội gắn liền với lợi ích của những tập đoàn người, của các giai cấp nào đó
trong xã hội. Các tập đoàn hay giai cấp lạc hậu thường níu kéo, bám chặt vào những tư tưởng lạc
hậu để bảo vệ và duy trì quyền lợi ích kỉ của họ, chống lại các lực lượng tiến bộ trong xã hội.
→ Vì vậy, muốn xây dựng xã hội mới thì nhất định phải từng bước xóa bỏ được những tàn dư,
những tư tưởng và ý thức xã hội cũ song song với việc bồi đắp, xây dựng và phát triển ý thức xã
hội mới. khi thực hiện những nhiệm vụ này thì không được nóng vội, không được dùng các biện
pháp hành chính cũ như các nước XHCN và ở nước ta nhiều năm trước đây.
● Ý thức xã hội có thể vượt trước tồn tại xã hội:
- Triết học Mác thừa nhận rằng, ý thức xã hội thường lạc hậu hơn tồn tại xã hội nhưng cũng có
thể vượt trước tồn tại xã hội.
- Thực tế là nhiều tư tưởng khoa học và triết học trong những điều kiện nhất định có thể vượt
trước tồn tại xã hội của thời đại rất xa, hướng hoạt động thực tiễn của con người vào mục đích
nhất định. Sở dĩ ý thức xã hội có khả năng đó là do nó phản ảnh đúng được những mối liên hệ
logic, khách quan, tất yếu, bản chất của tồn tại xã hội. Lịch sử đã cho thấy nhiều dự báo của các
nhà tư tưởng lớn phải sau một thời gian, có thể ngắn hoặc rất dài, mới được thực tiễn xác nhận.
Nhiều dự báo của C.Mác đang trở thành sự thật trong thời đại chúng ta đã hoàn toàn khẳng định cho điều đó .
Ví dụ: Chủ nghĩa Mác – Lênin cũng là một ví dụ điển hình. Chủ nghĩa mác ra đời vào những
năm 40 của thế kỷ XIX bản thân Các mác Ăngghen đưa ra dự báo cuộc chiến tranh chủ nghĩa xã
hội và cách mạng vô sản tất yếu sẽ nổ ra, chủ nghĩa xã hội tất yếu sẽ giành thắng lợi, đến năm
1917 lời tiên đoán này đã trở thành hiện thực đó chính là cuộc Cách Mạng tháng 10 Nga năm 1917. 18
● Ý thức xã hội có tính kế thừa.
- Tiến trình phát triển đời sống tinh thần của xã hội loài người cho thấy rằng, các quan điểm lý
luận, các tư tưởng lớn của thời đại sau bao giờ cũng dựa vào những tiền đề đã có từ các giai đoạn
lịch sử trước đó. Chính C.Mác và Ph.Ăngghen cũng đã thừa nhận rằng, ngay cả chủ nghĩa cộng
sản phát triển cũng trực tiếp bắt nguồn từ chủ nghĩa duy vật Pháp… Và “nếu trước đó không có
triết học Đức, đặc biệt là triết học Hêghen, thì sẽ không bao giờ có chủ nghĩa xã hội khoa học
Đức, chủ nghĩa xã hội duy nhất khoa học tồn tại từ trước đến nay”. Vì vậy, hoàn toàn hợp quy
luật rằng, chủ nghĩa Mác không chỉ đã tiếp thu tất cả những gì là tinh hoa trong lịch sử văn minh
nhân loại mà còn kế thừa trực tiếp từ nền triết học cổ điển Đức, kinh tế chính trị học Anh và chủ
nghĩa xã hội không tưởng Pháp.
- Trong sự phát triển của mình ý thức xã hội có tính kế thừa nên không thể giải thích một tư
tưởng nào đó nếu chỉ dựa vào trình độ, hiện trạng phát triển kinh tế và các quan hệ kinh tế - xã
hội. Chẳng hạn, trình độ phát triển kinh tế của nước Pháp vào thế kỷ XVIII kém xa nước Anh
nhưng tư tưởng lý luận thì nước Pháp tiên tiến hơn nước Anh nhiều. Tương tự như vậy, kinh tế
nước Đức đầu thế kỷ XIX kém xa nước Anh và nước Pháp nhưng nền triết học của nước Đức thì
vượt xa hai nước kia. Điều đó chứng tỏ rằng, sự phát triển của ý thức xã hội không phải bao giờ
cũng song hành với sự phát triển kinh tế và các quan hệ kinh tế.
- Quan điểm của triết học Mác – Lênin về tính kế thừa của ý thức xã hội có ý nghĩa to lớn đối
với sự nghiệp xây dựng nền văn hoá tinh thần của xã hội chủ nghĩa.
Ví dụ: Trong quá trình phát triển của nước Việt Nam, ta đã đi thẳng từ thời kì phong kiến lên xã
hội chủ nghĩa là do Đảng ta cảm thấy 1 xã hội bình đẳng, tự do phù hợp với nhân dân việt nam
nên ta đã kế thừa những tiến bộ của mô hình xã hội chủ nghĩa của Liên Xô một bước nhảy vọt
lên thời kì xã hội chủ nghĩa.
- Tuy nhiên, cần lưu ý rằng, trong các xã hội có giai cấp thì các giai cấp khác nhau sẽ kế thừa
những di sản khác nhau của những giai đoạn trước. Giai cấp tiến bộ đang lên sẽ chọn kế thừa
những tư tưởng tiến bộ của thời đại trước, trái lại, giai cấp lỗi thời bao giờ cũng chọn tiếp thu
những tư tưởng và lý thuyết bảo thủ, phản tiến bộ để cố gắng tìm cách duy trì sự thống trị của mình.
● Sự tác động qua lại giữa các hình thái ý thức xã hội ảnh hưởng tới tồn tại xã hội.
- Ở các thời đại lịch sử khác nhau, trong hoàn cảnh khác nhau, vai trò của các hình thái ý thức xã
hội không giống nhau nhưng chúng vẫn có sự tác dộng qua lại lẫn nhau.
Ví dụ: Ở Hy Lạp cổ đại, triết học và nghệ thuật đóng vai trò đặc biệt to lớn; còn ở Tây Âu trung
cổ thì tôn giáo ảnh hưởng mạnh mẽ đến mọi mặt tinh thần xã hội như triết học, đạo đức, nghệ
thuật, chính trị, pháp quyền thì ở pháp và đức nửa cuối thế kỷ XVIII triết học và văn học đóng
vai trò quan trọng nhất trong việc truyền bá các tư tưởng chính trị và pháp quyền. 19
- Mối liên hệ này khiến ta không thể giải thích trực tiếp về những mặt của các hình thái ý thức
trong xã hội thông qua các quan hệ vật chất.
- Bên cạnh đó, trong sự tác động lẫn nhau giữa các hình thái ý thức, ý thức chính trị có vai trò
đặc biệt quan trọng. Ý thức chính trị của giai cấp cách mạng định hướng cho sự phát triển theo
chiều hướng tiến bộ của các hình thái ý thức khác. Trong điều kiện của nước ta hiện nay, những
hoạt động tư tưởng như triết học, văn học nghệ thuật… mà tách rời đường lối chính trị đúng đắn
của Đảng thì sẽ không tránh khỏi rơi vào những quan điểm sai lầm, không thể đóng góp tích cực
vào sự nghiệp cách mạng
● Ý thức xã hội tác động ngược trở lại tồn tại xã hội.
- Sự tác động trở lại đối với tồn tại xã hội của các hình thái ý thức xã hội mạnh hay yếu còn phụ thuộc vào:
+ Những điều kiện lịch sử cụ thể.
+ Vào các quan hệ kinh tế là cơ sở hình thành các hình thái ý thức xã hội.
+ Vào trình độ phản ánh và sự xâm nhập của ý thức xã hội vào quần chúng cả chiều sâu, chiều rộng.
+ Đặc biệt là vào vai trò lịch sử của giai cấp đại diện cho ngọn cờ tư tưởng.
Do đó, cần phân biệt ý thức xã hội tiến bộ với ý thức xã hội lạc hậu, cản trở sự tiến bộ xã hội.
→ Như vậy, nguyên lý của chủ nghĩa duy vật lịch sử về tính độc lập tương đối của ý thức xã hội
chỉ ra bức tranh phức tạp của lịch sử phát triển của ý thức xã hội và của đời sống tinh thần xã hội
nói chung. Nó bác bỏ mọi quan điểm siêu hình, máy móc, tầm thường về mối quan hệ giữa tồn
tại xã hội và ý thức xã hội. ý thức xã hội, với tính cách là thể thống nhất độc lập, tích cực tác
động ngược trở lại lên tồn tại xã hội nói riêng và lên đời sống xã hội nói chung.
* Ý nghĩa phương pháp luận:
- Tồn tại xã hội và ý thức xã hội là hai phương diện thống nhất biện chứng của đời sống xã hội.
→ Vì vậy công cuộc cải tạo xã hội cũ, xây dựng xã hội mới phải được tiến hành đồng thời trên
cả hai mặt tồn tại xã hội và ý thức xã hội.
- Cần quán triệt rằng, thay đổi tồn tại xã hội là điều kiện cơ bản nhất để thay đổi ý thức xã hội.
Mặt khác, cũng cần thấy rằng không chỉ những biến đổi trong tồn tại xã hội mới tất yếu dẫn đến
những thay đổi to lớn trong đời sống tinh thần của xã hội mà ngược lại, những tác động của đời
sống tinh thần xã hội, với những điều kiện xác định cũng có thể tạo ra những biến đổi mạnh mẽ,
sâu sắc trong tồn tại xã hội. Cần thấy rằng chỉ có thể thực sự tạo dựng được đời sống tinh thần
của xã hội xã hội chủ nghĩa trên cơ sở cải tạo triệt để phương thức sinh hoạt vật chất tiểu nông 20