Đang tải lên

Vui lòng đợi trong giây lát...

Preview text:

TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI ĐỀ TÀI
QUAN ĐIỂM CỦA HỒ CHÍ MINH VỀ
CON NGƯỜI PHÁT HUY NHÂN TỐ
CON NGƯỜI TRONG SỰ NGHIỆP XÂY
DỰNG CHỦ NGHĨA HỘI CỦA ĐẢNG TA Mô n
: Triết học Mác - Lênin
Giảng viên giảng dạy : Hồ Công Đức Nhóm : 11
Lớp học phần : 242_MLNP0221_03
Nội - 2025
CỘNG HÒA HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc ***
BIÊN BẢN HỌP NHÓM 11 (Buổi 1 )
I. Thời gian, địa điểm sinh hoạt: Thời gian:28/03/2025
Địa điểm:Google Meet
II. Thành viên tham gia:
101.Hoàng Thị Phương Thảo
102.Phạm Thị Phương Thảo 103.Đậu Thị Thắm 104.Vũ Đức Thắng 105.Đoàn Nguyệt Thu 106.Trần Thị Huyền Thu
107.Nguyễn Thị Phương Thùy 108.Phạm Anh Thư 109.Trần Đức Tiến 110.Nguyễn Quốc Toàn
III. Nội dung cuộc họp:
Xây dựng đề tài, phân chia nhiệm vụ cho các thành viên IV. Kết thúc
Các thành viên trong nhóm nghiêm túc đóng
góp ý kiến. Cuộc họp diễn ra từ 22h-23h30
Thư ký ghi chép lại biên bản họp nhóm Nhóm trưởng
Trần Thị Huyền Thu
BẢNG ĐÁNH GIÁ THÀNH VIÊN STT Họ và tên Mã sinh viên Nhiêm vụ Đánh giá 101 Hoàng Thị Phương Thảo 24D160043 Tìm nội dung; A thuyết trình 102 Phạm Thị Phương Thảo 24D160044 Tìm nội dung B 103 Đậu Thị Thắm 24D280036 Tìm nội dung; A làm word 104 Vũ Đức Thắng 24D160045 Làm canva B 105 Đoàn Nguyệt Thu 24D160046 Tìm nội dung, A thuyết trình 106 Trần Thị Huyền Thu 24D280037 Phân công A nhiệm vụ, tìm nội dung, làm word, làm canva 107 Nguyễn Thị Phương Thùy 24D280038 Tìm nội dung, A làm word 108 Phạm Anh Thư 24D160047 Tìm nội dung B 109 Trần Đức Tiến 24D160048 Làm canva C 110 Nguyễn Quốc Toàn 24D280039 Tìm nội dung B MỤC LỤC
PHẦN I: TỔNG QUAN VỀ ĐỀ TÀI..................................................................................................5
1.Lý do chọn đề tài............................................................................................................................................... .5
2.Giới thiệu tổng quan về tư tưởng Hồ Chí Minh về con người................................................................5
3.Tầm quan trọng của chủ đề..............................................................................................................................6
3.1.Con người là trung tâm của mọi sự phát triển........................................................................6
3.2.Hồ Chí Minh có tư tưởng sâu sắc về vai trò của con người đối với cách mạng xã hội...........6
3.3.Việc phát huy nhân tố con người là nhiệm vụ quan trọng trong công cuộc xây dựng chủ
nghĩa xã hội ở Việt Nam hiện nay................................................................................................7
-Thực hiện công bằng và an sinh xã hội: Bảo đảm quyền con người, tạo cơ hội bình đẳng trong
tiếp cận giáo dục, việc làm, chăm sóc sức khỏe, nâng cao chất lượng cuộc sống cho mọi tầng
lớp nhân dân................................................................................................................................. 7
PHẦN II: NỘI DUNG CHÍNH...........................................................................................................8
1.Quan điểm của Hồ Chí Minh về con người.................................................................................................8
1.1.Khái niệm con người theo tư tưởng Hồ Chí Minh..................................................................8
1.2.Giải phóng con người - mục tiêu và động lực của cách mạng................................................8
1.3.Giải phóng con người trên các phương diện...........................................................................9
1.4.Phát triển con người toàn diện..............................................................................................10
2.Phát huy nhân tố con người trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội...........................................10
2.1.Quan điểm của Đảng ta về phát huy nhân tố con người.......................................................10
2.2.Các biện pháp cụ thể để phát huy nhân tố con người...........................................................11
2.3 Vai trò của từng nhóm đối tượng trong việc phát huy nhân tố con người............................12
3.Thực tiễn phát huy nhân tố con người ở Việt Nam..................................................................................14
3.1.Các chính sách của Đảng và Nhà nước................................................................................14
3.2.Phong trào phát huy vai trò con người trong thực tế............................................................14
3.3.Kết quả đạt được..................................................................................................................15
3.4.Bài học rút ra và phương hướng phát trong tương lai...........................................................16
PHẦN III: KẾT LUẬN.....................................................................................................................17
1.Tóm tắt nội dung chính...................................................................................................................................17
2.Lời kêu gọi hành động.....................................................................................................................................17
LỜI CẢM ƠN
Lời đầu tiên, trước khi bắt đầu đề tài “Quan điểm của Hồ Chí Minh về con người và phát huy
nhân tố con người trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội của Đảng ta”, chúng tôi xin được
bày tỏ sự kính trọng và lòng biết ơn tới nhà trường đã tạo điều kiện cho chúng tôi học tập, tiếp cận
môn học này. Đặc biệt, chúng tôi xin trân trọng bày tỏ lòng biết ơn đối với giảng viên Hồ Công
Đức – Trường Đại học Thương mại – Hà Nội đã tận tình hướng dẫn và giúp đỡ chúng tôi trong
suốt quá trình thực hiện bài thảo luận.
Nhóm chúng tôi đã rất cố gắng để hoàn thiện báo cáo bài thảo luận này một cách hoàn chỉnh
nhất nhưng chắc chắn sẽ không tránh khỏi sự thiếu sót và hạn chế. Nhóm chúng tôi rất mong nhận
được sự góp ý, nhận xét từ phía thầy cô để nhóm có thể hoàn thiện hơn bài tập lần này và cũng là
rút kinh nghiệm để những bài thảo luận sau này đạt hiệu quả tốt hơn.
Nhóm chúng tôi xin chân thành cảm ơn!
PHẦN I: TỔNG QUAN VỀ ĐỀ TÀI
1. do chọn đề tài
Con người luôn là trung tâm của mọi sự phát triển xã hội. Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, con
người không chỉ là mục tiêu mà còn là động lực quyết định sự thành công của cách mạng và công
cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội. Người luôn nhấn mạnh vai trò của con người trong sự nghiệp
đấu tranh giành độc lập, bảo vệ Tổ quốc và phát triển đất nước.
Ngày nay, khi Việt Nam đang đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế,
việc phát huy nhân tố con người càng trở nên quan trọng hơn bao giờ hết. Một xã hội phát triển
bền vững không chỉ dựa vào kinh tế hay khoa học – công nghệ mà quan trọng nhất vẫn là con
người – những chủ thể sáng tạo, lao động và cống hiến. Vì vậy, nghiên cứu quan điểm của Hồ
Chí Minh về con người và phát huy nhân tố con người có ý nghĩa thiết thực trong việc định
hướng phát triển nguồn nhân lực, xây dựng con người Việt Nam toàn diện, đáp ứng yêu cầu của thời đại mới.
Chính vì những lý do trên, nhóm em đã chọn đề tài “Quan điểm của Hồ Chí Minh về con
người và phát huy nhân tố con người” nhằm hiểu rõ hơn về giá trị tư tưởng của Người mà còn
góp phần áp dụng vào thực tiễn xây dựng đất nước trong giai đoạn hiện nay.
2. Giới thiệu tổng quan về tưởng Hồ Chí Minh về con người
Chủ tịch Hồ Chí Minh chẳng những là nhà chính trị sáng suốt, Người còn là nhà văn hóa lớn,
nhà giáo dục vĩ đại của dân tộc ta. Với tình thương yêu con người bao la, rộng lớn, Bác đã để lại
cho chúng ta di huấn hết sức quý báu đó là quan tâm đến việc bồi dưỡng cho thế hệ mai sau.
Trong kho tàng di sản văn hóa phong phú, đa dạng và rộng lớn thì Tư tưởng Hồ Chí Minh là một
hệ thống những luận điểm khoa học rộng lớn, sâu sắc và phong phú trên nhiều lĩnh vực của đời
sống xã hội. Tư tưởng Hồ Chí Minh còn là một bước ngoặt phát triển mới của chủ nghĩa Mác -
Lênin và được vận dụng vào thực tiễn một cách sáng tạo trong giải phóng dân tộc và xây dựng
chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Song, điều cốt lõi của Tư tưởng Hồ Chí Minh là độc lập dân tộc
gắn liền với chủ nghĩa xã hội và giải phóng con người. Trong đó, quan điểm về “con người” giữ
một vai trò, vị trí quan trọng trong hệ tư tưởng và là vấn đề trung tâm, xuyên suốt trong toàn bộ
nội dung tư tưởng của Người.
Trong sự phát triển nền kinh tế, xã hội thì giáo dục có một vị trí vô cùng to lớn và quan trọng
vì nó là nhân tố quyết định để có thể tạo nên những con người mới - nguồn lực cơ bản nhất để có
thể thực hiện mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội. Phương thức để hình thành được nhân cách cơ
bản của con người trong xã hội không chỉ có giáo dục mà còn có văn hóa. Vì vậy, chúng ta không
thể xây dựng thành công CNXH nếu không thể xây dựng được một nền giáo dục vừa hiện đại vừa phát triển.
Quan điểm của Hồ Chí Minh về con người và phát huy nhân tố con người có ý nghĩa sâu sắc
trong sự nghiệp cách mạng và xây dựng chủ nghĩa ở Việt Nam. Hồ Chí Minh luôn coi con người
là trung tâm của mọi sự phát triển, là lực lượng quyết định sự thành bại của cách mạng. Người
không chỉ quan tâm đến việc giải phóng con người khỏi áp bức, bóc lột mà còn chú trọng đến
việc bồi dưỡng, phát triển toàn diện con người cả về trí tuệ, đạo đức và tinh thần yêu nước. Quan
điểm này không chỉ phản ánh tư tưởng nhân văn sâu sắc của Hồ Chí Minh mà còn khẳng định vai
trò quan trọng của con người trong công cuộc kiến thiết đất nước.Hồ Chí Minh nhấn mạnh rằng
con người không chỉ là đối tượng thụ hưởng thành quả cách mạng mà còn là chủ thể trực tiếp
tham gia vào quá trình xây dựng và bảo vệ đất nước. Do đó, phát huy nhân tố con người là yếu tố
cốt lõi để hiện thực hóa lý tưởng cách mạng, đồng thời tạo nền tảng vững chắc cho sự phát triển bền vững của quốc gia.
Việc nghiên cứu quan điểm của Hồ Chí Minh về con người có ý nghĩa đặc biệt quan trọng
trong bối cảnh hiện nay, khi Việt Nam đang đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội
nhập quốc tế. Tư tưởng của Người giúp định hướng các chính sách phát triển con người toàn
diện, từ giáo dục, y tế, lao động đến văn hóa, đạo đức, góp phần xây dựng một xã hội tiến bộ, công bằng và văn minh.
3.Tầm quan trọng của chủ đề
3.1. Con người trung tâm của mọi sự phát triển
Bước vào thế kỉ mới, với những biến đổi lớn lao, đặt ra nhiều thách thức mà con người phải
đối mặt như: cuộc cách mạng khoa học và công nghệ đang phát triển; vấn đề môi trường; dân số;
vấn đề dân chủ, nhân quyền, nhân sinh, an sinh xã hội; vấn đề dân tộc, tôn giáo, khủng bố và các
tệ nạn xã hội mới phát sinh. Điều đó khiến con người đứng trước những mâu thuẫn to lớn và hết
sức gay gắt, buộc con người phải tự hoàn thiện bản thân để theo kịp xu thế mới của thời đại. Để
làm được như vậy con người phải phát triển một cách toàn diện.
Nói tới con người Việt Nam là trung tâm của mọi sự phát triển là nhằm tới mục tiêu xây dựng
xã hội mới, thực hiện công bằng xã hội, dân chủ trong quản lý đất nước, đó là bản chất của chế
độ xã hội mới mà chúng ta đang hướng tới.
Xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện trong tư tưởng Hồ Chí Minh phải thực
hiện từng bước, từng nhiệm vụ cụ thể như sau:
- Thứ nhất. chiến lược con người của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Hồ Chí Minh cho rằng con người là
yếu tố quyết định trong sự nghiệp cách mạng, là nền tảng xây dựng xã hội chủ nghĩa. Tư tưởng
về “trồng người” của Người đã được thể hiện rất rõ qua câu nói nổi tiếng “Vì lợi ích mười năm
thì phải trồng cây, vì lợi ích trăm năm thì phải trồng người”. Người nhấn mạnh việc “trồng
người” là bồi dưỡng thế hệ cách mạng, giáo dục đạo đức và năng lực cho thanh niên, đặc biệt chú
trọng việc chống chủ nghĩa cá nhân, hướng đến một thế hệ có phẩm chất cách mạng.
- Thứ hai, vai trò của giáo dục, đào tạo trong việc xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn
diện. Chủ tịch Hồ Chí Minh nhận thức trong chiến lược con người thì công tác giáo dục, đào tạo
con người mới là quan trọng hơn bao giờ hết. Người đặc biệt chú trọng tới công tác đào tạo cán
bộ, đảng viên, gắn việc giáo dục lý luận với thực tiễn, lấy kết quả trong hoạt động thực tiễn làm
thước đo tác dụng của giáo dục, đào tạo. Những bài học quý giá về công tác giáo dục, đào tạo con
người mới đã được Người cô đọng trong hai tác phẩm nổi tiếng là Đường cách mệnh và Sửa đổi
lối làm việc với việc trình bày cặn kẽ từ kinh nghiệm công tác đến tư cách người cán bộ, đảng
viên; từ các vấn đề lý luận đến các bài học trong thực tiễn công tác và chiến đấu.
- Thứ ba, phương pháp xây dựng con người. chủ tịch Hồ Chí Minh luôn quan tâm, chú ý tới
phương pháp nêu gương, thống nhất giữa lời nói với việc làm, giữa lý luận với thực tiễn. Cùng
với đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh còn có cách nhìn người vừa bao dung , vừa sâu sắc để luôn khai
thác những mặt tốt, tìm cách khơi dậy các mặt tốt. Người nói: “Mỗi con người đều có cái thiện và
cái ác ở trong lòng. Ta phải biết làm cho mặt tốt của con người nảy nở như hoa mùa xuân và
phần xấu bị mất dần đi, đó là thái độ của cách mạng”. Những luận điểm cơ bản trong tư tưởng Hồ
Chí Minh về xây dựng con người mới xã hội chủ nghĩa, con người phát triển toàn diện còn
nguyên giá trị cho đến ngày nay, có ý nghĩa vô cùng quan trọng trong tiến trình xây dựng xã hội chủ nghĩa.
3.2. Hồ Chí Minh tưởng sâu sắc về vai trò của con người đối với cách mạng hội
Theo Hồ Chí Minh, “trong bầu trời không gì quý bằng nhân dân. trong thế giới không gì mạnh
bằng lực lượng đoàn kết của nhân dân”. Vì vậy, ‘Vô luận việc gì, đều do người làm ra, và từ nhỏ
đến to, từ gần đến xa, đều thế cả”. Người cho rằng “việc dễ mấy không có nhân dân cũng chịu,
việc khó mấy có dân liệu cũng xong”. Nhân dân là người sáng tạo ra mọi giá trị vật chất và tinh
thần. Hồ Chí Minh tổng kết ngắn gọn: dân ta tốt lắm. Người phân tích phẩm chất tốt đẹp của dân
từ lòng trung thành và tin tưởng vào cách mạng, vào Đảng, không sợ gian khổ, tù đày, hy sinh
đến việc dân nhường cơm sẻ áo, chở che, đùm bọc, bảo vệ, nuôi nấng bộ đội và cán bộ cách
mạng. Dân ta là tài năng, trí tuệ và sáng tạo, họ biết “giải quyết nhiều vấn đề một cách giản đơn,
mau chóng, đầy đủ, mà những người tài giỏi, những đoàn thể to lớn, nghĩ mãi không ra”‘. Đặc
biệt là lòng sốt sắng, hăng hái của dân để thực hiện con đường cách mạng. Nhân dân là yếu tố
quyết định thành công của cách mạng. “Lòng yêu nước và sự đoàn kết của nhân dân là một lực
lượng vô cùng to lớn, không ai thắng nổi 2- Con người vừa là mục tiêu, vừa là động lực của cách
mạng: phải coi trọng, chăm sóc, phát huy nhân tố con người: Con người là mục tiêu của cách
mạng nên mọi chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng, Chính phủ đều vì lợi ích chính đáng
của con người. Có thể là lợi ích lâu dài, lợi ích trước mắt: lợi ích cả dân tộc và lợi ích của bộ
phận, giai cấp, tầng lớp và cá nhân. Với hoạt động thực tiễn thì việc gì lợi cho dân, dù nhỏ mấy –
ta phải hết sức làm. Việc gì hại cho dân, dù nhỏ mấy – ta phải hết sức tránh.
Hồ Chí Minh có niềm tin mãnh liệt vào sức mạnh vĩ đại và năng lực sáng tạo của quần chúng.
Trong sự nghiệp xây dựng đất nước, Hồ Chí Minh đã nhận rõ: “Muốn xây dựng chủ nghĩa xã hội,
trước hết phải có con người xã hội chủ nghĩa”, “có dân thì có tất cả”...Con người là động lực của
cách mạng được nhìn nhận trên phạm vi cả nước, toàn thể đồng bào, song trước hết là ở giai cấp
công nhân và nông dân. Điều này có ý nghĩa to lớn trong sự nghiệp giải phóng dân tộc và xây
dựng chủ nghĩa xã hội. Giữa con người – mục tiêu và con người – động lực có mối quan hệ biện
chứng với nhau. Càng chăm lo cho con người – mục tiêu tốt bao nhiêu thì sẽ tạo thành con người
-động lực tốt bấy nhiêu. Ngược lại, tăng cường được sức mạnh của con người – động lực thì sẽ
nhanh chóng đạt được mục tiêu cách mạng.
3.3.Việc phát huy nhân tố con người nhiệm vụ quan trọng trong công cuộc xây dựng chủ
nghĩa hội Việt Nam hiện nay
Trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội, con người vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự
phát triển. Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Muốn cứu nước và giải phóng dân tộc không có
con đường nào khác ngoài con đường cách mạng vô sản”, mà yếu tố quyết định sự thành công
của cách mạng chính là con người. Vì vậy, phát huy nhân tố con người trở thành nhiệm vụ trọng
tâm trong sự nghiệp xây dựng đất nước hiện nay.
Con người – Nhân tố quyết định sự phát triển của xã hội. Trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp
hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế, Việt Nam cần nguồn nhân lực chất lượng cao, có trí tuệ,
sáng tạo và đạo đức tốt. Sự phát triển của khoa học – công nghệ, kinh tế số đòi hỏi con người
phải liên tục học tập, đổi mới để thích ứng với thời đại. Con người không chỉ là người thực hiện
công cuộc đổi mới mà còn là trung tâm của sự phát triển, với mục tiêu xây dựng một xã hội “dân
giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”.
Để phát huy vai trò của con người trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội, cần thực hiện các nhiệm vụ sau:
- Nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo: Giáo dục là nền tảng để phát triển nguồn nhân lực
chất lượng cao. Cần đổi mới giáo dục theo hướng hiện đại, thực tiễn, phát huy tư duy sáng tạo và tinh thần khởi nghiệp.
- Bồi dưỡng đạo đức, tư tưởng cách mạng: Xây dựng con người có tinh thần yêu nước, trách
nhiệm xã hội, ý thức dân chủ và đoàn kết. Đấu tranh chống các biểu hiện suy thoái về đạo đức, lối sống.
- Phát triển khoa học – công nghệ: Khuyến khích sáng tạo, nghiên cứu khoa học, ứng dụng công
nghệ mới để nâng cao năng suất lao động và chất lượng cuộc sống.
- Xây dựng môi trường làm việc và chính sách hợp lý: Bảo đảm quyền lợi cho người lao động,
tạo điều kiện để mọi công dân phát huy năng lực, đóng góp vào sự phát triển của đất nước.
- Thực hiện công bằng và an sinh xã hội: Bảo đảm quyền con người, tạo cơ hội bình đẳng trong
tiếp cận giáo dục, việc làm, chăm sóc sức khỏe, nâng cao chất lượng cuộc sống cho mọi tầng lớp nhân dân.
Việc phát huy nhân tố con người có ý nghĩa to lớn đối với sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã
hội ở Việt Nam. Trước hết, nó góp phần tạo ra một lực lượng lao động chất lượng cao, đáp ứng
yêu cầu của công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Bên cạnh đó, con người phát triển
toàn diện sẽ giúp xây dựng một xã hội văn minh, tiến bộ, trong đó mỗi cá nhân đều có cơ hội
phát huy năng lực và sống một cuộc đời có ý nghĩa. Đồng thời, khi con người có tri thức, đạo đức
và trách nhiệm, đất nước sẽ có nền tảng vững chắc để phát triển bền vững trong bối cảnh hội nhập quốc tế.
PHẦN II: NỘI DUNG CHÍNH
1. Quan điểm của Hồ Chí Minh về con người
1.1. Khái niệm con người theo tưởng Hồ Chí Minh
Tư tưởng về Hồ Chí Minh về con người là bước phát triển của học thuyết Mác-Lênin, được
vận dụng vào thực tiễn nhằm giải phóng dân tộc; xây dựng và cải tiến xã hội chủ nghĩa Việt
Nam. Trên cơ sở nền tảng quan niệm của học thuyết Mác-Lênin, Hồ Chí Minh đưa ra quan niệm:
con người là một chỉnh thể, thống nhất về trí lực, tâm lực, thể lực, các mối quan hệ và thẩm mỹ.
Hồ Chí Minh đề cập con người trong tính đa dạng, con người là sự đa dạng bởi các mối quan hệ
giữa cá nhân với xã hội như là quan hệ gia đình, dòng họ, làng xã, quan hệ giai cấp, dân tộc, ...;
đa dạng các mối quan hệ xã hội như quan hệ chính trị, quan hệ văn hóa, đạo đức, tôn giáo. Đa
dạng trong tính cách, khát vọng, phẩm chất, khả năng, cũng như năm ngón tay có ngón tay dài
ngắn khác nhau nhưng đều hợp lại nơi bàn tay, mấy mươi triệu người Việt Nam, có người thế
này, thế khác, nhưng đều là nòi giống Lạc Hồng; đa dạng trong hoàn cảnh xuất thân, điều kiện sống, làm việc.
Khái niệm con người trong tư tưởng Hồ Chí Minh giải thích rằng “chữ người, nghĩa hẹp là gia
đình, anh em, họ hàng, bè bạn; nghĩa rộng là đồng bào cả nước; rộng hơn nữa là cả loài người”.
Quan niệm về con người của Hồ Chí Minh rõ ràng là đã được cụ thể hóa, bao hàm cả cá nhân,
cộng đồng, giai cấp, dân tộc, nhân loại. Với quan điểm đó, trong mọi hoàn cảnh, mọi lúc, mọi nơi
người luôn quan tâm đến lợi ích và nhu cầu của con người với tâm thế nhu cầu chính đáng, khái
niệm con người đã mang trong nó bản chất xã hội, phản ánh các quan hệ xã hội. Khi bàn về vấn
đề con người trong tư tưởng Hồ Chí Minh không có con người trừu tượng, mà chỉ có con người cụ thể.
Hồ Chí Minh cho rằng con người có sự thống nhất giữa hai mặt: mặt sinh học và mặt xã hội.
Do đó, Hồ Chí Minh xem xét con người trong sự thống nhất của hai mặt đối lập: thiện - ác, hay –
dở, tốt – xấu, xã hội tự nhiên trong mỗi con người. Từ quan điểm của học thuyết Mác-Lênin, con
người sinh ra từ tự nhiên tuân theo các quy luật của tự nhiên như đói là phải ăn, khát thì phải
uống. Nhưng đồng thời con người tồn tại và phát triển cũng gắn liền với sự tồn tại và phát triển
của xã hội. Hồ Chí Minh cũng chỉ ra yếu tố sinh vật của con người. Theo Người, “dân dĩ thực vi
thiên”, “dân chỉ biết rõ giá trị của tự do, độc lập khi mà dân được ăn no, mặc đủ”. Theo Người,
trong mọi đường lối, chủ trương, chính sách, nhiệm vụ phải thực hiện ngay làm cho dân có ăn, có
mặc, có chỗ ở, có học hành.
Trong thực tiễn, con người có nhiều chiều quan hệ: quan hệ với cộng đồng xã hội (là một
thành viên); quan hệ với một chế độ xã hội (làm chủ hay bị áp bức); quan hệ với tự nhiên (một bộ
phận không thể tách rời).
Xa lạ với con người trừu tượng, phi nguồn gốc lịch sử, Hồ Chí Minh nhìn nhận con người lịch
sử-cụ thể về giới tính, lứa tuổi, nghề nghiệp, chức vụ, vị trí,… Trong những giai đoạn lịch sử đối
với chủ tịch Hồ Chí Minh không có khái niệm con người chung chung trừu tượng mà là những
con người được đặt trong các mối liên quan về giới tính về nghề nghiệp và thể hiện ở mục tiêu
giải phóng phụ nữ, nam nữ bình quyền hay là bảo đảm quyền học tập cho các em thiếu nhi.
1.2.Giải phóng con người - mục tiêu động lực của cách mạng
Hồ Chí Minh đề cao vị trí của con người đối với sự nghiệp cách mạng nên Người xem con
người là mục tiêu của cách mạng. Trong tư có tưởng của Người, việc thực hiện cách mạng xã hội
chủ nghĩa, xét đến cùng, cũng chính là xuất phát từ con người, vì lợi ích của con người, của nhân
dân lao động, Người từng nói: “Chúng ta tranh được tự do, độc lập rồi mà dân cứ chết đói, chết
rét, thì tự do, độc lập cũng không làm gì. Dân chỉ biết rõ giá trị của tự do, của độc lập khi mà dân
được ăn no, mặc đủ” chính vì vậy Hồ Chí Minh luôn coi việc giải phóng con người khỏi áp bức,
bóc lột và bất công là mục tiêu cao nhất của cách mạng.
Con người là động lực của cách mạng, không chỉ là cá nhân riêng lẻ mà tất cả con người Việt
Nam. Người khẳng định: "Cách mạng là sự nghiệp của quần chúng" và "quần chúng nhân dân là
người làm ra lịch sử."Hồ Chí Minh tin rằng chính con người, với tinh thần yêu nước và khát vọng
tự do, là nguồn sức mạnh to lớn thúc đẩy cách mạng tiến lên. Người luôn coi trọng việc phát huy
vai trò của nhân dân lao động, bởi họ là lực lượng chính của sự nghiệp đấu tranh cách mạng, là
lực lượng sản xuất quan trọng nhất và là chủ thể sáng tạo nên những giá trị vật chất và tinh thần
của xã hội.Từ đó, trong mọi giai đoạn cách mạng, việc nâng cao đời sống và quyền lợi của con
người luôn được đặt lên hàng đầu.
1.3.Giải phóng con người trên các phương diện
1.3.1.Giải phóng dân tộc
Hồ Chí Minh cho rằng, để con người được giải phóng, có cuộc sống ấm no, hạnh phúc thì điều
tiên quyết, đất nước phải được độc lập, con người phải được tự do.Triết lý nhân văn phát triển
của Hồ Chí Minh rất rõ ràng, nếu con người chưa được giải phóng thì phải giải phóng họ, trước
hết là giải phóng họ khỏi nô dịch, áp bức, bóc lột của thực dân, đế quốc. Bởi lẽ, nếu dân tộc mà
con người thuộc về chưa được giải phóng thì con người của dân tộc đó chưa thể được giải phóng.
Vì vậy, nếu dân tộc chưa độc lập thì trước hết phải giành độc lập dân tộc. Vì độc lập dân tộc là
điều kiện, tiền đề cho con người được giải phóng, được tự do, hạnh phúc. Con người không thể
có tự do, hạnh phúc trong điều kiện dân tộc bị áp bức, nô lệ.
1.3.2.Giải phóng giai cấp
Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, giải phóng giai cấp là một bước quan trọng nhằm xóa bỏ bất
công và đảm bảo quyền lợi cho nhân dân lao động. Người khẳng định: “Chỉ có xóa bỏ chế độ
người bóc lột người, xã hội mới thực sự công bằng, nhân dân lao động mới thực sự làm chủ.”.
Theo đó, giai cấp công nhân giữ vai trò lãnh đạo cách mạng, vì đây là lực lượng có tổ chức, kỷ
luật và đại diện cho phương thức sản xuất tiên tiến. Đảng Cộng sản, với tư cách là đội tiên phong
của giai cấp công nhân, phải lãnh đạo cách mạng vô sản để giành chính quyền, thiết lập chế độ
mới, bảo đảm quyền lợi cho nhân dân lao động. Người nhấn mạnh: “Giai cấp công nhân là giai
cấp lãnh đạo cách mạng, phải đi tiên phong trong sự nghiệp giải phóng giai cấp và giải phóng con
người.” Mục tiêu cuối cùng của giải phóng giai cấp không chỉ là xóa bỏ chế độ bóc lột, mà còn là
xây dựng một xã hội công bằng, dân chủ, tạo điều kiện để con người phát triển toàn diện.
1.3.3.Giải phóng hội
Khi dân tộc được độc lập, có chính quyền của nhân dân rồi thì Người luôn chăm lo làm sao để
bất kỳ người dân nào cũng có cơm ăn, áo mặc, được học hành, ốm đau được chữa bệnh, Hồ Chí
Minh cho rằng, để con người được giải phóng, có cuộc sống ấm no, hạnh phúc thì điều tiên
quyết, đất nước phải được độc lập, con người phải được tự do.Triết lý nhân văn phát triển của Hồ
Chí Minh rất rõ ràng, nếu con người chưa được giải phóng thì phải giải phóng họ, trước hết là
giải phóng họ khỏi nô dịch, áp bức, bóc lột của thực dân, đế quốc. Bởi lẽ, nếu dân tộc mà con
người thuộc về chưa được giải phóng thì con người của dân tộc đó chưa thể được giải phóng. Vì
vậy, nếu dân tộc chưa độc lập thì trước hết phải giành độc lập dân tộc. Vì độc lập dân tộc là điều
kiện, tiền đề cho con người được giải phóng, được tự do, hạnh phúc. Con người không thể có tự
do, hạnh phúc trong điều kiện dân tộc bị áp bức, nô lệ, người già cả, neo đơn được xã hội quan
tâm. Nói khác đi, Người muốn thực hiện giải phóng con người Việt Nam khỏi đói nghèo, thất
học, mù chữ, bệnh tật. Hồ Chí Minh nhiều lần khẳng định rằng nếu dân đói, dân rét thì Đảng và
Chính phủ có lỗi. Điều này nói lên rằng giải phóng con người trong triết lý nhân văn phát triển
của Hồ Chí Minh phải giải phóng triệt để. Con người được giải phóng khỏi đế quốc thực dân,
nhưng con người còn phải được giải phóng khỏi đói, rét, bệnh tật, mù chữ, khỏi các phong tục,
tập quán lạc hậu. Để thực hiện được mục đích nhân văn ấy thì nhà nước phải tổ chức, thực hiện
tốt chức năng xây dựng, phát triển kinh tế - văn hóa - xã hội của mình.
1.4.Phát triển con người toàn diện
Trên cơ sở tiếp thu lý luận về phát triển con người của chủ nghĩa Mác - Lênin, kế thừa kinh
nghiệm của thế giới và Việt Nam, Hồ Chí Minh cho rằng,con người Việt Nam phát triển toàn
diện là một thể thống nhất, kết hợp chặt chẽ các yếu tố, các mặt: đức, trí, thể, mỹ, tạo nên phẩm
chất và năng lực (“hồng” và “chuyên”, đức và tài), “chẳng những thạo về chính trị, mà còn phải
giỏi về chuyên môn”, để con người làm chủ ngày càng tốt hơn các quá trình phát triển của xã hội.
Đó là con người có những phẩm chất đạo đức trong sáng, cao đẹp, có sự phong phú về mặt trí tuệ
(tri thức cũ và mới), sự mạnh khỏe về thể chất, sự hiểu biết sâu sắc về cái hay, cái đẹp, cái cao cả.
Nếu thiếu đi một yếu tố nào đó thì vấn đề phát triển sẽ không được bảo đảm toàn diện. Muốn có
những con người như vậy xuất hiện trong công nhân, nông dân, trí thức và các tầng lớp xã hội,
theo Hồ Chí Minh phải chủ động, có phương hướng, cách thức xây dựng. Người chỉ rõ: “Ta xây
dựng con người cũng phải có ý định rõ ràng như nhà kiến trúc. Định xây dựng ngôi nhà như thế
nào rồi mới dùng gạch, vữa, vôi cát, tre gỗ... mà xây nên”
Các yếu tố đức, trí, thể, mỹ có vị trí vai trò riêng trong việc hình thành con người Việt Nam
phát triển toàn diện nhưng cũng có mối quan hệ biện chứng, sự phát triển của bất kỳ thành tố nào
cũng bị chi phối và có tác động của các thành tố khác ở nhiều mức độ khác nhau. Thể lực với sức
khỏe tốt là cơ sở, điều kiện để nảy nở và phát triển các phẩm chất, năng lực khác của con người.
Phẩm chất đạo đức là “gốc”, nền tảng định hướng mọi hoạt động tri thức của con người. Sự
phong phú về mặt trí tuệ và sự hiểu biết sâu sắc về cái đẹp, cái tốt, cái cao cả... là các yếu tố rất
quan trọng, quyết định trình độ, năng lực của con người phát triển toàn diện. Hồ Chí Minh đã nêu
lên một luận điểm nổi tiếng: “Có tài mà không có đức là người vô dụng; có đức mà không có tài
thì làm việc gì cũng khó”. Vì vậy, phải quan tâm đến tất cả các mặt đức, trí, thể, mỹ để con người
Việt Nam phát triển một cách hài hòa, cân đối, toàn diện.
2.Phát huy nhân tố con người trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa hội
2.1.Quan điểm của Đảng ta về phát huy nhân tố con người
2.1.1. Con người trung tâm động lực của sự phát triển hội
Đảng khẳng định con người vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự phát triển xã hội. Mọi
chính sách kinh tế - xã hội đều hướng đến việc nâng cao đời sống, phát huy năng lực và phẩm
chất con người Việt Nam. Do đó, trong quá trình đổi mới đất nước, Đảng luôn nhấn mạnh vai trò
trung tâm của con người và xác định nhiệm vụ phát triển con người toàn diện là một trong những
yếu tố then chốt để xây dựng chủ nghĩa xã hội.
2.1.2. Phát huy nhân tố con người gắn liền với phát triển toàn diện
Đảng nhấn mạnh cần tập trung vào phát triển toàn diện cả về giáo dục - đào tạo, khoa học -
công nghệ, và đời sống vật chất, tinh thần. Giáo dục và đào tạo được coi là quốc sách hàng đầu,
nhằm xây dựng nguồn nhân lực chất lượng cao phục vụ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
Cùng với đó, Đảng chủ trương nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho nhân dân, đảm bảo
việc làm, thu nhập, phúc lợi xã hội, y tế, văn hóa. Một yếu tố quan trọng khác là bồi dưỡng đạo
đức, nhân cách, lối sống, nhằm xây dựng con người Việt Nam có ý thức trách nhiệm, lòng yêu
nước và tinh thần đoàn kết.
2.1.3. Phát huy nhân tố con người trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa hội
nhập quốc tế
Trong bối cảnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế, Đảng đặc biệt nhấn mạnh
đến vai trò của nguồn nhân lực chất lượng cao và đổi mới sáng tạo. Để đáp ứng yêu cầu của
cuộc cách mạng công nghiệp 4.0, Việt Nam cần có đội ngũ lao động có trình độ chuyên môn
cao, sáng tạo, có kỹ năng thích ứng với sự thay đổi của khoa học - công nghệ. Bên cạnh đó,
Đảng khuyến khích tinh thần khởi nghiệp, làm giàu chính đáng, thúc đẩy doanh nghiệp đổi mới
sáng tạo để phát triển bền vững.
2.1.4. Phát huy dân chủ, quyền làm chủ nhân dân
Ngoài ra, việc phát huy nhân tố con người không thể tách rời khỏi việc mở rộng dân chủ, đảm
bảo quyền làm chủ của nhân dân. Đảng chủ trương xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ
nghĩa, bảo đảm quyền con người, quyền công dân theo Hiến pháp và pháp luật. Nhân dân có vai
trò quan trọng trong quản lý nhà nước và giám sát xã hội thông qua các cơ chế dân chủ cơ sở.
Đặc biệt, Đảng nhấn mạnh đến việc khơi dậy khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh
phúc, nâng cao tinh thần yêu nước, ý chí tự cường dân tộc để tạo động lực cho công cuộc đổi
mới, phát triển đất nước.
2.2.Các biện pháp cụ thể để phát huy nhân tố con người
2.2.1. Bồi dưỡng tưởng, đạo đức, nhân cách
Để phát huy nhân tố con người trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội theo tư tưởng Hồ
Chí Minh, cần thực hiện đồng bộ nhiều biện pháp. Trước hết, phải chú trọng bồi dưỡng tư tưởng
đạo đức cách mạng, tinh thần yêu nước và ý thức trách nhiệm với cộng đồng. Do đó, việc giáo
dục tư tưởng chính trị, rèn luyện phẩm chất đạo đức, đề cao tinh thần trung thực, liêm khiết và
đoàn kết là vô cùng cần thiết. Đồng thời, phải xây dựng lối sống lành mạnh, đấu tranh chống lại
các tệ nạn xã hội, tham nhũng, quan liêu.
2.2.2. Nâng cao trình độ học vấn, chuyên môn, kỹ năng lao động
Muốn phát huy nhân tố con người, trước hết phải quan tâm đến giáo dục – đào tạo. Cần đẩy
mạnh việc học tập suốt đời, gắn lý thuyết với thực tiễn, nâng cao kỹ năng lao động và sáng tạo.
Đồng thời, phải kết hợp giáo dục với khoa học – công nghệ, tạo điều kiện để con người tiếp cận
tri thức mới, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
2.2.3. Cải thiện đời sống vật chất tinh thần của nhân dân
Muốn con người phát huy hết tiềm năng, phải đảm bảo đời sống vật chất và tinh thần đầy đủ.
Nhà nước cần thực hiện các chính sách công bằng xã hội, tạo điều kiện việc làm, nâng cao thu
nhập và cải thiện điều kiện sống. Bên cạnh đó, cần phát triển hệ thống y tế, giáo dục, văn hóa và
xây dựng môi trường sống an toàn, lành mạnh để con người yên tâm lao động và cống hiến.
2.2.4. Phát huy dân chủ, tạo điều kiện để nhân dân làm chủ
Hồ Chí Minh luôn đề cao vai trò của nhân dân trong sự nghiệp cách mạng. Vì vậy, cần thực
hiện dân chủ rộng rãi, tạo điều kiện để nhân dân tham gia vào quản lý nhà nước và giám sát xã
hội. Đảm bảo quyền tự do, bình đẳng của người dân theo Hiến pháp và pháp luật, từ đó khơi
dậy tinh thần trách nhiệm và sự đóng góp của mỗi cá nhân vào sự phát triển chung của đất nước.
2.2.5. Xây dựng môi trường thuận lợi để phát huy sáng tạo cống hiến
Con người chỉ có thể phát huy hết khả năng khi có môi trường thuận lợi. Nhà nước và xã hội
cần khuyến khích các phong trào thi đua yêu nước, hỗ trợ nghiên cứu khoa học, đổi mới sáng tạo
và khởi nghiệp. Đồng thời, cần tạo môi trường làm việc hiện đại, chuyên nghiệp, giúp mỗi cá
nhân phát huy tối đa năng lực của mình.
2.2.6. Phát triển văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước
Hồ Chí Minh nhấn mạnh rằng văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, vừa là mục tiêu, vừa
là động lực của sự phát triển. Vì vậy, cần xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân
tộc, kết hợp hài hòa giữa truyền thống và hiện đại. Đồng thời, đề cao các giá trị nhân văn, tinh
thần đoàn kết, lòng nhân ái để hướng đến sự phát triển bền vững của đất nước.
2.3 Vai trò của từng nhóm đối tượng trong việc phát huy nhân tố con người
2.3.1. Vai trò của Nhà nước chính quyền các cấp
Nhà nước và chính quyền các cấp đóng vai trò chủ đạo và định hướng trong việc phát huy
nhân tố con người. Hồ Chí Minh nhấn mạnh rằng “muốn cứu nước và giải phóng dân tộc không
có con đường nào khác ngoài con đường cách mạng vô sản”, do đó, vai trò của Nhà nước là
không thể thay thế trong công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội.
- Xây dựng thể chế chính trị - pháp lý vững mạnh:
+ Ban hành và thực thi các chính sách pháp luật nhằm tạo điều kiện cho con người phát triển
toàn diện về trí tuệ, đạo đức, thể chết và năng lực lao động.
+ Thực hiện công bằng xã hội, đảm bảo mọi công dân được học tập, làm việc và cống hiến theo năng lực.
- Tạo môi trường thuận lợi để phát huy nhân tố con người:
+ Thúc đẩy kinh tế - văn hóa - giáo dục, tạo nền tảng cho con người phát triển.
+ Đảm bảo an sinh xã hội, chăm sóc y tế, giảm đói nghèo, từ đó tạo điều kiện để con người phát huy hết năng lực.
- Thực hiện quản lý xã hội trên cơ sở phát huy tính tự giác của nhân dân:
+ Nhà nước không chỉ quản lý bằng pháp luật mà còn phải tôn trọng ý kiến nhân dân, phát huy
dân chủ, đảm bảo nguyên tắc “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra”.
+ Xây dựng một nền hành chính công minh bạch, loại bỏ quan liêu, tham nhũng, vì lợi ích của nhân dân.
- Thúc đẩy khoa học – công nghệ trong sự phát triển con người:
+ Đầu tư vào giáo dục và đào tạo nhân lực chất lượng cao.
+ Xây dựng chiến lược phát triển nguồn nhân lực trong thời đại công nghệ 4.0.
→ Nhà nước có vai trò định hướng, tổ chức và bảo đảm điều kiện cần thiết để phát huy giá trị,
phẩm chất và năng lực của con người, góp phần xây dựng nền tảng vững chắc cho chủ nghĩa xã hội.
2.3.2. Vai trò của tổ chức Đảng các đoàn thể hội
Hồ Chí Minh khẳng định Đảng Cộng sản Việt Nam là lực lượng lãnh đạo cách mạng, trong
đó vai trò của Đảng và các đoàn thể chính trị - xã hội là dẫn dắt, tổ chức và giáo dục để phát huy
tối đa nhân tố con người trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội.
- Đảng giữ vai trò lãnh đạo tư tưởng, chính trị:
+ Xác định mục tiêu, phương hướng phát triển con người trong tư tưởng Hồ Chí Minh và chủ nghĩa Marx-Lenin.
+ Kiên định đường lối độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, đưa ra chiến lược phát triển con
người phù hợp với từng giai đoạn lịch sử.
- Các đoàn thể xã hội đóng vai trò huy động sức mạnh nhân dân:
+ Công đoàn, Đoàn Thanh niên, Hội Phụ nữ, Hội Nông dân... có trách nhiệm giáo dục ý thức
chính trị, đạo đức cách mạng, tinh thần yêu nước, từ đó khơi dậy khát vọng phát triển trong mỗi cá nhân.
+ Tạo lập các phong trào thi đua yêu nước như “Lao động giỏi – Lao động sáng tạo”, “Người tốt
– Việc tốt”, từ đó lan tỏa giá trị tích cực trong xã hội.
- Xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc:
+ Đảng và các tổ chức đoàn thể có nhiệm vụ phát huy truyền thống đại đoàn kết dân tộc, tạo
động lực chung cho nhân dân cùng nhau phấn đấu vì mục tiêu phát triển đất nước.
+ Xây dựng ý thức trách nhiệm, kêu gọi toàn dân tham gia xây dựng kinh tế, văn hóa, xã hội theo hướng tiến bộ.
→ Đảng và các đoàn thể giữ vai trò hạt nhân lãnh đạo, định hướng và thúc đẩy phong trào quần
chúng, giúp mỗi cá nhân nhận thức được trách nhiệm và nghĩa vụ đối với đất nước trong sự
nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội.
2.3.3. Vai trò của nhân trong rèn luyện phát triển bản thân
Hồ Chí Minh đặc biệt nhấn mạnh đến yếu tố tự giác, tự rèn luyện, phát huy nội lực của mỗi
con người trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội.
- Tự học, tự rèn luyện đạo đức, nâng cao trình độ:
Hồ Chí Minh cho rằng, để con người được giải phóng, có cuộc sống ấm no, hạnh phúc thì điều
tiên quyết, đất nước phải được độc lập, con người phải được tự do.Triết lý nhân văn phát triển
của Hồ Chí Minh rất rõ ràng, nếu con người chưa được giải phóng thì phải giải phóng họ, trước
hết là giải phóng họ khỏi nô dịch, áp bức, bóc lột của thực dân, đế quốc. Bởi lẽ, nếu dân tộc mà
con người thuộc về chưa được giải phóng thì con người của dân tộc đó chưa thể được giải
phóng. Vì vậy, nếu dân tộc chưa độc lập thì trước hết phải giành độc lập dân tộc. Vì độc lập dân
tộc là điều kiện, tiền đề cho con người được giải phóng, được tự do, hạnh phúc. Con người
không thể có tự do, hạnh phúc trong điều kiện dân tộc bị áp bức, nô lệ.
+ Con người cần không ngừng học tập, rèn luyện tri thức và kỹ năng chuyên môn để đáp ứng yêu cầu của xã hội.
+ Xây dựng tinh thần tự chủ, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm trong công việc và cuộc sống.
+ Phát huy tinh thần tương thân tương ái, vì cộng đồng, đúng với đạo lý "mình vì mọi người, mọi người vì mình".
- Gắn lợi ích cá nhân với lợi ích tập thể, lợi ích dân tộc:
+ Con người trong xã hội chủ nghĩa cần đặt lợi ích tập thể lên trên lợi ích cá nhân, đồng thời vẫn
có điều kiện phát triển bản thân.
+ Hồ Chí Minh từng nhấn mạnh: "Muốn cứu nước và giải phóng dân tộc không có con đường
nào khác ngoài con đường cách mạng vô sản." Do đó, mỗi cá nhân cần có ý thức gắn bó với đất
nước, đóng góp trí tuệ và công sức vì sự phát triển chung.
→ Mỗi cá nhân chính là một nhân tố quan trọng, nếu biết tự rèn luyện, phát huy năng lực và
phẩm chất, thì sẽ góp phần xây dựng một xã hội giàu mạnh, văn minh, tiến bộ.
Kết luận: Tổng hợp vai trò của các nhóm đối tượng trong phát huy nhân tố con người
- Nhà nước và chính quyền các cấp giữ vai trò tạo điều kiện, ban hành chính sách, đảm bảo môi
trường thuận lợi để phát huy nhân tố con người.
- Đảng và các tổ chức đoàn thể giữ vai trò lãnh đạo, định hướng tư tưởng, tổ chức phong trào thi đua, gắn kết nhân dân.
- Cá nhân mỗi con người cần tự giác học tập, rèn luyện, nâng cao trình độ, cống hiến cho xã hội.
=> Phát huy nhân tố con người không chỉ là nhiệm vụ của Nhà nước hay tổ chức mà còn là
trách nhiệm của chính mỗi người chúng ta!
3.Thực tiễn phát huy nhân tố con người Việt Nam
3.1. Các chính sách của Đảng Nhà nước
Tư tưởng Hồ Chí Minh về con người và phát huy nhân tố con người nhấn mạnh vai trò trung
tâm của con người trong sự nghiệp cách mạng và xây dựng đất nước. Theo Hồ Chí Minh, con
người vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự phát triển xã hội. Để hiện thực hóa quan điểm
này, Đảng và Nhà nước Việt Nam đã triển khai nhiều chính sách nhằm phát huy tối đa tiềm
năng của mỗi cá nhân, đóng góp vào sự nghiệp chung của dân tộc.
Một trong những chính sách quan trọng là công cuộc Đổi mới, được khởi xướng từ Đại hội
VI của Đảng Cộng sản Việt Nam năm 1986. Chính sách này tập trung vào cải cách kinh tế,
chuyển từ nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ
nghĩa, tạo điều kiện cho mọi thành phần kinh tế phát triển và khuyến khích sự sáng tạo của cá
nhân. Điều này thể hiện sự tin tưởng vào khả năng và vai trò của con người trong việc thúc đẩy
phát triển kinh tế và xã hội.
Ngoài ra, Đảng và Nhà nước cũng chú trọng đến chính sách giáo dục và đào tạo, coi đây là
quốc sách hàng đầu. Việc đầu tư vào giáo dục nhằm nâng cao trình độ dân trí, bồi dưỡng nhân
tài, tạo điều kiện cho mỗi cá nhân phát huy tối đa năng lực của mình. Chính sách này phản ánh
quan điểm của Hồ Chí Minh về việc con người là nhân tố quyết định trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Bên cạnh đó, các chính sách về y tế, văn hóa, xã hội cũng được triển khai nhằm nâng cao
chất lượng cuộc sống, đảm bảo quyền lợi và phát huy vai trò của mỗi cá nhân trong cộng đồng.
Những chính sách này thể hiện sự nhất quán trong việc thực hiện tư tưởng Hồ Chí Minh về con
người và phát huy nhân tố con người trong quá trình phát triển đất nước.
Để tiếp tục phát huy nhân tố con người, Đảng ta đã xác định việc xây dựng con người Việt
Nam phát triển toàn diện là một mục tiêu chiến lược. Đại hội XIII của Đảng nhấn mạnh: "Phát
triển con người toàn diện và xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc
để văn hóa thực sự trở thành sức mạnh nội sinh, động lực phát triển đất nước và bảo vệ Tổ
quốc... tài năng, trí tuệ, phẩm chất của con người Việt Nam là trung tâm, mục tiêu và động lực
phát triển quan trọng nhất của đất nước" . Điều này cho thấy sự nhất quán trong việc đặt con
người ở vị trí trung tâm của chiến lược phát triển kinh tế - xã hội.
Ngoài ra, Đảng và Nhà nước cũng chú trọng đến việc phát huy tính năng động, sáng tạo và
trách nhiệm của mỗi cá nhân trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Điều này được thể
hiện qua việc khuyến khích tinh thần "7 dám" của cán bộ, đảng viên, viên chức và người đứng
đầu cơ quan, đơn vị, địa phương trong thực hiện nhiệm vụ . Chính sách này nhằm tạo điều kiện
cho mỗi cá nhân phát huy tối đa khả năng và đóng góp vào sự phát triển chung của đất nước.
Tóm lại, các chính sách của Đảng và Nhà nước Việt Nam đã và đang thể hiện rõ quan điểm
của Hồ Chí Minh về con người và việc phát huy nhân tố con người, coi đây là yếu tố quyết định
trong sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước.
3.2. Phong trào phát huy vai trò con người trong thực tế
Tiếp nối tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh về việc phát huy nhân tố con người trong sự
nghiệp cách mạng, nhiều phong trào đã được triển khai nhằm khơi dậy và tận dụng tối đa tiềm
năng của mỗi cá nhân trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Một trong những phong trào tiêu biểu là "Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa",
khởi xướng từ năm 1995. Phong trào này tập trung vào việc xây dựng môi trường văn hóa lành
mạnh, phát huy giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc, nâng cao ý thức cộng đồng và trách
nhiệm xã hội của mỗi cá nhân. Đây chính là sự cụ thể hóa tư tưởng của Hồ Chí Minh về việc coi
con người vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự phát triển xã hội.
Bên cạnh đó, phong trào "Thanh niên lập nghiệp" và "Tuổi trẻ giữ nước" do Đoàn Thanh
niên Cộng sản Hồ Chí Minh phát động đã tạo điều kiện cho thanh niên tham gia tích cực vào
công cuộc xây dựng và bảo vệ đất nước. Chủ tịch Hồ Chí Minh từng nhấn mạnh: "Thanh niên là
người tiếp sức cách mạng cho thế hệ thanh niên già, đồng thời là người phụ trách dìu dắt thế hệ
thanh niên tương lai; do đó, thanh niên là người chủ tương lai của nước nhà."
Ngoài ra, phong trào "Toàn dân thi đua chống giặc đói, giặc dốt, giặc ngoại xâm" được phát
động ngay sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945, đã huy động sức mạnh của toàn dân trong
việc giải quyết những thách thức cấp bách của đất nước. Phong trào này thể hiện quan điểm của
Hồ Chí Minh về việc phát huy sức mạnh tinh thần của con người, khẳng định rằng: "Trong bầu
trời không gì quý bằng nhân dân. Trong thế giới không gì mạnh bằng lực lượng đoàn kết của nhân dân."
Những phong trào này không chỉ kế thừa tư tưởng của Hồ Chí Minh về vai trò quan trọng
của con người trong sự nghiệp cách mạng mà còn góp phần thúc đẩy sự phát triển toàn diện của
xã hội Việt Nam, khẳng định rằng con người là vốn quý nhất, động lực quyết định mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam.
3.3. Kết quả đạt được
Kết quả đạt được trong thực tiễn phát huy nhân tố con người ở Việt Nam thể hiện trên nhiều phương diện quan trọng:
Giáo dục phát triển nguồn nhân lực:
Hệ thống giáo dục ngày càng được mở rộng và cải thiện, giúp nâng cao trình độ dân trí và kỹ
năng lao động. Tỷ lệ người biết chữ đạt mức cao, số lượng sinh viên tốt nghiệp đại học, cao
đẳng và được đào tạo nghề tăng lên đáng kể, tạo ra một lực lượng lao động có trình độ chuyên môn tốt hơn.
Đổi mới sáng tạo khoa học công nghệ:
Việt Nam đã có những bước tiến trong nghiên cứu khoa học và ứng dụng công nghệ vào sản
xuất và đời sống. Nhiều sản phẩm công nghệ "Make in Vietnam" đã xuất hiện, góp phần thúc
đẩy phát triển kinh tế số, trí tuệ nhân tạo và tự động hóa. Hệ sinh thái khởi nghiệp đổi mới sáng
tạo ngày càng sôi động, giúp Việt Nam khẳng định vị thế trong khu vực Đông Nam Á.
Kinh tế năng suất lao động:
Việc phát huy nhân tố con người đã góp phần nâng cao năng suất lao động, giúp kinh tế tăng
trưởng ổn định. Người lao động Việt Nam ngày càng có ý thức kỷ luật, sáng tạo và chủ động
hơn trong công việc. Nhờ đó, nhiều doanh nghiệp trong nước vươn ra thị trường quốc tế, xuất
khẩu hàng hóa chất lượng cao.
Văn hóa ý thức hội: