Đang tải lên

Vui lòng đợi trong giây lát...

Preview text:

TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI BỘ MÔN TRIẾT HỌC ĐỀ TÀI BÀI THẢO LUẬN
TRIẾT HỌC MÁC – LÊ NIN Nhóm thực hiện :Nhóm 5 Lớp học phần :231_MLNP0221_24
Giảng viên hướng dẫn :Đào Thu Hà HÀ NỘI, 2023
BẢNG PHÂN CÔNG NHIỆM VỤ THọ và tên Nhiệm vụ Nhóm tự Đánh giá của xếp loại giảng viên
1Bùi Nguyễn Phương Linh Nhóm trưởng 9.5
2Nguyễn Thị Hồng Lan Powerpoint 9
3Nguyễn Phương Linh Thuyết trình 9 4Nguyễn Khánh Linh Phần mở đầu 8.5 5Nghiêm Hồng Liên Chương 1 10 6Nguyễn Thuỳ Linh Chương 2: 2.1 8.5 7Hoàng Hà Linh Chương 2: 2.2 9.5 8Trần Phương Linh Chương 2: 2.3 9 9Lý Thị Mai Linh Chương 2: 2.4 8.5 10 Lê Tùng Lâm Phần kết luận 8 LỜI CẢM ƠN
Trước tiên với tình cảm sâu sắc và chân thành nhất, cho phép nhóm chúng em
được bày tỏ lòng biết ơn đến Cô Đào Thu Hà đã tạo điều kiện hỗ trợ, giúp đỡ
chúng em trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu đề tài này. Bài tiểu luận
được thực hiện trong trong khoảng thời gian ngắn gần 3 tuần. Bước đầu đi vào
thực tế của chúng em còn hạn chế và còn nhiều bỡ ngỡ nên không tránh khỏi
việc sai sót do thiếu kiến thức, không hiểu vấn đề một cách sâu sắc nhất. Chúng
em rất mong nhận đc những ý kiến đóng góp quý báu của cô và các bạn để kiến
thức của chúng em trong lĩnh vực này được hoàn thiện hơn đồng thời có điểu
kiện bổ sung, nâng cao ý thức của mình. MỤC LỤC
MỞ ĐẦU..............................................................................................................3
NỘI DUNG...........................................................................................................5
1: Chương I: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA QUAN ĐIỂM TOÀN DIỆN...............5
1.1: Khái niệm mối liên hệ phổ biến.............................................................5
1.2: Tính chất của mối liên hệ phổ biến........................................................5
1.3: Phân loại mối liên hệ phổ biến..............................................................6
1.4: Ý nghĩa phương pháp luận.....................................................................7
2: Chương II: VẬN DỤNG QUAN ĐIỂM TOÀN DIỆN ĐỂ PHÂN TÍCH
NHỮNG ẢNH HƯỞNG CỦA ĐẠI DỊCH COVID 19 ĐẾN CÁC VẤN ĐỀ
CỦA ĐỜI SỐNG XÃ HỘI VIỆT NAM HIỆN NAY
.......................................8
2.1: Tác động của đại dịch covid 19 đối với sự phát triển nước ta trong
giai đoạn hiện nay
.........................................................................................8
2.1.1: Những thành tựu đã đạt được trong đại dịch COVID - 19.............8
2.1.2: Những ảnh hưởng của đại dịch COVID lên các lĩnh vực: Giáo dục,
y tế, chính trị, kinh tế, xã hội.....................................................................8
2.2: Những tác động của đại dịch COVID đến các lĩnh vực.................9
2.2.1: Những ảnh hưởng tích cực........................................................13
2.2.2: Những ảnh hưởng tiêu cực........................................................15
2.2.3 Nguyên nhân của những ảnh hưởng tiêu cực.................................20
2.3: Phương hướng, giải pháp khắc phục hạn chế và tiếp tục phát triển các
lĩnh vực trong thời gian tới
..........................................................................22
2.3.1: Phương hướng khắc phục hạn chế và tiếp tục đẩy mạnh sự phát
triển của các lĩnh vực (nêu trên) trong thời gian tới................................22
2.3.1.1: Tư tưởng chỉ đạo của Đảng...................................................22
2.3.1.2: Phương hướng........................................................................23
2.4. Liên Hệ Bản Thân.................................................................................27
2.4.1. Áp dụng trong học tập...................................................................27
2.4.2: Trong cuộc sống thực tiễn hàng ngày...........................................28
KẾT LUẬN........................................................................................................30
TÀI LIỆU THAM KHẢO................................................................................32 MỞ ĐẦU
Với tư cách là những nguyên tắc phương pháp luận, quan điểm toàn diện
và hoạt động thực tiễn cải tạo hiện thực, cải tạo chính bản thân chúng ta. Song
để thực hiện được chúng, mỗi chúng ta cần nắm chắc cơ sở lý luận của chúng –
nguyên lý về mối liên hệ phổ biến và nguyên lý về sự phát triển, biết vận dụng
chúng một cách sáng tạo trong hoạt động của mình. Trong thời kỳ đối phó với
đại dịch COVID - 19, mỗi cá nhân chúng ta nói riêng và đất nước Việt Nam nói
chung đều phải chịu những “khủng hoảng” trong nhiều lĩnh vực khác nhau như
kinh tế, văn hoá, chính trị, xã hội, … Vì thế chúng ta có thể áp dụng các nguyên
tắc của cơ sở quan điểm toàn diện vào việc khắc phục những ảnh hưởng của đại dịch COVID- 19 đem lại.
Trong bài tiểu luận này, với sự hướng dẫn của giảng viên bộ môn, tập
trung vào phân tích tìm hiểu nội dung của cơ sở quan điểm toàn diện từ đó có
thể vận dụng một cách hợp lý vào cuộc sống và trong quá trình khắc phục hậu
quả do đại dịch COVID – 19 để lại đối với mỗi cá nhân nói riêng và với đất nước nói chung.
1. Tính cấp thiết của đề tài đối với Covid-19
Triết học, cụ thể hơn là sự toàn diện luôn hiện hữu trong mọi lĩnh vực của đời
sống xã hội như: kinh tế, chính trị, xã hội, giáo dục, y tế… và thậm chí những sự
việc diễn ra xung quanh mỗi con người. Đặc biệt trong thời điểm nước ta phải đối
mặt với đại dịch COVID , sự tác động của nó diễn ra trên tất cả các mặt, các lĩnh
vực của đời sống làm xáo trộn, trì trệ mọi công việc, học tập, phong cách sinh
hoạt của từng cá nhân. Nhưng bên cạnh những mặt tiêu cực đó, COVID 19 cũng
đem lại những yếu tố tích cực cho Việt Nam nói riêng và thế giới nói chung.
Như vậy, bài nghiên cứu của không chỉ cung cấp những kiến thức liên quan
đến quan điểm toàn diện của chủ nghĩa duy vật biện chứng trong triết học Mác -
Lênin mà cònnêu lên cái nhìn theo quan điểm toàn diện về ảnh hưởng của đại
dịch Covid - 19 ở ViệtNam hiện nay cũng như tư tưởng chỉ đạo của Đảng và
Nhà nước trong việc đề ra giải pháp phù hợp
2. Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
- Phân tích rõ quan điểm toàn diện của chủ nghĩa duy vật biện chứng trong triết học Mác- Lênin
- Vận dụng quan điểm để phân tích những ảnh hưởng của dịch Covid 19 lên
mọi khía cạnh của đời sống xã hội Việt Nam hiện nay.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: quan điểm toàn diện trong triết học Mác- Lênin và
trong bối cảnh đại dịch Covid-19 diễn ra ở Việt Nam.
- Phạm vi nghiên cứu: phạm trù về quan điểm toàn diện trong triết học Mác- Lênin
4. Đóng góp của đề tài 3
- Về lí luận: Bài tiểu luận là sự khái quát về Quan điểm toàn diện và sự vận
dụng của Đảng, Nhà nước trong quá trình đổi mới căn bản toàn diện để
khắc phục những tác động xấu do COVID gây ra trong tất cả các lĩnh vực, ngành nghề
- Về thực tiễn: Bài luận có thể trở thành tài liệu tham khảo cho mọi người
học tập, nghiên cứu với nội dung liên quan 4 NỘI DUNG
1: Chương I: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA QUAN ĐIỂM TOÀN DIỆN
1.1: Khái niệm mối liên hệ phổ biến Khái niệm:
- Mối liên hệ là khái niệm dùng để chỉ sự tác động qua lại, quy định, sự
chuyển hóa lẫn nhau giữa các sự vật, hiện tượng hay giữa các mặt, các
yếu tố của mỗi sự vật, hiện tượng trong thế giới.
oVí dụ: giữa cung và cầu (hàng hoá, dịch vụ) trên thị trường luôn
luôn diễn ra quá trình tác động, ảnh hưởng lẫn nhau, chuyển hoá
lẫn nhau, từ đó tạo nên quá trình vận động, phát triển không ngừng của cả cung và cầu
- Khái niệm mối liên hệ phổ biến là một phạm trù triết học dùng để chỉ
tính phổ biến của các mối liên hệ, chỉ những mối liên hệ tồn tại ở nhiều sự
vật, hiện tượng của thế giới. Là mối liên hệ diễn ra trong mọi lĩnh vực: tự nhiên, xã hội và tư duy.
oVí dụ: mối liên hệ khăng khít giữa cá và nước. Thiếu nước cá
không thể sinh sống và phát triển.
Như vậy giữa các sự vật, hiện tượng vừa tồn tại những mối liên hệ đặc thù
vừa tồn tại mối liên hệ phổ biến. Toàn bộ những mối liên hệ đặc thù và
phổ biến đó tạo nên tính thống nhất trong tính đa dạng
- Theo quan điểm siêu hình:
Các sự vật hiện tượng tồn tại ở trạng thái cô lập, tách rời, giữa chúng
không có sự phụ thuộc, liên hệ lẫn nhau. Nếu có liên hệ chỉ là sự hời hợt bên ngoài
- Theo quan điểm biện chứng:
Các sự vật hiện tượng vừa tồn tại độc lập vừa liên hệ, quy định và chuyển hóa lẫn nhau Nội dung:
- Mối liên hệ phổ biến làm điều kiện, tiền đề, quy định lẫn nhau giữa các sự
vật hiện tượng, sự tác động qua lại, chuyển hóa lẫn nhau giữa các mặt của sự vật hiện tượng
- Tất cả mọi sự vật hiện tượng cũng như thế giới, bao giờ cũng tồn tại
trong mối liên hệ phổ biến quy định ràng buộc lẫn nhau, không có sự vật
hiện tượng nào tồn tại cô lập, riêng lẻ, không liên hệ.
1.2: Tính chất của mối liên hệ phổ biến
- Tính khách quan: Mối liên hệ là vốn có, không phụ thuộc vào ý thức con người
VD: Trong thế giới động vật thì động vật hấp thụ khí O2 và nhả khí CO2. - Tính phổ biến:
+ Mọi sự vật hiện tượng trong thế giới khách quan đều có mối liên
hệ với nhau, không có bất cứ sự vật, hiện tượng hay quá trình nào
tồn tại tuyệt đối biệt lập với sự vật, hiện tượng hay quá trình khác. 5
+ Các thành phần, yếu tố trong 1 sự vật có mối liên hệ với những
thành phần, yếu tố khác.
+ Mối liên hệ diễn ra trong mọi lĩnh vực: tự nhiên, xã hội và tư duy
VD: Các thành viên trong một gia đình thì luôn có một mối liên hệ thân thích, chặt chẽ - Tính đa dạng phong phú:
+ Mỗi sự vật hiện tượng đều có vô vàn các mối liên hệ khác nhau
+ Mỗi loại mối liên hệ có vị trí, vai trò khác nhau trong sự phát
triển của sự vật, hiện tượng.
VD: Các loại cá, chim và thú đều có mối liên hệ với nước nhưng cá liên
hệ với nước khác chim và thú, không có nước thường xuyên cá không sống
được, nhưng các loài chim thú thì lại không sống trong nước thường xuyên được.
1.3: Phân loại mối liên hệ phổ biến
Mối liên hệ bên trong và mối liên hệ bên ngoài: - Mối liên hệ bên trong:
+ Là mối liên hệ giữa các mặt, các yếu tố, các thuộc tính khác nhau của sự vật hiện tương
+ Có vai trò quyết định đối với sự tồn tại, vận động và phát triển của SV, HT.
- Mối liên hệ bên ngoài:
+ Là MLH giữa các SV, HT khác nhau
+ Không có ý nghĩa quyết định
Mối liên hệ cơ bản và không cơ bản - Mối liên hệ cơ bản:
+ Là MLH giữa các mặt, các yếu tố cơ bản của 1 SV, HT.
+ Quyết định sự phát triển của SV, HT.
- Mối liên hệ không cơ bản
+ Là MLH giữa các mặt, các yếu tố không cơ bản của một sự vật, hiện tượng.
+ Phụ thuộc vào MLH cơ bản của SV, HT.
Mối liên hệ chủ yếu và thứ yếu:
- Mối liên hệ chủ yếu:
+ Là MLH nổi lên ở một thời điểm nhất định trong sự phát triển của SV và
quyết định sự phát triển của SV tại thời điểm đó 6
- Mối liên hệ thứ yếu:
+ Là MLH không quyết định sự phát triển của SV tại thời điểm nói trên
1.4: Ý nghĩa phương pháp luận
- Theo quan điểm toàn diện: Khi xem xét các sự vật hiện tượng cụ thể ta
phải đặt nó trong mối liên hệ với các sự vật hiện tượng, phải xem xét mối liên hệ
giữa các yếu tố, bộ phận cấu thành chính sự vật, hiện tượng đó. Chỉ trên cơ sở
đó mới có thể nhận thức đúng, chính xác về sự vật, hiện tượng và xử lý có hiệu
quả các vấn đề của cuộc sống thực tiễn.
- Quan điểm lịch sử - cụ thể: Mọi sự vật, hiện tượng đều tồn tại trong
không gian, thời gian nhất định. Do vậy, ta nhất thiết phải quán triệt quan điểm
lịch sử cụ thể khi xem xét, giải quyết mọi vấn đề do thực tiễn đặt ra. Từ đó đòi
hỏi chúng ta khi nhận thức về sự vật và tác động vào sự vật phải chú ý điều kiện,
hoàncảnh lịch sử cụ thể, môi trường cụ thể. 7
2: Chương II: VẬN DỤNG QUAN ĐIỂM TOÀN DIỆN ĐỂ PHÂN TÍCH
NHỮNG ẢNH HƯỞNG CỦA ĐẠI DỊCH COVID 19 ĐẾN CÁC VẤN ĐỀ
CỦA ĐỜI SỐNG XÃ HỘI VIỆT NAM HIỆN NAY
2.1: Tác động của đại dịch covid 19 đối với sự phát triển nước ta trong giai đoạn hiện nay
2.1.1: Những thành tựu đã đạt được trong đại dịch COVID - 19

Trong suốt nhiều năm qua, kinh tế Việt Nam đã đạt tốc độ tăng trưởng
khá ấn tượng. Nếu như trong giai đoạn đầu đổi mới (1986 - 1990), mức tăng
trưởng GDP bình quân hằng năm chỉ đạt 4,4% thì giai đoạn 1991 - 1995, GDP
bình quân đã tăng gấp đôi, đạt 8,2%/năm; các giai đoạn sau đó đều có mức tăng
trưởng khá cao; giai đoạn 2016 - 2019 đạt mức bình quân 6,8%. Mặc dù năm
2020, kinh tế chịu ảnh hưởng nặng nề của dịch bệnh Covid-19 nhưng tốc độ
tăng GDP của Việt Nam vẫn thuộc nhóm các nước tăng trưởng cao nhất khu vực, thế giới.
Quy mô, trình độ nền kinh tế được nâng lên, nếu như năm 1989 mới đạt
6,3 tỷ USD/năm thì đến năm 2020 đã đạt khoảng 268,4 tỷ USD/năm. Đời sống
nhân dân cả về vật chất và tinh thần được cải thiện rõ rệt, năm 1985 bình quân
thu nhập đầu người mới đạt 159 USD/năm thì đến năm 2020 đạt khoảng 2.750 USD/năm.
Những nỗ lực đổi mới trong 35 năm qua đã giúp cho môi trường đầu tư
liên tục được cải thiện, nhờ đó đã thu hút ngày càng nhiều hơn vốn đầu tư cho
phát triển. Tính riêng năm 2019, vốn đầu tư phát triển toàn xã hội thực hiện theo
giá hiện hành đạt 2.046,8 nghìn tỷ đồng; tổng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài
(FDI) đạt 38,02 tỷ USD, cao nhất trong vòng 10 năm lại đây. Năm 2020, trong
bối cảnh đại dịch Covid-19, Việt Nam vẫn là một điểm đến tin cậy cho các nhà
đầu tư với tổng vốn FDI đạt 28,5 tỷ USD. Ngoài ra, tại Việt Nam đã hình thành
các vùng kinh tế trọng điểm để làm động lực cho phát triển kinh tế vùng, miền
và cả nước; phát triển các khu kinh tế, khu công nghiệp tập trung nhằm thu hút
vốn đầu tư phát triển, đồng thời hình thành các vùng chuyên môn hóa cây trồng,
vật nuôi gắn với chế biến công nghiệp... Nhìn chung, các ngành, lĩnh vực của
nền kinh tế đều có bước phát triển mạnh mẽ.
Qua nhiều năm, từ chỗ thiếu ăn, Việt Nam đã trở thành một trong những
nước xuất khẩu nông sản lớn trên thế giới. Kim ngạch xuất khẩu của nhiều mặt
hàng nông sản, như cà phê, gạo, hạt điều, rau quả, tôm, gỗ và sản phẩm từ gỗ...
luôn duy trì ở mức cao. Các mặt hàng xuất khẩu khác cũng có bước tiến lớn.
Đặc biệt, trong bối cảnh bị ảnh hưởng nặng nề bởi dịch Covid-19 khiến hoạt
động thương mại và đầu tư thế giới suy giảm, thì tổng kim ngạch xuất nhập khẩu
hàng hóa của Việt Nam năm 2020 vẫn đạt 543,9 tỷ USD, tăng 5,1% so với năm
2019; xuất siêu 19,1 tỷ USD - cao nhất trong 5 năm liên tiếp xuất siêu kể từ năm
2016. Với kim ngạch xuất nhập khẩu ấn tượng đã đưa Việt Nam xếp thứ 22 thế
giới về quy mô kim ngạch và năng lực xuất khẩu, đứng thứ 26 về quy mô thương mại quốc tế. 8
2.1.2: Những ảnh hưởng của đại dịch COVID lên các lĩnh vực: Giáo dục, y tế,
chính trị, kinh tế, xã hội
2.2: Những tác động của đại dịch COVID đến các lĩnh vựcMôi trường:
Khi đại dịch Covid-19 mới bùng phát, chất lượng môi trường dần được
cải thiện nhờ việc phong tỏa và giãn cách xã hội:
+ Đường phố sạch sẽ hơn, hạn chế xe cộ lưu thông => không khí trở nên trong lành hơn
+ Âm thanh ầm ĩ đã không còn là mối lo ngại tại những thành phố và khu
vực đông dân => khắc phục tình trạng ô nhiễm tiếng ồn
+ Tác động của Covid-19 tới ngành du lịch và công nghiệp đã giúp cho
toàn cầu giảm thiểu ô nhiễm không khí một cách đáng kể, thậm chí sự
biến đổi khí hậu cũng được giảm
Tổng cục Môi trường cho biết, so sánh kết quả quan trắc chất lượng
không khí tại các đô thị miền Bắc từ tháng 1-4/2020 (trong đó có thời gian
cách ly xã hội) cho thấy sự thay đổi trong hoạt động sản xuất và sinh hoạt
là nguyên nhân chính làm thay đổi chất lượng không khí. So với cùng thời
gian của những năm trước, chất lượng không khí có xu hướng được cải
thiện hơn. Kết quả quan trắc cũng cho thấy giá trị CO trung bình 24 giờ từ
nửa cuối tháng 3 và tuần đầu của tháng 4/2020 thấp hơn hẳn so với từ
tháng 1 đến nửa đầu của tháng 3/2020. ( Theo báo Thị xã Hương Trà - tỉnh TTH )
Theo như báo cáo từ Đại học Colorado Boulder, một lỗ hổng tầng Ozone
phía trên Nam Cực đang lành lại và tạo ra những thay đổi tích cực với
luồng gió (dòng tia-jet stream) trên bán cầu Nam nhờ nồng độ khí thải
CO2 trong không khí giảm => ngăn chặn rất nhiều nguy cơ và mối đe dọa
đáng lo ngại đang xảy ra trên Trái Đất.
Song, chúng ta cũng không thể không nhìn thấy những tác động tiêu cực
mà đại dịch Covid-19 đã gây ra:
+ Chất thải y tế tăng lên rất mạnh, tại các bệnh viện tăng gấp 3-4 lần do
việc sử dụng khẩu trang, trang phục y tế, găng tay,… tăng cao do ngày
càng xuất hiện nhiều ca bệnh hơn. Tính riêng thành phố Hải Dương với
khối lượng chất thải có nguy cơ chứa SARS-COV-2 đã thu gom từ khi
xảy ra đợt dịch Covid-19 lần thứ ba ngày 27/1 đến 20/2/2021 là 304,856 tấn.
+ Việc sử dụng khẩu trang dùng một lần đạt ngưỡng cao chưa từng có, số
lượng lớn khẩu trang bị vứt ra môi trường đã làm tăng thêm gánh nặng rác
thải nhựa trên thế giới.
Giáo dục:
Bên cạnh sự tác động của Covid-19 tới môi trường thì giáo dục cũng là
một lĩnh vực bị ảnh hưởng vô cùng nặng nề.
Theo như báo cáo Quốc hội tại phiên trả lời chất vấn, Bộ trưởng Bộ Giáo
dục Nguyễn Kim Sơn cho biết: Gần 20 triệu học sinh, sinh viên không
được tới trường trong một thời gian dài, trên 7 vạn sinh viên không thể ra 9
trường đúng hạn, ảnh hưởng tới việc cung cấp nguồn lực cho xã hội.
Để đối phó với tình hình dịch bệnh, toàn ngành Giáo dục và Đào tạo đã
thực hiện theo tinh thần chỉ đạo của Chính phủ: “ngừng tới lớp - không
ngừng học tập’’, chủ động chuyển sang hình thức dạy và học trực tuyến,
ra sức cố gắng hạn chế những tác động tiêu cực của dịch bệnh tới giáo
dục, kiên trì theo đuổi mục tiêu chất lượng. Thế nhưng theo cách học mới
này cũng có những mặt hạn chế nhất định.
+ Theo Bộ Giáo Dục và Đào tạo, có đến 1,5 triệu học sinh ở 26 địa
phương không có thiết bị học trực tuyến. Không chỉ thế, nhiều tỉnh, thành
phố trong khi dạy học trực tuyến do đường truyền internet hạn chế dung
lượng, phần mềm dạy học miễn phí chất lượng không tốt dẫn đến việc
tiếp thu kiến thức của học sinh, sinh viên bị gián đoạn ( Theo Báo Tiền phong - TPO )
+ Đặc biệt là học sinh, sinh viên còn có thể bị ảnh hưởng đến vấn đề sức
khỏe, cả về mặt thể chất và tinh thần nếu ngồi học trước màn hình máy
tính, điện thoại thời gian dài như: đau mắt, mỏi mắt, việc ăn uống và hoạt
động thể chất trở nên thất thường, thậm chí là bị chậm phát triển..
+ Không chỉ học sinh, sinh viên mà phụ huynh cũng bị ảnh hưởng. Nhiều
phụ huynh do dịch bệnh bùng phát dẫn đến mất việc ở nhà, gặp khó khăn
trong việc chi trả học phí cho con cái.
+ Đáng chú ý, đối với giáo dục mầm non, một bộ phận không nhỏ giáo
viên ngoài công lập không có lương khi phải nghỉ dạy trong thời gian trẻ
em không đến trường mà ở nhà phòng dịch Covid-19 dẫn đến nhiều giáo
viên phải xoay sở các nghề khác để mưu sinh. Theo thống kê của Sở Giáo
dục Đào tạo thành phố Hồ Chí Minh, tại thành phố có tới 12341 giáo viên
- nhân viên bị mất việc làm, trong đó 82% là giáo viên mầm non. Điều
này là một hạn chế rất lớn đối với giáo dục mầm non bởi nhiều phụ huynh
không có kỹ năng, kiến thức chăm sóc trẻ hoặc phải đi làm, không có thời
gian trông con khiến trẻ em giáo dục mầm non giai đoạn này có nguy cơ bị chậm phát triển.
+ Không chỉ thế, việc học trực tuyến khiến học sinh, sinh viên sẽ bị cám
dỗ bởi nhiều yếu tố xung quanh dễ gây ra mất tập trung, bỏ bài tập, không
nghe giảng học bài đầy đủ...
+ Dịch bệnh cũng làm ảnh hưởng nặng nề đến chất lượng các kỳ thi và
các đợt kiểm tra. Điển hình là kỳ thi Trung học phổ thông Quốc gia năm
2020-2021 vừa qua, nước ta đã phải tổ chức 2 lần thi để tạo điều kiện cho
các thí sinh đang phải cách ly, các thí sinh không thể đến dự thi trong đợt
một được tham gia thi đầy đủ. Nhiều cơ sở giáo dục đã phải đối mặt với
những khó khăn, thách thức về thi cử trực tuyến khi nguy cơ gian lận tăng cao.
Nhưng mặt khác, Covid-19 cũng đã kích thích sự đổi mới và sáng tạo
trong công tác giảng dạy của toàn ngành giáo dục. Cuộc khủng hoảng đã
thử thách kỹ năng lãnh đạo của các hiệu trưởng trường học theo cách 10
chưa từng có. Họ phải đưa ra những phương pháp giảng dạy vừa đảm bảo
chất lượng vừa đảm bảo an toàn phòng dịch cho học sinh sinh viên.
Y tế:
Trong cuộc chiến chống đại dịch Covid-19 đầy cam go và thử thách, lĩnh
vực mà con người quan tâm nhất, là cọng rơm cứu sinh của mọi người
trước dịch bệnh chính là y tế.
Khi bệnh dịch bùng phát, các bệnh viện phải đối phó với thực trạng luôn
trong nguy cơ tiếp nhận và điều trị cho bệnh nhân bị mắc Covid hoặc đã tiếp xúc với Covid-9.
Theo Ủy ban về các vấn đề xã hội, do vừa phải đảm bảo công tác khám
bệnh, chữa bệnh thường xuyên, vừa đảm nhận công tác phòng chống dịch
Covid-19 (giám sát dịch, cách ly người nhiễm và nghi nhiễm, điều trị
người nhiễm, hỗ trợ các tuyến trong phòng chống dịch) nên một số cơ sở
y tế xuất hiện tình trạng quá tải kéo dài và tiềm ẩn nhiều nguy cơ, nhất là
nguy cơ lây nhiễm chéo vi rút SARS-COV-2. Nhiều cơ sở y tế đã tăng ca
làm việc để phục vụ công tác khám bệnh, chữa bệnh, sàng lọc, tổ chức
cách ly, giám sát và điều trị bệnh nhân nhiễm và nghi nhiễm Covid-19.
Dựa trên nghiên cứu về “Tình trạng lương khu vực công đối với nhân
viên y tế tuyến đầu trong Covid-19’’ thì khoảng 60% nhân viên y tế đã
phải cáng đáng khối lượng công việc và thời gian làm việc tăng lên đáng
kể trong giai đoạn diễn ra đại dịch Covid-19, khoảng 40% trong số họ cho
biết họ gặp phải những áp lực và suy giảm thể chất và 70% bị lo lắng và
trầm cảm ( Theo Báo Sức khỏe & Đời sống ). Số lượng lớn nhân viên y tế
do không thể chịu được áp lực công việc kéo dài dẫn đến phải xin nghỉ
việc một thời gian. Hệ thống y tế Việt Nam đã phải đối mặt với những
khó khăn thách thức do tăng số lượng ca nhiễm. Nhiều bệnh viện đã phải
tăng cường cơ sở vật chất và nhân lực để đối phó với tình hình khẩn cấp.
Trong danh mục dự trữ quốc gia mới chỉ có thuốc phòng chống dịch bệnh
mà chưa có một số trang thiết bị, vật tư y tế, đồ bảo hộ thiết yếu để phục
vụ cho công tác phòng chống dịch, công tác khám bệnh, chữa bệnh và có
nguy cơ lây nhiễm đối với đội ngũ cán bộ y tế. Trên thực tế, ngành y tế
trong thời gian chống dịch vừa qua đã xảy ra tình trạng thiếu khẩu trang y
tế. Bên cạnh đó, khó khăn trong việc đặt mua các thiết bị y tế như máy
thở, máy xét nghiệm, máy chụp X-quang,… do việc cung khan hiếm và
giá bị đẩy lên cao. Chính phủ Việt Nam đã đưa ra nhiều biện pháp cứng
rắn như phong tỏa các khu vực có dịch, tăng cường kiểm soát biên giới và
áp dụng quy định về phòng chống dịch.
Ngoài việc kìm kẹp cuộc sống, thay đổi các mối quan hệ xã hội, Covid-19
còn tác động không nhỏ đến sức khỏe tinh thần của con người. Có nhiều
bệnh nhân bị Covid-19 gặp chứng rối loạn tâm thần sau khi mắc bệnh và
trở nên lo âu thậm chí là trầm cảm, họ thường xuyên bị mất ngủ. Điều này
đã làm tăng thêm gánh nặng cho y tế Việt Nam giai đoạn này.
Vì đây là vấn đề mang tính toàn cầu nên sự phối hợp và chung tay của cả
nhân dân và cộng đồng đóng vai trò vô cùng quan trọng trong việc đẩy lùi 11
dịch bệnh. Hiểu được tầm quan trọng của việc tuân thủ các biện pháp
phòng chống dịch, đa số người dân đã tuân thủ nghiêm ngặt các quy định
về giãn cách xã hội, đeo khẩu trang và giữ gìn vệ sinh cá nhân.
Kinh tế:
Nền kinh tế Việt Nam đã chịu ảnh hưởng rất lớn từ đại dịch Covid-19.
Cuộc khủng hoảng đã càn quét khốc liệt trên phạm vi thế giới và khiến
nền kinh tế Việt Nam suy thoái nghiêm trọng. Tại Việt Nam trong 6 tháng
đầu năm 2020, Covid-19 đã tác động lên nền kinh tế và làm cho tăng
trưởng kinh tế nước ta rơi xuống mức thấp nhất trong 10 năm qua.
Dù đại dịch tác động lên nhiều khía cạnh của nền kinh tế nước ta, nhưng
thể hiện tập trung ở hai yếu tố, đó là cung và cầu. Về cầu, với việc thực
hiện giãn cách xã hội cần thiết, bắt buộc theo chỉ thị số 16/CT-TTg ngày
31/3/2020 của Thủ tướng Chính phủ “Về thực hiện các biện pháp cấp
bách phòng chống dịch Covid-19” làm tiêu dùng trong nước sụt giảm
mạnh. Trong khi đó, các nền kinh tế lớn ( Mỹ, Trung Quốc, EU, Nhật
Bản, Hàn Quốc ) cũng chịu ảnh hưởng lớn từ dịch bệnh và kinh tế suy
giảm, kéo theo sự sụt giảm về cầu nhập khẩu, trong đó có hàng hóa Việt Nam.
Theo số liệu của Tổng cục Thống kê, trong sáu tháng đầu năm 2020:
+ Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng giảm 0,8%
so với cùng kỳ năm 2019 và nếu loại trừ yếu tố giá thì còn giảm mạnh hơn.
+ Doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống giảm tới 18,1%; doanh thu dịch vụ
du lịch lữ hành giảm tới 53,2%, đây là lĩnh vực chịu ảnh hưởng nghiêm trọng nhất.
+ Kim ngạch hàng hóa xuất khẩu giảm 1,1%; khu vực FDI ( kể cả dầu thô ) giảm 6,7%.
Về cung, đại dịch Covid-19 làm đứt gãy chuỗi cung ứng đầu vào và lao
động. Chẳng hạn trong ngành công nghiệp ô tô, do khan hiếm linh kiện
đầu vào cùng phải thực hiện giãn cách xã hội dẫn đến các doanh nghiệp
sản xuất ô tô trong nước như Honda, Toyota, Nissan,… phải tạm dừng sản
xuất ( Theo Tạp chí Cộng Sản ). Dịch bệnh kéo dài đã “bào mòn” tinh
thần khởi nghiệp, kinh doanh của người dân. Theo báo cáo của Cục Đăng
ký kinh doanh, trong năm 2021 có 116,839 doanh nghiệp đăng ký mới,
giảm 13,4% so với năm 2020, là mức thấp nhất kể từ năm 2017 cho đến
nay. Số vốn đăng ký thành lập trong năm 2021 cũng chỉ đạt 1,611,109 tỷ
đồng, giảm 27,9% so với năm 2020. Bên cạnh đó, số doanh nghiệp quay
trở lại hoạt động trong năm 2021 là 43,116 doanh nghiệp, giảm 2,2% so với năm 2020.
Tuy nhiên, nhờ sự chỉ đạo sát sao của các bộ, ngành, chính quyền địa
phương cũng như Chính phủ Việt Nam đã đưa ra nhiều biện pháp nhằm
phục hồi kinh tế, nước ta đã đạt được những kết quả tích cực trong việc
kiểm soát dịch bệnh. Các biện pháp hỗ trợ tài chính, khuyến khích đầu tư
trong nước, khuyến khích tiêu dùng và thúc đẩy sản xuất nội địa cùng sự 12
cố gắng nỗ lực chủ động vượt khó của cộng đồng doanh nghiệp, các tổ
chức xúc tiến thương mại đã giúp duy trì sản xuất và xuất khẩu, đảm bảo
tình hình kinh tế Việt Nam sẽ ổn định hơn sau đại dịch Covid-19.
2.2.1: Những ảnh hưởng tích cựcMÔI TRƯỜNG:
Khi đại dịch mới xảy ra, chất lượng môi trường dần được cải thiện như
không khí sạch hơn, nghe thấy tiếng chim hót thay vì âm thanh ầm ĩ của xe cộ
khi các thành phố áp đặt lệnh phong tỏa hay giãn cách xã hội…
Do tác động của đại dịch đối với du lịch và công nghiệp, nhiều khu vực
trên Trái Đất đã giảm ô nhiễm không khí đáng kể, giảm cả biến đổi khí hậu. Tại
Việt Nam, Tổng cục Môi trường (Bộ Tài nguyên và Môi trường) cho biết, so
sánh kết quả chất lượng không khí tại các đô thị miền Bắc từ tháng 1-4/2020,
trong đó có thời gian thực hiện cách ly xã hội cho thấy, sự thay đổi các hoạt
động sản xuất, sinh hoạt của con người là nguyên nhân quan trọng làm thay đổi
chất lượng không khí. So với cùng thời gian của những năm trước, chất lượng
không khí cũng có xu hướng được cải thiện hơn, kể từ khi con người giảm bớt di
chuyển không cần thiết do dịch Covid-19 đã góp phần vào sự sụt giảm đáng kể
khí carbon dioxide, methane, và lượng khí thải carbon monoxide.
Điều này cũng cho thấy ảnh hưởng của các nguồn phát thải như giao
thông và hoạt động sản xuất có tác
động đáng kể đến chất lượng không khí đô thị. Một
nghiên cứu được công bố cho
thấy lượng khí thải carbon toàn
cầu hàng ngày trong giai đoạn
phong tỏa đã giảm và có thể
dẫn đến lượng khí thải carbon
hàng năm giảm theo đáng kể,
đó sẽ là sự sụt giảm lớn nhất theo các nhà nghiên cứu. 13
Họ gán cho những sụt giảm này chủ yếu là do giảm các hoạt động sử
dụng và công nghiệp vận chuyển mà nguyên do trực tiếp là bởi đại dịch
Covid-19 ngày càng phức tạp. Các biện pháp giãn cách xã hội được áp dụng
ở hầu hết các nước nên hoạt động du lịch bị ngưng lại, bãi biển trở nên vắng
người, sạch hơn, rác thải ở các điểm du lịch cũng giảm mạnh. Tiếng ồn ở đô
thị và các điểm công cộng cũng giảm do người dân không được tập trung,
hoạt động buôn bán bị dừng lại, xe cộ bị hạn chế lưu thông. GIÁO DỤC
Tất cả các cấp học và toàn bộ học sinh sinnh viên được tiếp cận nhiều hơn
với việc học trực tuyến, ngành giáo dục online phát triển mạnh mẽ và hiệu quả.
Ví dụ như một số ứng dụng hỗ trợ học tập trực tuyến được mở ra giúp cho việc
học trở nên tiện lợi và thông minh hơn Tiến sỹ Hoàng Lê Minh, Trưởng khoa
Công nghệ thông tin, Trường Đại học Văn Lang, TP.HCM cho biết, trong thời
kỳ dịch Covid-19 từ năm 2020, trường hầu như chuyển các hoạt động đào tạo
sang môi trường online. Giai đoạn đầu là chỉ dạy học trực tuyến theo tinh thần
tức là có video chat, video thảo luận… Tuy nhiên, qua quá trình triển khai giảng
dạy, nhu cầu tăng hơn. Bà Hoàng Hà Linh, đồng sáng lập Kiến Guru lý giải
nguyên nhân giúp lượng học viên tăng vì học sinh nghỉ ở nhà phòng dịch bệnh
do virus corona gây ra. Bên cạnh đó, khi học trực tuyến, học sinh cần một gia sư
online để hệ thống lại kiến thức cũ và học bài mới. Các bài giảng trên ứng dụng
thiết kế ngắn gọn. Các môn tự nhiên sử dụng hình ảnh minh hoạ, thí nghiệm
thực tế giúp học sinh hiểu các khái niệm trừu tượng. Các môn xã hội tổng kết
kiến thức trọng tâm theo dạng sơ đồ tư duy, giúp các em hứng thú, tiếp thu kiến
thức nhanh, tránh tình trạng quên bài và ngại học.
Vậy trong việc giáo dục tác động của Covid 19 đã mở ra một phương
pháp học tập mới đa dạng hiệu quả thông minh phù hợp với nhiều lứa tuổi. Y TẾ
Trong thời gian dịch bệnh xảy ra đối với ngành y tế có lẽ mặt tiêu cực là
nhiều hơn tích cực. Bởi vì việc tiếp nhận rất nhiều ca bệnh như lúc đại dịch là điều vô cùng tiêu cực.
PHÁT TRIỂN KINH TẾ XÃ HỘI
Việt Nam được cho là một trong số ít quốc gia sẽ tiếp tục tăng trưởng
trong năm 2020, mặc dù những quốc gia khác trên thế giới được dự báo rơi vào
suy thoái. Tuy nhiên, có những dao động đáng kể trong các dự báo hiện tại, nhấn
mạnh những yếu tố không chắc chắn đáng kể vẫn có khả năng xảy ra trong tháng 5/2020. 14
Sau khi gia nhập WTO vào tháng 1 năm 2007, một đặc điểm đáng chú
ý của nền kinh tế Việt Nam trong thập kỷ qua là mối liên kết lớn mạnh
và ngày càng tăng với các nền kinh tế khác, thông qua thương mại và
đầu tư. Hai trong số những động lực quan trọng cho sự tăng trưởng và
phát triển kinh tế trước đó là: (1) mức độ đầu tư trực tiếp nước ngoài
và (2) khả năng xuất khẩu của cả nước. Hơn 50% giá trị hàng xuất
khẩu của Việt Nam nhắm vào các thị trường: Hoa Kỳ, Trung Quốc và
Liên minh châu Âu và Vương quốc Anh.
Kết quả Quý 1 cho đến nay đã hiển thị kết quả hỗn hợp. Việt Nam
dường như có khả năng duy trì tổng mức xuất khẩu đến các thị trường
xuất khẩu trọng yếu. Tuy nhiên, chúng ta có thể hy vọng sẽ thấy tác
động mạnh mẽ hơn trong Quý 2 và Quý 3, vì những số liệu Quý 1 này
chưa phản ánh bất kỳ sự suy thoái nào trong nền kinh tế nói chung
hoặc tiêu dùng ở Hoa Kỳ và ở Châu Âu.
SỨC KHỎE TINH THẦN
Khi đại dịch covid bùng phát tất cả mọi người đều ở trong nhà để cách ly
xã hội, đó cũng là lúc những người trong gia đình gần bên nhau. Lúc này đây
mọi người ngồi gần kề bên, nói chuyện, chia sẻ với nhau những câu chuyện
trước giờ mọi người chưa kể, khó nói. Vậy đại dịch đã mang đến những thay đổi
tích cực về đời sống tinh thần của mọi người là đưa những trái tim về gần nhau
hơn “ngưng kết nối công nghệ để kết nối con người”.
2.2.2: Những ảnh hưởng tiêu cựcMÔI TRƯỜNG:
Tuy nhiên, dù Covid-19 tác động một cách tích cực cho môi trường nhưng
chúng ta cũng không thể phủ nhận rằng môi trường vẫn đang phải chịu những
tác động tiêu cực cũng chính từ đại dịch này. Thực trạng là chất thải ra môi
trường gia tăng làm ô nhiễm môi trường đất, nước, không khí, … 15
Do việc sử dụng khẩu trang dùng
một lần cao chưa từng có, một số lượng
đáng kể khẩu trang đã bị vứt bỏ vào môi
trường tự nhiên, làm tăng thêm gánh nặng
rác thải nhựa trên toàn thế giới. Trong đại
dịch COVID-19, nhu cầu sử dụng nhựa
trong y tế đã tăng lên đáng kể ở một số
quốc gia. Bên cạnh thiết bị bảo vệ cá nhân
như khẩu trang, găng tay, nước sát khuẩn,
việc sử dụng nhựa tăng lên đáng kể liên
quan đến yêu cầu đóng gói và các mặt hàng sử dụng một lần.
Nói chung, những thay đổi này trong bệnh viện và trong cuộc sống hàng
ngày có thể làm trầm trọng thêm các vấn đề môi trường bắt nguồn từ chất dẻo,
vốn đã tồn tại ngay cả trước khi đại dịch xảy ra. Tại Việt Nam, chất thải y tế
tăng lên rất mạnh, tại các bệnh viện tăng 2-4 lần do tăng trang phục, khẩu trang,
găng tay cùng với nhiều trang thiết bị, bơm kim tiêm, dây chuyền dịch, thuốc
men. Chỉ tính riêng Hải Dương, khối lượng chất thải có nguy cơ chứa SARS-
CoV-2 đã thu gom từ khi xảy ra đợt dịch COVID-19 lần thứ 3 ngày 27/1- 20/2/2021 là 304,856 tấn. GIÁO DỤC
Nhưng đi cạnh với tích cực thì tác động tiêu cực cũng không hề ít ỏi.
Khi phải đối diện với việc học tập tại nhà trong thời gian dài nhiều học
sinh sinh viên đã gặp phải các vấn đề về tâm lí. Thạc sĩ Lê Thị Dung, Giảng viên
Bộ môn Tâm lý học, Trường Đại học Quốc tế Hồng Bàng cho rằng: ''Thời gian
dài học online cũng là một tác nhân khiến trầm trọng hơn vấn đề nên các trường
cần tăng cường các tiết học vận động, kết nối để giải tỏa áp lực tâm lý cho các
em, tránh những bệnh lý về sức khỏe tinh thần vốn rất quan trọng''.
Dù học sinh ở TP Hồ Chí Minh đã quay trở lại trường từ sau Tết, tuy
nhiên, sau thời gian học online kéo dài, nhiều học sinh có những biểu hiện rối
loạn cảm xúc thậm chí trầm cảm, do ở nhà quá lâu.
Mới đây, tại một trường THPT vừa xảy ra việc một học sinh nhảy từ tầng
3 xuống sân trường. Tình huống quá bất ngờ khi mọi người phát hiện thì em đã
nằm bất động dưới sân trường. Sau khi được đưa đi cấp cứu, em học sinh đã qua
được cơn nguy kịch. ''Em đang ngồi nói chuyện thì nghe một tiêng rất là to, em
bước ra đã thấy em đó nằm dưới đất rồi, rất là sốc'', em Hồ Trí Vĩ, học sinh
trường THPT Nguyễn Hữu Thọ (quận 4, TP Hồ Chí Minh) cho biết. Ban giám
hiệu nhà trường cho biết, ngay sau khi sự việc xảy ra, trường đã tổ chức khảo sát
tâm lý với học sinh toàn trường và phát hiện hàng chục em có những biểu hiện
tâm lý khác thường, dấu hiệu trầm cảm.
Ông Đỗ Đình Đảo, Hiệu trưởng trường THPT Nguyễn Hữu Thọ cho biết:
''Chúng tôi rất bất ngờ về những suy nghĩ của các em như muốn hủy hoại bản
thân. Chúng tôi chỉ đạo ngay các thầy cô chủ nhiệm nắm ngay danh sách, mời 16
cha mẹ học sinh cùng gia đình để phối hợp, tăng cường các giờ học kỹ năng sống''.
Ngoài ra việc học tập trực tuyến cũng đem lại nhiều hệ lụy không mấy
tích cực ngoài những mặt sáng của nó. Với việc học trực tuyến các em học sinh
sinh viên thường mất tập trung học tập, qua màn hình không tiếp nhận được tốt
nhất kiến thực được giảng dạy và bên lề là những ảnh hươngr về sức khỏe khi
tiếp xúc nhiều với ánh sáng xanh thường xuyên. Y TẾ
Theo Ủy ban Về các vấn đề xã hội, do vừa phải đảm bảo công tác khám
bệnh, chữa bệnh thường xuyên, vừa đảm nhiệm công tác phòng, chống dịch
bệnh COVID-19 (giám sát dịch, hỗ trợ các tuyến, cách ly người nhiễm và nghi
nhiễm, điều trị người nhiễm, hỗ trợ các tuyến trong phòng, chống dịch…) nên
một số cơ sở y tế xuất hiện tình trạng quá tải kéo dài và tiềm ẩn nhiều nguy cơ,
nhất là nguy cơ lây nhiễm chéo vi rút SARS-Cov2. Nhiều cơ sở y tế đã tăng ca
làm việc để phục vụ công tác khám bệnh, chữa bệnh, sàng lọc, tổ chức cách ly,
giám sát và điều trị bệnh nhân nhiễm và nghi nhiễm COVID-19. Tuy nhiên, nếu
dịch kéo dài, sẽ gây ra áp lực lớn, khó khăn trong việc bảo đảm tính liên tục các
hoạt động của hệ thống y tế dự phòng, thiếu nhân lực điều tra dịch tễ, lấy mẫu
xét nghiệm, việc tổ chức cách ly và xử lý môi trường với số lượng lớn, thời gian ngắn.
Trong danh mục dự trữ quốc gia mới chỉ có thuốc phòng, chống dịch bệnh
mà chưa có một số trang thiết bị, vật tư y tế, đồ bảo hộ thiết yếu phục vụ công
tác phòng, chống dịch, công tác khám bệnh, chữa bệnh cho người mắc dịch bệnh
nên nếu dịch lan rộng, số người mắc nhiều sẽ ảnh hướng lớn đến công tác khám
bệnh, chữa bệnh và có nguy cơ lây nhiễm đối với đô ”
i ngũ cán bô ” y tế. Trên thực
tế, ngành y tế trong thời gian chống dịch vừa qua đã xảy ra tình trạng thiếu khẩu
trang y tế. Bên cạnh đó, khó khăn trong việc đặt mua các thiết bị y tế như máy
thở, máy xét nghiệm, máy X-quang, Kit test xét nghiệm COVID-19… do nguồn
cung khan hiếm và giá bị đẩy lên cao. Do đó, cần có phương án để chủ động về
trang thiết bị, vật tư y tế, thuốc, đồ bảo hộ và các trang thiết bị cá nhân cho nhân
viên y tế… nhằm đáp ứng công tác phòng, chống dịch bệnh hiện nay cũng như
bảo đảm dự phòng sau khi kết thúc dịch và bảo vê ”
sức khỏe cho nhân viên y tế.
Số lượng người đến khám bệnh, chữa bệnh tại nhiều cơ sở y tế hiện đang
giảm mạnh, tại nhiều Bệnh viện trên địa bàn Thành phố Hà Nội như Bạch Mai,
Thanh Nhàn, Việt Nam-Cu Ba… số lượng bệnh nhân đến khám giảm 30%-50%.
Việc này một mặt sẽ ảnh hưởng xấu đến sức khỏe người có bệnh khi tự chữa
bệnh tại nhà, mặt khác có thể tác động đến khoảng 240 bệnh viện tự bảo đảm chi
tiền lương từ nguồn thu dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh, nếu tình hình dịch bệnh
tiếp tục kéo dài có thể tác động đến kinh phí hoạt động của các cơ sở y tế thực
hiện tự chủ về tài chính. 17