-
Thông tin
-
Quiz
Quan hệ ngoại giao giữa Việt Nam và Trung Quốc dưới thời nhà Trần | Tiểu luận Lịch sử ngoại giao và chính sách đối ngoại
Nhà Trần là một triều đại quân chủ chuyên chế lớn trong lịch sử Việt Nam, bắt đầu khi Trần Cảnh lên ngôi năm 1225, sau khi được Lý Chiêu Hoàng truyền ngôi. Dưới thời nhà Trần, lực lượng quân đội được đặc biệt chú trọng phát triển đủ sức dẹp các cuộc nổi loạn trong nước cũng như đối đầu với các nước xâm lược. Tài liệu giúp bạn tham khảo, ôn tập và đạt kết quả cao. Mời đọc đón xem!
Lịch sử ngoại giao Việt Nam 16 tài liệu
Học viện Báo chí và Tuyên truyền 2.1 K tài liệu
Quan hệ ngoại giao giữa Việt Nam và Trung Quốc dưới thời nhà Trần | Tiểu luận Lịch sử ngoại giao và chính sách đối ngoại
Nhà Trần là một triều đại quân chủ chuyên chế lớn trong lịch sử Việt Nam, bắt đầu khi Trần Cảnh lên ngôi năm 1225, sau khi được Lý Chiêu Hoàng truyền ngôi. Dưới thời nhà Trần, lực lượng quân đội được đặc biệt chú trọng phát triển đủ sức dẹp các cuộc nổi loạn trong nước cũng như đối đầu với các nước xâm lược. Tài liệu giúp bạn tham khảo, ôn tập và đạt kết quả cao. Mời đọc đón xem!
Môn: Lịch sử ngoại giao Việt Nam 16 tài liệu
Trường: Học viện Báo chí và Tuyên truyền 2.1 K tài liệu
Thông tin:
Tác giả:



















Tài liệu khác của Học viện Báo chí và Tuyên truyền
Preview text:
HỌC VIỆN BÁO CHÍ VÀ TUYÊN TRUYỀN KHOA QUAN HỆ QUỐC TẾ ………….. TIỂU LUẬN
MÔN: LỊCH SỬ NGOẠI GIAO VÀ CHÍNH SÁCH ĐỐI NGOẠI VIỆT NAM
Đề tài:Quan hệ ngoại giao giữa Việt Nam và Trung Quốc dưới thời nhà Trần
Họ và tên: Cáp Quỳnh Trang Mã sinh viên: 2056100049
Lớp chuyên ngành: Thông tin đối ngoại K40 Lớp tín chỉ: QT02615.1 HÀ NỘI – 2022 MỞ ĐẦU
Nhà Trần là một triều đại quân chủ chuyên chế lớn trong lịch sử Việt Nam,
bắt đầu khi Trần Cảnh lên ngôi năm 1225, sau khi được Lý Chiêu Hoàng truyền
ngôi. Dưới thời nhà Trần, lực lượng quân đội được đặc biệt chú trọng phát triển đủ
sức dẹp các cuộc nổi loạn trong nước cũng như đối đầu với các nước xâm lược.
Chính sách chua thực ấp cho các thân tộc trong họ, mỗi thế lực trong dòng tộc đều
có quân đội tinh nhuệ là nền tảng lớn khiến quân đội nhà Trần tiêu diệt được cuộc
xâm phạm của quân đội Nhà Nguyên, Đế quốc Mông Cổ qua 3 lần vào năm 1258,
1285 và 1287 làm rạng danh trang sử Việt. Trong thời gian tồn tại, nhất là trong
giai đoạn hưng thịnh của vương triều vào thế kỷ XIII và nửa đầu thế kỷ XIV, triều
Trần còn tiếp tục đẩy mạnh công cuộc phục hưng dân tộc đã bắt đầu tiến hành một
cách toàn diện trên quy mô lớn từ đời Lý. Nền kinh tế, văn hoá của nước Đại Việt
phát triển mạnh mẽ và đạt nhiều thành tựu mới. Dưới triều Trần, chế độ phong kiến
đã thành hình rõ nét. Nhưng do đặc điểm của quá trình phong kiến hoá như trên đã
phân tích nên trong xã hội thời Trần vẫn tồn tại chồng chất và đan xen nhiều hình
thái xã hội khác nhau, nhiều quan hệ bóc lột phức tạp. Đấy là một thực tế lịch sử
biểu hiện kết cấu kinh tế - xã hội đặc thù của chế độ phong kiến Việt Nam.
Vào cuối đời Trần, tuy triều đình suy thoái, mâu thuẫn với nhân dân trở nên
gay gắt, nhưng trước sau triều Trần vẫn giữ được tinh thần dân tộc. Trước những
yêu sách mang tính đe doạ và dụ dỗ của nhà Minh, triều Trần đối phó một cách
mềm mỏng nhưng vẫn đứng trên lập trường bảo vệ kiên quyết độc lập, chủ quyền quốc gia.
Chính những điều này có thể thấy rằng, ngoại giao thời kỳ nhà Trần sẽ đem
lại những bài học quý giá cho công cuộc ngoại giao hiện nay, vì vậy em đã chọn
nghiên cứu đề tài: “ Ngoại giao Việt Nam và Trung Quốc dưới thời nhà Trần”. 2 MỤC LỤC MỞ ĐẦU
CHƯƠNG I: SƠ LƯỢC VỀ NHÀ TRẦN VÀ NHỮNG THÀNH TỰU NHÀ TRẦN ĐỂ LẠI I Các đời vua họ Trần
II. Những thành tựu nhà Trần đạt được
CHƯƠNG II: QUAN HỆ NGOẠI GIAO GIỮA VIỆT NAM VÀ TRUNG
QUỐC QUA CÁC ĐỜI VUA TRẦN
I Thời kỳ thứ nhất 1225 – 1293
II. Thời kỳ thứ hai 1293 – 1341
III. Thời kỳ thứ ba 1341 – 1400
CHƯƠNG III: NHỮNG BÀI HỌC NGOẠI GIAO RÚT RA
I. Những điểm nổi bật trong ngoại giao thời nhà Trần II. Những bài học rút ra KẾT LUẬN TÀI LIỆU THAM KHẢO 3
CHƯƠNG I: SƠ LƯỢC VỀ NHÀ TRẦN VÀ NHỮNG THÀNH TỰU NHÀ TRẦN ĐỂ LẠI
I. Sơ lược về các vị vua nhà Trần
Trong lịch sử Việt Nam, nhà Trần là một thời đại hưng thịnh nhất của dân
tộc Việt. Nhà Trần trị vì 175 năm với 12 vị vua.
1. Trần Thái Tông (1225-1258)
Người mở đầu nhà Trần chính là vua Trần Thái Tông. Vua họ Trần, húy là
Cảnh, trước húy là Bồ; làm chi hậu chính triều Lý, được Lý Chiêu Hoàng nhường
ngôi cho. Vua ở ngôi 33 năm, nhường ngôi 19 năm, thọ 60 tuổi, băng hà ở cung
Vạn Thọ, chôn ở Chiêu Lăng.
Vua là người khoan nhân đại độ, có lượng đế vương, có nên có thể mở
nghiệp, truyền sau, đặt giường giăng mối, chế độ nhà Trần tốt đẹp. Song quy hoạch
việc nước đều do Thủ Độ làm, mà trong chốn buồng the có nhiều hổ thẹn
2. Trần Thánh Tông (1258-1278)
Vua húy là Hoảng, con trưởng của Thái Tôn, mẹ là Hiển Từ Thuận Thiên
hoàng thái hậu Lý thị, nhân Thái Tôn chiêm bao thấy trời trao cho thanh gươm
báu, rồi hậu có mang, năm Canh Tý Thiên Ứng chính bình thứ 9, tháng 9 ngày 25,
giờ Ngọ sinh ra; lập làm thái tử. Thái Tôn nhường ngôi, bèn lên ngôi báu ở ngôi 21
năm, nhường ngôi 3 năm, thọ 51 tuổi, băng ở cung Nhân Thọ, chôn ở Dụ Lăng.
Vua là người trung hiếu nhân thứ, tôn người hiền, trọng kẻ sĩ; cha làm ra
trước, con nối về sau. Song ham mê đạo tam muội kê cứu đạo nhất thừa, không
phải là trị đạo giỏi của đế vương.
3. Trần Nhân Tông (1279 -1293) 4
Vua húy là Khẩm, con trưởng của Thánh Tôn, mẹ là Nguyên Thánh Thiên
Cảm hoàng thái hậu, sinh năm Giáp Ngọ Nguyên Phong thứ 8, tháng 11, ngày 11,
được tinh anh của thánh nhân, đạo mạo thuần túy, nhan sắc như vàng, thể chất
hoàn toàn, thần khí tươi sáng, hai cung đều cho là lạ, gọi là Kim tiên đồng tử; ở
bên tả có nốt ruồi đen, cho nên có thể cáng đáng được việc lớn; ở ngôi 14 năm,
nhường ngôi 5 năm, xuất gia 8 năm, thọ 51 tuổi, băng ở am Ngọa Vân núi Yên Tử,
hòa nhã, cố hết lòng dân, sự nghiệp phục hưng làm vẻ vang đời trước, thực là vua
hiền của nhà Trần. Song vui lòng ở kinh phật, tuy bảo là đến siêu thoát nhưng hông
phải đạo trung dung của thánh nhân.
4. Trần Anh Tông (1293-1314)
Vua tên là Thuyến, con trưởng của Nhân Tôn, mẹ là Khâm Từ Bảo Thánh
thái hậu, ở ngôi 21 năm, nhường ngôi 6 năm, thọ 45 tuổi, băng ở cung Trùng Hoa,
phủ Thiên Trường, chôn ở Thái lăng.
Vua khéo nối chí giữ nghiệp, cho nên bấy giờ đất nước được thái bình, chính
trị tốt đẹp, văn vật chế độ dần dần thịnh lên, cũng là bậc vua tốt của chiều Trần.
Song họp nhà sư ở núi Yên Tử, nhọc sức dân làm các Ánh Vân.
5. Trần Minh Tông (1314-1329)
Vua húy là Mạnh, con thứ tư của Anh Tôn, mẹ đích là Thuận thánh bảo tử
hoàng thái hậu Trần thị, con gái của Hưng Nhượng Đại vương Quốc Tảng, mẹ sinh
là Chiêu Hiến hoàng thái hậu Trần Thị , con gái của Bảo Nghĩa đại vương Bình
Trọng. Ở ngôi 15 năm, nhường ngôi 28 năm, thọ 58 tuổi, băng ở cung Bảo
Nguyên, chôn vào Mục lăng.
Vua đem văn minh sửa sang trị đạo, làm rạng rỡ công nghiệp người trước,
giữ lòng trung hậu, lo xa cho con cháu, trong nước được yên, bên ngoài theo phục, 5
giường mối đều bằng. Tiếc rằng, không biết Khắc Chung là kẻ gian tà, đến nỗi
Quốc Chẩn phải chết oan.
6. Trần Hiến Tông (1329 -1341)
Vua húy là Vượng, con thứ của Minh Tôn, mẹ đích là Hiển Từ Tuyên Thánh
hoàng thái hậu, mẹ sinh là Minh Từ hoàng thái phi Lê Thị. Ở ngôi 13 năm, thọ 23
tuổi, băng chôn ở lăng Xương An. Vua tư chất tinh anh sáng suốt, vận nước thái
bình nhưng ở ngôi không được lâu, chưa thấy thi thố việc gì, đáng tiếc thay.
7. Trần Dụ Tông (1341-1369)
Vua húy là Hạo, con thứ mười của Minh Tôn, Hiển Từ hoàng hậu sinh. Ở
ngôi 28 năm, thọ 34 tuổi, táng ở Phụ lăng. Vua tính rất thông tuệ, học vấn cao
minh, phòng bị việc võ, sửa sang việc văn, man di đều thần phục cả. Đời Thiệu
Phong, công việc chính trị tốt; từ năm Đại Trị về sau, chơi bời quá độ, cơ nghiệp
nhà Trần từ đấy suy vi.
8. Trần Nghệ Tông (1370-1372)
Vua húy là Phủ, con thứ ba của Minh Tôn, mẹ đích là Hiển Từ Thuyên
Thánh thái hoàng thái hậu, mẹ sinh là em gái cùng một mẹ với Hiển Từ, tức là Lê
thị do con gái của Nguyễn Thánh Huấn lấy chồng người họ Lê sinh ra, thứ phi của
Minh Tôn. Ở ngôi 3 năm, nhường ngôi 27 năm, thọ 74 tuổi. Vua dẹp yên nạn trong
nước, khôi phục lại nghiệp lớn, công liệt lớn lao, rực rỡ vũ trụ; song cung kiệm có
thừa mà cương đoán không đủ giặc ngoài xâm phạm kinh kỳ, gian thần ngấp nghé
ngôi báu, xã tắc nhà Trần ngày mòn mỏi, rồi đến mất
9. Trần Duệ Tông (1372 – 1377) 6
Vua húy là Kính, con thứ 11 của Minh Tôn, em Nghệ Tông, mẹ là Đôn Từ
hoàng thái phi; sinh năm Đinh Sửu Khai Hựu thứ 9 tháng 6 ngày mồng 2. Khi
Nghệ Tông tránh loạn, quân lính khí giới đều do vua phụ trách nên Nghệ Tông
đem ngôi nhường cho. Vua ở ngôi 4 năm, thọ 41 tuổi. Vua là người ương bướng, tự
theo ý mình không nghe lời can, khinh thường quân giặc nên tai đến vạ mình chứ không phải bất hạnh.
10. Trần Phế Đế (1377-1388)
Vua húy là Nghiễn, con trưởng Duệ Tông, mẹ là Gia Huệ hoàng hậu Lê thị,
sinh năm Tân Sửu Đại Trị thứ 4, tháng 3, ngày 6. Khi Duệ Tông đi đánh phương
Nam mà băng, Nghệ Tông lập lên. Sau khi bị giáng làm Linh Đức Vương, rồi bắt
phải thắt cổ chết. Ở ngôi 12 năm, thọ 28 tuổi, chôn ở núi An Bài. Vua là người ngu
hèn, chẳng biết làm gì, uy quyền ngày một về người dưới, xã tắc nghiêng đổ, đến
thân mình cũng chẳng giữ được.
11. Trần Thuận Tông (1388-1398)
Vua húy là Ngung, con út của Nghệ Tông; ở ngôi 9 năm, xuất gia hơn 1
năm, bị Quý Ly giết, thọ 22 tuổi. Vua chỉ ngồi giữ ngôi không, chính quyền do
quyền thần làm cả, tai họa đến thân mà không biết.
12. Trần Thiếu Đế (1398 -1400)
Vua húy là Án, con trưởng của Thuận Tông, ở ngôi 2 năm bị Quý Ly cướp
ngôi, phế làm Bảo Ninh Đại vương.
II. Những thành tựu nhà Trần để lại 1. Về giáo dục 7
Sau khi thành lập không lâu, nhà Trần đã cho thấy được sự quan tâm đặc
biệt đối với giáo dục. Bắt đầu với việc thành lập các khoa cử để tìm ra người tài
giúp nước. Lúc đầu, chỉ có những người trong hoàng tộc mới được giữ quan cấp
trong triều đình nhưng đến đời vưa Anh Tông, những người tài đức đã được tuyển
dụng vào cơ chế bộ máy quan lại.
Năm 1232, nhà Trần mở khoa thi đầu tiên, đặt ra học vị Thái học sinh. Năm
1247, triều đình đặt lệ thi lấy Tam khôi gồm 3 người đỗ là trạng nguyên, bảng
nhãn, thám hoa và quy định cứ 7 năm mở 1 khoa thi. Sau đó triều đình mở kỳ thi
Đình để phân hạng cao thấp cho thái học sinh. Năm 1305, nhà Trần đặt thêm học vị
Hoàng Giáp. Năm 1396, Trần Thuận Tông ban chiếu quy định cách thức thi Hương
và coi đó là một trong hai khoa thi chính thức của thi cử Nho học. Người đỗ ở
trường Hương được cấp bằng Hương cống hay Cống sĩ.
Lần đầu tiên, Nhà nước thành lập Quốc sử chuyên lo việc biên soạn lịch sử
nước nhà. Sự kiện quan trong nhất của sử học đời Trần là việc Bảng nhãn Lê Văn
Hưu biên soạn bộ “ Đại Việt sử ký” gồm 30 quyển hoàn tất ào năm 1272, đây là bộ
sử đầu tiên của dân tộc 2. Về chính trị
Kế thừa bộ luật Hình thư của triều Lý, đồng thời nghiên cứu pháp luật Trung
Hoa, Triều Trần đã xây dựng bộ luật riêng cho mình
Năm 1230, Trần Thái Tông cho ban hành “ Quốc triều thống chế” sau đó qua
vài lần bổ sung lại ban hành “ Quốc triều hình luật” bộ luật này do Trương Hán
Siêu và Nguyễn Trung Ngạn biên soạn. Cơ quan pháp luật của triều Trần được tăng
cường và hoàn thiện hơn
3. Về văn hóa, nghệ thuật, kiến trúc 8
Tác phẩm “Hịch tướng sỹ” được Trần Quốc Tuấn viết năm 1284, ngoài ý
nghĩa của một áng văn chính luận, thấm nhuần chủ nghĩa yêu nước, còn có ý nghĩa
to lớn về tư liệu lịch sử.
Văn học chữ Nôm xuất hiện và bắt đầu có những đóng góp cho văn học
nước ta, những cây bút nổi bật thời Trần như Trần Thái Tông, Trần Thánh Tông,
Trần Nhân Tông, Trần Quốc Tuấn, Trần Quang Khải, Trương Hán Siêu, Phạm Ngũ Lão, Nguyễn Trung Ngạn.
Dưới thời Trần, Phật giáo xuất hiện và chi phối mạnh mẽ xã hội lúc bấy giờ.
Chùa chiền được xây dựng khắp nơi, người xuất gia và tu hành rất đông, trong đó
có những người thuộc hoàng tộc, kể cả vua và thái thượng hoàng. Vua Trần Nhân
Tông đã lập ra phái thiền Trúc Lâm Yên Tử 4. Về khoa học quân sự
Thời Trần nổi bật với những thành tựu về khoa học quân sự mà đứng đầu là
Trần Hưng Đạo vương với “ Binh thư yếu lược”; để lại cho đời sau bài học vô giá
về kinh nghiệm chống xâm lăng, đập tan những đội quân ăn cướp tàn bạo và thiện
chiến. Bên cạnh tinh thần chiến đấu, trình độ võ nghệ cũng như thiết bị kỹ thuật,
tướng sĩ còn cần phải được trang bị tri thức về binh pháp.
Trong chiến tranh, nhà Trần có thể tập hợp lực lượng đông đảo như vậy là do
thực hiện chế độ “ Ngụ binh ư nông” đây có thể xem là sự kết hợp giữa kinh tế và
quốc phòng, kết hợp giữa sản xuất nông nghiệp và tổ chức vũ trang của thời đại đó 5. Về khoa học y dược
Do nhu cầu của chiến tranh vệ quốc, y thuật dưới thời nhà Trần có cơ hội
phát triển rất mạnh. Trong triều đình cơ quan Thái y viện hoạt động rất hiệu quả. Y 9
học nước ta lúc này trên cơ sở kế thừa và phát huy những thành tựu của nền y học khác, nhất là Trung Hoa.
6. Về khoa học thiên văn và lịch pháp
Đăng Lộ là người chế tạo ra một công cụ để quan sát thiên văn và khảo sát
khí tượng, gọi là “ Lung linh nghi”. Tuy nghiên nhà thiên văn và lịch pháp lớn nhất
giai đoạn này vẫn là Đại tư đồ Trần Nguyen Đán (ông ngoại của Nguyễn Trại).
Trần Nguyên Đán là tác giả của “Bách thế thông khảo” – tác phẩm khảo cứu về
lịch pháp nước ta từ các thế kỳ trước công nguyên đến đầu thế kỷ XV.
CHƯƠNG II: QUAN HỆ NGOẠI GIAO GIỮA VIỆT NAM VÀ TRUNG
QUỐC QUA CÁC ĐỜI VUA TRẦN I. Giai đoạn 1225 – 1293
1. Quân Mông Cổ xâm phạm đất An Nam năm 1257
Trong khi nhà Lý mất ngôi, nhà Trần lên làm vua ở An Nam thì nhà Tống
bên Tàu bị người Mông Cổ đánh phá. Người Mông Cổ ở vào khoảng thượng lưu
sông Hắc Long Giang, là những người hung tợn, có tính hiếu chiến, cưỡi ngựa bắn
cung rất giỏi. Binh lính thường là quân kỵ mà xếp đặt thành cơ nào ra đội đấy rất
có tinh nghề chiến đấu. Khi Hốt Tất Liệt lên ngôi vua, đổi quốc hiệu là Nguyên
mang quân sang đánh nhà Tống. Từ đó nước Tàu thuộc về Mông Cổ cai trị.
Tướng quân Mông Cổ là Ngột Lương Hợp Thai sai sứ sang bảo vua Trần về
thuần phục Mông Cổ. Vua Trần Thái Tông không chịu bèn sai người bắt giam sứ
Mông Cổ lại rồi sai Trần Quốc Tuấn đem quân giữ ở phía Bắc. Ngột Lương Hợp
Thai bèn từ Vân Nam đem quân sang địa phận An Nam, đi đường sông Thao
Giang tỉnh Hưng Hóa xuống đánh Thăng Long 10
Trần Quốc Tuấn quân ít đánh không nổi lùi về đóng ở Sơn Tây, quân Mông
Cổ tràn xuống đến sông Thao, Thái Tông phải ngự giá thân chinh, nhưng đánh
không được phải đem quân về đóng ở sông Hồng Hà. Quân Mông Cổ tiến lên đánh
đuổi quân nhà Trần đến Đông Bộ Đầu. Thái Tông phải bỏ kinh đô, chạy về đóng ở sông Thiên Mạc
Quân Mông Cổ đem quân vào thành Thăng Long, thấy ba người sứ Mông
Cổ còn phải trói, giam ở trong ngục đến cởi trói thì một người chết. Ngột Lương
Hợp Thai thấy thế giận quá bèn cho quân ra giết phá của nam phụ lão ấu trong kinh thành.
Được ít lâu quân Mông Cổ ở nước Nam không quen thủy thổ xem bộ mỏi
mệt. Thái Tông mới đem binh tiến đánh ở Đông Bộ Đầu. Quân Mông Cổ thua chạy
về đến trại Quy Hóa, lại bị chủ trại ấy chiêu tập thổ dân ra đón đánh. Quân Mông
Cổ thua to, rút về Vân Nam, đi đường mỏi mệt, đi đâu cũng không cướp phá gì nên
được gọi là giặc Phật.
Quân Mông Cổ tuy thua phải rút về những chẳng bao lâu vua Mông Cổ dứt
được nhà Tống, lấy được nước tàu, rồi có ý muốn bắt vua nước Nam sang chầu ở
Bắc Kinh, bởi vậy sai sứ sang đòi lệ cống. Vua Thái Tông sai Lê Phụ Trần sang xin
cứ 3 năm đem cống một lần
2. Sự giao thiệp với Mông Cổ từ 1258 – 1278
Giai đoạn này nước tuy được yên nhưng sự giao thiệp với Tàu ngày càng
khó thêm. Lúc bấy giờ Mông Cổ đã đánh được nhà Tống rồi, chỉ chực chờ lấy An
Nam, nhưng vì nước Tàu đã thua một trận, vả lại trong nước vẫn chưa được yên
cho nên vua Mông Cổ muốn dụ vua An Nam sang hàng phục, để khỏi can qua.
Chính vì vậy mà cứ vài năm lại cho sứ giả sang sách nhiều đủ điều và dụ vua sang
chầu nhưng vua không chịu sang . Về sau, nhân dịp Thái Tông nhường ngôi cho 11
Thánh Tông, vua Mông Cổ sai sứ sang phong vương cho Thánh Tông, và tuy
không bắt nước Nam ta đổi phục sắc và chính trị, nhưng định cho 3 năm phải sang
cống một lần. Mà lệ cống thì phải cho nho sĩ, thầy thuốc, thấy bói, thầy toán số, và
thợ thuyền mỗi hạng ba người cùng với các đồ sản vật như sừng tê, ngà voi, đồi
mồi, châu báu và các vật lạ. Vua Mông Cổ lại đặt quan Đạt lỗ hoa xích ( tiếng
Mông Cổ tức là quan chưởng ấn), để đi lại giám trị các châu quận nước Nam.
Mục đích của Mông Cổ chính là xem nước ta có những tài sản và nhân vật
nước Nam có gì, học vấn xảo kỹ ra sao để liệu đường đánh chiếm cho tiện. Tuy
rằng quyền chính trị vẫn để cho vua nước Nam, nhưng đặt quan giám trị để dần lập thành Bảo hộ
Vua Thánh Tông bề ngoài tuy vẫn chịu thần phục, nhưng trong bụng cũng
biết rằng Mông Cổ có ý muốn đánh nước mình, cho nên cứ tu binh dụng võ để
phòng có ngày tranh chiến. Vậy tuyển đinh tráng các lộ làm lính, phân quân ngũ ra
làm quân và đô; mỗi quân có 30 đô, mỗi đô có 80 người, bắt phải luyện tập luôn.
Năm 1266, nhân sứ Mông Cổ sang, Thánh Tông sai quan sang Tàu đáp lễ và
xin đừng bắt nho sĩ, thầy bói và các thợ thuyền sang cống. Vua Mông Cổ đồng ý
nhưng lại bắt chịu 6 điều khác:
1. Vua phải thân vào chầu;
2. Vua phải cho con hay là em sang làm tin; 3. Biên sổ dân sang nộp;
4. Phải chịu việc binh dịch; 5. Phải nộp thuế má;
6. Phải đặt quan giám trị. 12
Vua An Nam không chịu. Đến năm 1271, vua Mông Cổ là Hốt Tất Liệt cải
quốc hiệu là Đại Nguyên, rồi cho sứ sang dụ Thánh Tông sang chầu, nhưng Thánh Tông cáo bệnh không đi.
Năm sau Nguyên chủ cho sứ sang tìm cột đồng trụ của Mã Viện trồng ngày
trước, nhưng Thánh Tông sai quan sang nói rằng: cột ấy laai ngày mất đi rồi,
không biết đâu mà tìm nữa. Việc ấy cũng thôi
Đến năm Ất Hợi 1275, Thánh Tông sai sứ sang Tàu nói rằng: nước Nam
không phải là nước mường mán mà đặt quan giám trị, xin đổi quan Đạt lỗ hoa xích
làm quan Dẫn tiến sứ. Vua nhà Nguyên không cho, lại bắt theo 6 điều đã định lúc
trước. Thánh Tông cũng không chịu. Từ đấy vua nhà Nguyên thấy dùng mưu
không được, quyết ý cử binh sanng đánh nước Nam, sai quan biên giới do thám địa
thế nước ta. Bên An Nam cũng đặt quan phòng bị. 3. Sài Thung sang sứ An Nam
Nhà Nguyên nghe tin Trần Thái Tông mới mất và Thánh Tông nhường ngôi,
bèn sai Lễ bộ thượng thư là Sài Thung sang sứ, đi tự Giang Lăng (Hồ Bắc), qua
Ung Châu (Quảng Tây) rồi sang nước Nam, chứ không đi quan Vân Nam như các sứ thần trước.
Sài Thung đi đến kinh thành, mặt kiêu ngạo đi thẳng vào trong cửa Dương
Minh, rồi cho người đưa thư vào trách Nhân Tông rằng “ Sao không xin phép triều
đình nhà Nguyên mà dám tự lập, vậy phải sang chầu Nguyên triều hoàng đế mới
xong.” Nhân Tông sai quan đại thần ra tiếp, Sài Thung không thèm đáp lễ. Vua mở
yến tiệc mời đến, Sài Thung cũng không thèm tham sự. Đình thần An Nam ai cũng
tức giận nhưng không ai dám nói ra. 13
Được mấy hôm thì Sài Thung về nước. Nhân Tông sai sứ mang thư sang báo
không thể sang Tàu chầu được. Nguyên triều thấy vua An Nam không chịu sang
chầu và cứ đưa thư sang thoái thác, ý muốn cầm quân sang đánh nhưng còn chưa quyết.
4. Trần Di Ái theo nhà Nguyên
Năm Nhâm Ngọ 1282, Nguyên chủ lại cho sứ sang dụ rằng : “Nếu vua nước
Nam không sang chầu được thì phải đem vàng bạc châu báu sang thay, và phải nộp
hiền sĩ, thầy âm dương nói toán, thợ khéo, mỗi hạng hai người.”
Vua Nhân Tông sai chú họ là Trần Di Ái và Lê Tuân cùng Lê Mục sang thay
cho mình. Nhưng Nguyên chủ không bằng lòng, quyết giữ quyền cai trị nước Nam,
bèn xuống chỉ lập tòa Tuyên phủ ty, đặt quan liêu thuộc để sang giám trị các châu
các huyện nước ta. Quan nhà Nguyên sang tới nơi, vua không nhận đuổi hết về Tàu.
Nguyên chủ thấy vậy tức giận bèn lập Trần Di Ái làm An Nam quốc vương,
phong cho Lê Mục làm Hàn lâm học sĩ, Lê Tuân làm thượng thư lệnh và sai Sài
Thung dẫn 1000 quân đưa bọn ấy về nước. Trần Di Ái thấy vua nhà Nguyên phong
cho cũng nhận; đưa về cũng về. Định bụng rằng chuyến này nhờ sức Mông Cổ,
may việc xong thì được làm vua, nhược bằng không xong thì đổ cho Nguyên chủ
bắt ép; vì thế mới theo Sài Thung về
Sài Thung đưa bọn Trần Di Ái đến gần ải Nam Quan, có tin phi báo về kinh
đô. Nhân Tông bèn sai tướng dẫn một đội quân lên đón đường đánh lũ nghịch thần.
Sài Thung bị tên bắn mù một mắt chạy trốn về Tàu, còn lũ Trần Di Ái bị bắt phải tội đồ làm lính.
5. Thoát Hoan sang đánh trận lần thứ nhất 14
Vua nhà Nguyên thấy Sài Thung bị thương chạy về nước lấy làm tức giận
bèn sai con là Thoát Hoan làm Trấn Nam Vương cũng với Toa Đô và Ô Mã Nhi
dẫn 50 vạn quân, giả tiếng mượn đường qua nước Nam đánh Chiêm Thành.
Nghe được tin ấy, vua Nhân Tông ngự thuyền ra sông Bình Than chỗ sông
Đuống nối với sông Thái Bình, để hội các vương hầu bách quan lại chống giữ. Các
quan có người nên nói cho quân Nguyên mượn đường, có quan lại bảo đem đồ
sang cống để xin hoãn binh. Duy chỉ có Trần Quốc Tuấn và Trần Khánh Dư quyết
đem xin quân đi chống giữ những nơi hiểm yếu, không cho quân Mông Cổ sang
nước Nam. Nhân Tông nghe ưng lời ấy liền phong cho Hưng Đạo Vương là Trần
Quốc Tuấn làm tiết chế thống lĩnh mọi quân đi chống giữ với quân nhà Nguyên.
Qua tháng 8 năm 1284, Trần Quốc Tuấn truyền hịch cho các vương hầu hội
hết quân sĩ tại bến Đông Bộ Đầu để kiểm duyệt. Quân thủy và quân bộ cả thảy là
20 vạn quân. Trần Quốc Tuấn truyền cho các tướng sĩ rằng “Bản chức phụng mệnh
thống đốc quân sĩ ra phá giặc. Các vương hầu và các tướng sĩ, ai nấy đều phải giữ
phép tắc, đi đâu không được nhiễu dân và phải đồng lòng hết sức đánh giặc, chớ
thấy thua ngã lòng, chớ thấy được mà tự kiêu, việc quân có luật, phép nước không
thân, các người phải giữ.” Xong rồi sai Trần Bình Trọng đem quân đi đóng đồn ở
trên sông Bình Than, Trần Khánh Dư đem quân ra giữ mặt Vân Đồn, còn các
tướng thì chia ra đóng các nơi hiểm yếu. Trần Quốc Tuấn đóng đô ở Vạn Kiếp để tiếp ứng cho các nơi.
Được ít lâu Nhân Tông nghe rằng quân Nguyên hội tại Hồ Quảng sắp sửa
kéo sang mặt Lạng Sơn. Vua lo lắng rằng quân ta đánh không lại bèn sai sứ mang
lễ vật sang Tàu mong muốn giảng hòa. Vua nhà Nguyên không nghe vẫn cử Thoát
Hoan đem quân sang. Vua thấy vậy bèn gọi các bô lão tổ chức hội nghị Diên Hồng.
Các bô lão cùng tướng lĩnh đồng lòng xin đánh. Vua thấy vậy đồng ý kháng cự. 15
Quân Nguyên chia làm hai đạo: một đạo do tướng Mông Cổ là Toa Đô đem
10 vạn quân từ Quảng Châu đi hải đạo sang đánh Chiêm Thành còn Thoát Hoan thì
kéo đại binh đến ải quan, sai người đưa thư sang nói mượn đường cho đi đánh
Chiêm Thành. Vua nhận được thư của Thoát Hoan liền trả lời rằng: “Tự bản quốc
sang Chiêm Thành, thủy lục không có đường nào tiện.” Sứ giả về nói với Thoát
Hoan, Thoát Hoan nổi giận bèn đe dọa rằng nếu không mở đường cho sang Chiêm
Thành sẽ phá tan bờ cõi An Nam. Hưng Đạo Vương thấy vậy nổi giận, đuổi sứ giả
của nhà Nguyên về, rồi phân binh giữ ải Khả Ly và Lộc Châu còn mình tự dẫn
quân giữ núi Kỳ Cấp. Những chiến thuyền thì đóng ở Bái Tân giữ mặt thủy.
6. Diễn biến cuộc kháng chiến chống quân Nguyên Mông lần 2 Những diễn biến chính Sự kiện Tướng Mông Cổ Kết quả Đánh Toa Đô
Chiếm được một phần đất của Chiêm Thành, Chiêm Hốt Tất Liệt
Đại Việt rơi vào tình thế nan giải, trước sau Thành
đều là hiểm họa báo hiệu chiến tranh bùng nổ Trận Sơn Tôn Hựu
Tướng nhà Trần bị bắt – bị giết, quân Nguyên Động
chia là 6 mũi, ồ ạt tấn công Nội Bàng – đại
bản doanh của Trần Quốc Tuấn. Quân nhà
Trần tổn thất nặng nề Trận Vạn Ô Mã Nhi
Tướng địch Nghê Nhuận tử trận. Nhưng thế Kiếp Nghê Nhuận
giặc vẫn vô cùng vũ bão, nhà Trần rút khỏi
Vạn Kiếp, Phả Lại, Bình Than về đóng bên
bờ sông Hồng gần Thăng Long. Địch tiến
quân về Thăng Long theo đường bộ Trận sông Thoát Hoan
Quân dân nhà Trần thiệt hại nặng nề, nhiều Đuống thuyền rơi vào tay địch Trận Thăng Thoát Hoan
Nhà Trần chủ động đánh cầm chừng, cản 16 Long
bước quân địch, thực hiện vườn không nhà
trống, rút khỏi Thăng Long
Quân Nguyên tiếp tục truy đuổi nhà Trần Trận Thu Nasirud Din
Quân Trần rút hoàn toàn về Bạch Hạc Vật Các trận
Quân nhà Trần thua trận, Trần Bình Trọng hi đánh trên sinh sông Hồng Trận Hàm Ô Mã Nhi
Toa Đô và Ô Mã Nhi thua to, bỏ thuyền đi Tử - Tây Toa Đô đường bộ về Thanh Hóa Kết Trận
Quân Nguyên thua, bỏ chạy tan tác, phần lớn Chương
các thuyền bị quân ta chiếm hoặc đốt Dương Độ Giành lại Mã Vinh
Quân Nguyên rút khỏi thành Thăng Long, về Thăng Long
đóng ở bờ bắc sông Hồng Trận sông Trương Hiển
Trương Hiển cho quan đi đầu hàng nhà Trần, Thiên Mạc
dẫn đường cho quân ta tấn công Toa Đô ở
Tây Kết. Quân Nguyên bị giết nhiều, tướng Toa Đô tử trận Nhà Trần Thoát Hoan
Quân Nguyên đại bại, Lý Hằng trúng tên độc, truy kích Lý Hằng
chạy về đến Tư Minh thì chết. Thoát Hoan quân
phải chui vào ống đồng tháo chạy Nguyên Trần Quốc Toản hi sinh
7. Cuộc kháng chiến chống quân Nguyên Mông lần 3
Thất bại nhục nhã ở Đại Việt khiến vua Nguyên hết sức căm giận. Vua
Nguyên kén lấy 7 vạn quân, 500 chiến thuyền, 6000 quân Vân Nam và 1 vạn 5000 17
quân ở bốn châu ngoài bể, sai Thoát Hoan làm đại nguyên súy đem hơn 30 vạn
quân sang đánh nước ta, giả danh đưa Trần Ích Tắc về nước lập làm An Nam quốc
vương. Lại sai Vạn hộ Trương Văn Hổ theo đường bể tải hơn 17 vạn thạch lương sang cấp cho quân sĩ.
Tháng 12/1287, quân Nguyên ồ ạt tràn vào nước ta. Cánh quân bộ do Thoát
Hoan chỉ huy đánh vào Lạng Sơn, rồi tiến xuống phía Nam đóng tại Vạn Kiếp.
Cánh quân thủy gồm 600 chiến thuyền do Ô Mã Nhi chỉ huy tiến vào cửa sông
Bạch Đằng, để hội quân với Thoát Hoan ở Vạn Kiếp. Đoàn thuyền lương của giặc
do Trương Văn Hồ chỉ huy đã bị Trần Khánh Dư bố trí phục kích tại Vân Đồn. Số
lương còn lại bị quân Trần chiếm.
Tháng 1/1288, Thoát Hoan cho quân tiến vào Thăng Long nhưng bị chống
trả rất kịch liệt. Quân giặc phần thì bị thiếu lương, phần thì bị ốm đau nên rơi vào
cảnh khó khăn, thiếu thốn, buộc phải rút về nước. Nhân cơ hội đó, quân dân nhà
Trần đã đứng lên tiêu diệt các đạo quân của giặc, giành thắng lợi nhanh chóng. 8. Định cuộc hòa hiếu
Tự lúc Thoát Hoan thua trận trở về 18 19