Đang tải lên
Vui lòng đợi trong giây lát...
Preview text:
TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI
KHOA KẾ TOÁN – KIỂM TOÁN
----------------
ĐỀ TÀI THẢO LUẬN
HỌC PHẦN TRIẾT HỌC MÁC L – ÊNIN Đề tài:
QUAN NIỆM VỀ Ý THỨC CỦA CÁC NHÀ
TRIẾT HỌC MÁC – LÊNIN. Ý NGHĨA CỦA
NHỮNG QUAN ĐIỂM ĐÓ ĐỐI VỚI
THỰC TIỄN. Nhóm : 5
Lớp học phần : 2165MNLP0221
Giảng viên hướng dẫn : Ths. Phạm Thị Hương
Hà Nội, tháng 11 năm 2021 MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 1
Chương 1: QUAN NIỆM VỀ Ý THỨC CỦA CÁC NHÀ TRIẾT HỌC MÁC –
LÊNIN . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 2
I. NGUỒN GỐC . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 2
1. Nguồn gốc tự nhiên. . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 2
2. Nguồn gốc xã hội. . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 3
II. BẢN CHẤT CỦA Ý THỨC. . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 5
1. Ý thức là hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan. . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 5
2. Ý thức là sự phản ánh của sáng tạo thế giới. . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 5
3. Ý thức là sản phẩm lịch sử của sự phát triển xã hội nên về bản chất là có tính
xã hội. . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 6
1. Các lớp cấu trúc của ý thức. . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 6
2. Các cấp độ của ý thức. . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 8
3. Vấn đề trí tuệ nhân tạo. . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 10
Chương 2: GIÁ TRỊ QUAN NIỆM VỀ Ý THỨC CỦA TRIẾT HỌC MÁC -
LÊNIN ĐỐI VỚI THỰC TIỄN: SỰ CHỈ ĐẠO CỦA CÁC BAN NGÀNH ĐỐI
VỚI HOẠT ĐỘNG PHÒNG CHỐNG DỊCH COVID- 19 LẦN THỨ 4. . . . . . . 12
I. DỊCH COVID- 19 BÙNG PHÁT Ở VIỆT NAM LẦN THỨ 4. . . . . . . . . . . . . 12
1. Tình hình dịch Covid- 19 bùng phát ở Việt Nam lần thứ 4. . . . . . . . . . . . . . . . 12
2. Những hoạt động tích cực trong chiến dịch phòng chống dịch . . . . . . . . . . . . 13
3. Những ảnh hưởng do dịch Covid- 19 gây ra: . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 13
4. Nguyên nhân của những ảnh hưởng-hạn chế do dịch Covid- 19 bùng phát. . . 18
II. PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP PHÒNG CHỐNG DỊCH TRONG
THỜI GIAN TỚI . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 19
1. Những phương hướng cần phải làm để khắc phục hạn chế trên và phòng chống
dịch hiệu quả hơn trong thời gian tới. . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 19
2. Những giải pháp để đẩy lùi dịch bệnh trong thời gian tới. . . . . . . . . . . . . . . . . 25
PHẦN KẾT LUẬN . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 29
Lời cảm ơn!. . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 29
Nguồn tài liệu . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 25
LỜI MỞ ĐẦU
Bằng kinh nghiệm hay lí trí, con người đều phải thừa nhận rằng, tất cả các hiện tượng
trong thế giới này, hoặc là hiện tượng vật chất, tồn tại bên ngoài và độc lập với ý thức
con người, hoặc là hiện tượng tinh thần, ý thức của chính con người. Ý thức theo định
nghĩa của triết học Mác - Lênin là một phạm trù được quyết định với phạm trù vật chất,
theo đó ý thức là sự phản ánh thế giới vật chất khách quan vào bộ óc con người và có
sự cải biến và sáng tạo. Ý thức có mối quan biện chứng với vật chất. Ý thức do vật chất
sinh ra và quyết định, xong sau khi ra đời ý thức có tính độc lập tương đối nên có sự
tác động trở lại to lớn đối với vật chất thông qua hoạt động thực tiễn của con người.
Vai trò của ý thức là ở chỗ trang bị cho con người những tri thức về bản chất quy
luật khách quan của đối tượng. Từ đó trên cơ sở ấy con người xác định đúng đắn mục
tiêu và đề ra phương pháp hoạt động phù hợp. Tìm hiểu về ý thức sẽ giúp con người
phát huy tính năng động sáng tạo của bộ óc, phát huy vai trò của con người để cải tổ
thế giới quan cũng như khắc phục các tính bảo thủ, tiêu cực thiếu sáng tạo của con
người. Nếu con người có những quan niệm sai lầm về ý thức, thiếu sự hiểu biết về tầm
quan trọng của ý thức thì sẽ rơi vào trạng thái bị động, không thể phát triển về thể chất
và tinh thần, không có khả năng cải tạo thế giới.
Bằng việc nhận thức đúng đắn về vai trò của ý thức, vận dụng ý thức trong thực tiễn,
Nhà nước ta vẫn đang cố gắng khắc phục và đã đạt được những thành tựu nhất định
trong công cuộc phòng chống đại dịch Covid- 19.
Trong phạm vi tiểu luận này, nhóm 5 xin được trình bày “Quan niệm về ý thức của
các nhà triết học Mác – Lênin. Ý nghĩa (giá trị) của những quan niệm đó đối với thực
tiễn”. Bên cạnh đó, chúng em sẽ làm rõ “Ý nghĩa của “ý thức” trong vấn đề xã hội
trong suốt giai đoạn dịch Covid- 19”, qua đây làm sáng tỏ sự chỉ đạo của các ban ngành
về công tác phòng, chống dịch Covid- 19, thực trạng phòng, chống dịch của nước ta
hiện nay và đưa ra những phương hướng, giải pháp khắc phục tình trạng bùng phát dịch. 1 Chương 1:
QUAN NIỆM VỀ Ý THỨC CỦA CÁC NHÀ TRIẾT HỌC MÁC - LÊNIN
I. NGUỒN GỐC
Khi lí giải nguồn gốc ra đời của ý thức, các nhà triết học duy tâm cho rằng ý thức là
cái có trước và quyết định vật chất. Những đại biểu tiêu biểu như Plato, Hegel đã tuyệt
đối hóa vai trò của lí tính, khẳng định thế giới “ý niệm” hay “ý niệm tuyệt đối” là bản
thể, sinh ra toàn bộ thế giới hiện thực. Còn chủ nghĩa duy tâm chủ quan với những đại
biểu tiêu biểu như G.Berkeley lại tuyệt đối hóa vai trò của cảm giác. Đối lập với quan
điểm của chủ nghĩa duy tâm, các nhà duy vật siêu hình phủ nhận tính chất siêu tự nhiên
của ý thức tinh thần nhưng lại đồng nhất ý thức với vật chất. Democritos quan niệm ý
thức là do những nguyên tử đặc biệt liên kết với nhau tạo thành. Các nhà duy vật Can
Vogt, Buykhơne lại cho rằng: “Óc tiết ra ý thức như gan tiết ra mật”. Những sai lầm,
hạn chế của chủ nghĩa duy tâm và chủ nghĩa duy vật siêu hình trong quan niệm về ý
thức đã gây ra những tác động, ảnh hưởng đến sự phát triển xã hội. C.Mác đã khẳng
định quan điểm duy vật biện chứng về ý thức: “ý niệm chẳng qua chỉ là vật chất được
đem chuyển vào đầu óc con người và được cải biến đi ở trong đó’’.
1. Nguồn gốc tự nhiên.
Theo quan điểm của triết học Mác - Lênin, ý thức là một thuộc tính của một dạng
vật chất có tổ chức cao nhất là bộ óc người, là sự phản ánh thế giới hiện thực của bộ óc
con người. Sự xuất hiện con người và hình thành bộ óc của con người có năng lực phản
ánh hiện thực khách quan là nguồn gốc tự nhiên của ý thức.
- Bộ óc người: có cấu trúc đặc biệt phát triển, rất tinh vi và phức tạp bao gồm khoảng
100 tỷ tế bào thần kinh (nơron) liên kết chặt chẽ với nhau thành những mạng lưới khổng
lồ, tạo nên một “vũ trụ” thu nhỏ chưa đầy 1400g bên trong hộp sọ. Các tế bào này liên
kết với nhau tạo nên nhiều mối liên hệ nhằm thu nhận, xử lý, dẫn truyền và điều khiển
toàn bộ hoạt động của cơ thể trong quan hệ với thế giới bên ngoài thông qua các phản
xạ có điều kiện và không điều kiện. Bộ não được tạo thành từ nhiều khu vực chuyên
biệt hoạt động cùng nhau.
* Sự khác biệt giữa não người so với bộ não động vật:
+ Nói chung, não người có thể được chia thành ba khu vực chính, đó là não trước,
não giữa và não sau. Đặc điểm này không có ở hầu hết các loài động vật nguyên thủy.
+ Khi so sánh kích thước não với kích thước cơ thể, não người là lớn nhất so với các loài linh trưởng khác.
+ Phần dành cho thị giác trong não người được mở rộng hơn rất nhiều so với các động vật khác. 2
+ Một số khu vực của não người kiểm soát kỹ năng ngôn ngữ của con người và nó
là duy nhất của con người.
+ Vỏ não là đặc điểm nổi trội nhất của não người khi so sánh với não của các động
vật khác, đặc biệt là với các động vật có xương sống khác. Nó tạo ra các cấu trúc vỏ
não mới trong vỏ não cho phép thực hiện các chức năng mới và phức tạp hơn.
* Bộ não của thiên tài Albert Einstein: Theo báo cáo, thiên tài này có số lượng tế
bào thần kinh đệm trên mức trung bình, đặc biệt phần não bên trái của Einstein có số
tế bào thần kinh đệm nhiều hơn 73% so với não bình thường. Các nhà khoa học tuyên
bố rằng não của Einstein có thêm một rãnh ở thùy giữa trán, một khu vực liên quan đến
việc lập kế hoạch và trí nhớ. Hầu hết mọi người chỉ có 3 vạch, nhưng Einstein lại có
đến 4. Những nghiên cứu này cho thấy quả thực bộ não của thiên tài Einstein có sự
khác biệt đáng kể so với não người. Và điều này có thể lý giải một phần cho những
thành tựu phi thường mà ông đạt được trong suốt cuộc đời mình.
- Tác động của thế giới khách quan lên bộ não: Cũng theo chủ nghĩa Mác – Lênin,
hoạt động ý thức con người diễn ra trên cơ sở hoạt động sinh lý thần kinh của bộ óc
người. Sự phụ thuộc của ý thức vào hoạt động của bộ óc thể hiện ở chỗ khi bộ óc bị
tổn thương thì hoạt động ý thức sẽ bị rối loạn. Tuy nhiên, nếu chỉ có bộ óc người mà
không có sự tác động của thế giới bên ngoài để bộ óc phản ánh lại tác động đó thì cũng
không thể có ý thức. Phản ánh là thuộc tính chung, phổ biến của mọi đối tượng vật
chất. Phản ánh là năng lực giữ lại, tái hiện lại của hệ thống vật chất này những đặc điểm
của hệ thống vật chất khác. Các hình thức phản ánh:
+ Phản ánh vật lí, hóa học: Là hình thức phản ánh đơn giản nhất ở giới vô sinh, mang
tính thụ động, chưa có sự định hướng, lựa chọn.
+ Phản ứng sinh học: Là những phản ánh trong sinh giới trong giới hữu sinh, có tính
định hướng, lựa chọn, giúp cho các cơ thể sống thích nghi với môi trường để tồn tại.
+ Phản ánh ý thức: Là hình thức cao nhất của sự phản ánh thế giới hiện thực, ý nghĩa
chỉ nảy sinh ở giai đoạn phát triển cao của thế giới vật chất, cùng với sự xuất hiện của con người.
2. Nguồn gốc xã hội.
Để cho ý thức ra đời, nguồn gốc tự nhiên là rất quan trọng, không thể thiếu được,
song chưa đủ. Điều kiện quyết định, trực tiếp và quan trọng nhất cho sự ra đời của ý
thức là những tiền đề, nguồn gốc xã hội. Đó là lao động, tức là thực tiễn xã hội và ngôn ngữ.
- Lao động: Là quá trình con người sử dụng công cụ tác động vào giới tự nhiên nhằm
thay đổi giới tự nhiên cho phù hợp với nhu cầu của con người; là quá trình trong đó 3
bản thân con người đóng vai trò môi giới, điều tiết sự trao đổi vật chất giữa mình với
giới tự nhiên. Đây cũng là quá trình làm thay đổi cấu trúc cơ thể, đem lại dáng đi thẳng
bằng hai chân, giải phóng hai tay, phát triển khí quan, phát triển bộ não,… của con
người. Trong quá trình lao động, con người tác động vào thế giới khách quan làm cho
thế giới khách quan bộc lộ những thuộc tính, những kết cấu, những quy luật vận động
của nó, biểu hiện thành những hiện tượng nhất định mà con người có thể quan sát được.
Những hiện tượng ấy, thông qua hoạt động của các giác quan, tác động vào bộ óc
người, thông qua hoạt động của bộ não con người, tạo ra khả năng hình thành nên
những tri thức nói riêng và ý thức nói chung.
=> Như vậy, sự ra đời của ý thức chủ yếu do hoạt động cải tạo thế giới khách quan
thông qua quá trình lao động.
- Ngôn ngữ: Là hệ thống tín hiệu vật chất chứa đựng thông tin mang nội dung ý thức.
Không có ngôn ngữ, ý thức không thể tồn tại và thể hiện. Sự ra đời của ngôn ngữ gắn
liền với lao động. Lao động ngay từ đầu đã mang tính tập thể. Mối quan hệ giữa các
thành viên trong lao động nảy sinh ở họ nhu cầu phải có phương tiện để biểu đạt. Nhu
cầu này làm ngôn ngữ nảy sinh và phát triển ngay trong quá trình lao động. Nhờ ngôn
ngữ con người đã không chỉ giao tiếp, trao đổi mà còn khái quát, tổng kết đúc kết thực
tiễn, truyền đạt kinh nghiệm, truyền đạt tư tưởng từ thế hệ này sang thế hệ khác.
=> Như vậy, nguồn gốc trực tiếp quan trọng nhất quyết định sự ra đời và phát triển
của ý thức là lao động. Sau lao động và đồng thời với lao động là ngôn ngữ; đó là hai
chất kích thích chủ yếu làm cho bộ óc vượn dần dần chuyển hóa thành bộ óc người,
khiến cho tâm lý động vật dần dần chuyển hóa thành ý thức.
* Cậu bé rừng xanh được bầy sói nuôi dưỡng: Dina Sanichar được bầy sói nuôi lớn
trong rừng rậm bang Uttar Pradesh của Ấn Độ cho đến khi những người thợ săn phát
hiện vào năm 1867. Dina Sanichar được bầy sói nuôi dưỡng và trong những năm đầu
đời, cậu vẫn nghĩ mình là một loài duy nhất mang hình hài như vậy. Khi được những
người thợ săn phát hiện và đưa về trại trẻ mồ côi, Sanichar đã rất chật vật để thích nghi
với môi trường mới. Theo lời kể của các nhà truyền giáo hành vi của Sanichar giống
với động vật hơn là con người. Cậu bé đi lại bằng bốn chân và rất khó khăn khi đứng
bằng hai chân của mình. Cậu chỉ thích ăn thịt sống và gặm xương để mài răng. Để giao
tiếp với Sanichar rất khó khan vì cậu không nói cùng ngôn ngữ với những người truyền
giáo đang chăm sóc mình. Bất cứ khi nào muốn bày tỏ về bản thân, cậu gầm gừ hoặc
tru lên như một con sói. Mặc dù cuối cùng Sanichar cũng học được cách hiểu các nhà
truyền giáo, cậu không bao giờ học được ngôn ngữ của họ. Qua đó cho thấy ảnh hưởng
của môi trường đã tác động rất nhiều đến ý thức và hành vi con người. 4
II. BẢN CHẤT CỦA Ý THỨC.
Bản chất của ý thức là hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan, là quá trình phản
ánh tích cực, sáng tạo hiện thực khách quan của óc người.
1. Ý thức là hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan.
Ý thức là hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan vì nó nằm trong bộ não con
người. Ý thức là cái phản ánh thế giới khách quan nhưng nó là cái thuộc phạm vi chủ
quan, là thực tại chủ quan. Ý thức không có tính vật chất, nó chỉ là hình ảnh tinh thần,
gắn liền với hoạt động khái quát hóa, trừu tượng hóa, có định hướng, có lựa chọn. ý
thức là sự phản ánh thế giới bởi bộ não con người
VD: Khi bị điểm 8, bạn học sinh giỏi bình thường đều được trên 8 sẽ cảm thấy buồn
và thất vọng nhưng bạn học sinh trung bình thường được dưới 8 sẽ cảm thấy vui sướng, hạnh phúc.
2. Ý thức là sự phản ánh của sáng tạo thế giới.
- Ý thức là sự phản ánh hiện thực khách quan vào trong bộ óc con người, là hình
ảnh chủ quan của thế giới khách quan. Tuy nhiên, không phải cứ thế giới khách quan
tác động vào bộ óc người là tự nhiên trở thành ý thức. Ngược lại, ý thức là sự phản ánh
năng động, sáng tạo về thế giới, do nhu cầu của việc con người cải biến giới tự nhiên
quyết định và được thực hiện thông qua hoạt động lao động.“Ý thức chẳng qua chỉ là
vật chất được đem chuyển vào trong đầu óc con người và được cải biến đi trong đó” (Karl Marx).
- Sự phản ánh sáng tạo của ý thức biểu hiện ở sự cải biến cái vật chất di chuyển vào
trong bộ não con người thành cái tinh thần, thành những hình ảnh tinh thần. Sáng tạo
của ý thức là sáng tạo của phản ánh, dựa trên cơ sở của phản ánh, trong khuôn khổ và
theo tính chất, quy luật của phản ánh.
- Tính sáng tạo của ý thức được thể hiện ra rất phong phú. Trên cơ sở những cái đã
có, ý thức có thể tạo ra tri thức mới về sự vật, có thể tưởng tượng ra những cái không
có trong thực tế. Ý thức có thể tiên đoán, dự báo về tương lai, có thể tạo ra những ảo
tưởng, huyền thoại, những giả thuyết, lý thuyết khoa học hết sức trừu tượng và có tính khái quát cao.
- Ý thức là sự phản ánh hiện thực khách quan vào trong bộ óc người, song đây là sự
phản ánh đặc biệt - phản ánh trong quá trình con người cải tạo thế giới. Quá trình ý
thức là quá trình thống nhất của 3 mặt là: trao đổi thông tin giữa chủ thể và đối tượng
phản ánh. Tiếp đến là mô hình hóa đối tượng trong tư duy dưới dạng hình ảnh tinh thần
và cuối cùng là chuyển mô hình từ tư duy ra hiện thực khách quan. 5
- Ý thức là sự phản ánh sáng tạo, vì phản ánh đó dù trực tiếp hay gián tiếp, dù dưới
dạng ý tưởng thì bao giờ cũng phải dựa vào những tiền đề vật chất, dựa trên hoạt động
thực tiễn nhất định. Sự sáng tạo của ý thức không đối lập, loại trừ, tách rời sự phản ánh
mà ngược lại thống nhất với phản ánh, trên cơ sở của phản ánh.
Phản ánh và sáng tạo là hai mặt thuộc bản chất của ý thức. Ý thức - trong bất kỳ
trường hợp nào cũng là sự phản ánh và chính thực tiễn xã hội của con người tạo ra sự
phản ánh phức tạp, năng động, sáng tạo của bộ óc.
VD: Nhà văn viết một câu chuyện, trong nội dung chính, tác giả có thể sáng tạo ra
nhiều tình tiết khác nhau trong câu chuyện.
3. Ý thức là sản phẩm lịch sử của sự phát triển xã hội nên về bản chất là có tính xã hội.
Ý thức không phải là một hiện tượng tự nhiên thuần túy mà là một hiện tượng xã
hội. Ý thức bắt nguồn từ thực tiễn lịch sử - xã hội, phản ánh những quan hệ xã hội khách quan.
Theo Lênin thì nếu coi tư tưởng (ý thức) là có tính vật chất tức là một bước sai lầm
đến chỗ lẫn lộn chủ nghĩa duy vật với chủ nghĩa duy tâm.
Để thúc đẩy quá trình này, CN cần sáng tạo đồng bộ nội dung, phương pháp, phương
tiện, công cụ phù hợp để tác động vào hiện thực khách quan nhằm thực hiện mục đích của mình.
VD: Trước khi lên tàu vũ trụ bay lên mặt trăng, con người đã có rất nhiều thông tin
về mặt trăng. Sau khi đặt chân lên mặt trăng, con người sẽ khám phá những thông tin
mới và loại bỏ những thông tin sai lầm về mặt trăng.
⇒ Ý thức là hình thức phản ánh cao nhất riêng có của óc người về hiện thực khách
quan trên cơ sở thực tiễn Xã hội - Lịch sử.
III. KẾT CẤU CỦA Ý THỨC.
1. Các lớp cấu trúc của ý thức.
- Tri thức: Muốn cải tạo được sự vật trước hết con người phải có sự hiểu biết sâu sắc
về sự vật đó. Do đó, nội dung và phương thức tồn tại cơ bản của ý thức phải là tri thức.
Ý thức mà không bao hàm tri thức, không dựa vào tri thức thì ý thức đó là một sự trừu
tượng trống rỗng, không giúp ích gì cho con người trong hoạt động thực tiễn. Theo
C.Mác, “Phương thức tồn tại của ý thức và của một cái gì đó đối với ý thức là tri thức. .
Cho nên một cái gì đó nảy sinh ra đối với ý thức, chừng nào ý thức biết cái đó”. Tri
thức có nhiều lĩnh vực khác nhau như: tri thức về tự nhiên, xã hội, con người; và có
nhiều cấp độ khác nhau như: trí thức cảm tính và tri thức lý tính; tri thức kinh nghiệm
và tri thức lý luận; tri thức tiền khoa học và tri thức khoa học,v.v. Tích cực tìm hiểu, 6
tích lũy tri thức về thế giới xung quanh là yêu cầu thường xuyên của con người trên
bước đường cải tạo thế giới. Tuy nhiên, không thể đồng nhất ý thức với sự hiểu biết tri thức về sự vật.
VD: Tri thức hiện là những tri thức thể hiện qua chữ viết, hình ảnh, âm thanh, ký
hiệu…dễ dàng truyền đạt bằng hình thức giáo dục như sách giáo khoa, giáo trình đại học, nhạc lý…
- Tri thức ẩn (tri thức kinh nghiệm) là những điều được thu nhận thông qua trải
nghiệm thực tế, rất khó để truyền đạt và chuyển giao mà người học phải tự trải nghiệm,
tập luyện ở một mức độ nhất định.
VD: Trong bóng rổ chuyên nghiệp, các cầu thủ có cảm nhận rất tốt về không gian
sân bóng, ý định di chuyển, ném bóng, chuyền bóng của đối phương…tất cả những
điều đó không thể mã hóa thành văn bản hay tình huống cụ thể mà chỉ có thể tăng
cường cảm giác thông qua luyện tập và thi đấu.
- Tình cảm: cùng với quá trình nhận thức sự vật trong ý thức còn nảy sinh thái độ
con người đối với đối tượng phản ánh. Tình cảm là một hình thái đặc biệt của sự phản
ánh tồn tại, nó phản ánh quan hệ giữa người với người là quan hệ giữa người với thế
giới khách quan. Tình cảm tham gia và trở thành một trong những động lực quan trọng
của hoạt động con người. Sự hòa quyện giữa trí thức với tình cảm và trải nghiệm thực
tiễn đã tạo nên tính bền vững của niềm tin thôi thúc con người hoạt động vươn lên trong mọi hoàn cảnh.
VD: Tình yêu quê hương, yêu Tổ quốc, yêu gia đình...; sự tức giận, sự ngạc nhiên,
sự xấu hổ…Đâu phải mới sinh ra đứa con đã biết yêu cha mẹ, phải trải qua thời gian
dài được cha mẹ chăm sóc thì đứa con mới hình thành tình cảm với cha mẹ, tình cảm
này khó mất đi cũng giống như vô thức vậy.
-Ý chí: Nhận thức không phải là một quá trình dễ dàng, phẳng lặng mà là một quá
trình phản ánh những khó khăn gian, khổ thường gặp phải trên mỗi bước đường đi tới
chân lý. Muốn vượt qua khó khăn để đạt tới mục đích chủ thể nhận thức phải có ý chí
quyết tâm cao. Ý chí chính là những cố gắng, nỗ lực, khả năng huy động mọi tiềm năng
trong mỗi con người và hoạt động để có thể vượt qua mọi trở ngại, đạt mục đích đề ra.
Nhận rõ vị trí vai trò của các nhân tố cấu thành ý thức và mối quan hệ giữa các yếu tố
đó, đòi hỏi mỗi chủ thể phải luôn tích cực học tập, rèn luyện bồi dưỡng nâng cao tri
thức, tình cảm, niềm tin, ý chí trong nhận thức và cải tạo thế giới. VD:
+ Helen bị mù, câm điếc nhưng vẫn tự học được 5 ngoại ngữ và xuất bản được nhiều
cuốn sách và đi diễn thuyết khắp nơi. 7
+ Đêmôxten bị ngọng nhưng ông tự mình luyện giọng và sau này trở thành một nhà
hùng biện nổi tiếng ở Hy Lạp.
2. Các cấp độ của ý thức.
- Tự ý thức: Là ý thức hướng về nhận thức bản thân mình trong mối quan hệ với ý
thức về thế giới bên ngoài. Đây là một thành tố rất quan trọng của ý thức, đánh dấu
trình độ phát triển của ý thức. Trong quá trình phản ánh thế giới khách quan, con người
cũng tự phân biệt, tách mình, đối lập mình với thế giới đó để đánh giá mình thông qua
các mối quan hệ. Nhờ vậy, con người tự ý thức về bản thân mình như một thực thể hoạt
động có cảm giác, đang tư duy; tự đánh giá năng lực và trình độ hiểu biết của bản thân
về thế giới, cũng như các quan điểm, tư tưởng, tình cảm, nguyện vọng, hành vi, đạo
đức và lợi ích của mình. Qua đó, xác định đúng vị trí, điểm mạnh, điểm yếu của mình,
ý thức về mình như một cá nhân - chủ thể có ý thức đầy đủ về hành động của mình;
luôn làm chủ bản thân, chủ động điều chỉnh hành vi của mình trong tác động qua lại
với thế giới khách quan.
Tự ý thức không chỉ là tự ý thức của cá nhân, mà còn là tự ý thức của các nhóm xã
hội khác nhau (như: một tập thể, một giai cấp, một dân tộc, thậm chí cả xã hội) về địa
vị của họ trong hệ thống quan hệ sản xuất, về lợi ích và lý tưởng của mình. Chủ nghĩa
duy tâm, phản động coi tự ý thức là một thực thể độc lập, tự nó, sẵn có trong cá nhân,
là sự tự hướng về bản thân mình, khẳng định cái tôi, tách rời khỏi những quan hệ xã
hội, trở thành cái tôi thuần túy, trừu tượng trống rỗng. Thực chất của những quan điểm
đó là nhằm phủ định bản chất xã hội của ý thức biện hộ cho chủ nghĩa cá nhân vị kỷ,
cực đoan của thế giới phản động hiện nay.
VD: Chị T giết người mà không bị ai phát hiện, tuy nhiên chị T lại tự mình đi đầu
thú. Ở đây chị T đã tự ý thức về hành vi sai trái của mình và tự ý đi đầu thú để chịu
trách nhiệm trước pháp luật.
- Tiềm thức: là những hoạt động tâm lý diễn ra bên ngoài sự kiểm soát của ý thức.
Về thực chất, tiềm thức là những tri thức mà chủ thể có từ trước gần như đã thành bản
năng, kỹ năng nằm trong tầng sâu ý thức của chủ thể là ý thức dưới dạng tiềm tàng. Do
đó, tiềm thức có thể tự động gây ra các hoạt động tâm lý và nhận thức mà chủ thể không
cần kiểm soát chúng một cách trực tiếp tiềm thức có vai trò quan trọng trong đời sống
và tư duy khoa học. Tiềm thức gắn bó rất chặt chẽ với loại hình tư duy chính xác được
lặp lại nhiều lần. Khi tiềm thức hoạt động sẽ góp phần giảm bớt sự quá tải của đầu óc
khi công việc lặp lại nhiều lần mà vẫn đảm bảo độ chính xác cao và chặt chẽ cần thiết của tư duy khoa học. 8
VD: Giả sử chúng ta viết chữ A lên bảng (phần ý thức của chúng ta quyết định viết
chữ A lên bảng) thế nhưng câu hỏi đặt ra là làm sao chúng ta viết được chữ A đó lên
bảng. Có phải phần còn lại là do tiềm thức của chúng ta viết lên bảng không? Một ví
dụ khác nữa là khi chúng ta tập đi xe đạp. Có phải chúng ta ngã liên tục thế nhưng khi
biết đi rồi chúng ta cứ vậy lên xe và đi. Câu hỏi ở đây là tại sao khi biết đi rồi chúng ta
lại có thể leo lên xe và đi mà không cảm thấy lo lắng mình có thể ngã? Cái gì giúp
chúng ta giữ được cân bằng khi đi xe mà không cần phải suy nghĩ? Đó chắc chắn là
tiềm thức đã học được cách đi xe. Cần phải nói thêm rằng khi chúng ta đi xe gặp phải
những tình huống khó xử và cảm thấy lo lăng (ý thức của bạn) là bởi vì tiềm thức của
bạn chưa học được cách xử lý trong tình huống đó vì nó rất ít xảy ra. Nhưng nếu như
tiềm thức của bạn học được cách xử lý nó rồi thì trước những tình huống đó chúng ta
không còn cảm giác này nữa.
- Vô thức: là những hiện tượng tâm lý không phải do lý trí điều khiển, nằm ngoài
phạm vi của lý trí mà ý thức không kiểm soát được trong một lúc nào đó. Chúng điều
khiển những hành vi thuộc về bản năng, thói quen...Trong con người thông qua phản
xạ không điều kiện. Con người là một thực thể xã hội có ý thức, nhưng không phải mọi
hành vi của con người đều do lý trí chỉ đạo. Trong đời sống của con người, có những
hành vi do bản năng chi phối hoặc do những động tác được lặp đi lặp lại nhiều lần trở
thành thói quen đến mức chúng tự động xảy ra ngay cả khi không có sự điều khiển của
lý trí. Vô thức là những trạng thái tâm lý ở tầng sâu điều chỉnh sự suy nghĩ, hành vi,
thái độ ứng xử của con người mà chưa có sự can thiệp của lý trí.
Vô thức biểu hiện ra thành phần hiện tượng khác nhau như bản năng ham muốn,
giấc mơ, bị thôi miên, lỡ lời, nói nhịu,. . Mỗi hiện tượng vô thức mỗi hiện tượng vô
thức có vùng hoạt động riêng có vai trò, chức năng riêng, song tất cả đều có một chức
năng chung là giải tỏa những ức chế trong hoạt động thần kinh vượt ngưỡng, nhất là
những ham muốn bản năng không được phép bộc lộ ra và thực hiện trong quy tắc của
đời sống cộng đồng. Nó góp phần quan trọng trong việc lập lại thế cân bằng trong hoạt
động tinh thần của con người mà không cần tới trạng thái ức chế quá mức như ấm ức,
giày vò mặc cảm, “libiđô”... Nghiên cứu những hiện tượng vô thức giúp con người
luôn làm chủ đời sống nội tâm, có phương pháp ức chế đúng quy luật những trạng thái ức chế của tinh thần.
Vô thức là hoạt động tầng sâu của tâm lý - ý thức, có vai trò to lớn trong đời sống
và hoạt động của con người. Trong một số hoàn cảnh, vô thức giúp cho con người giảm
bớt sự căng thẳng không cần thiết của ý thức do thần kinh làm việc quá tải. Nhờ vô
thức mà những chuẩn mực con người đặt ra được thực hiện một cách tự nhiên, không 9
có sự khiên cưỡng. Vô thức có ý nghĩa quan trọng trong giáo dục thế hệ trẻ, trong hoạt
động khoa học và nghệ thuật. Tuy nhiên, không nên cường điệu hóa, tuyệt đối hóa và
thần bí hóa vô thức. Vô thức là vô thức trong con người xã hội có ý thức, nên vô thức
không thể là hiện tượng cô lập, tách rời với ý thức và thế giới bên ngoài, càng không
thể là cái quyết định ý thức cũng như hành vi của con người. Trong hoạt động con
người, ý thức vẫn giữ vai trò chủ đạo quyết định hành vi của cá nhân. Nhờ có ý thức
điều khiển các hiện tượng vô thức được điều chỉnh hướng tới các giá trị chân, thiện,
mỹ. Vô thức chỉ là một mắt khâu trong cuộc sống có ý thức của con người.
Hiện tượng quên và sực nhớ:
- Quên là con người không tái hiện lại được các thông tin cũ vào thời điểm cần thiết.
Ví dụ: quên kiến thức đã học của một năm trước.
- Sực nhớ là khả năng bất chợt tái hiện được một lượng thông tin nào đó.
Ví dụ: trên đường đi sực nhớ mình không theo sách vở khi đi học…
3. Vấn đề trí tuệ nhân tạo.
Ngày nay, khoa học và công nghệ hiện đại đã có những bước phát triển mạnh mẽ,
sản xuất ra nhiều loại máy móc không ngừng có khả năng thay thế lao động cơ bắp mà
còn có thể thay thế cho một phần lao động trí óc của con người. Chẳng hạn máy tính
điện tử, “người máy thông minh”, “trí tuệ nhân tạo” . Song, điều đó không có nghĩa là
máy móc cũng có ý thức như con người. Ý thức và máy tính điện tử là hai quá trình
khác nhau về bản chất. “Người máy thông minh” thực chất chỉ là một quá trình vật lý.
Hệ thống thao tác của nó đã được con người lập trình phỏng theo một số thao tác của
tư duy con người. Máy móc chỉ là những kết cấu kỹ thuật do con người sáng tạo ra.
Còn con người là một thực tế xã hội năng động được hình thành trong tiến trình lịch sử
tiến hóa lâu dài của giới tự nhiên và thực tiễn xã hội. Máy không thể sáng tạo lại hiện
thực dưới dạng tinh thần trong bản thân của nó. Năng lực đó chỉ có con người có ý thức
mới thực hiện được và qua đó lập trình cho máy móc thực hiện. Sự phản ánh sáng tạo,
tái tạo lại hiện thực chỉ có ý thức của con người với tư cách là một thực thể xã hội, hoạt
động cải tạo thế giới khách quan ý thức mang bản chất xã hội. Do vậy, dù máy móc có
hiện đại đến đâu chăng nữa cũng không thể hoàn thiện được bộ óc con người.
Ý thức là hình thức phản ánh cao nhất chỉ có ở bộ óc con người về hiện thực khách
quan trên cơ sở thực tiễn xã hội - lịch sử. Sự hoàn thiện trong cấu trúc vật chất của bộ
óc con người và hoạt động thực tiễn xã hội phong phú đã tạo ra những tiền đề vật chất
đầy đủ cho đặc tính phản ánh - ý thức người phát triển, ngày càng xâm nhập vào tầng
sâu của thế giới hiện thực, gắn nhận thức với cải tạo thế giới. Thực tiễn xã hội là động
lực trực tiếp to lớn thúc đẩy ý thức hình thành và phát triển, đáp ứng nhu cầu của xã 10
hội ngày càng phong phú, đa dạng. Ý thức nhân đôi thế giới trong tinh thần, nhờ đó
con người sáng tạo ra “giới tự nhiên thứ hai” in đậm dấu ấn của con người. Con người
ngày càng sáng tạo ra các thế hệ “người máy thông minh” cao cấp hơn giúp con người
khắc phục được nhiều mặt hạn chế của mình.
Con người là một thực thể tự nhiên - xã hội có ý thức, chủ thể sáng tạo ra mọi giá trị
vật chất và tinh thần, quyết định sự tồn tại và phát triển của xã hội. Khẳng định vai trò
to lớn của ý thức trong đời sống hiện thực của con người về thực chất là khẳng định
vai trò của con người - chủ thể mang ý thức đó. Cần có thái độ đúng với con người,
quan tâm chăm lo phát triển con người toàn diện về cả thể chất và tinh thần. Đặc biệt
quan tâm bồi dưỡng thế hệ trẻ có kiến thức, nắm vững khoa học công nghệ hiện đại có
tình cảm cách mạng trong sáng, ý chí vươn lên xây dựng đất nước giàu mạnh.
Cần nắm vững nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác – Lênin: “Ý thức không bao giờ
có thể là cái gì khác hơn là sự tồn tại được ý thức và tồn tại của con người là quá trình
đời sống hiện thực của con người” để vận dụng vào thực tiễn cách mạng Việt Nam hiện
nay. Muốn ý thức xã hội chủ nghĩa thực chất giữ vai trò chủ đạo trong đời sống tinh
thần nhân dân, phát huy được tính tích cực xã hội của mỗi người trong sự nghiệp xây
dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa hiện nay cần quán triệt tốt đường lối đổi mới
của Đảng, lấy đổi mới kinh tế làm trung tâm. Xây dựng nền kinh tế thị trường định
hướng xã hội chủ nghĩa, tạo ra nền tảng vật chất vững chắc để xây dựng đời sống văn
hóa tinh thần phong phú cho nhân dân có giác ngộ xã hội chủ nghĩa, có văn hóa, khoa
học kỹ thuật, tri thức phát triển. Xây dựng nhân tố con người thật sự là nguồn lực phát
triển đất nước bền vững. Chăm lo bồi dưỡng phát triển nguồn lực có chất lượng cao,
phẩm chất nhân cách phát triển toàn diện; xây dựng đội ngũ cán bộ có đủ đức, đủ tài
để hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ. Để làm được điều đó, cần gắn với quá trình xây dựng
mọi mặt, tạo môi trường thuận lợi cho xây dựng con người, phát huy cao nhất tính tích
cực xã hội, rèn luyện bản lĩnh, nâng cao trình độ khoa học, trình độ chuyên môn của mỗi người. 11 Chương 2:
GIÁ TRỊ QUAN NIỆM VỀ Ý THỨC CỦA TRIẾT HỌC MÁC – LÊNIN ĐỐI
VỚI THỰC TIỄN: SỰ CHỈ ĐẠO CỦA CÁC BAN NGÀNH ĐỐI VỚI HOẠT
ĐỘNG PHÒNG CHỐNG DỊCH COVID- 19 LẦN THỨ 4.
I. DỊCH COVID- 19 BÙNG PHÁT Ở VIỆT NAM LẦN THỨ 4.
1. Tình hình dịch Covid- 19 bùng phát ở Việt Nam lần thứ 4.
- Đại dịch covid 19 đã gây ra nhiều tổn thất cho không chỉ đất nước Việt Nam mà
còn trên toàn thế giới. Do đó, vấn đề kiểm soát khủng hoảng trong phát triển xã hội là
một trong những vấn đề cấp bách cần được giải quyết.
- Đợt dịch thứ 4 được tính từ ngày 27/4, khi Việt Nam ghi nhận ca bệnh là nhân viên
lễ tân của khách sạn Như Nguyệt 2 (Yên Bái), bị lây COVID- 19 trong khu cách ly.
- Dịch đã tấn công vào khu kinh tế trọng tâm phía Bắc (Hà Nội, Bắc Ninh, Hưng
Yên…) và vùng kinh tế trọng điểm phía Nam (TPHCM, Bình Dương, Bình Phước…).
Diễn biến dịch phức tạp, tác động sâu sắc tới đời sống kinh tế xã hội và đời sống của nhân dân.
- Dịch bệnh Covid- 19 đã ảnh hưởng đến việc tổ chức dạy học và hoàn thành chương
trình năm học 2020-2021. Nhiều thời gian trong năm học, học sinh đã phải tạm dừng
việc học trực tiếp trên lớp và chuyển sang hình thức học trực tuyến.
- Hiện tình hình dịch cơ bản được kiểm soát trên phạm vi toàn quốc, nhưng vẫn có
nhiều tỉnh, thành có số lượng ca mắc cao như: TPHCM, An Giang, Đắk Lắk, Cần Thơ, Tiền Giang.
Số liệu cụ thể như sau: - Về người:
+ Tính đến ngày 15/11 Số ca nhiễm mới ghi nhận trong nước là 1.030.096 ca.
+ Các địa phương ghi nhận số nhiễm tích lũy cao trong đợt dịch này: TP.HCM
(448.593), Bình Dương (244.113), Đồng Nai (78.631), Long An (36.672), Tiền Giang (21.280).
+ Số bệnh nhân nặng đang điều trị là 3.950 ca, trong đó:
● Thở ô xy qua mặt nạ: 2.718
● Thở ô xy dòng cao HFNC: 739
● Thở máy không xâm lấn: 112
● Thở máy xâm lấn: 368 ● ECMO: 13
+ Tổng số ca tử vong do COVID- 19 tại Việt Nam tính đến nay là 23.183 ca, chiếm
tỉ lệ 2,2% so với tổng số ca nhiễm. 12 - Về kinh tế:
+ Đợt dịch lần thứ 4 này đã ảnh hưởng nghiêm trọng đến nền kinh tế trên một số
lĩnh vực. GDP 9 tháng năm 2021 chỉ tăng 1,42%, quý III/2021 giảm 6,17% so với cùng
kỳ, ảnh hưởng nghiêm trọng tới mọi lĩnh vực của nền kinh tế, nhất là các địa phương trọng điểm kinh tế.
+ Thu nhập, việc làm bị ảnh hưởng nghiêm trọng, nhất là đối với người lao động tại
các khu công nghiệp, người dân sống phụ thuộc các nghề dịch vụ. Tỷ lệ thất nghiệp
riêng trong quý III/2021 là 3,72%, thiếu việc làm trong độ tuổi lao động là 4,39%, cao
nhất từ quý I/2020 đến nay.
VD: Thành phố Hồ Chí Minh: Đợt dịch bùng phát lần thứ 4, gây nên sự sụt giảm
nghiêm trọng ở hầu hết các lĩnh vực kinh tế, “sốc” tiêu cực ở cả tổng cung lẫn tổng
cầu. 9 tháng của năm 2021, tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng
đạt hơn 363.300 tỷ đồng, giảm 17,4% so với cùng kỳ, giảm nhiều nhất là ngành lưu
trú, ăn uống (30,5%) và lữ hành (56,2%). Tổng vốn đầu tư xã hội đạt hơn 220.300 tỷ
đồng, giảm hơn 29% so cùng kỳ.
2. Những hoạt động tích cực trong chiến dịch phòng chống dịch. * Về phía chính phủ:
- Ban Chỉ đạo Quốc gia và các địa phương đã kế thừa các nguyên tắc, biện pháp
được áp dụng trong các đợt dịch trước; đúc kết các bài học kinh nghiệm từ thực tiễn,
kinh nghiệm của thế giới và ý kiến của các chuyên gia, nhà khoa học, để bổ sung và
hình thành công thức trong phòng, chống dịch: 5K + vaccine, thuốc điều trị + công
nghệ + ý thức của nhân dân với các trụ cột: Xét nghiệm, cách ly, điều trị; đồng thời kết
hợp hài hòa giữa phòng ngự và tấn công.
Xây dựng và quyết liệt thực hiện chiến lược vaccine, thành lập Quỹ vaccine (huy
động được 8.692 tỷ đồng), thành lập Tổ ngoại giao vaccine, tổ chức Chiến dịch tiêm
chủng vaccine lớn nhất trong lịch sử.
- Thực hiện đồng bộ xét nghiệm, chăm sóc, điều trị để giảm tối đa tử vong:
+ Về xét nghiệm: Các địa phương chỉ đạo xét nghiệm “thần tốc” các đối tượng có
nguy cơ lây nhiễm cao trên địa bàn nhằm phát hiện F0 nhanh nhất phục vụ công tác
truy vết và phân loại điều trị ngay; phải kiểm soát, tuyệt đối không bỏ sót, không để F0
tiếp tục tiếp xúc, di chuyển làm lây lan dịch bệnh ra cộng đồng.
+ Về sàng lọc, phân loại người nhiễm và điều trị bệnh nhân COVID- 19: Các địa
phương, bộ ngành chỉ đạo cơ quan y tế, cơ sở y tế thuộc thẩm quyền tổ chức sàng lọc,
phân loại người nhiễm theo tình trạng, diễn biến bệnh lý để có biện pháp theo dõi, chăm
sóc, điều trị phù hợp, hiệu quả. Duy trì hoạt động của hệ thống khám bệnh, chữa bệnh 13
an toàn. Bảo đảm hệ thống thường trực cấp cứu, xe cứu thương, oxy y tế, máy thở và
các trang thiết bị y tế thiết yếu phục vụ phòng, chống dịch bệnh, cấp cứu, điều trị người bệnh.
- Chính phủ huy động tổng lực hỗ trợ các địa phương chống dịch VD:
+ Có 23 tỉnh, thành phố (trong số 53 tỉnh báo cáo) đã thành lập 2.883 trạm y tế lưu
động để quản lý các trường hợp nhiễm và các ca F0 sau xuất viện tiếp tục được cách
ly, theo dõi tại nhà. TPHCM đã thành lập 531 trạm y tế lưu động. Có 256.137 tổ
COVID- 19 cộng đồng tại 47 tỉnh, thành phố. Bộ Y tế đã thành lập 11 trung tâm hồi
sức tích cực. Cả nước có 9.229 giường ICU tại 46 tỉnh, thành phố.
+ Ngành y tế đã huy động 19.787 cán bộ y tế (3.183 bác sĩ, 6.340 điều dưỡng, 227
kỹ thuật y, 847 giảng viên, 7.841 sinh viên và 1.349 cán bộ y tế khác). Lực lượng quân
đội đã huy động 133.114 cán bộ, chiến sĩ (bộ đội: 33.459, dân quân tự vệ: 99.655);
riêng lực lượng quân y đã tăng cường 9.192 đồng chí (5.593 cán bộ, nhân viên quân y
và 3.599 chuyên môn khác). Lực lượng công an đã huy động 126.000 lượt cán bộ, chiến sĩ.
- Ban hành các chỉ thị 15, 16 và 19 về các biện pháp cấp bách phòng, chống dịch
COVID- 19: Quy định về việc tập trung đông người, khoảng cách an toàn tối thiểu,
hoạt động của các cơ sở kinh doanh, vận tải…
- Phân thành 4 vùng với 4 màu: vùng xanh, vùng vàng, vùng đỏ và vùng cam, thiết
lập mức độ và biện pháp thực hiện giãn cách phù hợp, có lộ trình cụ thể để chuyển
“vùng vàng” thành “vùng xanh”, “vùng cam” thành “vùng vàng” và khoanh chặt, thu
hẹp “vùng đỏ”, cũng như tiến hành những biện pháp phục hồi kinh tế tại những vùng an toàn.
→ Quan điểm của Chính phủ là bảo đảm mục tiêu kép nhưng đặt sức khỏe, tính
mạng người dân lên trên hết, trước hết; các giải pháp phòng, chống dịch phải dựa trên
cơ sở khoa học, phù hợp với thực tiễn và điều kiện của đất nước; đảm bảo người dân
được bảo vệ tốt nhất trước dịch bệnh, được tiếp cận dịch vụ y tế sớm nhất, nhanh nhất,
ngay từ cơ sở; nhưng không gây ách tắc cho lưu thông, sản xuất.
- Tổ chức tuyên truyền, giáo dục ý thức cho người dân về mức độ nguy hiểm của
dịch và các biện pháp cần làm để phòng chống.
- Xử lý nghiêm các vi phạm, kể cả xử lý hình sự theo quy định của pháp luật đối với
mọi hành vi không tuân thủ, cản trở, chống đối việc thực hiện các quy định, biện pháp
phòng, chống dịch bệnh của cơ quan có thẩm quyền. 14
* Về phía người dân: Trước diễn biến phức tạp của dịch bệnh Covid- 19, cùng với
sự nỗ lực của các cấp, các ngành trong công tác phòng, chống dịch thì ý thức của mỗi
người dân trong công tác phòng, chống dịch là thực sự quan trọng và cần thiết.
- Thực hiện tốt thông điệp 5K theo khuyến cáo của Bộ Y tế: “Khẩu trang - Khử
khuẩn - Khoảng cách - Không tập trung - Khai báo y tế”
→ Trong bối cảnh dịch bệnh vẫn diễn ra hết sức phức tạp, nguyên tắc 5K là biện
pháp hiệu quả nhất để mọi người an toàn trước đại dịch, vừa bảo vệ bản thân khỏi dịch
bệnh, đồng thời cũng góp phần vào việc khống chế dịch bệnh trong cộng đồng. Dù đã
tiêm vaccine hay chưa, dù ở bất cứ khu vực nào, thì thực hiện nguyên tắc 5K vẫn là
điều hết sức thiết yếu để hướng đến cuộc sống thường mới.
- Mỗi chúng ta không chỉ thực hiện tốt thông điệp 5K theo khuyến cáo của Bộ Y tế,
mà mỗi người dân hãy là một tuyên truyền viên tích cực, nhắc nhở những người xung
quanh cùng thực hiện các biện pháp bảo vệ sức khỏe cũng như các biện pháp phòng,
chống dịch, sẵn sàng nhắc nhở ngay khi có người xung quanh chưa thực hiện nghiêm
các biện pháp phòng, chống dịch.
- Người dân tiếp cận, tự thực hiện test nhanh: Khi phát hiện kết quả xét nghiệm
dương tính với test nhanh kháng nguyên SARSCoV-2, người dân cần bình tĩnh, đeo
khẩu trang, không tiếp xúc với người khác, tự cách ly tại nhà; đồng thời gọi điện ngay
thông báo cho tổ COVID- 19 cộng đồng, y tế địa phương (Trạm Y tế phường/xã) hoặc
số điện thoại đường dây nóng 18009275 - 0962.956.316 để được tư vấn, hướng dẫn
theo quy định. Tuyệt đối không tự ý di chuyển ra khỏi nơi cư trú khi phát hiện bản thân
có kết quả dương tính bằng test nhanh kháng nguyên SARS- CoV- 2. 15
→ Việc tự xét nghiệm Covid tại nhà cũng mang lại khá nhiều lợi ích, hỗ trợ bản thân
mỗi người và gia đình trong giai đoạn dịch bệnh có nguy cơ bùng phát ở diện rộng.Tuy
nhiên cũng nâng cao cảnh giác với các bộ kit test được chào bán trôi nổi trên thị trường
dưới mác “xách tay” Nhật, Mỹ, Hàn,. .không rõ nguồn gốc, dẫn đến cho kết quả sai,
điều này sẽ tiềm ẩn nguy cơ phát tán và lây lan dịch bệnh.
-Theo dõi sức khỏe hàng ngày,cảnh giác với các triệu chứng sốt, ho, hụt hơi hoặc
các triệu chứng khác của COVID- 19.
→ Kịp thời phát hiện và chủ động ngăn chặn việc lây lan dịch bệnh cho cộng đồng.
- Vận động quyên góp ủng hộ phòng, chống dịch COVID- 19 với phương châm
“người có của góp của, người có công góp công; có nhiều góp nhiều, có ít góp ít”.
→ Ý thức và hành động của một số cá nhân có thể tác động không nhỏ đến cả xã
hội, không ai có thể riêng mình sống yên ổn nếu như cộng đồng còn chưa an toàn. Chỉ
khi mỗi người dân có ý thức chấp hành các quy định về phòng, chống dịch; có tinh
thần trách nhiệm chung sức, đồng lòng cùng Nhà nước chống dịch, mới tạo nên sự
đoàn kết thống nhất, tạo “lá chắn” vững chắc để ngăn chặn dịch bệnh lây lan, sớm đưa
xã hội trở lại trạng thái bình thường.
3. Những ảnh hưởng do dịch Covid- 19 gây ra:
- Đối với con người:
+ Về sức khỏe: Có thể thấy, làn sóng covid đang đe dọa nghiêm trọng đến sức khỏe
người dân , cướp đi mạng sống của hàng triệu người trên thế giới. Đáng sợ hơn, người
nhiễm Covid- 19 thường có diễn biến thất thường và phức tạp. Ở giai đoạn đầu, bệnh
diễn biến chậm và âm thầm, nhưng sau đó rất nhiều ca bệnh đột ngột diễn biến nặng,
phải thở oxy, thở máy hoặc hỗ trợ tuần hoàn hô hấp. .Ngoài ra, nó còn khiến rối loạn
chức năng thần kinh, vấn đề trí nhớ; trầm cảm, lo lắng, tâm trạng thay đổi. Đặc biệt,
các biến chủng của Covid- 19 cực kỳ nguy hiểm như: viêm phổi cấp, hội chứng suy hô
hấp cấp tính (ARDS), tổn thương gan, tim, thận cấp tính. .có thể cướp đi mạng sống con người.
VD: Theo kết quả báo cáo, trên 138 bệnh nhân nhập viện do Covid- 19 của tạp chí
Y khoa Hoa Kỳ, có 16,7% bệnh nhân xuất hiện chứng rối loạn nhịp tim; 7,2% bệnh
nhân tổn thương tim cấp tính cùng một số biến chứng khác của Covid- 19. Covid- 19
đang khiến gánh nặng tim mạch – chuyển hóa cao hơn, biến chứng của nó có thể xuất
hiện ở tim đồng thời làm nhiễm độc các cơ quan nội tạng khác do độc tố của virus gây:
tổn thương gan – thận cấp tính, sốc nhiễm trùng, đông máu rải rác nội mạch, hội chứng viêm đa hệ ở trẻ em. 16
+ Về đời sống: Đại dịch Covid- 19 cũng ảnh hưởng lớn đến đời sống hàng ngày của
người lao động và hộ gia đình. Nó gây ra nạn thất nghiệp, hàng triệu người lao động
không có việc làm, nghỉ ở nhà và không có thu nhập để chi trả cuộc sống sinh hoạt nên
các gia đình nghèo lại ngày càng nghèo; học sinh, sinh viên không được đến trường
học tập trực tiếp, hạn chế các hoạt động ngoại khóa. Đặc biệt, đối với học sinh lớp 1
và học sinh cuối cấp thường gặp hạn chế trong việc tiếp thu kiến thức khi học trực
tuyến. Tình hình của các doanh nghiệp cũng xấu đi do họ phải đóng cửa, gánh chịu đứt
gãy chuỗi cung ứng, không thể giữ lao động làm việc tại cơ sở do phải cách ly ở nhà.
Ngoài ra, đại dịch Covid- 19 còn tăng thêm áp lực về thời gian cho nữ giới phải chăm
sóc con cái nhiều hơn khi chúng không thể đến trường học.
VD: Theo đánh giá của Ngân hàng Thế giới tại Việt Nam, trong tháng 9 năm 2021
cả nước có tới hơn 1,3 triệu người lao động thất nghiệp; 1,3 triệu lao động đã phải về
quê do không có việc làm và cuộc sống khó khăn. Hay theo số liệu Tổng cục Thống
kê, trong quý II năm 2021, khoảng 12,8 triệu người từ 15 tuổi trở lên đã bị ảnh hưởng
tiêu cực, bị mất việc, tạm nghỉ, làm việc luân phiên, giảm thu nhập. Quy mô lực lượng
lao động giảm 0,7% trong khi có thêm 1,6% người lao động thất nghiệp hoặc thiếu việc
làm trong quý II năm 2020 so với năm 2019. - Đối với xã hội:
Dịch Covid- 19 đã và đang tác động đến nhiều mặt của đời sống xã hội:
Từ những tháng đầu năm 2020 đến nay, các địa phương ở các tỉnh đều dừng hoặc
giảm các hoạt động lễ hội, đặc biệt các lễ hội có số lượng lớn người dân và du khách tham gia.
+ Dừng tổ chức các hoạt động văn hóa, văn nghệ, lễ kỷ niệm, ngày truyền thống, các
chương trình vui chơi giải trí tập trung đông người.
+ Dịch vụ ăn uống và lưu trú bị tác động mạnh mẽ.
+ Hàng loạt các trường học phải đóng cửa chuyển sang học trực tuyến gây khó khăn
cho nhiều học sinh đặc biệt là các bạn ở vùng khó khăn chưa có mạng internet, thi cử cũng trở nên khó khăn.
+ Hệ thống y tế bị quá tải, thiếu nhân lực, thiếu thiết bị phòng chống. .
Ví dụ: Trong 6 tháng đầu năm, khách quốc tế đến Việt Nam giảm 97,6% so với cùng
kỳ năm trước, ước đạt 88,2 nghìn lượt người và giảm ở tất cả các loại hình vận tải.
Doanh thu dịch vụ ăn uống và lưu trú sụt giảm 13% trong năm 2020 và 2,7% so với
cùng kỳ trong 6 tháng đầu năm 2021. Nhiều cơ sở sau thời gian hoạt động cầm chừng phải đóng cửa. - Đối với kinh tế: 17
Mặc dù Việt Nam được xem là quốc gia có nền kinh tế vững chắc nhất ASEAN hiện
nay, nhưng đại dịch Covid- 19 phần nào ảnh hưởng tới mức tăng trưởng của Việt Nam.
Nó khiến mức tăng trưởng của nước ta sụt giảm do nhiều nhà sản xuất phải tạm ngưng
hoạt động, những doanh nghiệp khác bị khan hiếm nhân công và khả năng sản xuất bị
hạn chế. Vị thế trung tâm sản xuất bị lung lay, ảnh hưởng đến nguồn cung thế giới, làm
suy yếu tiêu dùng và đầu tư...
Ví dụ: Trong 6 tháng đầu năm 2021, tốc độ tăng trưởng GDP của nước ta chỉ đạt
5,64%, thấp hơn mục tiêu đề ra. Thu hút vốn đầu tư phát triển của khu vực ngoài nhà
nước và khu vực FDI đạt thấp. Đầu tư của khu vực ngoài nhà nước năm 2020 chỉ tăng
3,1%, 6 tháng đầu năm 2021 chỉ tăng 7,4% so với cùng kỳ. Tổng vốn đầu tư nước ngoài
vào Việt Nam năm 2020 giảm 25% so với năm 2019.
4. Nguyên nhân của những ảnh hưởng-hạn chế do dịch Covid- 19 bùng phát.
- Một là do nguồn bệnh xâm nhập từ bên ngoài qua đường nhập cảnh.
- Hai là quản lý nhập cảnh, đấu tranh ngăn chặn nhập cảnh trái phép, quản lý cư trú,
kiểm soát và xử lý cư trú trái phép chưa chặt chẽ, còn có sơ hở.
- Ba là do tư tưởng chủ quan, lơ là, mất cảnh giác với dịch bệnh của một số cơ quan,
đơn vị, tổ chức, doanh nghiệp (kể cả cơ quan, đơn vị của Nhà nước) và một bộ phận nhân dân.
- Bốn là quản lý cách ly người nhập cảnh, theo dõi y tế sau cách ly thiếu chặt chẽ, sơ hở, chủ quan.
- Năm là một số cơ quan, đơn vị, địa phương chưa thực hiện nghiêm, đầy đủ yêu cầu 4 tại chỗ.
- Sáu là tại các địa phương, đơn vị chưa có dịch bệnh nên chưa có kinh nghiệm, còn
chậm trễ, lúng túng, bị động ứng phó khi có dịch.
- Cuối cùng, do một số quy định, quy chế quản lý Nhà nước về phòng, chống dịch
còn bất cập, hạn chế, chưa đồng bộ, chưa sát thực tế.
Ví dụ: Đợt dịch thứ 4 tại Việt Nam diễn biến khá phức tạp, nhiều thách thức với đa
ổ dịch, đa ổ lây và đa biến chủng. Cụ thể, TP. Hồ Chí Minh đang trải qua 2 đợt dịch từ
ngày 26/5 đến 14/6 với sự bùng phát của chuỗi dịch truyền giáo Phục Hưng và từ 15/6
đến nay với nhiều chuỗi dịch trong cộng đồng. Từ ngày 15/6/2021 đến 04/7, số ca bệnh
chiếm 79% tổng số ca của 2 đợt dịch. Qua khám sàng lọc tại bệnh viện, xét nghiệm
giám sát tại cộng đồng, Thành phố phát hiện các trường hợp mắc bệnh xuất hiện hầu
hết ở các khu vực: cộng đồng dân cư, khu công nghiệp, doanh nghiệp, công ty văn
phòng, các chợ đầu mối - truyền thống - tự phát, tại các cơ sở y tế... Điều này cho thấy
mầm bệnh đã len lỏi, lây lan trong cộng đồng. Trong đó tập trung lây lan và bộc phát 18