



















Preview text:
TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI KHOA KẾ TOÁN KIỂM TOÁN -------- -------- ĐỀ TÀI THẢO LUẬN
HỌC PHẦN TRIẾT HỌC MÁC - LÊNIN Đề tài:
NỘI DUNG QUY LUẬT TỪ NHỮNG THAY ĐỔI VỀ
LƯỢNG DẪN ĐẾN NHỮNG THAY ĐỔI VỀ CHẤT VÀ
NGƯỢC LẠI? Ý NGHĨA PHƯƠNG PHÁP LUẬN CỦA QUY
LUẬT NÀY TRONG THỜI KỲ QUÁ ĐỘ LÊN CHỦ NGHĨA
XÃ HỘI Ở VIỆT NAM HIỆN NAY. Nhóm: 3
Lớp học phần: 22112MLNP0221 Người hướng dẫn:
Hà Nội, tháng 12 năm 2022 1 M C L Ụ Ụ C
PHẦN MỞ ĐẦU...............................................................................................................3
PHẦN NỘI DUNG...........................................................................................................5
CHƯƠNG 1: QUY LUẬT TỪ NHỮNG THAY ĐỔI VỀ LƯỢNG DẪN ĐẾN
NHỮNG THAY ĐỔI VỀ CHẤT VÀ NGƯỢC LẠI...................................................5
I .Vị trí, vai trò của quy luật........................................................................................5
II. Một số khái niệm cơ bản.........................................................................................5
1. Chất.........................................................................................................................5
2. Lượng......................................................................................................................5
3. Độ, Điểm nút, Bước nhảy........................................................................................5
III. Phân tích nội dung quy luật lượng - chất.............................................................6
1. Quan niệm về chất và lượng của các nhà triết học cổ............................................6
2. Quan niệm biện chứng duy vật về chất và lượng....................................................7
3. Mối quan hệ biện chứng giữa sự thay đổi về lượng và sự thay đổi về chất............9
IV. Ý nghĩa phương pháp luận...................................................................................11
CHƯƠNG 2: VẬN DỤNG QUY LUẬT NHỮNG THAY ĐỔI VỀ LƯỢNG DẪN
ĐẾN SỤ THAY ĐỔI VỀ CHẤT TRONG THỜI KỲ QUÁ ĐỘ LÊN CHỦ NGHĨA
XÃ HỘI Ở VIỆT NAM HIỆN NAY 13
I. Thời kỳ quá độ lên CNXH ở nước ta hiện nay.....................................................13
1.Tính tất yếu của thời kỳ quá độ lên CNXH ở nước ta............................................13
2. Thực trạng quá độ lên chủ nghĩa xã hội của nước ta...........................................13
3. Những thuận lợi và thành tựu trong thời kì quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta
...................................................................................................................................17
5. Nguyên nhân của những hạn chế..........................................................................20
II. Phương hướng và giải pháp để khắc phục hạn chế và tiếp tục quá độ lên chủ
nghĩa xã hội ở nước ta trong thời gian tới................................................................20
1.Phương pháp khắc phục hạn chế...........................................................................20
2. Phương hướng để tiếp tục quá độ lên chủ nghĩa xã hội........................................20
3. Giải pháp để đưa đất nước tiếp tục quá độ lên chủ nghĩa xã hội trong thời gian
tới...............................................................................................................................21
PHẦN KẾT LUẬN..........................................................................................................22 2 PHẦN MỞ ĐẦU
- Tầm quan trọng của đề tài
Triết học là bộ môn khoa học, là những định hướng dẫn dắt, là hạt nhân lý luận của
thế giới, giúp con người xây dựng thế giới nhân văn, chủ nghĩa. Triết học đóng vai trò
định hướng sự hình thành, phát triển thế giới quan của mỗi cá nhân.Những nguyên lý,
kiến thức được cung cấp từ bộ môn Triết học Mác-Lênin là những kiến thức khoa học cơ
bản cần có trong nhận thức và hành động của mỗi người.
Vì vậy, nhóm 3 chúng em xin được trình bày về đề tài: “Quy luật từ những thay đổi
về lượng dẫn đến những thay đổi về chất và ngược lại? Ý nghĩa phương pháp luận của
quy luật này trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam hiện nay.”
- Mục đích, nhiệm vụ của đề tài *Mục đích:
+ Nhằm hiểu rõ hơn về quy luật lượng, chất, nội dung của quy luật và rút ra ý nghĩa
phương pháp luận của quy luật. Từ đó, vận dụng ý nghĩa này vào thời kỳ quá độ lên chủ
nghĩa xã hội ở Việt Nam hiện nay, để hiểu biết thêm về quá trình hình thành của đất nước mình.
+ Nhằm mang đến những giờ thảo luận sôi nổi và trau dồi thêm các kỹ năng làm việc
nhóm, thuyết trình của mỗi người.
*Nhiệm vụ của đề tài: Để thực hiện được mục tiêu của đề tài chúng em đã triển khai bài
tiểu luận thành 2 phần chính như sau:
+ Chương 1: Quy luật lượng, chất - Nội dung quy luật lượng, chất - Ý nghĩa phương pháp luận của quy luật.
+ Chương 2: Vận dụng quy luật về những thay đổi về lượng dẫn đến những thay đổi về
chất và ngược lại vào thời kì quá độ lên Chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam hiện nay.
- Cách thức hoàn thành bài thảo luận: Để có thể hoàn thành bài tiểu luận một cách
đầy đủ nhất về nội dung và đúng thời gian quy định, nhóm chúng em đã phân công nhau
mỗi người một nhiệm vụ để cùng nhau tìm hiểu các giáo trình, tài liệu có liên quan đến
bộ môn Triết học Mác-Lênin. Cùng với đó là sự hỗ trợ, giúp đỡ nhiệt tình từ thầy cô và
mọi người xung quanh đặc biệt là cô giáo Phạm Thị Hương - người đã cung cấp cho
chúng em những kiến thức quan trọng của bộ môn Triết học Mác-Lênin. 3
- Thái độ và ý thức của nhóm: Trong quá trình thực hiện đến khi hoàn thành bài tiểu
luận, các thành viên trong nhóm đều hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao và đúng thời
gian quy định. Các thành viên trong nhóm luôn hỗ trợ lẫn nhau trong việc thực hiện đề
tài và mỗi thành viên đều đóng góp những công sức của mình vào sự thành công của bài tiểu luận.
- Ý nghĩa của đề tài: Giúp chúng em hiểu hơn về nội dung của quy luật lượng đổi chất
đổi và biết áp dụng nó vào cuộc sống, vào xã hội để rồi nâng cao hơn là vào thời kỳ quá
độ lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta hiện nay. Từ đó giúp chúng em hiểu hơn, biết hơn về
quá trình phát triển của đất nước thân yêu hình chữ S đặc biệt này. 4 PHẦN NỘI DUNG
CHƯƠNG 1: QUY LUẬT TỪ NHỮNG THAY ĐỔI VỀ LƯỢNG DẪN ĐẾN
NHỮNG THAY ĐỔI VỀ CHẤT VÀ NGƯỢC LẠI
I .Vị trí, vai trò của quy luật
* Vị trí của quy luật: Là một trong ba quy luật cơ bản của phép biện chứng duy vật
* Vai trò của quy luật: Chỉ ra cách thức vận động,phát triển của sự vật hiện tượng trong
tự nhiên,xã hội và tư duy
II. Một số khái niệm cơ bản 1. Chất
Chất là phạm trù triết học dùng để chỉ tính quy định khách quan vốn có của sự vật,
hiện tượng, đó là sự thống nhất hữu cơ của những thuộc tính, những yếu tố cấu thành sự
vật, hiện tượng, nói lên sự vật, hiện tượng đó là gì, phân biệt nó với các sự vật, hiện
tượng khác. Mỗi sự vật, hiện tượng trong thế giới đều có những chất vốn có, làm nên
chính chúng. Nhờ đó chúng mới khác với các sự vật, hiện tượng khác.
VD: Thuộc tính của đường là ngọt. 2. Lượng
Lượng là phạm trù triết học dùng để chỉ tính quy định vốn có của sự vật về mặt số
lượng, quy mô, trình độ, nhịp điệu của sự vận động và phát triển cũng như các thuộc
tính của sự vật, biểu hiện bằng con số các thuộc tính, các yếu tố cấu thành nó. Lượng là
cái khách quan, vốn có của sự vật, quy định sự vật ấy là nó. Lượng của sự vật không phụ
thuộc vào ý chí, ý thức của con người. Lượng của sự vật biểu thị kích thước dài hay
ngắn, số lượng nhiều hay ít, quy mô lớn hay nhỏ, trình độ cao hay thấp, nhịp điệu nhanh hay chậm…
Lượng có nhiều biểu hiện khác nhau: + Số lượng + Đại lượng + Xác suất, mức độ
VD: Đối với mỗi phân từ nước,lượng là số nguyên tử tạo thành nó,tức là 2 nguyên
tử hidro và 1 nguyên tử oxi.
3. Độ, Điểm nút, Bước nhảy
* Độ : là ph m trù triếết h ạ c dùng đ ọ ch ể s
ỉ ự thốếng nhấết bi ệ n ch ứ ng, h ữ u c ơ gi a chấết v ữ
à lượ ng trong một khuốn kh nhấết đ ổ
ị nh, mà trong đó sự thay đ ổ i vếề l ng ch ượ a làm thay đ ư i c ổ ăn b n vếề ch ả ấết củ a sự v ậ t… Độ là m ộ t khuốn ổ kh , trong đó chấết và l ng thốếng nhấết h ượ ữ u c ơ , khống tách r ờ i…
VD: Nước ở trạng thái lỏng từ 0-100℃, thì 0-100℃ là độ 5
* Điểm nút: là điểm giới hạn mà tại đó sự thay đổi về lượng đạt tới điểm phá vỡ
độ cũ, làm chất của sự vật, hiện tượng đổi thành chất mới, tức là xảy ra bước nhảy.
VD: Nước ở trạng thái lỏng từ 0-100℃, ngay ở 100℃ là nút
* Bước nhảy: là khái niệm dùng để chỉ giai đoạn chuyển hóa cơ bản về chất của
sự vật, hiện tượng do biến đổi về lượng trước đó gây ra, kết thúc một giai đoạn vận
động, độ cũ bị phá vỡ, độ mới ( sự vật, hiện tượng mới) được xác lập.
VD: Sự chuyển hóa nước từ trạng thái lỏng thành trạng thái hơi khi nước vượt qua 100℃
III. Phân tích nội dung quy luật lượng - chất
1. Quan niệm về chất và lượng của các nhà triết học cổ
-Đối với nhiều nhà triết học Hy Lạp, vật chất thường đồng nhất với sự vật. Từ đó,
họ cố gắng hiểu vật chất và các biểu hiện của nó từ phương diện chất. Trái lại,
những người thuộc trường phái Pytago lại xem đặc trưng về lượng của thế giới vật
chất là nền tảng của mọi thứ đang tồn tại. Họ xem những mối quan hệ số lượng là
quy luật hình thành mọi sự vật của thế giới.
-Lần đầu tiên trong lịch sử triết học, chất và lượng có được ý nghĩa với tư cách là
những phạm trù trong triết học của Aixtot. Ông xem chất là tất cả những gì làm
cho sự vật là nó. Còn lượng là tất cả những gì có thể phân ra thành những bộ phận
cấu thành. Ông phân lượng thành 2 loại: đại lượng và số lượng. Ông cũng là
người đầu tiên trên thế giới giải quyết một vấn đề quan trọng của quy luật: vấn đề
tính nhiều chất của sự vật, từ đó ông phân biệt sự khác nhau về hình thức với chất
căn bản của sự vật-cái sẽ xuất hiện hay mất đi cùng với sự xuất hiện hay mất đi
của bản thân sự vật. Ông cũng đạt được bước tiến đáng kể trong việc nghiên cứu
phạm trù độ, xem độ là cái thống nhất, cái không thể phân chia giữa lượng và chất.
-Sau này, quan điểm phiếm diện tuyệt đối hóa đặc trưng về lượng đã được khắc
họa trong triết học cổ điển Đức, đặc biệt trong triết học Heghen đã phân tích một
cách rất tỉ mỉ sự thống nhất biện chứng, mối quan hệ qua lại, sự chuyển hóa lẫn
nhau giữa lượng và chất, xem xét chất và lượng nằm trong quá trình vận động và
phát triển không ngừng. Với quan điểm biện chứng, Heghen đã xem xét từ “chất
thuần túy” đến “chất được xác định”, chất phát triển đến tột độ thì ra đời lượng,
nhưng lượng cũng không ngừng tiến hóa, “số lượng” là đỉnh cao nhất trong sự tiến hóa.
-Trong sự xem xét mối quan hệ giữa sự thay đổi về lượng và sự thay đổi về chất,
Heghen đặc biệt chú ý tới phạm trù bước nhảy. Chính dựa trên tư tưởng của
Heghen, Lenin đã đưa ra một kết luận quan trọng: việc thừa nhận bước nhảy hay 6
không là một tiêu chí quan trọng để xem người đó theo quan điểm biện chứng hay
siêu hình về sự phát triển.
-Tất nhiên, với tư cách là nhà triết học duy tâm, Heghen đã xem các phạm trù chất,
lượng, độ chỉ là nấc thang tự phát triển của tinh thần, của “ý niệm tuyệt đối” chứ
không phải những nấc thang nhận thức của con người về thế giới bên ngoài.
2. Quan niệm biện chứng duy vật về chất và lượng
a. Quan niệm biện chứng duy vật về chất
- Trong thế giới quanh ta tồn tại vô vàn sự vật, hiện tượng. Vậy tại sao chúng ta có
thể phân biệt được các sự vật với nhau? Đơn giản vì các sự vật khác nhau có
những đặc trưng khác nhau, những thuộc tính quy định khác nhau. Ví dụ như:
Kim loại không có khả năng hòa tan một số chất, mọi động vật và thực vật đều
được đặc trưng bởi đồng hóa và dị hóa nhưng chúng lại khác nhau…Sở dĩ ta phân
biệt được sự vật, hiện tượng khách quan đó là vì chúng có sự khác nhau về chất.
Chất là phạm trù chiết học dùng để chỉ tính quy định khách quan vốn có của sự
vật, là sự thống nhất hữu cơ của những thuộc tính, làm cho sự vật là nó chứ không phải cái khác.
- Thuộc tính là biểu hiện một khía cạnh nào đó về chất của một sự vật trong mối
quan hệ qua lại với sự vật khác, là những tính chất, trạng thái, những yếu tố cấu
thành nên sự vật,…đó là những cái vốn có của sự vật từ khi nó được sinh ra hoặc
được hình thành trong quá trình vận động và phát triển của sự vật. Tuy nhiên
những đặc tính vốn có của sự vật, hiện tượng chỉ được bộc lộ ra qua sự tác động
qua lại với các sự vật, hiện tượng khác.
- Đặc trưng khách quan nói trên quy định phương thức nhận thức của con người đối
với vật chất của sự vật. Để nhận thức được những thuộc tính, chúng ta phải nhận
thức nó trong mối quan hệ giữa các sự vật. Do vậy, để nhận thức được chất với tư
cách là sự tổng hợp của tất cả các thuộc tính vốn có của sự vật đó, chúng ta phải
nhận thức sự vật trong tổng hòa các mối quan hệ có thể có giữa sự vật đó với sự vật khác.
- Mỗi sự vật có vô vàn thuộc tính, mỗi thuộc tính của sự vật lại có một tổng hợp
đặc trưng về chất của mình, khiến cho mỗi thuộc tính trở thành một chất. Điều đó
có nghĩa mỗi sự vật cũng có vô vàn chất.
- Với tư cách là những khía cạnh của chất được bộc lộ ra trong các mối quan hệ,
các thuộc tính của sự vật cũng có các vị trí khác nhau tạo thành thuộc tính cơ bản
và thuộc tính không cơ bản, các thuộc tính của sự vật chỉ bộc lộ qua các mối quan
hệ cụ thể với các sự vật khác, bởi vậy sự phân chia thuộc tính cơ bản và không cơ
bản chỉ mang tính chất tương đối, tổng hợp những thuộc tính cơ bản tạo thành
chất cơ bản của sự vật. Mỗi sự vật chỉ có một chất cơ bản đó là tổng hợp của
những thuộc tính đặc trưng của sự vật trong quá trình tồn tại và phát triển của sự vật. 7
- Chất của sự vật không những được xác định bởi chất của các yếu tố cấu thành mà
còn bởi các phương thức liên kết giữa các yếu tố cấu thành sự vật đó, nghĩa là kết cấu của sự vật.
- Trong tự nhiên và xã hội, chúng ta thấy không ít sự vật mà xét riêng các yếu tố
cấu thành chúng hoàn toàn đồng nhất nhưng các sự vật đó lại khác nhau về chất.
Ví dụ như kim cương và than chì đều được cấu thành từ các nguyên tố Cacbon.
Tuy nhiên, kim cương là vật cứng nhất trong các loại sự vật và có giá trị kinh tế
cao còn than chì thì không có những đặc trưng đó. Sự khác nhau này là do phương
thức liên kết giữa các nguyên tố cấu thành nên nó. Chất của sự vật không chỉ thay
đổi khi các yếu tố cấu thành thay đổi mà nó còn phụ thuộc vào sự thay đổi của
phương thức liên kết giữa các yếu tố cấu thành đó. Do vậy, để làm biến đổi chất
của sự vật chúng ta có thể làm thay đổi các yếu tố cấu thành hoặc biến đổi phương
thức liên kết giữa các yếu tố cấu thành nên nó.
b. Quan niệm biện chứng duy vật về lượng
- Lượng là phạm trù triết học để chỉ tính quy định vốn có của sự vật về mặt số
lượng, quy mô, trình độ, nhịp điệu của sự vận động và phát triển cũng như các
thuộc tính của sự vật.
- Lượng là sự biểu thị kích thước dài hay ngắn, số lượng nhiều hay ít, quy mô lớn
hay nhỏ, trình độ cao hay thấp, nhịp điệu nhanh hay chậm…Trong thực tế lượng
của sự vật thường được xác định bởi những đơn vị đo lường cụ thể. Bên cạnh đó
có những lượng chỉ được biểu thị dưới dạng trừu tượng và khái quát như: trình độ
nhận thức khoa học của con người, ý thức học tập của sinh viên,…Trong những
trường hợp đó chúng ta chỉ có thể nhận thức được lượng của sự vật bằng con
đường trừu tượng và khái quát hóa.
- Có những lượng biểu thị yếu tố quy định kết cấu bên trong của sự vật (số lượng
nguyên tử cấu tạo nên nguyên tố hóa học, các tầng lớp trong xã hội,…), có những
lượng vạch ra yếu tố quy định bên ngoài của sự vật (chiều dài, chiều rộng,…).
- Sự phân biệt chất và lượng của sự vật chỉ mang tính tương đối, có những tính quy
định trong mối quan hệ này là chất của sự vật, song trong mối quan hệ khác lại
biểu thị lượng của sự vật và ngược lại. Ví dụ số lượng sinh viên đạt loại giỏi của
một lớp sẽ quy định chất lượng của lớp học đó.
- Chất và lượng là hai mặt không thể tách rời nhau trong sự vật. Trong quá tình vận
động và phát triển, chất và lượng của sự vật không đứng im, chúng luôn vận động,
tác động qua lại lẫn nhau theo một quy luật nhất định.
3. Mối quan hệ biện chứng giữa sự thay đổi về lượng và sự thay đổi về chất
Bất kỳ sự vật, hiện tượng nào cũng đều là sự thống nhất giữa lượng và chất, chúng
tác động qua lại lẫn nha. Trong sự vật, quy định về lượng không bao giờ tồn tại nếu
không có những quy định về chất và ngược lại. 8
Sự thay đổi về chất và về lượng của sự vật diễn ra cùng sự vận động và phát triển
của sự vật. Nhưng sự thay đổi đó có quan hệ chặt chẽ với nhau mà không tách rời nhau,
sự thay đổi về lượng của sự vật có ảnh hưởng đến sự thay đổi về chất và ngược lại. Sự
thay đổi về lượng có thể dẫn đến sự thay đổi ngay lập tức về chất của sự vật. Mặt khác,
trong một giới hạn nhất định, sự thay đổi về lượng không làm cho chất thay đổi. Khi
lượng của sự vật được tích lũy quá giới hạn quy định (độ) thì chất cũ sẽ mất đi, chất mới
được hình thành thay thế chất cũ. Chất mới ấy tương ứng với lượng mới tích lũy được.
Khi sự vật tích lũy đủ về lượng tại điểm nút sẽ làm cho chất mới của nó ra đời.
Lượng mới và chất mới của sự vật thống nhất với nhau tạo nên độ mới và điểm nút mới
của sự vật đó. Quá trình đó liên tiếp diễn ra trong sự vật, vì vậy sự vật luôn luôn phát triển không ngừng.
Chất của sự vật do lượng của nó thay đổi trước đó gây ra gọi là bước nhảy. Bước
nhảy là một phạm trù triết học dùng để chỉ sự chuyển hóa chất của sự vật do sự thay đổi
về lượng của sự vật trước đó gây nên. Nó là sự gián đoạn trong quá trình vận động và
phát triển của sự vật, sự gián đoạn là tiền đề cho sự liên tục và sự liên tục là tập hợp của
hàng loạt sự gián đoạn.
Như vậy, sự phát triển của bất kỳ sự vật nào cũng bắt nguồn từ sự tích lũy về
lượng trong độ nhất định cho tới điểm nút để thực hiện bước nhảy về chất. Song điểm
nút của quá trình ấy không cố định mà có thể có những thay đổi do tác động của những
điều kiện khách quan và chủ quan. Chẳng hạn, thời gian để có thể hoàn thành 1 công
việc giống nhau của mỗi người là khác nhau. Chất mới của sự vật chỉ có thể thay đổi khi
sự thay đổi về lượng của nó đạt tới điểm nút. Chất mới của sự vật sẽ tác động ngược trở
lại lượng đã thay đổi của sự vật. Chất mới có thể làm thay đổi kết cấu, quy mô, trình độ
nhịp điệu vận động và phát triển của sự vật.
VD: Khi nước chuyển từ trạng thái lỏng sang trạng thái hơi thì sự chuyển động của
các phân tử nước có vận tốc cao hơn. Thể tích của nước ở trạng thái hơi lớn hơn thể tích
nước ở trạng thái lỏng cùng với đó một số tính chất của nước cũng thay đổi.
Các hình thức cơ bản của bước nhảy. Bước nhảy để chuyển hóa về chất của sự vật
hết sức đa dạng và phong phú với những hình thức khác nhau. Sự khác nhau về bước
nhảy đó được quy định bởi bản thân sự vật, bởi những điều kiện cụ thể mà sự vật thực
hiện bước nhảy. Dựa trên nhịp điệu thực hiện bước nhảy của sự vật có thể chia bước
nhảy thành bước nhảy đột biến và bước nhảy dần dần.
* Bước nhảy đột biến: là bước nhảy được thực hiện trong một thời gian rất ngắn
làm thay đổi chất của toàn bộ kết cấu cơ bản của sự vật.
VD: Lượng uranium 235 tăng đến giới hạn nhất định sẽ tạo ra vụ nổ nguyên tử.
* Bước nhảy dần dần: là bước nhảy được thực hiện trong một thời gian dài, được
thực hiện từ từ, tích lũy dần dần các nhân tố của chất mới và những nhân tố của chất cũ dần mất đi.
VD: từ chất của 1 sinh viên sang chất của 1 cử nhân phải có quá trình tích lũy
kiến thức lâu dài suốt 4 năm. 9
Cần lưu ý rằng bước nhảy dần dần khác với sự thay đổi dần dần về lượng của sự
vật. Bước nhảy dần dần là sự chuyển hóa dần dần từ chất này sang chất khác, còn sự
thay đổi dần dần về lượng là tích lũy liên tục về lượng đến một giới hạn nhất định sẽ dẫn
đến sự thay đổi về chất.
Căn cứ vào quy mô bước nhảy của sự vật có bước nhảy cục bộ và bước nhảy toàn bộ.
* Bước nhảy cục bộ: là bước nhảy là thay đổi chất của từng mặt riêng lẻ của sự vật
VD: sinh viên dự kỳ thi kết thúc môn học phần.
* Bước nhảy toàn bộ: là bước nhảy làm thay đổi chất của toàn bộ các mặt, các yếu
tố cấu thành nên sự vật.
VD: sinh viên nộp khóa luận tốt nghiệp ra trường
Trong thực tế, các sự vật có những thuộc tính đa dạng và phong phú nên muốn
thực hiện bước nhảy toàn bộ phải thông qua các bước nhảy cục bộ. Sự quá độ lên chủ
nghĩa xã hội ở nước ta diễn ra từng bước nhảy cục bộ để thực hiện bước nhảy toàn bộ,
chúng ta thực hiện các bước nhảy cục bộ trong từng lĩnh vực: kinh tế, xã hội, chính trị,
quân sự,…để đi đến bước nhảy toàn bộ xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội trên đất nước ta.
Khi xem xét sự thay đổi về chất của xã hội người ta còn phân chia sự thay đổi đó
thành thay đổi có tính cách mạng và thay đổi có tính tiến hóa. Cách mạng là sự thay đổi
trong đó chất của sự vật biến đổi căn bản không phụ thuộc vào hình thức biến đổi của sự
vật. Tiến hóa là sự thay đổi về lượng với những biến đổi nhất định về chất không cơ bản
của sự vật. Song cần lưu ý rằng, chỉ có sự thay đổi căn bản về chất, mang tính tiến bộ đi
lên mới là cách mạng. Nếu sự thay đổi căn bản về chất làm cho xã hội thụt lùi thì đó lại là phản cách mạng.
Từ những sự phân tích trên có thể rút ra nội dung quy luật chuyển hóa từ những
sự thay đổi về lượng thành những sự thay đổi về chất và ngược lại như sau: mọi sự vật
đều là sự thống nhất giữa lượng và chất, sự thay đổi dần dần về lượng trong khuôn khổ
độ tới điểm nút dần dần dẫn đến sự thay đổi về chất của sự vật thông qua bước nhảy,
chất mới được ra đời tác động trở lại sự thay đổi của lượng mới. Quá trình tác động đó
diễn ra liên tục làm cho sự vật không ngừng vận động và phát triển.
IV. Ý nghĩa phương pháp luận
-Vì bất cứ sự vật; hiện tượng nào cũng có phương diện chất và lượng tồn tại trong
tính quy định lẫn nhau, tác động và làm chuyển hóa lẫn nhau, do đó, trong nhận
thức và thực tiễn cần phải coi trọng cả hai loại chỉ tiêu về phương diện chất và
lượng, tạo nên sự nhận thức toàn diện về sự vật, hiện tượng.
-Vì những thay đổi về lượng của sự vật, hiện tượng có khả năng tất yếu chuyển
hóa thành những thay đổi về chất của sự vật, hiện tượng và ngược lại, do đó, trong
hoạt động nhận thức và thực tiễn, tùy theo mục đích cụ thể, cần từng bước tích lũy
về lượng để có thể làm thay đổi về chất; đông thời, có thể phát huy tác động của
chất mới theo hướng lamg thay đổi về lượng của sự vật, hiện tượng. 10
-Vì sự thay đổi về lượng chỉ có thể dẫn tới những biến đổi về chất của sự vật, hiện
tượng với điều kiện lượng phải được tích lũy tới giới hạn điểm nút, do đó, trong
công tác thực tiễn cần phải khắc phục tư tưởng nôn nóng tả huyn; mặt khác, theo
tính tất yếu quy luật thì khi lượng đã được tích lũy đến giới hạn điểm nút thì tất yếu có tượng.
-Vì thế cũng càn phải khắc phục tư tưởng bảo thủ hữu khuynh trong công tác thực
tiễn. Tả khuynh chính là hành động bất chấp quy luật, chủ quan, duy ý chí, không
tích lũy về lượng mà chỉ chú trọng thực hiện những bước nhảy liên tục về chất.
Hữu khuynh là sự biểu hiện tư tưởng bảo thủ, trì trệ, không dám thực hiện bước
nhảy mặc dù lượng đã tích lũy tới điểm nút và quan niệm phát triển chỉ đơn thuần
là sự tiến hóa về lượng.
-Vì bước nhảy của sự vật, hiện tượng là hết sức đa dạng, phong phú, do vậy, trong
nhận thức và thực tiễn cần phải có sự vận dụng linh hoạt các hình thức của bước
nhảy cho phù hợp với từng điều kiện, từng lĩnh vực cụ thể. Đặc biệt, trong đời
sống xã hội, quá trình phát triển không chỉ phụ thuộc vào điều kiện khác quan, mà
còn phụ thuộc vào nhân tố chủ quan của con người. Do đó, cần phải nâng cao tính
tích cực, chủ động của chủ thể để thúc đẩy quá trình chuyển hóa từ lượng đến chất
một cách có hiệu quả nhất. 11
CHƯƠNG 2: VẬN DỤNG QUY LUẬT NHỮNG THAY ĐỔI VỀ
LƯỢNG DẪN ĐẾN SỤ THAY ĐỔI VỀ CHẤT TRONG THỜI KỲ
QUÁ ĐỘ LÊN CHỦ NGHĨA XÃ HỘI Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
I. Thời kỳ quá độ lên CNXH ở nước ta hiện nay
1.Tính tất yếu của thời kỳ quá độ lên CNXH ở nước ta
- Ở nước ta,thời kì quá độ lên CNXH bắt đầu từ năm 1954 ở miền Bắc và từ
năm 1975,sau khi đất nước hoàn toàn độc lập và cả nước thống nhất,cách
mạng dân tộc-dân chủ nhân dân đã hoàn thành thắng lợi trên phạm vi cả nước
và cả nước cùng tiến hành cách mạng XHCN,cùng quá độ lên Chủ nghĩa xã hội.
- Thời kỳ quá độ là thời kỳ lịch sử mà bất cứ một quốc gia nào đi lên chủ nghĩa
xã hội cũng đều phải trải qua, ngay cả đối với những nước đã có nền kinh tế rất
phát triển, bởi lẽ, ở các nước này, tuy lực lượng sản xuất đã phát triển cao,
nhưng vẫn còn cần phải cải tạo và cần xây dựng quan hệ sản xuất mới, xây
dựng nền văn hoá mới. Dĩ nhiên, đối với những nước thuộc loại này, về khách
quan có nhiều thuận lợi hơn, thời kỳ quá độ có thể sẽ diễn ra ngắn hơn. Đối với
nước ta, một nước nông nghiệp lạc hậu đi lên chủ nghĩa xã hội bỏ qua chế độ
tư bản chủ nghĩa, thì lại càng phải trải qua một thời kỳ quá độ lâu.
2. Thực trạng quá độ lên chủ nghĩa xã hội của nước ta
a) Giai đoạn trước năm 1986
Thời kỳ 1945-1954 là thời kỳ đầu tiên xây dựng chế độ kinh tế mới ở Việt Nam
và là giai đoạn khó khăn nhất, gian khổ nhất vì vừa phải kháng chiến chống giặc, vừa
phát triển kinh tế trong điều kiện nghèo nàn, thiếu thốn.
-Đặc trưng của nền kinh tế Việt Nam thời kỳ này là nền kinh tế nông thôn,
quy mô kinh tế rất thấp, tiềm lực yếu kém. GDP bình quân đầu người năm
1945 chỉ đạt 60 đồng, tương đương 35 USD.
-Kinh tế nông thôn và sản xuất nông nghiệp có vị trí đặc biệt quan trọng trong giai
đoạn này. Chính phủ đã từng bước thực hiện các chính sách về ruộng đất như giảm tô, giảm tức.
-Với chính sách toàn dân tăng gia sản xuất, lại được sự giúp đỡ tận tình của Chính
phủ, các cơ quan, các đơn vị bộ đội nên nông nghiệp trong suốt thời kỳ kháng
chiến được bảo đảm ổn định và cung cấp đủ lương thực cho kháng chiến, giải
quyết nạn đói các năm 1945, 1946. Sản lượng lương thực năm 1954 đạt gần 3
triệu tấn, tăng 13,7% so với năm 1946. 12
-Công nghiệp và thủ công nghiệp kháng chiến được xây dựng, đặc biệt là công
nghiệp quốc phòng. Từ năm 1946-1950 đã sản xuất 20 nghìn tấn than cốc, 800 kg
ăng-ti-moan; từ năm 1950 đến cuối năm 1952 sản xuất được 29,5 tấn thiếc; 43
tấn chì; những năm 1950-1954 sản xuất được 169,3 triệu mét vải; 31,7 nghìn tấn giấy
-Đẩy mạnh sản xuất, sự nghiệp giáo dục – chống giặc dốt được coi là một trong
những nhiệm vụ hàng đầu, đi đôi với chống giặc ngoại xâm
-Từ 1946 đến 1954 có 10,5 triệu người thoát nạn mù chữ
Thời kỳ 1955-1975: Khôi phục và phát triển kinh tế sau chiến tranh, thực hiện
các chỉ tiêu trong Kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội 5 năm lần thứ nhất
-Chính phủ đã phê duyệt Kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội 5 năm lần thứ nhất
(1961-1965) nhằm phấn đấu xây dựng bước đầu cơ sở vật chất và kỹ thuật của
chủ nghĩa xã hội, thực hiện một bước công nghiệp hoá xã hội chủ nghĩa. Năm
1975, GDP bình quân đầu người đạt 232 đồng, tương đương 80 USD.
-Trong lĩnh vực nông nghiệp, năm 1975 có 17 nghìn hợp tác xã nông nghiệp, tăng
12,2 nghìn hợp tác xã so với năm 1958; sản lượng lương thực quy thóc đạt 5,49
triệu tấn, tăng 1,73 triệu tấn so với năm 1955; năng suất lúa đạt 21,1 tạ/ha, tăng
5,2 tạ/ha; đàn lợn có 6,6 triệu con, tăng 4,2 triệu con.
-Sản xuất công nghiệp từng bước được khôi phục và phát triển với đường lối công
nghiệp hóa, nhiều cơ sở sản xuất công nghiệp được phục hồi và xây dựng. Năm
1975, giá trị tổng sản lượng công nghiệp đạt 4.175,4 tỷ đồng, gấp 13,8 lần năm
1955; bình quân năm trong giai đoạn 1956 -1975 tăng 14%/năm.
-Thương nghiệp quốc doanh được nhà nước quan tâm và có sự phát triển nhanh
chóng, làm nhiệm vụ hậu cần cho sản xuất và chiến đấu. Tổng mức bán lẻ hàng
hóa xã hội năm 1975 đạt 5.358,3 triệu đồng, gấp 7,8 lần năm 1955
-Hoạt động giáo dục đạt được những thành tựu lớn. Số người đi học năm 1975 đạt
6.796,9 nghìn người, gấp 5,3 lần năm 1955. Tính bình quân cho 1 vạn dân, năm
1955 có 949 người đi học thì đến năm 1975 có 2.769 người, gấp 2,9 lần.
-Y tế nông thôn ở miền Bắc trong thời kỳ này đã có những thay đổi rõ rệt. Số bệnh
viện được đầu tư xây dựng ở miền Bắc, từ 57 bệnh viện, 17 bệnh xá năm 1955 lên
thành 442 bệnh viện và 645 bệnh xá năm 1975
Thời kỳ 1976-1985: Nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung, bao cấp
-Thực hiện hai kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội là Kế hoạch 5 năm lần thứ hai
(1976-1980) và Kế hoạch 5 năm lần thứ ba (1981-1985), nhân dân Việt Nam đã
đạt được những thành tựu quan trọng: Khắc phục từng bước những hậu quả nặng
nề của chiến tranh; Khôi phục phần lớn những cơ sở công nghiệp, nông nghiệp,
giao thông ở miền Bắc và xây dựng lại các vùng nông thôn ở miền Nam bị chiến tranh tàn phá.
-Nhìn chung, tăng trưởng kinh tế trong thời kỳ này thấp và kém hiệu quả. Nông,
lâm nghiệp là ngành kinh tế quan trọng (chiếm 38,92% GDP trong giai đoạn này), 13
nhưng chủ yếu dựa vào độc canh trồng lúa nước. Công nghiệp được dồn lực đầu
tư nên có mức tăng khá hơn nông nghiệp, nhưng tỷ trọng trong toàn nền kinh tế
còn thấp (chiếm 39,74% GDP), chưa là động lực để thúc đẩy nền kinh tế tăng trưởng.
-Thương nghiệp quốc doanh phát triển nhanh chóng, hợp tác xã tuy ở thời kỳ đầu
xây dựng, nhưng đã có những bước vươn lên chiếm lĩnh thị trường, nhờ đó hạn
chế được nạn đầu cơ, tích trữ và tình trạng hỗn loạn về giá cả. Tổng mức bán lẻ
hàng hóa xã hội bình quân thời kỳ này tăng 61,6%/năm.
-Chính phủ chủ trương nhanh chóng xóa nạn mù chữ và đẩy mạnh bổ túc văn hóa,
xem đó là nhiệm vụ ưu tiên hàng đầu. Đầu năm 1978, tất cả các tỉnh và thành
phố miền Nam đã căn bản xoá nạn mù chữ. Trong tổng số 1.405,9 nghìn người
được xác định không biết chữ, có 1.323,7 nghìn người thoát nạn mù chữ. Hệ
thống y tế được mở rộng, xây mới và áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật.
b) Giai đoạn từ năm 1986 tới nay
- Thấu hiểu tình hình đất nước, với tư duy nhìn thẳng vào sự thật, nói rõ sự thật
và quyết tâm đổi mới, tại Đại hội VI (năm 1986), Đảng ta xác định: “Thời kỳ
quá độ ở nước ta do tiến thẳng lên chủ nghĩa xã hội từ một nền sản xuất nhỏ,
bỏ qua giai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa, đương nhiên phải lâu dài và rất
khó khăn. Đó là một thời kỳ cải biến cách mạng sâu sắc, toàn diện, triệt để
nhằm xây dựng từ đầu một chế độ xã hội mới cả về lực lượng sản xuất, quan
hệ sản xuất và kiến trúc thượng tầng”, đồng thời nhận thức rõ, chặng đường
đầu tiên là bước quá độ nhỏ trong bước quá độ lớn. Đại hội còn chỉ ra rằng,
sau Đại hội này, với tinh thần cách mạng và khoa học, tiếp tục phát triển
đường lối đã được xác định, Đảng ta cần xúc tiến xây dựng một Cương lĩnh
hoàn chỉnh cho toàn bộ cuộc cách mạng XHCN trong thời kỳ quá độ. Trên cơ
sở cương lĩnh đó, sẽ xây dựng chiến lược phát triển kinh tế - xã hội, chiến
lược phát triển khoa học - kỹ thuật, phát triển đất nước.
- Sau 25 năm thực hiện đường lối đổi mới (1986-2011), Đảng ta đưa ra Cương
lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung,
phát triển năm 2011), trong đó xác định rõ hơn: “Đi lên chủ nghĩa xã hội là
khát vọng của nhân dân ta, là sự lựa chọn đúng đắn của Đảng Cộng sản Việt
Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh, phù hợp với xu thế phát triển của lịch sử. Xã
hội xã hội chủ nghĩa mà nhân dân ta xây dựng là một xã hội: Dân giàu, nước
mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh... Đây là một quá trình cách mạng sâu
sắc, triệt để, đấu tranh phức tạp giữa cái cũ và cái mới nhằm tạo ra sự biến đổi
về chất trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội, nhất thiết phải trải qua
một thời kỳ quá độ lâu dài với nhiều bước phát triển, nhiều hình thức kinh
tếNhư vậy, có thể nói, việc thực hiện đường lối đổi mới đã đem lại những
chuyển biến rõ rệt, hết sức sâu sắc và tích cực ở Việt Nam: kinh tế phát triển,
lực lượng sản xuất được tăng cường; nghèo đói giảm nhanh, liên tục; đời 14
sống nhân dân được cải thiện, nhiều vấn đề xã hội được giải quyết; chính trị,
xã hội ổn định, quốc phòng, an ninh được bảo đảm; đối ngoại và hội nhập
quốc tế ngày càng được mở rộng; thế và lực của quốc gia được tăng cường;
niềm tin của nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng được củng cố.
3. Những thuận lợi và thành tựu trong thời kì quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta a) Thuận lợi
* Có kinh nghiệm từ thực tiễn mô hinhg của Liên Xô cũ
- Thực tiễn phát triển của đất nước ta trong giai đoạn bấy giờ là tinh thần dân tộc và dân
chủ. Các xu hướng vận động của thế giới với các bước chuyển mình trong chế độ là bài
học sâu sắc. Tạo cơ hội cho Việt Nam phân tích, tổng kết, hình dung và học hỏi được
nhiều kinh nghiệm hơn về mô hình và con đường đi lên Chủ nghĩa xã hội. Cũng như xác
định tính tất yếu đi lên chủ nghĩa xã hội, bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa.
- Nhiều quốc gia trên thế giới đã xác định con đường chủ nghĩa xã hội là tất yếu. Tuy
nhiên, việc thựchiện các đường lối, chính sách trên thực tế lại không hiệu quả. Do đường
lối sai lầm trên phương diện lý luận và thực tiễn đã dẫn đến sự sụp đổ của mô hình xã
hội chủ nghĩa ở Đông Âu và Liên Xô cũ. Mặc dù quan điểm và lý tưởng của các nhà
cách mạng này đi đầu trong xây dựng chủ nghĩa xã hội.
- Từ đó,Việt Nam có được kinh nghiệm, tìm kiếm các bước chiến lược phù hợp hơn trên
thực tế. Thực tiễn này đòi hỏi cần phải đổi mới, cải cách, xây dựng mô hình Xã hội chủ
nghĩa phù hợp với thực tiễn của đất nước. Tránh các sai lầm trong việc thực hiện triển
khai chiến lược trong mô hình ở các quốc gia khác. Lựa chọn chiến lược phù hợp, khả
thi trong điều kiện và tình hình đất nước.
* Thế giới bùng nổ khoa học công nghệ với xu hướng toàn cầu hóa
- Trong điều kiện toàn cầu hóa, các quốc gia trên thế giới mong muốn được gia nhập vào
thị trường chung. Sự phát triển mạnh mẽ của khoa học công nghệ đã thúc đẩy các quốc
gia mở cửa và hội nhập. Các nước phát triển liên kết, hợp tác để tiếp cận tốt nhất các nhu
cầu trong thị trường. Và Việt nam không ngoại lệ trong mong muốn tiếp cận thị trường thế giới.
- Chế độ xã hội chủ nghĩa giúp chúng ta tham gia độc lập, chủ động. Người dân có được
quyền lợi và tư cách như nhau trong tìm kiếm và khai thác thị trường. Đây cũng là một
cơ hội tốt để Việt Nam có thể hợp tác để cùng giao lưu, tìm kiếm các đối tác chiến lược.
Và thực hiện tìm kiếm nguồn vốn, công nghệ và quản lý. Đổi mới trong hoạt động kinh
tế, tiếp cận hiệu quả hơn trong các nhu cầu sản xuất và kinh doanh.
- Quá trình giao lưu, hội nhập mang đến các tiếp xúc và mở rộng hiểu biết, tăng thêm
kinh nghiệm. Tạo điều kiện nâng cao trình độ dân trí, sự hiểu biết lẫn nhau. - - Khi các
quốc gia phát triển tham gia vào hội nhập kinh tế, sẽ mang đến các tác động lớn, các bài học sâu sắc. 15
- Xu hướng toàn cầu hóa tạo điều kiện cho việc tiếp thu các thành tựu và kinh nghiệm
phát triển của các nước đi trước. Cũng như tránh các bước đi không hiệu quả. Việc tiếp
thu kinh nghiệm từ các nước có trình độ phát triển cao giúp các nước đang phát triển có
được chiến lược phù hợp. Từ đó rút ngắn đối thời gian chuyển đổi mô hình với các nước
đang phát triển như Việt Nam.
* Tham gia và tìm kiếm lợi ích trong cộng đồng quốc tế
- Các quốc gia trên thế giới luôn tìm kiếm hiệu quả chung trong công tác bảo vệ môi
trường. Khi nền công nghiệp càng phát triển, thách thức đối với môi trường càng lớn. Ở
các nước Tư bản chủ nghĩa hiện nay cho thấy rõ không thể tiếp tục cách thức phát triển
truyền thống gây ô nhiễm môi trường, ảnh hường đế chất lượng cuộc sống của người
dân. Hàng loạt các vấn đề toàn cầu xảy ra ngày càng nghiêm trọng.
- Đơn cử như việc biến đổi khí hậu, ô nhiễm môi trường,… Một quốc gia không thể
mang đến hiệu quả cải thiện chất lượng cho môi trường sống. Điều này đòi hỏi phải có
sự chung sức của cộng đồng quốc tế cùng nhau giải quyết. Một nước, thậm chí một
nhóm nước hoàn toàn không thể giải quyết được.
- Điều này, tạo điều kiện thuận lợi cho Việt Nam trong việc mở rộng cơ hội tập hợp lực
lượng tiến bộ. Nhờ đó mà có được các hợp tác, thực hiện xây dựng và phát triển các
ngành công nghiệp mới. Được tiếp cận, trực tiếp tiến hành trong các ngành công nghiệp
này. Được tiếp cận vào các hoạt động hợp tác với các quốc gia phát triển.
* Hoạt động dưới sự lãnh đạo của Đảng
- Nước ta luôn xác định với lý tưởng dân chủ, trao quyền và lợi ích cho người dân. Thực
hiện công bằng, bình đẳng trong xã hội dưới sự lãnh đạo của Đảng. Quá trình phát triển
của Việt Nam, đặc biệt công cuộc đổi mới đất nước do Đảng ta khởi xướng và lãnh đạo
trong hơn 30 năm qua đã thu được những kết quả đáng kể. Đó là lý do Đảng được nhân
dân tin tưởng trong mục tiêu tiến lên chủ nghĩa xã hội.
- Quá độ lên chủ nghĩa xã hội là bước chuyển mình nhanh chóng nhất của nước ta. Để
tìm kiếm sự dân chủ, tiến bộ mới và hội nhập với nền kinh tế thế giới. Điều này, một mặt
củng cố và khẳng định sự lựa chọn đúng đắn của con đường đi lên Chủ nghĩa xã hội, bỏ
qua chế độ Tư bản chủ nghĩa ở nước ta. Tin tưởng vào sự lãnh đạo và các quyết định
trong đường lối lãnh đạo của Đảng. Ngay cả trong thời chiến hay trong hoạt động tổ
chức sản xuất phát triển kinh tế trong thời bình.
- Măt khác, Đảng lãnh đạo thống nhất quần chúng trong tư tưởng chung. Mang đến lý
tưởng, đó còn là các điều kiện, cơ sở cho việc tiếp tục vững bước trên con đường đã
chọn. Thể hiện với sự đồng lòng, đồng sức và quyết tâm của dân tộc ta.
b) Thành tự trong thời kỳ quá độ
- Nhờ thực hiện đường lối đổi mới,nền kinh tế bắt đầu phát triển và phát triển liên
tục tương đối cao trong suốt 35 năm qua với mức tăng trưởng trung binhg khoảng 7%/năm 16
- Quy mô GDP không ngừng mở rộng,năm 2020 đạt 342,7 tỉ đô la Mỹ và trở thành
nền kinh tế thứ tư trong ASEAN ,thu nhập bình quân đầu người tăng khoảng 17
lần, lên mức 3.512USD ,Việt Nam đã rời khỏi các nước có thu nhập thấp từ năm 2008
- Công nghiệp tăng trưởng khá nhanh,tỉ trọng công nghiệp và dịch vụ liên tục tăng và hiện nay chiếm 85% GDP
- Đầu tư nước ngoài tăng nhanh,đăng ký đạt 395 tỉ USD vào cuối năm 2020
- Việt Nam có hơn 95% dân số biết đọc,biết viếtvà có khoảng 70% dân số sử dụng
internet,là 1 trong những nước phát triển công nghệ thông tin cao nhất thế giới
- Tỉ lệ suy dinh dưỡng của trẻ em và tỉ lệ tử vong sớm ở trẻ sơ sinh giảm xuống
khoảng 3 lần. Tuổi trọ trung bình của dân cư tăng từ 62 tuổi năm năm 1990 lên 73,7 tuổi năm 2020
4. Những khó khăn và hạn chế trong thời kì quá độ lên xã hội chủ nghĩa ở nước ta
* Đất nước còn nghèo nàn
- Nhiều quốc gia trên thế giới đã chọn đi lên chủ nghĩa xã hội và không được thuận lợi.
Liên xô cũ là một minh chứng trong bài học sâu sắc dành cho đất nước ta. Đất nước tiến
lên xây dựng chủ nghĩa xã hội khi các nước đi trước đã và đang gặp nhiều khó khăn.
Các khó khăn đó đến từ nhiều khía cạnh khác nhau, trong việc tạo lập cơ sở vật chất của
xã hội mới. Khi mà bản thân điều kiện vật chất nội tại trong nó còn nhiều hạn chế và nghèo nàn
- Sau khi bước ra khỏi chiến tranh, Việt nam không có đủ tiềm lực về tài chính để phục
hồi, ổn định. Nếu thực hiện các chuyển đổi chế độ, các khó khăn này tăng lên gấp nhiều lần.
- Ngoài ra, còn có sự chống phá của các thế lực trong và ngoài nước. Các rào cản của
các thế lực thù địch trong mục tiêu xây dựng chế độ mới gặp nhiều thách thức.
* Thiếu lý tưởng,các suy thoái trong nhiều tầng lớp
- Trong bối cảnh của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Nền kinh tế
phát triển mạnh mẽ cũng đặt ra nhiều nguy cơ về việc suy thoái đạo đức, lối sống. Khi
đã tiếp cận được với thị trường thế giới, các cơ hội và tiềm năng mới mở ra. Cần thiết
chúng ta phải vững vàng, kiên định với lý tưởng và mục tiêu đặt ra ban đầu.
- Ở nhiều tầng lớp, các suy thoái, rơi rụng về lý tưởng xảy ra. Gây nên các khó khăn về
lực lượng, về nguồn lực và tiềm năng ổn định, phát triển trong nền kinh tế mới. Nhất là
lối sống thực dụng, thiếu tính nhân văn cũng đang và từng ngày từng giờ tác động đến
cán bộ, đảng viên và nhất là tầng lớp trẻ. Các đội ngũ này có vai trò quan trọng trong
học tập, rèn luyện và làm nên bộ mặt mới của đất nước. Nhưng khi lý tưởng không được
đảm bảo, các ý nghĩa hoạt động của đội ngũ này cũng không được tìm thấy.
- Thực tế đó là một thách thức to lớn cho Đảng và Nhà nước ta. Thể hiện trong quá trình
xây dựng Đảng, đào tạo nền tảng chính trị xã hội vững chắc trong từng lớp Đảng viên.
Tìm kiếm và đào tạo đội ngũ cán bộ, lãnh đạo có tâm, có tầm. Mang đến các sức mạnh 17
trong xây dựng và phát huy tinh thần dân tộc. Dễ thấy việc đoàn kết thực hiện lý tưởng
chung mang đến nhiều cơ hội. Còn việc suy thoái ở các tầng lớp lại cản trở lý tưởng này.
* Các thách thức trong giữ vững quan điểm chính trị
- Các quan điểm chính trị cần kiên định xuyên suốt trong thời gian dài. Việc đi lên chủ
nghĩa xã hội cũng không thể hoàn thành nhanh chóng. Cho nên cần có được các lý
tưởng, quan điểm chính trị vững vàng. Việc tham gia và tiếp cận với nền kinh tế hội
nhập cũng mang đến thách thức cho lý tưởng riêng được bảo toàn. Khi có nhiều cám rỗ
và mơ hồ trên con đường thực hiện chuyển đổi mô hình chế độ.
- Mặc dù quan điểm chính trị độc lập, chủ quyền, và toàn vẹn lãnh thổ luôn được sự
thống nhất và đồng ý của các quốc gia trên thế giới. Lý tưởng ấy cũng được triển khai
thực hiện rất tốt ở nước ta trong các giai đoạn trước. Tuy nhiên, trong bối cảnh hiện nay
lại đặt ra nhiều thách thức với Việt Nam hơn trong vấn đề này.
- Đòi hỏi Việt Nam phải thật khôn khéo và tế nhị trong các mối quan hệ hợp tác. Thực
hiện lý tưởng và luôn lấy mục tiêu làm bàn đạp cho các tiếp cận và tham gia hoạt động
trên thị trường. Nếu không sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến sự phát triển mô hình Xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam.
5. Nguyên nhân của những hạn chế
Do lực lượng sản xuất chưa đáp ứng đủ nhu cầu phát triển của đất nước trong thời kì quá độ
II. Phương hướng và giải pháp để khắc phục hạn chế và tiếp tục quá độ lên chủ
nghĩa xã hội ở nước ta trong thời gian tới
1.Phương pháp khắc phục hạn chế
-Xây dựng đất nước theo đường lối chính sự cốt khoan dung,giản dị,nhân dân đều được yên vui.
-Thực hiện đường lối đối ngoại độc lập,tự chủ,hòa bình hợp tác và phát triển. Đối
ngoại song phương và đa phương.
-Giữ vững môi trường hoaf bình,thuận lợi cho công cuộc đổi mới,bảo vệ vững
chắc độc lập chủ quyền,thống nhất toàn vẹn lãnh thổ,nâng cao vị thế đất nước.
-Xây dựng đảng trong sạch,vững mạnh.
2. Phương hướng để tiếp tục quá độ lên chủ nghĩa xã hội
-Tiếp tục đẩy mạnh đổi mới mô hình tăng trưởng, cơ cấu lại nền kinh tế theo
hướng chú trọng hơn chất lượng và tăng tính bền vững với các khâu đột phá là:
Hoàn thiện đồng bộ thể chế phát triển, trước hết là thể chế phát triển nền kinh tế
thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; phát triển nguồn nhân lực, trước hết là
nguồn nhân lực chất lượng cao; xây dựng kết cấu hạ tầng đồng bộ, hiện đại cả về kinh tế và xã hội. 18
-Về xã hội, chúng ta tiếp tục đẩy mạnh công tác giảm nghèo bền vững, nâng cao
chất lượng y tế, giáo dục và các dịch vụ công ích khác, nâng cao hơn nữa đời sống
văn hoá cho nhân dân. Toàn Đảng, toàn dân và toàn quân đang ra sức học tập và
làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh với quyết tâm ngăn chặn và
đẩy lùi tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của một bộ
phận cán bộ, đảng viên, trước hết là cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp, thực hiện
tốt hơn nữa các nguyên tắc tổ chức xây dựng Đảng, nhằm làm cho tổ chức đảng
và bộ máy nhà nước ngày càng trong sạch, vững mạnh, giữ vững bản chất cách
mạng, nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng.
3. Giải pháp để đưa đất nước tiếp tục quá độ lên chủ nghĩa xã hội trong thời gian tới
Hiện nay, chúng ta đang ở chặng đường “đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất
nước” và phấn đấu trở thành “nước phát triển, thu nhập cao”, thực hiện nhiệm vụ xây
dựng cơ sở vật chất kỹ thuật hiện đại cho chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Đó vừa là tính
phổ biến, vừa mang tính đặc thù của quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội. 19 PHẦN KẾT LUẬN * Đánh giá đề tài:
- Với đề tài bài tiểu luận là “Phân tích quy luật lượng, chất-Trình bày nội dung quy
luật lượng chất” là một đề tài hay và ý nghĩa. Qua quá trình thực hiện bài tiểu
luận đã giúp chúng em hiểu hơn về những nguyên lý, kiến thức của bộ môn Triết
học Mác-Lênin nói chúng và các khái niệm, bản chất của lượng, chất, mối quan
hệ giữa lượng và chất nói riêng.
- Từ đó, chúng em có thể vận dụng một cách khoa học, đúng kiến thức đã được học
vào đời sống cũng như quá trình học tập của bản thân để đạt được kết quả học tập
tốt và ngày càng hoàn thiện, phát triển bản thân mình.
* Thái độ làm việc của các thành viên trong nhóm:
- Trong quá trình thực hiện đề tài bài tiểu luận, các thành viên trong nhóm luôn chủ
động trong việc thực hiện nhiệm vụ được giao và hoàn thành đúng thời gian quy
định. Mỗi thành viên đều có ý thức xây dựng bài, đưa ra các quan điểm của bản
thân trong các buổi thảo luận chung của nhóm.
- Các thành viên trong nhóm có ý thức giúp đỡ, hỗ trợ lẫn nhau trong quá trình thực
hiện bài tiểu luận. Mỗi thành viên đều đóng góp những công sức của mình trong
sự thành công của bài tiểu luận.
- Các thành viên luôn có thái độ làm việc tích cực, chủ động trong quá trình thảo
luận nhóm và là những người hòa đồng, thân thiện với mọi người trong nhóm. 20