Đang tải lên

Vui lòng đợi trong giây lát...

Preview text:

Trường Đại học Thương Mại Khoa Kinh tế - Luật  BÀI THẢO LUẬN Triết học Mác-Lênin
Đề tài: Quy luật Lượng – Chất. Trình bày nội dung quy luật và vận dụng quy luật
vào đời sống học tập của sinh viên và bản thân.
Nhóm 6 – Lớp học phần: 2174MLNP0221 – Thầy hướng dẫn: Phương Kỳ Sơn
Hà Nội, ngày 26 tháng 10 năm 2021 BIÊN BẢN ĐÁNH GIÁ Page | 1 Chứ Tự Nhóm Kết TT Họ tên c Công việc đánh đánh luận trách giá giá
51 Nguyễn Thị Thảo Nguyên TV Viết lời mở đầu 8,5 9 52 Phạm Hồng Nhung TV Tìm hiểu phạm trù lượng 8,5 9 Quy luật chuyển hóa từ những sự thay đổi về 53 Phạm Thị Hồng Nhung TK 8,5 9,5
lượng thành sự thay đổi về chất và ngược lại 54 Nguyễn Nam Phong TV Làm phần kết luận chung 8,5 9
Viết ý đẹp lời hay, tổng 55 Bùi Trần Thu Phương TV hợp và chỉnh sửa thành 8,5 9,3 bản word hoàn chỉnh 56 Đồng Thị Minh Phương TV Viết lời cảm ơn, lời cam đoan 8,5 9 Làm phần khái niệm 57 Ngô Thị Phương TV điểm nút, bước nhảy, 8,5 9
độ, quan hệ biện chứng
Tìm hiểu phạm trù chất, 58 Nguyễn Hà Phương TV quan hệ biện chứng 8,75 9,3 giữa chất và lượng Lập dàn ý phân công 59 Phan Thế Vinh Quang NT nhiệm vụ, làm ý nghĩa 9 9,8 phương pháp luận 60 Nguyễn Thị Như Quỳnh
TV Tìm hiểu lý thuyết: khái niệm độ 8 9 Ý ĐẸP LỜI HAY Page | 2
Quy luật lượng chất là một
trong ba quy luật cơ bản của phép biện
chứng duy vật trong Triết học Mác-
Lênin, chỉ cách thức của sự vận dộng,
phát triển, theo đó sự phát triển được
tiến hành theo cách thức thay đổi lượng
trong mỗi sự vật dẫn đến chuyển hóa
về chất của sự vật và đưa sự vật sang một
trạng thái phát triển tiếp theo.
Ph.Ăng-ghen đã khái quát quy luật này:
“Những thay đổi đơn thuần về lượng,
đến một mức độ nhất định, sẽ chuyển
hóa thành những sự khác nhau về chất”
_Ph.Ăng-ghen_ LỜI CẢM ƠN Page | 3
Trên thực tế, không có sự thành công nào mà không gắn liền với những sự
giúp đỡ, không có anh tài nào lại không có sự hỗ trợ từ người thầy dù ít hay nhiều,
dù trực tiếp hay gián tiếp, tất cả những thành quả chúng ta thu được đều có công
lao của người vun trồng. Ca dao dân ca ta thường nói “không thầy đố mày làm
nên” hay “một chữ cũng là thầy, nửa chữ cũng là thầy” đã giúp chúng ta hiểu rõ
hơn về công lao to lớn của người thầy. “Uống nước nhớ nguồn” hay “ăn quả nhớ
kẻ trồng cây” là những đạo lý ngay từ thuở mới đi học ta đã được thầy cô dạy về tấm lòng biết ơn.
Để hoàn thành bài thảo luận lần này một cách tốt nhất, chúng em xin gửi lời
cảm ơn chân thành nhất đến PGS. TS Phương Kỳ Sơn – Giảng viên cao cấp
Trường Đại học Thương mại đã luôn quan tâm, giúp đỡ, hướng dẫn tận tình, giảng
dạy bằng tất cả tâm huyết, truyền dạy tất cả những tri thức của cuộc đời mình đến
sinh viên chúng em trong suốt học kì vừa qua.
Có lẽ kiến thức của nhân loại là vô hạn mà sự tiếp nhận kiến thức của bản
thân mỗi người luôn tồn tại những hạn chế nhất định. Do đó, trong quá trình hoàn
thành bài thảo luận với những kiến thức còn ít ỏi, những kỹ năng còn hạn hẹp,
chúng em không tránh khỏi sự thiếu sót, sai lầm. Chúng em rất mong nhận được
các ý kiến đóng góp từ thầy và hy vọng thầy có thể thông cảm, bỏ qua cho chúng em.
Lời cuối cùng, chúng em xin kính chúc thầy mạnh khỏe, hạnh phúc, ngập
tràn tâm – trí – lực để cống hiến nhiều hơn cho sự nghiệp giảng dạy cao cả về vĩ đại này.
Chúng em xin chân thành cảm ơn! Page | 4 LỜI CAM ĐOAN
Trong suốt quá trình học tập dưới sự giảng dạy của PGS.TS Phương Kỳ
Sơn, ngoài kiến thức trên lớp, nhóm chúng em đã tham khảo một số giáo trình và
tài liệu có liên quan đến bộ môn Triết học để có thêm những kiến thức, kỹ năng
giúp cho bài thảo luận được đầy đủ và chính xác hơn. Tuy nhiên, nhóm chúng em
xin cam đoan rằng nội dung của bài thảo luận này hoàn toàn được hình thành và
phát triển từ chính các thành viên trong nhóm, được thực hiện trên cơ sở nghiên
cứu lý thuyết, nghiên cứu khảo sát tình hình thực tiễn, không trùng với bất kì bài
nghiên cứu nào trước đây. Page | 5 LỜI MỞ ĐẦU
1. Tầm quan trọng của đề tài.
Nhận thức thế giới là nhu cầu tự nhiên, khách quan của con người. Và chủ
nghĩa Mác-Lênin đã ra đời để trả lời những câu hỏi chung về thế giới, vị trí và vai
trò của con người. Trong đó, phép biện chứng duy vật được coi là phương pháp
luận chung nhất của mọi hoạt động thực tiễn, giúp con người nhận thức rõ được thế giới.
Quy luật lượng – chất là một trong ba quy luật cơ bản của phép biện chứng
duy vật trong triết học Mác-Lênin. Việc nhận thức quy luật này có ý nghĩa thực
tiễn to lớn, giúp con người có ý thức tốt hơn về các vấn đề, hiện tượng trong tự
nhiên và xã hội, hình thành những nhận thức đúng đắn, những phẩm chất đạo đức cách mạng tốt đẹp,…
Chính vì tầm quan trọng của nó nên trong bài thảo luận này, nhóm chúng em
xin tìm hiểu đề tài: “ Quy luật lượng – chất. Trình bày nội dung quy luật và vận
dụng quy luật vào đời sống học tập của sinh viên và bản thân”. 2. Mục đích đề tài:
Làm rõ vấn đề lý luận, vai trò thực tiễn của quy luật lượng - chất, từ đó vận
dụng những kiến thức từ quy luật vào đời sống học tập của sinh viên và bản thân.
3. Nhiệm vụ đề tài: Bài thảo luận này gồm có 2 chương:
Chương I: Quy luật lượng – chất: + Quy luật lượng – chất.
+ Quan hệ biện chướng giữa lượng và chất.
+ Ý nghĩa phương pháp luận.
Chương II: Vận dụng quy luật vào đời sống học tập của sinh viên và bản thân.
4. Cách hoàn thành đề tài.
Trong quá trình nghiên cứu và làm bài, nhóm 6 chúng em đã cố gắng tìm
hiểu các kiến thức từ bài giảng của thầy, trong giáo trình, trên mạng internet…Tuy Page | 6
nhiên với lượng kiến thức và trình độ hiểu biết còn hạn chế thì chắc chắn không
tránh khỏi sự thiếu sót. Vậy nên chúng em rất mong sẽ nhận được sự nhận xét,
những góp ý của thầy cùng các bạn để đề tài nhóm chúng em được hoàn thiện hơn. MỤC LỤC
CHƯƠNG I: QUY LUẬT LƯỢNG – CHẤT. ...................................8
1. Quy luật chuyển hóa từ những thay đổi về lượng thành những thay đổi về
chất và ngược lại. .........................................................................................8
2. Quan hệ biện chứng giữa lượng và chất........................................................10
3. Ý nghĩa phương pháp luận............................................................................12
CHƯƠNG II: VẬN DỤNG QUY LUẬT LƯỢNG – CHẤT VÀO
ĐỜI SỐNG HỌC TẬP CỦA SINH VIÊN, BẢN THÂN.
..................13
1. STT: 51 – Họ tên: Nguyễn Thị Thảo Nguyên – MSV: 21D200243.............13
2. STT: 52 – Họ tên: Phạm Hồng Nhung – MSV: 21D200192........................16
3. STT: 53 – Họ tên: Phạm Thị Hồng Nhung – MSV: 21D200244..................18
4. STT: 54 – Nguyễn Nam Phong – MSV: 21D200245...................................20
5. STT: 55 – Bùi Trần Thu Phương – MSV: 21D200193.................................22
6. STT: 56 – Họ tên: Đồng Thị Minh Phương – MSV: 21D200246................24
7. STT: 57 – Họ tên: Ngô Thị Phương – MSV: 21D200194............................27
8. STT: 58 – Họ tên: Nguyễn Hà Phương – MSV: 21D200247.......................29
9. STT: 59 – Họ tên: Phan Thế Vinh Quang – MSV: 21D200195...................31
10. STT: 60 – Họ tên: Nguyễn Thị Như Quỳnh – MSV: 21D200196...............33 Page | 7
CHƯƠNG III: KẾT LUẬN..................................................................35
CHƯƠNG I: QUY LUẬT LƯỢNG – CHẤT
Quy luật chuyển hóa từ những thay đổi về lượng thành những thay đổi về
chất và ngược lại là quy luật cơ bản, phổ biến về phương thức chung của các quá
trình vận động, phát triển trong tự nhiên, xã hội và tư duy. Theo quy luật này,
phương thức chung của các quá trình vận động, phát triển là: những sự thay đổi về
chất của sự vật có cơ sở tất yếu từ những sự thay đổi về lượng của sự vật và ngược
lại, những sự thay đổi về chất của sự vật lại tạo ra những biến đổi mới về lượng
của sự vật trên các phương diện khác nhau. Đó là mối liên hệ tất yếu, khách quan,
phổ biến, lặp đi lặp lại trong mọi quá trình vận động, phát triển của sự vật thuộc
mọi lĩnh vực tự nhiên, xã hội và tư duy. 1.
Một số khái niệm cơ bản.
a) Khái niệm về chất.
- Chất là phạm trù triết học dùng để chỉ tính quy định khách quan vốn có của
sự vật, hiện tượng; là sự thống nhất hữu cơ của các thuộc tính, yếu tố tạo nên
sự vật, hiện tượng làm cho sự vật, hiện tượng là nó chứ không phải sự vật,
hiện tượng khác (Chất trả lời cho câu hỏi sự vật, hiện tượng đó là cái gì và
giúp phân biệt nó với sự vật, hiện tượng khác).
- Đặc điểm cơ bản của chất là nó thể hiện tính ổn định tương đối của sự vật,
hiện tượng. Nghĩa là khi nó chuyển hóa thành sự vật hiện tượng khác thì
chất của nó vẫn chưa thay đổi. Mỗi sự vật, hiện tượng đều có quá trình tồn
tại và phát triển qua nhiều giai đoạn, trong mỗi giai đoạn ấy nó lại có chất
riêng. Như vậy, mỗi sự vật, hiện tượng không phải chỉ có một chất mà có nhiều chất.
- Chất và sự vật có mối quan hệ chặt chẽ, không tách rời nhau. Trong hiện
thực khách quan không thể tồn tại sự vật không có chất và không thể có chất
nằm ngoài sự vật. Chất của sự vật được biểu hiện qua những thuộc tính của
nó. Nhưng không phải bất kì thuộc tính nào cũng biểu hiện chất của sự vật.
Thuộc tính của sự vật có thuộc tính cơ bản và thuộc tính không cơ bản.
Những thuộc tính cơ bản được tổng hợp lại tạo thành chất của sự vật. Chính
chúng thay đổi hay mất đi thì sự vật mới thay đổi hay mất đi. Nhưng thuộc
tính của sự vật chỉ bộc lộ qua các mối liên hệ cụ thể với các sự vật khác. Bởi
vậy, sự phân chia thuộc tính thành thuộc tính cơ bản và thuộc tính không cơ
bản cũng chỉ mang tính tương đối. Trong mối liên hệ cụ thể này, thuộc tính Page | 8
này là thuộc tính cơ bản thể hiện chất của sự vật, trong mối liên hệ cụ thể
khác sẽ có thêm thuộc tính khác hay thuộc tính khác là thuộc tính cơ bản.
VD: Trong quan hệ với động vật thì các thuộc tính có khả năng chế tạo, sử
dụng công cụ, có tư duy là thuộc tính cơ bản của con người, những thuộc tính khác
không là thuộc tính cơ bản. Trong quan hệ giữa những con người cụ thể thì thuộc
tính của con người về nhận dạng, dấu vân tay,... lại trở thành thuộc tính cơ bản.
- Chất của sự vật không những được quy định bởi chất của những yếu tố,
nghĩa là bởi kết cấu của sự vật. Trong hiện thực các sự vật được tạo thành
bởi các yếu tố như nhau, song chất của chúng lại khác.
VD: kim cương và than chì đều có cùng thành phần hóa học do các nguyên
tố các bon tạo nên nhưng do phương thức liên kết giữa các nguyên tử các bạn là
khác nhau, vì thế chất của chúng hoàn toàn khác nhau. Kim cương rất cứng, còn
than chì lại mềm. Trong một tập thể nhất định nếu phương thức liên kết giữa các cá
nhân biến đổi thì tập thể đó có thể trở nên vững mạnh, hoặc sẽ trở thành yếu kém,
nghĩa là chất của tập thể biến đổi.
 Sự thay đổi về chất của sự vật phụ thuộc vào sự thay đổi các yếu tố cấu thành
sự vật và sự thay đổi phương thức liên kết giữa các yếu tố ấy.
b) Khái niệm về lượng.
-
Lượng là phạm trù triết học dùng để chỉ tính quy định khách quan vốn có
của sự vật, hiện tượng về mặt quy mô, trình độ phát triển, các yếu tố biểu
hiện ở số lượng các thuộc tính, ở tổng số các bộ phận, ở đại lượng, ở tốc độ
và nhịp điệu phát triển của sự vật, hiện tượng.
VD: Đối với mỗi phân tử nước, lượng là số phân tử tạo thành nó, tức là 2
nguyên tử hidro kết hợp với 1 nguyên tử oxi.
- Lượng còn có nhiều biểu hiện khác nhau, ở kích thước dài hay ngắn, số
lượng lớn hay nhỏ, tổng số nhiều hay ít, trình độ cao hay thấp, tốc độ vận
động nhanh hay chậm, màu sắc đậm hay nhạt…
VD: Diện tích Việt Nam là 331,212 km2.
- Đặc điểm cơ bản của lượng là tính khách quan bởi nó là một dạng biểu hiện
vật chất, chiếm một vị trí nhất định trong không gian và tồn tại trong một thời gian nhất định. Page | 9 
Từ hai khái niệm trên, ta có thể khẳng định: Lượng và chất là hai
phương diện khác nhau của cùng một sự vật, hiện tượng hay một quá trình nào đó
trong tự nhiên, xã hội hay tư duy. Hai phương diện đó đều tồn tại khách quan. Tuy
nhiên, sự phân biệt giữa chất và lượng trong quá trình nhận thức về sự vật chỉ có ý
nghĩa tương đối, có cái trong mối quan hệ này đóng vai trò là chất nhưng trong mối
quan hệ khác lại là lượng.
VD: Trong quá trình học, bạn không ngừng tích lũy kiến thức, đó gọi là
lượng. Trong khi đó, bạn vẫn là học sinh lớp 10, tức là chất chưa đổi chỉ có lượng
đổi. Lượng tích lũy đến khi thi cuối năm (điểm nút), bạn lên lớp 11 thì chất đã thay đổi. 2. Quan
hệ biện chứng giữa lượng và chất. Quy luật chuyển hóa từ
những thay đổi về lượng thành những thay đổi về chất và ngược lại.
Mỗi sự vật, hiện tượng đều tồn tại mối quan hệ giữa mặt chất và lượng,
chúng tác động qua lại lẫn nhau một cách biện chứng. Sự thay đổi về lượng sẽ có
thể dẫn tới sự thay đổi về chất, song không phải lúc nào lượng thay đổi thì chất sẽ
thay đổi, quá trình thay đổi của lượng diễn ra theo xu hướng hoặc tăng, hoặc giảm
nhưng không lập tức dẫn đến sự thay đổi về chất của sự vật, hiện tượng. Khi lượng
thay đổi đến giới hạn nhất định (đến độ) mới dẫn đến sự thay đổi về chất . Như
vậy, sự thay đổi về lượng tạo điều kiện cho chất thay đổi và kết quả là sự vật, hiện
tượng cũ mất đi, sự vật, hiện tượng mới ra đời. a) Khái niệm độ.
-
Chỉ tính quy định, mối liên hệ thống nhất giữa chất và lượng, là khoảng giới
hạn mà trong đó sự thay đổi về lượng chưa làm thay đổi căn bản chất của sự vật, hiện tượng.
-Bất kỳ sự vật, hiện tượng nào cũng có chất và lượng. Khi sự vật vận động và
phát triển, chất và lượng của nó cũng vận động, biến đổi, thay đổi. Sự thay
đổi của lượng và của chất không diễn ra độc lập mà có quan hệ chặt chẽ với nhau.
-Nhưng không phải bất kỳ sự thay đổi nào về lượng cũng ngay lập tức làm
thay đổi căn bản chất của sự vật. Lượng của sự vật có thể thay đổi trong giới
hạn nhất định mà không làm thay đổi căn bản chất của sự vật đó. Giới hạn đó chính là “độ”. - VD:
 Người sống lâu nhất thế giới từng được biết đến có tuổi thọ 146 tuổi.
Nên với dữ kiện này, ta có thể thấy giới hạn từ 0 – 146 năm là “độ” của Page | 10
con người xét về mặt tuổi. Diễn đạt một cách chính xác hơn: Sự thống
nhất giữa trạng thái còn sống và số tuổi từ 0 – 146 là “độ tồn tại” của con
người. (Thuật ngữ “độ tuổi” mà chúng ta hay dùng cũng ít nhiều liên quan ở đây).
 Từ 0 đến dưới 100 độ C, nước vẫn ở thể lỏng. Trong khoảng 0 < t < 100
độ C, sự thống nhất giữa trạng thái nước lỏng và nhiệt độ C tương ứng là
“độ” tồn tại của nước lỏng. (Ở đây cần phân biệt “độ C” và “độ tồn tại” là
hai khái niệm khác nhau). Nếu quá 100 độ C, nước sẽ chuyển thành hơi
nước. Nếu ở dưới 0 độ C, nước sẽ ở thể rắn.
 Muốn chất thay đổi ta phải cung cấp một lượng sao cho nó đạt đến một điểm
nhất định. Đó là điểm nút.
b) Khái niệm điểm nút.
-
Điểm nút là điểm giới hạn mà tại đó, sự thay đổi về lượng đạt tới chỗ phá vỡ
độ cũ, làm cho chất của sự vật, hiện tượng thay đổi, chuyển thành chất mới.
Độ mới và điểm nút mới của sự vật, hiện tượng cũng được hình thành. c) Bước nhảy.
-
Khái niệm: bước nhảy chỉ thời điểm mà lượng chuyển sang chất.
-Đặc điểm của bước nhảy: sự kết thúc một gia đoạn phát triển của sự vật và là
điểm khởi đầu của một giai đoạn phát triển mới. Nó là sự gián đoạn trong
quá trình vận động và phát triển liên tục của sự vật.
-Các hình thức cơ bản của bước nhảy:
Do bản chất của các sự vật, hiện tượng và mối quan hệ của nó với các sự vật, hiện
tượng khác để đủ lượng tác động làm thay đổi chất thì ta cần thực hiện một lượng
bước nhảy xác định, từ đó tạo nên sự phong phú và đa dạng của bước nhảy.
 Dựa trên nhịp điệu bước nhảy ( thời gian của sự thay đổi ) ta chia thành
bước nhảy tức thời và bước nhảy dần dần.
+ Bước nhảy tức thời là bước nhảy thực hiện trong thời gian ngắn,
làm chất của sự vật, hiện tượng biến đổi nhanh ở tất cả các bộ phận của nó.
+ Bước nhảy dần dần là quá trình thay đổi về chất diễn ra bằng cách
tích lũy dần những yếu tố của chất mới và loại bỏ dần các yếu tố của chất cũ.
 Dựa vào quy mô, nhịp độ của bước nhảy ta phân chia làm bước nhảy cục
bộ và bước nhảy toàn bộ. Page | 11
+ Bước nhảy cục bộ là bước nhảy làm thay đổi chất của những mặt,
những yếu tố riêng rẽ của sự vật, hiện tượng.
+ Bước nhảy toàn bộ là bước nhảy làm thay đổi toàn bộ chất của sự vật, hiện tượng.
Trên thực tế, muốn thực hiện bước nhảy toàn bộ ta phải thực hiện các bước nhảy cục bộ.
Mọi đối tượng đều là sự thống nhất của hai mặt đối lập chất và lượng. Khi vượt
qua giới hạn nào đó gọi là điểm nút thì bước nhảy được hình thành và chất của sự
vật, hiện tượng bắt đầu được thay đổi. Khi chất được hình thành thì sẽ có tác động
trở lại tới lượng của sự vật, hiện tượng, quy định nên điểm nút và độ mới. Quá
trình đó diễn ra liên tục làm cho sự vật, hiện tượng không ngừng vận động, phát triển.
 Quy luật chuyển hóa từ những thay đổi về lượng thành những thay đổi về chất và ngược lại.
Quy luật này chỉ ra cách thức chung nhất của sự vận động và phát triển,
khi cho thấy sự thay đổi về chất chỉ xảy ra khi sự vật, hiện tượng đã tích lũy những
thay đổi về lượng đạt ngưỡng nhất định. Quy luật cũng chỉ ra tính chất của sự vận
động và phát triển, khi cho thấy sự thay đổi về lượng của sự vật, hiện tượng diễn ra
từ từ kết hợp với sự thay đổi nhảy vọt về chất làm cho sự vật, hiện tượng vừa tiến
bước tuần tự vừa có những bước đột phá vượt bậc. Phương thức chung của các quá
trình vận động, phát triển là: những sự thay đổi về chất của sự vật có cơ sở tất yếu
từ những sự thay đổi về lượng của sự vật và ngược lại, những sự thay đổi về chất
của sự vật lại tạo ra những biến đổi mới về lượng của sự vật trên các phương diện
khác nhau. Đó là mối liên hệ tất yếu, khách quan, phổ biến, lặp lại trong mọi quá
trình vận động, phát triển của sự vật, thuộc mọi lĩnh vực tự nhiên, xã hội, tư duy. 3.
Ý nghĩa phương pháp luận.
Ý nghĩa phương pháp luận Quy luật lượng – chất giúp chúng ta nhận thức được
phương thức vận động và phát triển của sự vật. Điều này có ý nghĩa quan trọng
trong nhận thức và hoạt động thực tiễn.
-Mọi sự vật, hiện tượng đều tồn tại hai mặt chất và lượng thống nhất, nên
trong nhận thức và thực tiễn cần coi trọng cả hai chỉ tiêu định tính và định lượng. Page | 12
-Trong nhận thức và thực tiễn phải biết tích lũy đủ về lượng để đạt được
những biến đổi về chất, tránh chủ quan nóng vội, đốt cháy giai đoạn hoặc
bảo thủ, trì trệ, thụ động.
-Phải có thái độ khách quan, khoa học, khi lượng đã đạt đến điểm nút thì phải
chủ động và quyết tâm thực hiện bước nhảy, đó là yêu cầu khách quan của
sự vận động và phát triển, trong lĩnh vực xã hội phải chú ý đến điều kiện chủ
quan, phải tránh thụ động, ỷ lại.
-Phải nhận thức được phương thức liên kết giữa các yếu tố tạo thành sự vật,
hiện tượng để lựa chọn phương pháp phù hợp.
CHƯƠNG II: VẬN DỤNG QUY LUẬT VÀO
ĐỜI SỐNG HỌC TẬP CỦA SINH VIÊN VÀ BẢN THÂN.
STT: 51 – Họ tên: Nguyễn Thị Thảo Nguyên – MSV: 21D200243
Trải qua mười hai năm đèn sách, giờ đây em rất sung sướng và tự hào khi đã
trở thành tân sinh viên khóa 57 của Trường Đại học Thương Mại - một ngôi trường
đại học danh giá, có chất lượng đào tạo trình độ đại học và sau đại học hàng đầu tại
Việt Nam. Và em nhận ra rằng, trong quá trình học tập của chúng em, quá trình
tích lũy tri thức luôn không ngừng vận động biến đổi. Sự vận động, biến đổi đó
mang tên quy luật “Chuyển hóa từ những sự thay đổi về lượng thành những sự
thay đổi về chất và ngược lại”. Quá trình tích lũy tri thức ở mỗi người là khác
nhau, tùy thuộc vào khả năng, mục đích, điều kiện của mỗi người. Và việc vận
dụng quy luật ấy vào đời sống học tập của sinh viên và bản thân là rất cần thiết và quan trọng.
Quá trình tích lũy kiến thức của học sinh, sinh viên là một quá trình lâu dài
và bền bỉ. Để trải qua quá trình ấy, cá nhân mỗi người cần có sự nỗ lực không chỉ
từ gia đình, nhà trường mà còn từ chính bản thân mình. Quy luật về mối quan hệ
giữa lượng và chất thể hiện ở chỗ mỗi học sinh, sinh viên tích lũy lượng (kiến
thức) qua những bài học trên lớp trong từng môn cụ thể và từ thực tế xã hội. Việc
tích lũy kiến thức sẽ được đánh giá qua các bài kiển tra năng lực. Trong giai đoạn
tích lũy kiến thức (độ), các kì kiểm tra đánh giá là điểm nút, còn bước nhảy là sự
chuyển đổi từ giai đoạn này sang giai đoạn khác, cũng nghĩa là sự thay đổi về chất.
Là một sinh viên khóa 57 Trường Đại học Thương Mại có quá trình học tập
kéo dài bốn năm từ năm 2021 đến năm 2025, khi đó lượng không ngừng tăng lên,
đó chính là kiến thức. Cũng như học sinh Trung học phổ thông, sinh viên Đại học Page | 13
muốn có được tấm bằng đại học cần tích lũy đủ số tín chỉ học phần. Tuy nhiên,
việc tích lũy kiến thức ở bậc Đại học có nhiều khác biệt, đó là sinh viên không thể
thụ động tiếp thu kiến thức đơn thuần, mà còn phải tự tìm tòi, nghiên cứu từ những
kiến thức mới qua chỉ dẫn của giảng viên. Nó không chỉ bao gồm những kiến thức
cơ bản có trong giáo trình, sách vở mà kiến thức đó còn là những kĩ năng mềm bên
ngoài từ cách sử dụng từ ngữ đến xử lý thông tin, phân tích và giải quyết các tình
huống trong xã hội. Việc tiếp thu kiến thức còn vô cùng phong phú và đa dạng, từ
bề nổi đến chuyên sâu, từ cơ bản đến nâng cao, từ ít đến nhiều. Tuy nhiên quá trình
đó chưa đủ để làm thay đổi về chất của sinh viên Thương Mại. Chất của sinh viên
chỉ có thể được thay đổi khi lượng kiến thức của sinh viên đó đủ để vượt qua các
điểm nút tức là những kì thi, đặc biệt là kì thi kết thúc học phần. Trong đó điểm nút
qua trọng nhất là sau khi viết luận văn, luận án đến ngày nhận bằng tốt nghiêp. Đó
chính là điểm nút lớn nhất đánh dấu bước nhảy từ sinh viên Thương Mại trở thành
một cử nhân Thương Mại. Điều đó chứng minh rằng lượng (kiến thức) được tích
lũy qua bốn năm học lâu dài của sinh viên đó đã đầy đủ để làm chất sinh viên
Thương Mại thay đổi. Ngoài ra, là một sinh viên Thương Mại, ta phải tự trang bị
cho mình tính tích cực, tự chủ, nghiêm túc, trung thực. Trong một kỳ thi, nếu có
học viên gian lận để vượt qua kỳ thi với một kết quả tốt, nhưng về bản chất thì vẫn
chưa có được sự biến đổi nào về chất, khi học những kiến thức sâu hơn, khó hơn
chắc chắn họ sẽ không tiếp thu được. Và vì thế dù có trải qua bốn năm đại học với
tấm bằng loại Giỏi hay Xuất Sắc đi chăng nữa thì họ vẫn không đáp ứng được yêu
cầu công việc sau này. Bên cạnh đó, sau khi thay đổi, chất tác động ngược lại đến
lượng. Đó là sau khi trở thành cử nhân Thương Mại thì việc tiếp thu kiến thức
chuyên ngành hay kĩ năng xử lý các tình huống và khả năng giao tiếp cũng sẽ trở
nên tốt hơn khi còn là sinh viên. Điều này thúc đẩy cử nhân Thương Mại tiếp tục
tiếp thu những tri thức mới ở cấp độ cao hơn để hoàn thiện bản thân.
Ở các cấp học dưới, em vẫn chưa hiểu rõ và vận dụng đúng đắn quy luật
lượng chất vào cuộc sống hiện thực của em, nhưng khi bước chân vào giảng đường
Trường Đại học Thương Mại, dưới sự dạy dỗ và hướng dẫn nhiệt tình của thầy
giáo Phương Kỳ Sơn- giảng viên cao cấp của trường thì em đã nhận thức rõ và ý
thức được tầm quan trọng của quy luật này dù thầy và các bạn sinh viên như chúng
em chỉ được tương tác gián tiếp qua màn hình máy tính trong thời gian dịch bệnh
vẫn còn tiếp diễn. Trở thành sinh viên, em phải hiểu rõ rằng trong quá trình tiếp
thu kiến thức ở bậc Đại học, bản thân mình phải chủ động tiếp cận tri thức, để tri
thức ngấm sâu vào nhận thức, cung cấp cho bản thân thật nhiều kiến thức để thực
hiện những bước nhảy quan trọng cuộc đời, từ đó luyện cho bản thân những đức
tính quan trọng: kỷ luật, tự chủ, nghiêm túc, trung thực. Thế nhưng, bản thân em
cũng ý thức được rằng, việc học là việc cả đời, chúng ta không nên vội vàng, hấp
tấp trong việc học, tránh việc đối cháy giai đoạn theo cách không hiệu quả, chậm Page | 14
mà chắc. Từ những bài giảng của thầy Sơn và những kiến thức đã được học trong
bộ môn Triết học Mác- Lênin, đặc biệt là hiểu được nội dung quy luật lượng chất,
quá trình học tập của em có hiệu quả rõ rệt, tư duy trong mọi lĩnh vực trở nên nhạy
bén hơn. Hằng ngày, nhờ vận dụng quy luật để quan sát cuộc sống thì cuộc sống
này trở nên có ích hơn, cung cấp cho bản thân em nhiều kỹ năng mà bản thân còn thiếu sót.
Như vậy, nhận thức đúng đắn được khái niệm, mối quan hệ biện chứng và ý
nghĩa phương pháp luận của quy luật lượng chất giúp chúng ta biết vận dụng để
giải quyết các tình huống về tự nhiên, xã hội và tư duy; lý giải được sự vận động
và phát triển của mọi sự vật để có những phương pháp và cách thức giải quyết một
cách đúng đắn những vẫn đề đó trong thực tiễn cuộc sống. Và hay hơn, trong bài
thơ “Thêm một”, nhà thơ Trần Hòa Bình đã đem đến cho ta một cái nhìn mới mẻ
và nghệ thuật hơn về quy luật này: Thêm một chiếc lá rụng Thế là thành mùa thu Thêm một tiếng chim gù Thành ban mai tinh khiết… Dĩ nhiên là tôi biết
Thêm một - phiền toái thay! Nhưng mà tôi cũng biết
Thêm một - lắm điều hay… Page | 15
STT: 52 – Họ tên: Phạm Hồng Nhung – MSV: 21D200192
Nguồn học là vô tận và con người khi đứng trước kiến thức rộng lớn của
nhân loại lại trở thành một loài sinh vật bé nhỏ, giống như hạt cát giữa sa mạc rộng
lớn. Vì vậy bên cạnh việc phát triển về thể xác, tinh thần thì em còn phải luôn tự
mình tiếp thu những tri thức của nhân loại, trước hết là để phục vụ cho bản thân và
sau đó là phục vụ xã hội. Và quá trình tích lũy tri thức của con người cũng không
nằm ngoài quy luật lượng chất. Thông qua việc nghiên cứu nội dung quy luật
chuyển hóa từ những sự thay đổi về lượng thành những sự thay đổi về chất dưới sự
hướng dẫn của thầy Phương Kỳ Sơn, em đã vận dụng quy luật này trong quá trình
học tập và rèn luyện của em.
Thứ nhất theo nội dung quy luật thì sự vận động và phát triển của sự vật bao
giờ cũng diễn ra bằng cách tích lũy dần dần về lượng đến một giới hạn nhất định
thực hiện bước nhảy đê chuyển về chất mới thì với quá trình học tập của em cũng
vậy. Với tư cách là một học sinh trải qua 12 năm miệt mài đèn sách, khó khăn cùng
sự cố gắng không biết mệt mỏi, không ngừng nghỉ của bản thân, ngày ngày đến
trường học tập và rèn luyện tiếp thu tích lũy kiến thức, vượt qua vô số bài kiểm tra
để đánh giá năng lực để tự tin bước vào một kỳ thi có thể nói đó là một kỳ thi quan
trọng nhất của học sinh đó là kỳ thi đại học, …. Như vậy, quá trình học tập, tích
lũy kiến thức là độ, các bài kiểm tra, các kì thi là điểm nút và việc học sinh được
sang một cấp học cao hơn là bước nhảy. Trong suốt 12 năm học, em đã thực hiện
nhiều bước nhảy khác nhau. Trước hết là bước nhảy để chuyển từ một học sinh
trung học lên học sinh phổ thông và kỳ thi lên cấp 3 là điểm nút, đồng thời nó cũng
là điểm khởi đầu mới trong việc tích lũy lượng mới (tri thức mới) để thực hiện một
bước nhảy vô cùng quan trọng trong cuộc đời: vượt qua kì thi đại học. Và rồi đỗ
đại học thì em mới hoàn toàn có sự biến đổi về chất chở thành một sinh viên đại
học Thương Mại. Đối với những người đã tích lũy đủ những kiến thức cần thiết
như em, họ sẽ vượt qua kỳ thi và trở thành sinh viên đại học. Tuy nhiên bên canh Page | 16
đó đối với những người khác do việc tích lũy kiến thức chưa đủ lượng, chưa đủ
nhiều, chưa sâu sắc thì họ sẽ chưa vượt qua được kỳ thi, họ có thể sẽ mất thêm thời
gian để tích lũy thêm bằng cách thi vào năm sau.
Thứ hai trong học tập em cần chủ động linh hoạt tiếp thu kiến thức, tránh tự
tưởng “hữu khuynh” bảo thủ trì trệ. Quá trình học tập ở đại học không phải chỉ bắt
đầu ở giảng đường khi em nghe thầy giáo giảng bài hoặc trao đổi tranh luận, quá
trình này chỉ thật sự bắt đầu khi em chuẩn bị một cách tích cực các điều kiện cần
thiết để tiếp cận môn học như: đọc trước giáo trình, tìm tài liệu có liên quan. Sự
chuẩn bị này càng trở nên hiệu quả hơn khi đi liền với nó là một sự chuẩn bị về
mặt tâm thế để có thể tiếp cận kiến thức một cách chủ động sáng tạo. Với sự chuẩn
bị tâm thế này, em có thể chủ động tự đặt trước cho mình một số câu hỏi có liên
quan đến nội dung được đặt trên lớp, thậm chí có thể tự tạocho mình một cái “
khung tri thức” để trên cơ sở đó có thể tiếp nhận bài học một cách hệ thống. Với
cách chuẩn bị tri thức mà em có được không phải là một tri thức được truyền đạt
một chiều từ phía thầy mà còn do chính em tự tạo ra bằng cách chuẩn bị các điều
kiện thực tế và tâm thể thuận lợi cho sự tiếp nhận tri thức.
Thứ ba, áp dụng vào việc học tập nghiên cứu, nhất là trong các giờ thảo luận
tại trường Đại học Thương mại, em học được tinh thần đoàn kết giúp đỡ nhau cùng
tiến bộ như ngạn ngữ Trung quốc có câu” Gieo hành vi gặt thói quen, gieo thói
quen gặt tính cách, gieo tính cách găp số phận”, câu nói đó có ý nghĩa triết học của
nó. Coi những kinh nghiệm của bạn bè đã được phân tích chọn lọc là những bài
học quý báu trong cuộc sống hàng ngày, em phấn đấu không để cho tính cá nhân,
tích ích kỉ của bản thân phát triển. Trong học tập cần có sự đoàn kết nhưng điều đó
không có nghĩa là chúng ta bao che giấu điểm cho nhau những khuyết điểm sai sót
mà ngược lại chúng ta phải đấu tranh thẳng thắn với những sai lầm thiếu sót đó.
Ngoài ra chúng ta mỗi người cần làm tốt công tác phê bình và tự phê bình và phải
luôn có tinh thần vươn lên. Sinh viên phải sẵn sàng tạo ra những điều kiện thuận
lợi cho bạn trong học tập cũng như nghiên cứu, đảm nhận phân khó về mình.
Những tình bạn như vậy chắc chắn sẽ tạo nên một tập thể vững chắc, đoàn kết, yêu thương lẫn nhau.
Như vậy, việc vận dụng nội dung quy luật về mối quan hệ biện chứng giữa
lượng và chất vào đời sống của sinh vên có vai trò to lớn trong việc học tập và rèn
luyện của em. Những việc làm vĩ đại bao giờ cũng tổng hợp những việc làm bình
thường, vì vậy em luôn phải luôn tích cực học tập, chủ động trong công việc học
tập và rèn luyện của mình cả đức và tài, để trở thành một con người phát triển toàn
diện, tránh tư tưởng chủ quan, nóng vội mà không chịu tích lũy về kiến thức Page | 17
(lượng). Cũng như trong hoạt động của mình ông cha thường có câu: “tích tiểu
thành đại”, “năng nhặt, chặt bị”...
Cuối cùng, một lần nữa em chân thành cảm ơn thầy Phương Kỳ Sơn, tuy
thầy có nhiều quy định nghiêm khắc nhưng các tiết học của thầy đều được xen kẽ
bằng những câu chuyện hài hước, tạo cảm hứng cho sinh viên. Phương pháp thảo
luận của thây khác biệt so với các thầy cô khác, nhưng chính vì thế mà cách giảng
của thầy khiến em dễ hiểu bài hơn đối với một môn mang tính trừu tượng thế này.
Thầy luôn có lối đi riêng, việc có thêm phần bài cá nhân và quá trình thảo luận các
thành viên đều có nhiệm vụ đứng lên phát biểu bài làm của mình khiến cho không
bạn nào phải đảm nhận công việc giúp bạn khác và điểm số được đánh giá đúng
theo khả năng hoàn thành bài của bản thân. Cảm ơn thầy đã mang đến cho chúng
em kinh nghiệm sống và học tập vô cùng quý giá.
STT: 53 – Họ tên: Phạm Thị Hồng Nhung – MSV: 21D200244
Thật may mắn và tự hào khi giờ đây, em – một người con của quê hương
Thanh Hóa sau bao năm cố gắng và học tập không ngừng nghỉ đã có thể trở thành
một sinh viên của trường Đại học Thương Mại. Có thể thấy quy luật chuyển hóa từ
sự thay đổi về lượng dẫn đến sự thay đổi về chất đã được vận dụng vào quá trình
học tập ấy. Một ví dụ đơn giản, nếu học phổ thông thì một môn học sẽ kéo dài
trong một năm, vì thế khối lượng kiến thức được chia đều ra kiến học sinh dễ dàng
tiếp nhận hơn. Trong khi ở Đại học một môn chỉ kéo dài khoảng từ 1 đến 2 tháng.
Rõ ràng sự tăng lên đáng kể về số lượng kiến thức sẽ khiến tân sinh viên gặp
những khó khăn. Chính vì thế sinh viên cần phải chủ động tìm hiểu và sẵn sàng để
thích nghi với sự thay đổi này. Không chỉ khác biệt về khối lượng kiến thức, học
đại học và phổ thông còn có sự khác biệt về sự đa dạng kiến thức. Tiếp đến là các
nhiệm vụ trong học tập, nếu học phổ thông hoạt động chủ yếu là ở trên lớp còn học
đại học còn đi kiến tập, thực tập,... Đây là cơ hội cũng nhưng cũng là thách thức
cho sinh viên. Ở đây là sự khác nhau về bản chất chứ không chỉ là sự thay đổi về
hình thức, bởi vậy có thể nói sự chuyển đổi từ phổ thông lên Đại học cũng giống
như quá trình biến đổi từ lượng thành chất. Chính vì vậy để có được những kết quả
tốt cần từng bước tích lũy kiến thức một cách đầy đủ. Như chúng ta đã biết, sự vận
động và phát triển của sự vật bao giờ cũng diễn ra bằng cách tích lũy dần dần về
lượng đến một giới hạn nhất định, thực hiện bước nhảy để chuyển về chất và việc
học tập của sinh viên cũng không nằm ngoài điều đó. Để có một tấm bằng Đại học
chúng ta cần phải tích lũy đủ số lượng các tín chỉ của các môn học. Như vậy có thể
coi học tập là quá trình tích lũy về lượng mà điểm nút là các kỳ thi, thi cử là bước
nhảy và điểm số xác định quá trình tích lũy kiến thức đã đủ dẫn tới sự chuyển hóa
về chất hay chưa. Do đó, trong hoạt động nhận thức, học tập của sinh viên phải biết Page | 18
từng bước tích lũy về lượng (tri thức) làm biến đổi về chất (kết quả học tập) theo
quy luật. Cần học tập đều đặn hằng ngày để chất được thấm sâu vào mỗi sinh viên.
Tránh gặp gấp rút mỗi khi sắp đến kỳ thi, như vậy là thiếu kinh nghiệm nhận thức
được trong quá trình học tập. Tránh tư tưởng chủ quan, nóng vội trong học tập và
trong hoạt động thực tiễn hàng ngày. Trong quá trình học tập và rèn luyện của sinh
viên cần tránh tư tưởng “tả khuynh”, tức là, khi lượng chưa biến đổi đến điểm nút
đã thực hiện bước nhảy. Sinh viên khi học đủ những kiến thức cơ bản có sự biến
đổi về chất mới có thể học tiếp những kiến thức sâu hơn, khó hơn. Học tập nghiên
cứu từ dễ đến khó là phương pháp học tập mang tính khoa học mà chúng ta đều
biết nhưng trong thực tế, không phải ai cũng có thể thực hiện được. Nhiều sinh
viên trong quá trình đi học tập do không tập trung, còn mải mê vui chơi, dẫn đến
sự chậm chễ trong học tập, rồi “nước tới chân mới nhảy”, khi sắp thi họ mới tập
trung cao độ vào việc học. Giai đoạn ôn thi là lúc ta củng cố lại kiến thức chứ
không phải học mới, do đó sinh viên học tập chăm chỉ trong thời gian này không
thể đảm bảo lượng kiến thức qua được kỳ thi. Ngược lại có nhiều sinh viên có ý
thức học ngay từ đầu, nhưng họ lại nóng vội, muốn học nhanh, nhiều để hơn người
khác, chưa học cơ bản đã đến nâng cao, “chưa học bò đã lo học chạy”. Như vậy,
muốn tiếp thu được tri thức ngày càng nhiều và đạt được kết quả cao, thì mỗi sinh
viên cần phải hàng ngày học tập, học từ thấp đến cao, từ dễ đến khó để có sự biến
đổi về chất. Xét theo quan điểm của triết học, chất thay đổi sẽ tác động trở lại
lượng của sự vật. Sự tác động đó được thể hiện: Chất mới có thể làm thay đổi kết
cấu quy mô, trình độ, nhịp điệu của sự vật. Khi đã đỗ vào đại học, trở thành sinh
viên chúng ta được tiếp cận những tri thức cao hơn, sâu hơn. Nhiệm vụ của mỗi
sinh viên là phải tiếp tục học hỏi, trau dồi thêm những kiến thức (tích lũy về
lượng), trở thành những giáo viên, nhà quản lý văn hóa, họa sỹ... đóng góp cho xã
hội, tránh tinh thần thỏa mãn với những gì đã đạt được. Trong quá trình học tập,
sinh viên phải trải qua rất nhiều kỳ thi. Kết quả tốt của các kỳ thi đánh dấu ta kết
thúc một giai đoạn và bước sang một giai đoạn mới đòi hỏi chúng ta có một trình
độ cao hơn, lượng kiến thức nhiều hơn, chính vì vậy, mỗi sinh viên cần phải không
ngừng học tập phấn đấu để tiếp cận những tri thức mới ở trình độ cao hơn.
Tóm lại, việc vận dụng nội dung quy luật về mối quan hệ biện chứng giữa
lượng và chất cũng như ý nghĩa phương pháp luận của nó có vai trò to lớn trong
việc học tập và rèn luyện của sinh viên. Lượng và chất là hai mặt thống nhất biện
chứng của sự vật, chỉ khi nào lượng được tích lũy tới một độ nhất định mới làm
thay đổi về chất, do đó trong hoạt động nhận thức, hoạt động học tập của sinh viên
phải tích lũy dần về lượng và đồng thời phải biết thực hiện và thực hiện kịp thời
những bước nhảy khi có điều kiện chín muồi để biến đổi về chất. Những việc làm
vĩ đại của con người bao giờ cũng tổng hợp từ những việc làm bình thường, vì vậy
mỗi sinh viên phải luôn tích cực học tập, chủ động trong công việc học tập và rèn Page | 19
luyện của mình cả đức và tài, để trở thành một con người phát triển toàn diện,
tránh tư tưởng chủ quan, nóng vội mà không chịu tích lũy về kiến thức (lượng).
Em cảm thấy rất vui khi lần này đã được tham gia học phần Những nguyên
lí cơ bản của chủ nghĩa Mác-Lênin với sự giảng dạy vô cùng bổ ích của thầy
Phương Kỳ Sơn. Thầy rất hiểu học sinh vì thế mà luôn có những đổi mới trong
cách dạy của mình để có thể giúp chúng em hiểu bài một cách sâu sắc nhất, không
phải là những kiến thức khô khan khó hiểu ở giáo trình mà thầy đã giúp chúng em
tóm tắt kiến thức gắn liền với cuộc sống gần gũi. Trong các buổi học đôi khi cần có
sự nghiêm túc nhưng không vì thế mà thầy quá khắt khe, ngược lại, thầy còn có
những câu chuyện vui kể cho chúng em, giúp buổi học hiệu quả hơn rất nhiều.
Không chỉ thế mà ngay cả phương pháp thảo luận của thầy cũng vô cùng đặc biệt,
giúp cho sinh viên vừa có thể làm việc nhóm vừa có bài đánh giá của riêng mình.
Em thật sự cảm ơn thầy đã cho em học tập và trải nghiệm một học phần tưởng như
khô khan nhưng lại đầy triết lý sống và bổ ích.
STT: 54 – Nguyễn Nam Phong – MSV: 21D200245
Trong bối cảnh xã hội vận động và phát triển mạnh mẽ như hiện nay, mỗi
người phải liên tục thay đổi, phát triển bản thân để có thể thích nghi với môi
trường mới. Để thích ứng với xu hướng, chúng ta phải có một tâm thế vững vàng
nhằm giúp đất nước ta vươn tầm quốc tế. Đó chính là trách nhiệm của mỗi sinh
viên chúng ta. Để làm được điều đó, em cần vận dụng tốt quy luật Lượng – Chất
vào trong đời sống của bản thân mình để có được định hướng đúng đắn trong học tập.
Từ khi còn là học sinh trung học phổ thông, em đã tích lũy được lượng kiến
thức nhất định để có thể thi vào Đại học, thời gian học của em có thể coi là độ, các
kỳ thi lên lớp có thể coi là các điểm nút và khi đỗ vào Đại học có thể coi là bước
nhảy. Ở trung học phổ thông em được gọi là học sinh còn lên đại học được gọi là
sinh viên, đó là thay đổi về chất. Khi em tích lũy một lượng kiến thức nhất định để
có thể đỗ vào Đại học cũng chính là thay đổi về lượng và chất.
Khi là sinh viên tại đại học, để có tấm bằng Đại học em phải tích lũy đủ số
lượng các học phần và tín chỉ. Như vậy, có thể coi thời gian học là độ, các kỳ thi là
các điểm nút và kết quả kỳ thi đạt yêu cầu là bước nhảy. Khi vào đại học em được
gọi là sinh viên, sau quá trình tích lũy đủ các học phần, cầm được tấm bằng Đại
học em được gọi là cử nhân. Vì vậy, em đã tích lũy về lượng (tri thức) để biến đổi
về chất (kết quả học tập). Có thể nói, mọi vật đều là sự thống nhất giữa lượng và
chất, sự thay đổi của lượng sẽ dấn tới sự thay đổi về chất của sự vật thông qua Page | 20