



















Preview text:
TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI
KHOA KINH TẾ VÀ KINH DOANH QUỐC TẾ
ĐỀ TÀI THẢO LUẬN
HỌC PHẦN TRIẾT HỌC MÁC – LÊNIN. Đề tài:
NỘI DUNG QUY LUẬT LƯỢNG ĐỔI - CHẤT ĐỔI.
VẬN DỤNG QUY LUẬT NÀY VÀO ĐỜI SỐNG HIỆN NAY. Nhóm: 3
Lớp học phần: 2088MLNP0221
Giáo viên hướng dẫn: Phạm Thị Hương
Hà Nam, tháng 11 năm 2020 1 KẾT CẤU ĐỀ TÀI A. LỜI MỞ ĐẦU: B. NỘI DUNG:
Chương 1: NỘI DUNG QUY LUẬT LƯỢNG – CHẤT:
I. Phạm trù “chất”, “lượng”:
1. Phạm trù “chất”.
2. Phạm trù “lượng”.
II. QUAN HỆ BIỆN CHỨNG GIỮA CHẤT VÀ LƯỢNG:
1. Tính thống nhất giữa chất và lượng.
2. Sự thay đổi về lượng dẫn đến sự thay đổi về chất và ngược lại.
3. Chất mới ra đời tác động trở lại lượng của sự vật.
III. Ý NGHĨA PHƯƠNG PHÁP LUẬN:
Chương 2: VẬN DỤNG QUY LUẬT LƯỢNG – CHẤT VÀO ĐỜI SỐNG SINH VIÊN HIỆN NAY:
I. Đời sống sinh viên hiện nay.
II. Những phương hướng để nâng câo chất lượng đời sống sinh viên trong thời gian tới. C. PHẦN KẾT LUẬN. 2 A.LỜI MỞ ĐẦU
Triết học Mác-Lênin là bộ phận lý luận nghiên cứu những quy luật vận
động, phát triển chung nhất của tự nhiên, xã hội và tư duy; xây dựng thế giới
quan, phương pháp luận chung nhất của nhận thức khoa học và thực tiễn cách
mạng. “Quy luật” là sản phẩm của tư duy khoa học phản ánh sự liên hệ của
các sự vật, hiện tượng và tính chỉnh thể của chúng. Các quy luật của tự nhiên,
xã hội cũng như của tư duy con người đều mang tính khách quan. Con người
không thể tạo ra hoặc xóa bỏ được quy luật mà chỉ có thể nhận thức và vận
dụng vào thực tế. Trong những quy luật đó, quy luật chuyển hóa từ những sự
thay đổi về lượng thành những sự thay đổi về chất và ngược lại là một vấn đề
cơ bản của phép biện chứng duy vật triết học Mác. Quy luật này chỉ ra
phương thức vận động, thay đổi, phát triển của các sự vật trong lĩnh vực tự nhiên, xã hội và tư duy.
Hiện nay, nước ta đang trong thời kì quá độ lên CNXH, bỏ qua giai đoạn
phát triển của CNTB, việc nhận thức đúng đắn quy luật lượng- chất sẽ có ý
nghĩa rất lớn trong quá trình hình thành và phát triển kinh tế thị trường định hướng XHCN.
Vận dụng quy luật biến đổi giữa lượng và chất, Nhà nước đang có sự tích
lũy đủ về lượng để có thể tạo được bước nhảy thay đổi về chất. Do vậy,
nghiên cứu về quy luật này sẽ giúp chúng ta có những hiểu biết sâu sắc hơn
về sự phát triển và quy luật vận động. Từ đó, chúng ta có thể góp một phần
nhỏ bé của mình vào sự nghiệp xây dựng đất nước sau này.
Qua bài thảo luận này, nhóm em xin được trình bày nội dung về quá trình
biến đổi giữa lượng và chất. Qua đó liên hệ vào quá trình xây dựng và phát triển CNXH ở nước ta. 3 B.NỘI DUNG Chương 1:
NÔI DUNG QUY LUẬT LƯỢNG – CHẤT
I. Phạm trù “chất”, “lượng”:
1. Phạm trù “chất”: 1.1. Phạm trù chất:
Chất là phạm trù triết học dùng để chỉ tính quan điểm khách quan vốn có
của sự vật, hiện tượng; đó là sự thống nhất hữu cơ của những thuộc tính,
những yếu tố cấu thành sự vật, hiện tượng, nói lên sự vật, hiện tượng đó là gì,
phân biệt nó với các sự vật, hiện tượng khác. Mỗi sự vật, hiện tượng trong thế
giới đều có những chất vốn có, làm nên chúng. Nhờ đó chúng mới khác với
sự vật, hiện tượng khác.
VD: Nước không màu, không mùi, không vị;….
1.2. Chất của sự vật được biểu hiện qua những thuộc tính của nó:
- Mỗi sự vật, hiện tượng không phải chỉ có một chất mà có nhiều chất.
- Chất và thuộc tính có mối liên hệ chặt chẽ, không có chất tồn tại ngoài sự vật, hiện tượng.
- Chất là sự thống nhất của các thuộc tính, thuộc tính là các trạng thái, tính
chất cơ cấu nên sự vật nhưng không phải bất kỳ thuộc tính nào cũng biểu hiện chất của sự vật.
- Thuộc tính của sự vật có thuộc tính cơ bản và thuộc tính không cơ bản.
Những thuộc tính cơ bản được tổng hợp lại thành chất của sự vật. Chính
chúng quyết định sự tồn tại, vận động và sự phát triển của sự vật, chỉ khi nào
chúng thay đổi hay mất đi thì sự vật mới thay đổi hay mất đi. 4
- Thuộc tính của sự vật chỉ bộc lộ qua các mối liên hệ cụ thể với các sự vật
khác. Bởi vậy, sự phân chia thuộc tính thành thuộc tính cơ bản và thuộc tính
không cơ bản cũng chỉ mang tính tương đối, tùy theo từng mối quan hệ.
VD: Trong MQH với động vật thì các thuộc tính cơ bản có khái
niệm chế tạo, sử dụng công cụ, có tư duy là thuộc tính cơ bản. Song trong
quan hệ giữa những con người cụ thể với nhau thì những thuộc tính con
người về nhận dạng khuôn mặt, dấu vân tay,… lại trở thành thuộc tính cơ bản.
- Chất của sự vật không những quyết định bởi chất của những yếu tố tạo
thành mà còn bởi phương thức liên kết giữa các yếu tố tạo thành, nghĩa là bởi kết cấu của sự vật.
VD: Kim cương và than chì đều có cùng thành phần hóa học
là nguyên tố cacbon tạo nên, nhưng do phương thức liên kết giữa các nguyên
tử các là khác nhau, vì thế chất của chúng hoàn toàn khác nhau.
=> Từ đó có thể thấy sự thay đổi về chất của sự vật phụ thuộc cả vào sự
thay đổi về chất của sự vật, phụ thuộc cả vào sự thay đổi các yếu tố cấu thành
sự vật lẫn sự thay đổi phương thức liên kết giữa các yếu tố.
2. Phạm trù “lượng”: 2.1. Phạm trù lượng:
Lượng là phạm trù triết học dùng để chỉ tính qui định vốn có của sự vật về
mặt số lượng. quy mô, trình độ, nhịp điệu của sự vận động và phát triển cũng
như các thuộc tính của sự vật, biểu hiện bằng con số các thuộc tính, các yếu tố
cấu thành nó. Lượng là cái khách quan, vốn có của sự vật, qui định sự vật ấy
là nó. Lượng của sự vật không phụ thuộc vào ý chí, ý thức của con người.
Lượng của sự vật biểu thị kích thước dài ngắn, số lượng nhiều hay ít, quy mô
lớn hay nhỏ, trình độ cao hay thấp, nhịp điệu nhanh hay chậm. 2.2. Đặc điểm: 5
Lượng là tính khách quan vì nó là một dạng biểu hiện của vật chất, chiếm
một vị trí nhất định trong không gian và tồn tại trong khoảng thời gian nhất định.
Bản thân lượng không nói lên sự vật đó là gì, các thông số về lượng không
ổn định mà thường xuyên biến đổi cùng với sự biến đổi của sự vật, đó là mặt
không ổn định của sự vật. 2.3. Phân loại:
- Có nhiều loại lượng khác nhau: có lượng yếu tố quyết định bên trong, có
lượng là yếu tố qui định bên ngoài,…
- Hiện tượng, sự vật càng phức tạp thì lượng của chúng cũng phức tạp.
- Trong một số trường hợp của xã hội và nhất là trong tư duy lượng không
chứng tỏ được bằng số lượng cụ thể mà chỉ có thể nhận biết bằng năng lực
trừu tượng hóa, khái quát hóa.
VD: - Lượng được xác định bằng những dơn vị đo lường cụ thể như
vận tốc ánh sáng 300000 km/s.
- Biểu thị yếu tố bên trong của sự vật: số lượng nguyên tử hợp
thành nguyên tố hóa học,….
- Vạch ra yếu tố qui định bên ngoài sự vật: chiều cao, chiều dài, chiều rộng,….
- Biểu thị dứoi dạng trừu tượng và khái quát như trình độ dân trí cao hay thấp,…. 2.4. Kết luận:
Sự phân biệt chất và lượng của sự vật chỉ mang tính tương đối. Điều này
phụ thuộc vào từng MQH cụ thể, xác định. Có nhiều tính qui định trong MQH
này là chất của sự vật, song trong MQH khác lại biểu thị lượng của sự vật và
ngược lại. Chẳng hạn số sinh viên học giỏi nhất định của một lớp sẽ nói lên
chất lượng học tập của lớp đó. Điều này có nghĩa là dù số lượng cụ thể qui
định thuần túy về lượng, song số lượng ấy có tính qui định về chất của sự vật. 6 II.
Mối quan hệ biện chứng giữa chất và lượng:
Quy luật chuyển hóa từ những sự thay đổi, về lượng thành những sự thay
đổi về chất và ngược lại là quy luật cơ bản, phổ biến về phương thức chung
của các quá trình vận động, phát triển trong tự nhiên, xã hội và tư duy. Theo
quy luật này, phương thức chung của các quá trình vận động, phát triển.
Những sự thay đổi về chất của sự vật, hiện tượng có cơ sở tất yếu từ những sự
thay đổi về chất của sự vật, hiện tượng tạo ra những biến đổi về lượng. Đó là
mối liên hệ tất yếu, khách quan lặp đi, lặp lại trong mọi quá trình vận động,
phát triển của sự vật, hiện tượng thuộc mọi lĩnh vực.
- Lượng đổi dẫn đến chất đổi:
Bất kỳ sự vật, hiện tượng nào cũng là một thể thống nhất giữa 2 mặt chất và
lượng. Hai mặt đó không tách rời nhau mà tác động lẫn nhau một cách biện
chứng. Sự thay đổi về lượng tất yếu sẽ dẫn tới sự chuyển hóa về chất của sự
vật, hiện tượng. Tuy vậy, không phải sự thay đổi về lượng cũng dẫn đến sự
thay đổi về chất. Ở một giới hạn nhất định, sự thay đổi về lượng chưa dẫn đến
sự thay đổi về chất => Đó được gọi là Độ.
+ Độ chỉ là tính qui định, mối liên hệ thống nhất giữa lượng và chất là
khoảng giới hạn mà trong đó sự thay đổi về lượng chưa làm thay đổi căn bản
chất của sự vật, hiện tượng. Vì vậy, trong giới hạn của độ sự vật, hiện tượng vẫn là nó.
+ Khi lượng thay đổi đến một giới hạn nhất định sẽ tất yếu dẫn đến sự
thay đổi về chất. Giới hạn đó gọi “điểm nút”. Sự thay đổi về lượng khi dẫn
đến điểm nút sẽ dẫn đến sự ra đời chất mới. Đây là bước nhảy trong vận động,
phát triển của sự vật.
+ Bước nhảy là điểm chuyển hóa tất yếu trong quá trìnhphát triển của
sự vật, hiện tượng. Sự thay đổi về chất diễn ra với nhiều hình thức bước nhảy
khác nhau, được quyết định bởi mâu thuẫn, tính chất cà điều kiện mỗi sự vật.
Đó là bước nhảy: nhanh, chậm, lớn, nhỏ. 7
+ Bước nhảy là sự kết thúc một giai đoạn vận động, phát triển, đồng
thời đó cũng là điểm khởi đầu cho một giai đoạn mới, là sự gián đoạn trong
quá trình vận động, phát triển liên tục của sự vật, hiện tượng.
*Từ những thay đổi về lượng dẫn đến thay đổi về chất:
Chất và lượng là hai mặt đối lập, chất tương đối ổn định còn lượng thường
xuyên biến đổi, song hai mặt không thể tách rời nhau mà tác động qua lại với
nhau 1 cách biện chứng, sự thống nhất giữa chất và lượng trong một độ nhất định.
*Sự ảnh hưởng của chất mới đến lượng mới:
Khi chất mới ra đời có sự tác động trở lại lượng của sự vật. Chất mới tác
động tới lượng của sự vật, hiện tượng trên nhiều phương diện: làm thay đổi
kết cấu, quy mô, trình độ, nhịp điệu của sự vận động, phát triển của hiện tượng, sự vật.
- Sự thay đổi về chất tác động về lượng:
Chất mới của sự vật chỉ xuất hiện khi sự thay đổi về lượng đạt đến một
điểm nút, khi vật mới ra đời với chất mới lại có một lượng phù hợp tạo nên sự
thống nhất mới giữa chất và lượng, sự tác động của chất mới đối với lượng
mới được biểu hiện ở quy mô tồn tại nhịp điệu sự vận động.
=> Bất kỳ sự vật, hiện tượng nào cũng có sự thống nhất giữa hai mặt chất và
lượng. Sự thay đổi dần về lượng tới điểm nút tất yếu sẽ dẫn đến sự thay đổi về
chất thông qua bước nhảy, đồng thời, chất mới sẽ tác động trở lại lượng, tạo
ra những biến đổi mới về lượng của sự vật, hiện tượng. Quá trình đó liên tục
diễn ra, tạo thành phương thức căn bản, phổ biến của quá trình vận động, phát
triển của sự vật, hiện tượng trong tự nhiên, tư duy. 8 Chương 2:
VẬN DỤNG QUY LUẬT LƯỢNG – CHẤT VÀO ĐỜI SỐNG SINH VIÊN HIỆN NAY: I.
Đời sống sinh viên hiện nay: 1. Thực trạng:
Việc xây dựng phong cách sống, lối sống văn hóa lành mạnh hiện đang là
vấn đề được quan tâm trong công cuộc xay dựng cuộc sống mới xã hội chủ
nghĩa của nước ta hiện nay. Sinh viên là lớp thanh niên trí thức đại diện và
quyết định tương lai đất nước, chính vì thế việc bàn về lối sống của sinh viên
là một điều quan trọng về hết sức cần thiết. Nói đến sinh viên Việt Nam tức là
nói đến một thế hệ trẻ đầy sức sống và sức sáng tạo. Họ nắm trong tay tri thức
của thời đại, chìa khóa mở ra cánh cửa cho tiến bộ xã hội nói chung và sự
phát triển đất nước nói riêng. Về mặt số lượng, sinh viên là một lực lượng
không nhỏ. Hiện nay Việt Nam có tổng số 376 trường đại học, cao đẳng trên
cả nước, trong đó bộ Giáo dục và Đào tạo trực tiếp quản lý 54 trường, các Bộ,
ngành khác quản lý 116 trường, Các tỉnh, thành phố là cơ quan chủ quản của
125 trường. Tổng số sinh viên bậc đại học hiện nay khoảng 1.7000.000 người,
số lượng tuyển sinh hằng năm trong những năm gần đây khoảng 500.000
người/kỳ thi. Về mặt chất lượng, sinh viên là lớp ngừoi trẻ được đào tạo toàn
diện và đầy đủ nhất, bao gồm các chuyên ngành học trên khắp các lĩnh vực tự
nhiên, xã hội, khoa học,… chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố: chuyên ngành
theo học, sự phân bố các trường, khu vực sinh sống và học tập…, lối sống của
sinh viên Việt Nam nhìn chung cực kỳ đa dạng và phong phú.
Nhưng xã hội ngày càng văn minh hiện đại, Công nghệ thông tin ngày càng
phát triển, công cuộc hội nhập với thế giới càng cao, đời sống con người càng
được nâng cao thì càng đặt ra cho sinh viên, tầng lớp tri thức, giới trẻ ngày
nay càng nhiều thử thách. Khi mà các nền văn hóa phương tây đang du nhập
vào Việt Nam, có những điều tốt đẹp nhưng cũng không ít những giá trị văn
hóa không thích hợp với tư tưởng, truyền thống của người phương đông, câu
hỏi đặt ra là sinh viên, tầng lớp trí thức sẽ thích ứng thế nào với một môi
trường mới? Họ sẽ chọn lọc học những cái hay, cái đẹp phù hợp với bản thân 9
hay học theo cái xấu không phù hợp để rồi dần dần đánh mất đi những truyền
thống tốt đẹp của dân tộc. Mỗi người có một cách thích ứng riêng nên nó đã
tạo nên nhiều lối sống trong sinh viên và giới trẻ.
Sinh viên là lớp thanh niên trí thức đại diện và quyết định tương lai đất
nước, chính vì thế việc bàn về lối sống của sinh viên là một điều quan trọng và hết sức cần thiết.
2. Những điểm mạnh:
Điểm nổi bật đầu tiên khi ta nghĩ về sinh viên, đó là những con người năng
động và sáng tạo. Chính sinh viên là những người tiên phong trong mọi công
cuộc cải cách, đổi mới về kinh tế, giáo dục… . Trong
đầu họ luôn đầy ắp các
ý tưởng độc đáo và thú vị; và họ tận dụng mọi cơ hội để biến các ý tưởng ấy
thành hiện thực. Không chỉ chờ đợi cơ hội đến, họ còn tự mình tạo ra cơ hội.
Đã có nhiều sinh viên nhận được bằng phát minh, sáng chế; và không ít trong
số những phát minh ấy được áp dụng, được biến thành những sản phẩm hữu
ích trong thực tiễn. Với thế mạnh là được đào tạo vừa toàn diện vừa chuyên
sâu, sinh viên có mặt trong mọi lĩnh vực của đời sống kinh tế, xã hội của đất
nước. Trong học tập, sinh viên không ngừng tự đổi mới phương phấp học sao
cho lượng kiến thức họ thu được là tối đa. Không chờ đợi, thụ động dựa vào
thầy cô, họ tự mình đọc sách, nghiên cứu, lấy thông tin, tài liệu từ mọi nguồn.
Phần lớn sinh viên đều có khả năng thích nghi cao với mọi môi trường sinh
sống và học tập. Họ không chỉ học tập trong một phạm vi hẹp ở trường, lớp;
giới trẻ ngày nay luôn phát huy tinh thần học tập ở mọi nơi, mọi lúc. Không
chỉ lĩnh hội tri thức của nhân loại, sinh viên Việt Nam còn tiếp thu những cái
hay, cái đẹp trong mọi lĩnh vực khác như văn hóa, nghệ thuật….
Sự năng động của sinh viên còn được thể hiện ở việc tích cực tham gia các
hoạt động xã hội như y tế, từ thiện…. Ngoài giờ học, những sinh viên-tuyên
truyền viên hiến máu nhân đạo lại ngược xuôi đi lại mang kiến thức về hiến
máu đến mọi người, mọi nhà…. Bằng sự năng động, sinh viên luôn tự cập
nhật thông tin, kiến thức, làm mới mình phù hợp với sự thay đổi và phát triển 10
của xã hội. Rõ ràng, năng động và sáng tạo là những ưu điểm nổi bật của sinh
viên Việt Nam thời đại mới.
Độc đáo không chỉ nằm trong suy nghĩ mà luôn được thử nghiệm trong
thực tế. Có thể thành công hoặc thất bại, song họ không hề chùn bước. Với
họ, mỗi lần thất bại lại làm họ tự tin hơn với nhiều kinh nghiệm hơn. Táo bạo
nhưng không liều lĩnh. Trước khi thực hiện một việc gì, họ luôn tính toán,
xem xét vấn đề một cách thận trọng. Nói rằng táo bạo, nghĩa là trước đó chưa
có ai dám làm, dám thử nghiệm, họ là người đầu tiên thực hiện, chứ không
phải họ đâm đầu thực hiện một việc mà họ không biết tỉ lệ thành công của
Sinh viên dám nghĩ, dám làm, dám chịu thử thách. Các ý tưởng mình. Khi
cảm thấy mình đã có đủ mọi điều kiện cần thiết, họ mới bắt tay vào thực hiện.
Một điều quan trọng đáng nói ở đây, đó là nếu gặp rủi ro thất bại thì họ sẵn
sàng chấp nhận như một chuyện đương nhiên tất yếu sẽ xảy ra, tức là có thất
bại thì thất bại ấy cũng nằm trong kế hoạch. Họ dám nhìn thẳng vào thất bại
và vượt qua nó. Tóm lại, táo bạo và tự tin cũng là điểm rất đáng quý trong lối
sống của sinh viên Việt Nam.
Ngoài ra, sinh viên Việt Nam còn được thừa hưởng một truyền thống tốt
đẹp của dân tộc, đó là truyền thống hiếu học. Sinh viên Việt Nam mọi thời đại
luôn ham học, ham hiểu biết. Họ khao khát tìm tòi, khám phá chân trời tri
thức. Họ say mê với những điều mới lạ. Ham học, ham hiểu biết chính là
động lực cho việc lĩnh hội tri thức của sinh viên. Không thỏa mãn với những
gì được dạy trong truờng, họ tự mình học thêm bên ngoài, qua sách báo, qua bạn bè khắp nơi.
Thêm vào đó, siêng năng cần cù, chịu thương chịu khó của sinh viên Việt
Nam cũng là một đức tính cần được nói đến. Nhiều sinh viên sinh ra ở những
miền đất còn nghèo khó của đất nước nhưng họ biết khắc phục những khó
khăn ấy để học tốt. Biết mình không được như bạn bè, có những trang thiết bị
hiện đại riêng phục vụ học tập, những sinh viên nghèo tận dụng mọi nguồn
trợ giúp từ nhà trường, mượn tài liệu của bạn bè, tận dụng sự giúp đỡ của các
tổ chức khuyến học. Sống và học tập trong bao khó khăn, nhiều sinh viên vẫn
giữ vững và liên tục là sinh viên xuất sắc trong nhiều năm học đại học, cao 11
đẳng. Họ thực sự xứng đáng nhận được sự khâm phục, ngưỡng mộ từ tất cả
mọi người. Rồi, phải kể đến những sinh viên Việt Nam đi du học ở nước
ngoài. Bạn bè quốc tế luôn nói về đức tính siêng năng cần cù của sinh viên
Việt Nam với sự khen ngợi và khâm phục chân thành. Đức tính ấy cũng bắt
nguồn từ truyền thống tốt đẹp của dân tộc, ngày càng được giữ vững và phát
huy bởi thannh niên Việt Nam.
Một biểu hiện tích cực nữa trong lối sống của sinh viên Việt Nam là phong
cách tự khẳng định mình. Không chỉ sinh viên mà giới trể ngày nay nói chung
đều thích tự khẳng định mình. Đó là một thế mạnh không phải mọi tầng lớp
đều có được. Phải thực sự có tri thức và đủ tự tin thì mới dám tự khẳng định
mình. Sánh ngang vai cùng các tầng giới khác, sinh viên Việt Nam luôn tạo ra
được thế đứng cho mình. Dù trong bất cứ lĩnh vực nào sinh viên cũng tự tin
vào tiếng nói của mình. Họ đã chứng minh cho chúng ta thấy được sức mạnh
của họ, vai trò to lớn của họ trong công cuộc xây dựng đất nước và phát triển
xã hội. Chúng ta không thể coi thường hay hạ thấp vai trò quan trọng của sinh viên.
Lối sống hiện đại, mới mẻ của sinh viên Việt Nam ngày nay cũng là một
điều tốt. Với sự phát triển của nền kinh tế thị trường cộng với sự tiến bộ
nhanh chóng của khoa học kỹ thuật, cơ chế thoáng, mở trong lối sống giúp
cho sinh viên Việt Nam dễ dàng hơn trong việc tiếp thu kiến thức cũng như
tinh hoa văn hóa nhân loại. Cuộc sống hướng ngoại tạo thuận lợi cho việc
theo kịp với sự phát triển của nước ngoài nói riêng và tiến bộ của toàn xã hội
nói chung. Chúng ta không còn lo sợ sẽ bị tụt hậu hay chậm tiến so với các
nước khác. Đặc biệt là trong xu thế hội nhập kinh tế, toàn cầu hóa hiện nay thì
lối sống hiện đại là một điều không thể thiếu trong việc xây dựng cơ sở vật
chất cho sự phát triển sự phát triển của đất nước.
3. Những điểm hạn chế:
Tư tưởng là vấn đề đầu tiên và cũng là vấn đề lớn nhất cần bàn đến. Tư
tưởng của một bộ phận sinh viên còn lệch lạc. Dưới sự tác động ồ ạt của nền
kinh tế thị trường, dường như giới trẻ ngày nay luôn nhìn sự vật dưới con mắt
của người tư bản. Họ còn nghi ngờ vào chế độ xã hội chủ nghĩa. Đó là cái 12
nhìn thiển cận, lệch lạc. Nhiều sinh viên đã đánh mất niềm tin vào chủ nghĩa
xã hội. Thử hỏi những người nắm trong tay vận mệnh của đất nước mà có
những tư tưởng như vậy thì tương lai đất nước sẽ đi về đâu?
Nét tiêu cực trong lối sống của sinh viên còn thể hiện trong việc nhìn nhận
một cách sai lầm về giá trị cuộc sống. Đó là hiện tượng sùng bái giá trị vật
chất. Nhiều thanh niên lấy đồng tiền làm thước đo giá trị trong cuộc sống. Đó
là thang giá trị của xã hội tư bản chủ nghĩa. Trong xã hội ấy, kẻ có tiền là kẻ
mạnh. Chính vì thế, không ít sinh viên đã sử dụng đồng tiền gây ra nhiều
chuyện sai trái: mua điểm, chèn ép bạn bè…. Lối sống hưởng thụ dẫn đến
nhiều vấn đế tiêu cực khác trong sinh viên. Tệ nạn xã hội, thái độ không đúng
đắn đối với lao động xảy ra nhiều trong sinh viên. Sùng bái đồng tiền, làm tất
cả để đạt được mục đích của mình bất chấp thủ đoạn; coi những vấn đề tiêu
cực nảy sinh trong cuộc sống là tất yếu không những không thể thiếu mà còn
rất quan trọng và hữu ích trong việc đạt mục đích cá nhân.
Chủ nghĩa cá nhân có xu hướng tăng trong giới trẻ ngày nay. Nhiều người
chỉ quan tâm tới những lợi ích cá nhân truớc mắt mà quên mất lợi ích tập thể,
thậm chí chà đạp lên lợi ích của ngưới khác. Vì đồng tiền, vì lợi ích cá nhân,
một số thanh niên còn bất chấp tất cả: luật pháp, gia đình, bạn bè… Điều đó
cũng khó mà chấp nhận được trong một đất nước theo chế độ xã hội chủ nghĩa.
Thái độ bi quan, chán đời xuất hiện ở một số sinh viên cũng cần phải phê
phán. Trong khi phần lớn thanh niên đều cố gắng sống và học tập vì tương lai,
ít nhất vì lợi ích của bản thân thì lại có những người chỉ vì những chuyện nhỏ
nhặt không đâu mà không tha thiết gì cuộc sống. Đôi khi chỉ vì bị thất tình
hay không đạt được một điều mong muốn mà họ co mình lại thờ ơ với cuộc
sống xung quanh thậm chí nhiều người ngốc nghếch còn tìm đến cái chết.
4. Nguyên nhân của những hạn chế:
Trong thời kỳ hiện đại, sinh viên được tiếp cận với nhiều hệ thống thông
tin, một số trong đó bị ảnh hưởng bởi những lời lẽ do các thế lực thù địch ra sức xuyên tạc.Vì sinh
viên là những người trẻ tuổi và chưa được tiếp xúc 13
nhiều với đường lối chính trị xã hội nên chưa định hình được quan điểm chính
trị đúng đắn. Lợi dụng điều đó, các thế lực phản động thường nhắm vào chủ
trương, chính sách của Đảng và Nhà nước ta, phủ nhận những thành tựu của
cách mạng, lợi dụng các vấn đề dân tộc, tôn giáo, dân chủ, tự do báo chí,
những tiêu cực trong xã hội để chống phá, vu cáo Việt Nam vi phạm dân chủ.
Chúng xuyên tạc, phủ nhận chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và
nền dân chủ XHCN, ngợi ca dân chủ tư sản, kích thích chủ nghĩa tự do, thực
dụng. Chúng đẩy mạnh tuyên truyền những quan điểm “đa nguyên chính trị”,
“đa đảng đối lập”, đòi “mở rộng dân chủ” hơn nữa cùng với những luận điệu
bóp méo sự thật “Việt Nam vi phạm dân chủ”, “mất dân chủ”, vu khống Đảng
Cộng sản Việt Nam là trở lực chính cho việc thực hiện dân chủ ở nước ta.
Xã hội càng phát triển, đời sống vật chất càng cao thì mãnh lực của đồng
tiền và áp lực của mức tiêu thụ càng có vị thế. Đồng tiền đã tạo nên áp lực rất
lớn đối với con người và đã khiến cho thế hệ trẻ tin rằng tiền bạc là trung tâm
điểm buộc con người phải xoay quanh nó. Việc làm ra tiền và sử dụng tiền
một cách hợp lý, tích cực luôn là một thách đố rất lớn đối với thanh thiếu
niên. Nếu không được chỉ dẫn, giới trẻ sẽ luôn nghĩ trong đầu óc ý niệm chật
hẹp là làm sao để có thật nhiều tiền và sử dụng theo ý muốn. Đây chính là sự
sai lầm trong cách suy nghĩ về tiền bạc và đã dẫn đưa bao nhiêu trẻ đi vào ngõ cụt của cuộc đời.
Còn về nguyên nhân xuất hiện chủ nghĩa cá nhân ở nhiều người trong xã
hội là do một hệ lụy không mong muốn của các cuộc Cách mạng kinh tế,
công nghiệp. Các cuộc cách mạng diễn ra khiến con người có đời sống kinh
tế, khoa học kỹ thuật rất tiến bộ và được nâng cao rất nhiều. Khi đời sống vật
chất được cải thiện và nâng cao thì hệ quả đối nghịch là các giá trị tinh thần đi
xuống. Cụ thể, khi có đủ điều kiện về vật chất thì con người chỉ lo thỏa mãn
đam mê, hưởng thụ, … Mỗi người tự tìm cho bản thân một góc riêng tư, một
cái “lồng” để tự “nhốt” bản thân vào đó. Họ không muốn tiếp xúc quá nhiều
với mọi người xung quanh. Căn phòng “kín cổng, cao tường” và những món
công nghệ hiện đại trở thành cha mẹ, anh chị em, bạn bè, đồng nghiệp… Một
nguyên nhân lớn của thói sống ích kỷ. Mặt khác, con người ngày hôm nay
đang sống trong một xã hội quá nhiều gian dối, lừa lọc, quỷ quyệt. Vì vậy, họ 14
mất niềm tin vào chính những người xung quanh họ và cả những người khác
lạ họ gặp. Đó là nguyên nhân cũng rất nguy hiểm của thói sống ích kỷ. Khi bị
mất niềm tin vào mọi người, xã hội, họ đi vào lối sống luôn thủ thế. Họ cảnh
giác với tất cả những ai họ gặp dù rất quen. Chính do những nguyên nhân lớn
trên và còn một sống nguyên nhân nhỏ khác nữa, đã tạo nên một thói sống
đáng lên án và rất cần sự quan tâm của cả xã hội. Vì thói sống này đã tạo ra
rất nhiều những tác hại không đáng có từ trong cộng đồng rộng lớn là xã hội
cho đến cộng đồng nhỏ nhất là gia đình và trong mỗi người.
Nguyên nhân dẫn đến sự bi quan phổ biến nhất và nhiều người thường
gặp phải nhất là từ chính bản thân mỗi người. Nếu như quá khứ đã thử rất
nhiều lần và cũng thất bại rất nhiều lần thì theo một cách tự nhiên nào đó,
chúng ta sẽ lại luôn tin rằng không thể nào đạt được sự thành công, sự
thành công vẫn chỉ mãi là ước mơ bởi vì quá khứ luôn thất bại. Chúng ta
có thể nhận thấy ở những người bi quan, con đường dẫn họ tới bi quan rất
nhanh đó là ảnh hưởng từ những mối quan hệ xung quanh. Nếu ở cùng
những người bi quan và thường xuyên nghe họ ca thán, than vãn và thể
hiện thái độ bi quan thì dần dần ta cũng sẽ trở thành người bi quan. Không
những thế, điều khiến ta đến gần với những suy nghĩ bi quan đó là lòng tin
bị mất, nếu chúng ta có niềm tin tiêu cực vào các vấn đề trong cuộc sống
thì ta luôn cho rằng mọi vấn đề trong cuộc sống đều là vấn đề tiêu cực. II.
Những phương hướng để nâng câo chất lượng đời sống sinh
viên trong thời gian tới:
Từ việc nghiên cứu quy luật chuyển hóa từ những sự thay đổi về lượng
thành những sự thay đổi về chất và ngược lại có thể rút ra một vài kết luận có
ý nghĩa phương pháp luận với việc học tập và rèn luyện của sinh viên trong
môi trường đại học như sau:
*Từng bước tích lũy kiến thức một cách chính xác, đầy đủ.
Để có một tầm bằng Đại học chúng ta cần phải tích lũy đủ số lượng các tín
chỉ của các môn học. Như vậy có thể coi học tập là quá trình tích lũy về lượng
mà điểm nút là các kỳ thi, thi cử là bước nhảy và điểm số xác định quá trình 15
tích lũy kiến thức đã đủ dẫn tới sự chuyển hóa về chất hay chưa. Do đó, trong
hoạt động nhận thức, học tập của sinh viên phải biết từng bước tích lũy về
lượng (tri thức) làm biến đổi về chất (kết quả học tập) theo quy luật. Cần học
tập đều đặn hàng ngày để chất được thấm sâu vào mỗi sinh viên. Tránh gặp
gấp rút mỗi khi sắp đến kỳ thi, như vậy là thiếu kinh nghiệm nhận thức được
trong quá trình học tập. Tránh tư tưởng chủ quan, nóng vội trong học tập và
trong hoạt động thực tiễn hàng ngày. Hàng ngày mỗi tân sinh viên vẫn đến
trường để học tập, tiếp thu những kiến thức mới và lượng kiến thức ngày một
nhiều, nhưng chưa thể ra trường để làm việc ngay được vì kiến thức mỗi sinh
viên chưa tích lũy đầy đủ, chưa đảm bảo để ta làm việc.
*Trong học tập và nghiên cứu cần tiến hành từ dễ đến khó, tránh nóng
vội đốt cháy giai đoạn
Trong quá trình học tập và rèn luyện của sinh viên cần tránh tư tưởng tả
khuynh, tức là, khi lượng chưa biến đổi đến điểm nút đã thực hiện bước nhảy.
Sinh viên khi học đủ những kiến thức cơ bản có sự biến đổi về chất mới có
thể học tiếp những kiến thức sâu hơn, khó hơn. Học tập nghiên cứu từ dễ đến
khó là phương pháp học tập mang tính khoa học nhất.
*Liên tục phấn đấu học tập và rèn luyện, tránh tư tưởng chủ quan
Trong quá trình học tập, sinh viên phải trải qua rất nhiều kỳ thi. Kết quả
tốt của các kỳ thi đánh dấu ta kết thúc một giai đoạn và là bước khởi đầu cho
ta sang một giai đoạn mới đòi hỏi chúng ta có một trình độ cao hơn, lượng
kiến thức nhiều hơn, chính vì vậy, mỗi sinh viên cần phải không ngừng học
tập phấn đấu để tiếp cận những tri thức mới ở trình độ cao hơn. Nó giúp
chúng ta tránh được tư tưởng bảo thủ, trì trệ trong học tập rèn luyện.
*Rèn luyện ý thức học tập của sinh viên
Khi tích lũy hành vi (lượng) dần dần sẽ tạo nên thói quen (chất), sinh viên
cần rèn luyện cho mình tính chăm chỉ, tự chủ năng động trong quá trình học
tập, tích lũy tri thức giản đơn nhất từ những thói quen hàng ngày. Trong cuộc
sống cũng như trong quá trình học tập sinh viên phải rèn luyện hàng ngày để 16
hình thành những thói quen học tập, rèn luyện tốt, như: phải biết tiết kiệm
thời gian, làm việc nghiêm túc và khoa học,....tích lũy nhiều thói quen như
vậy sẽ góp phần hình thành nên tính cách, giúp chúng ta thành công trong học
tập cũng như trong cuộc sống.
*Sự phát triển bền vững của tập thể phụ thuộc vào bản thân mỗi sinh viên.
Một tập thể bao gồm nhiều cá nhân. Mỗi cá nhân có phẩm chất tốt (lượng)
sẽ góp phần tạo nên “chất” tốt cho tập thể đó. Một lớp học tập tốt, nếu trong
lớp có nhiều cá nhân có ý thức học tập tốt, luôn cố gắng để phấn đấu đạt được
thành tích cao. Một lớp đoàn kết nếu các cá nhân luôn sẵn sàng giúp đỡ mọi
người. Có thể nói uy tín, thành tích của một lớp phụ thuộc vào sự phấn đấu nỗ lực của mỗi sinh viên. 17 C. PHẦN KẾT LUẬN
Nhận thức là cả một quá trình, thông qua hoạt động thực tiễn, những yêu
cầu và đòi hỏi của cuộc sống nảy sinh và cùng với đó những phương thức sản
xuất cũng sẽ xuất hiên. Việc nhận thức và vận dụng nội dung quy luật từ
những thay đổi về lượng dẫn đến sự thay đổi về chất và ngược lại cũng như
vậy. Từ những nhận thức về quy luật trên chúng ta phải biết vẫn dụng nó một
cách sáng tạo phù hợp với hoàn cảnh lịch sử cụ thể của đất nước ta thì lúc đó
chúng ta mới nắm bắt được sự chuyển hóa của một sự vật hay hiện tượng
trong sự phát truển của nó một cách rõ ràng và triệt để.
Đảng và nước ta đã vận dụng điều đó cho sự nghiệp cách mạng giải phóng
dân tộc, xây dựng, phát triển và bảo vệ tổ quốc trong những thập kỉ qua đã tạo
nên những thành tựu to lớn. Chính vì vậy chúng ta càng tin rõ ràng những
quan điểm cách mạng và khoa học của Mác-Lênin luôn là những tư tưởng
đúng đắn để chúng ta vẫn dụng cho sự phát triển của đất nước. Đặc biệt, đó là
quy luật về mối quan hệ biện chứng giữa sự thay đổi về chất và sự thay đổi về
lương. Đó là những sự chuyển hóa tạo nên sự phát triển của sự vật hay hiện tượng.
Trong những năm đổi mới trong hoạt động nhận thức cũng như thực tiễn
Đảng ta đã vận dụng tổng hợp tất cả các quy luật một cách đầy đủ sâu sắc,
năng động sáng tạo phù hợp với điều kiện cụ thể của dân tộc đưa đất nước
thoát khỏi khủng hoảng kinh tế, củng cố địa vị trên trường quốc tế và bước
đầu đã gặt hái được những thành quả đáng mừng như: Gia nhập phiên chợ
toàn cầy WTO, thành viên không thường trực Đại Hội đồng Liên Hợp
Quốc,... và phấn đấu trở thành một nước công nghiệp.
Đất nước có nở hoa hay không là do tay bạn vun trồng “Đừng hỏi Tổ quốc
đã làm gì cho ta, mà cần hỏi ta đã làm gì cho Tổ quốc hôm nay”. 18
TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI
KHOA KINH TẾ VÀ KINH DOANH QUỐC TẾ
ĐỀ TÀI THẢO LUẬN
HỌC PHẦN TRIẾT HỌC MÁC – LÊNIN. Đề tài:
NỘI DUNG QUY LUẬT LƯỢNG ĐỔI - CHẤT ĐỔI.
VẬN DỤNG QUY LUẬT NÀY VÀO ĐỜI SỐNG HIỆN NAY. Nhóm: 3
Lớp học phần: 2088MLNP0221
Giáo viên hướng dẫn: Phạm Thị Hương
Hà Nam, tháng 11 năm 2020 1 KẾT CẤU ĐỀ TÀI A. LỜI MỞ ĐẦU: B. NỘI DUNG:
Chương 1: NỘI DUNG QUY LUẬT LƯỢNG – CHẤT:
I. Phạm trù “chất”, “lượng”:
1. Phạm trù “chất”.
2. Phạm trù “lượng”.
II. QUAN HỆ BIỆN CHỨNG GIỮA CHẤT VÀ LƯỢNG:
1. Tính thống nhất giữa chất và lượng.
2. Sự thay đổi về lượng dẫn đến sự thay đổi về chất và ngược lại.
3. Chất mới ra đời tác động trở lại lượng của sự vật.
III. Ý NGHĨA PHƯƠNG PHÁP LUẬN:
Chương 2: VẬN DỤNG QUY LUẬT LƯỢNG – CHẤT VÀO ĐỜI SỐNG SINH VIÊN HIỆN NAY:
I. Đời sống sinh viên hiện nay.
II. Những phương hướng để nâng câo chất lượng đời sống sinh viên trong thời gian tới. C. PHẦN KẾT LUẬN. 2