Đang tải lên
Vui lòng đợi trong giây lát...
Preview text:
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI KHOA HTTT KINH TẾ VÀ TMĐT **** BÀI THẢO LUẬN
ĐỀ TÀI: QUY LUẬT QUAN HỆ SẢN XUẤT PHÙ
HỢP VỚI TRÌNH ĐỘ PHÁT TRIỂN CỦA LỰC
LƯỢNG SẢN XUẤT- SỰ VẬN DỤNG QUY LUẬT
NÀY CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM TRONG
CÔNG CUỘC ĐỔI MỚI NHÀ NƯỚC HIỆN NAY. Nhóm: 8 Môn: Triết Mã lớp học phần:
Giảng viên: Đặng Minh Tiến Năm học: 2021-2022 Hà Nội - 2021
Họ và tên các thành viên trong nhóm: 1. S 2. S 3. S 4. S 5. S 6. S 7. S 8. S 9. S 10. S 11. S 12. S 1 MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU......................................................................................................................................
PHẦN I: Quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản
xuất.......................................................................................................................................................
1.MỘT SỐ KHÁI NIỆM LIÊN QUAN..........................................................................................
1.1. Sản xuất vật chất...................................................................................................................
1.2. Phương thức sản xuất...........................................................................................................
1.3. Lực lượng sản xuất...............................................................................................................
1.4. Quan hệ sản xuất..................................................................................................................
2. Quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất..............
Phần II : Sự vận dụng quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với lực lượng sản xuất trong
công cuộc đổi mới ở Việt Nam..........................................................................................................
1.Những sai lầm của Đảng về quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với lực lượng lao
động trước Đại hội VI 1986..........................................................................................................
2. Đường lối phát triển quan hệ sản xuất và lực lượng sản xuất theo định hướng
XHCN từ 1986 đến nay.................................................................................................................
PHẦN III: KẾT LUẬN.....................................................................................................................
TÀI LIỆU THAM KHẢO................................................................................................................. 2 LỜI MỞ ĐẦU
Nhà triết học lỗi lạc người Đức - Karl Marx đã từng nói “Nền dân chủ là
con đường dẫn tới chủ nghĩa xã hội”. Những tư tưởng mang giá trị trường tồn
ấy của chủ nghĩa Mác đã được Chủ tịch Hồ Chí Minh tiếp nhận và làm theo,
ngày 5/6/1911 là một mốc quan trọng đánh dấu bước ngoặt của cách mạng Việt
Nam. Người đã từng bước dẫn dắt và hướng nhân dân ta tới sự tự do, thoát khỏi
xiềng xích nô lệ, xây dựng một đất nước của dân, do dân, vì dân. Di
nguyện của Chủ tịch Hồ Chí Minh là tài sản thiêng liêng, vô giá đối với toàn
Đảng, toàn dân, toàn quân ta; vì vậy để thực hiện tốt những nhiệm vụ ấy, Đảng
và Chính phủ đã lấy chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm kim
chỉ nam cho mọi hoạt động xúc tiến của đất nước. Một xã hội phát triển được
đánh giá dựa theo trình độ của Lực lượng sản xuất, hay hơn hết là sự kết hợp
hài hòa giữa Quan hệ sản xuất - Lực lượng sản xuất. Ở nước ta hiện nay, trong
bối cảnh mà công nghiệp hóa hiện đại hóa được coi là một trong những nhiệm
vụ trọng tâm hàng đầu thì quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát
triển của lực lượng sản xuất càng trở nên quan trọng hơn bởi những ảnh hưởng
lớn của nó tới nền kinh tế.
Và để có một cái nhìn bao quát hơn, nhóm chúng em đã tiến hành thực hiện
đề tài nghiên cứu “Quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển
của lực lượng sản xuất”. Qua những nghiên cứu về quy luật này, chúng em hi
vọng mọi người, đặc biệt là những sinh viên trong lĩnh vực kinh tế - những chủ 3
nhân tương lai của đất nước, sẽ có thêm kiến thức về sự phát triển của nước
nhà, nắm rõ được quy luật vận động của nền kinh tế và vận dụng nó vào công
cuộc đổi mới của đất nước, góp phần xây dựng một Việt Nam phồn thịnh, phát
triển, văn minh, hiện đại. Với mục đích tìm hiểu sâu hơn về vấn đề này, nhóm
đã chia đề tài này thành các phần:
PHẦN I: Quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất
PHẦN II: Sự vận dụng quy luật Quan hệ sản xuất phù hợp với Lực
lượng sản xuất trong công cuộc đổi mới ở Việt Nam
PHẦN III: Kết luận nội dung đề tài 4
PHẦN I: Quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển của
lực lượng sản xuất
1.MỘT SỐ KHÁI NIỆM LIÊN QUAN 1.1. Sản xuất vật chất
Sản xuất là một loại hình hoạt động đặc trưng của con người và xã hội loài người.
Đó là hoạt động không ngừng sáng tạo ra những giá trị vật chất và tinh thần nhằm
mục đích thỏa mãn nhu cầu tồn tại và phát triển của con người. Quá trình sản xuất
diễn ra trong xã hội loài người chính là sự sản xuất xã hội- sản xuất và tái sản xuất ra
đời sống hiện thực. Sản xuất xã hội là sự thống nhất giữa ba quá trình: sản xuất vật
chất, sản xuất tinh thần và sản xuất ra bản thân con người. Sản xuất vật chất là quá
trình mà trong đó con người sử dụng công cụ lao động tác động trực tiếp hoặc gián
tiếp vào tự nhiên, cải biến các dạng vật chất của giới tự nhiên để tạo ra của cải xã hội,
nhằm thỏa mãn nhu cầu tồn tại và phát triển của con người. Có thể nói, sản xuất vật
chất là cơ sở của sự tồn tại và phát triển xã hội loài người. Vai trò của sản xuất vật
chất được thể hiện, trước hết, là tiền đề trực tiếp tạo ra tư liệu sinh hoạt của con người
nhằm duy trì sự tồn tại và phát triển của con người nói chung và từng cá thể cá nhân
nói riêng. Sau đó, sản xuất vật chất là tiền đề của mọi hoạt động lịch sử của con người.
Hoạt động sản xuất vật chất là cơ sở hình thành nên quan hệ kinh tế- vật chất giữa
người với người, từ đó hình thành nên các quan hệ xã hội khác- quan hệ giữa người
với người về chính trị, pháp luật, đạo đức, tôn giáo...Nhờ sự sản xuất ra của cải vật
chất để duy trì sự tồn tại và phát triển của mình, con người đồng thời sáng tạo ra toàn
bộ đời sống vật chất và đời sống tinh thần của xã hội với tất cả sự phong phú, phức tạp
của nó. Sản xuất vật chất còn là điều kiện chủ yếu sáng tạo ra bản thân con người.
Nhờ hoạt động sản xuất vật chất mà con người hình thành nên ngôn ngữ, nhận thức, tư
duy, tình cảm, đạo đức... Sản xuất vật chất là điều kiện cơ bản, quyết định nhất với sự
hình thành, phát triển phẩm chất xã hội của con người. Như vậy, sản xuất vật chất là
nền tảng và cơ sở cuối cùng để giải thích mọi sự vận động và biến đổi của lịch sử- sự
thay thế các phương thức sản xuất từ thấp đến cao.
1.2. Phương thức sản xuất
Ở mỗi giai đoạn lịch sử của con người tiến hành sản xuất theo một cách thức nhất
định, tức là có một cách sống, cách sản xuất riêng, đó là phương thức sản xuất.
Phương thức sản xuất là cách thức con người tiến hành. quá trình sản xuất vật chất ở 5
những giai đoạn lịch sử nhất định của xã hội loài người. Phương thức sản xuất là sự
thống nhất giữa lực lượng sản xuất với một trình độ nhất định và quan hệ sản xuất
tương ứng. Lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất là các khái niệm chỉ hai mối quan
hệ “song trùng” của nền sản xuất vật chất xã hội, đó là quan hệ giữa con người với tự
nhiên và quan hệ giữa người với người trong quá trình sản xuất vật chất. Mỗi xã hội ở
mỗi giai đoạn lịch sử nhất định đều có phương thức sản xuất của nó với những đặc
điểm riêng. Phương thức sản xuất của xã hội nguyên thủy có đặc trưng là cách thức kỷ
thuật đánh bắt tự nhiên ở trình độ hết sức thô sơ, còn phương thức sản xuất trong xã
hội hiện đại lại có đặc trưng ở trình độ kỹ xảo công nghiệp và công nghệ cao. Mỗi
phương thức sản xuất đều có hai phương diện cơ bản là kỹ thuật và kinh tế. Hai
phương diện đó gắn bó chặt chẽ với nhau. Phương diện kỹ thuật ( lực lượng sản xuất)
của phương thức sản xuất chỉ ra quá trình sản xuất được tiến hành bằng cách thức kỹ
thuật, công nghệ nảo để làm biến đổi các đối tượng của quá trình sản xuất. Phương
diện kinh tế (quan hệ sản xuất) của phương thức sản xuất chỉ ra quá trình sản xuất
được tiến hành với những cách thức tổ chức kinh tế cao. Trong các xã hội nông nghiệp
truyền thống, phương thức kỹ thuật chủ yếu của quá trình sản xuất là các công cụ kỹ
thuật thủ công với quy mô nhỏ và khép kín về phương diện kinh tế. Ngược lại, trong
các xã hội hiện đại, quá trình sản xuất lại được tiến hành với phương thức kỹ thuật
công nghiệp và tổ chức kinh tế thị trường với những quy mô ngày càng mở rộng và
không ngừng phát triển theo hướng phân tách và phụ thuộc vào nhau giữa các khâu kỹ
thuật và tổ chức kinh tế của quá trình sản xuất xã hội.
"Người ta không thể sản xuất được nếu không kết hợp với nhau theo một cách nào
đó để hoạt động chung và để trao đổi hoạt động với nhau. Muốn sản xuất được, người
ta phải có những mối liên hệ và quan hệ nhất định với nhau; và quan hệ của họ với
giới tự nhiên, tức là việc sản xuất". Do vậy, phương thức sản xuất là cách thức con
người thực hiện đồng thời sự tác động giữa con người với tự nhiên và sự tác động
giữa người với người để sáng tạo ra của cải vật chất phục vụ nhu cầu con người và
xã hội ở những giai đoạn lịch sử nhất định.
1.3. Lực lượng sản xuất
Khái niệm: là sự kết hợp giữa người lao động với tư liệu sản xuất, tạo ra
sức sản xuất và năng lực thực tiễn làm biến đổi các đối tượng vật chất của giới
tự nhiên theo nhu cầu nhất định của con người và xã hội
Cấu trúc: Lực lượng sản xuất là một hệ thống gồm các yếu tố người lao
động và tư liệu sản xuất cùng mối quan hệ (phương thức kết hợp) tạo ra thuộc
tính đặc biệt (sức sản xuất) để cải biến giới tự nhiên sáng tạo tạo ra của cải vật 6
chất theo mục đích của con người. Đây là sự thể hiện năng lực thực tiễn cơ bản
nhất năng lực hoạt động sản xuất vật chất của con người và được xem xét trên hai mặt:
Kinh tế - xã hội (đối tượng lao động): Người lao động là những yếu tố vật
chất của sản xuất là con người dùng tư liệu lao động tác động lên nhằm biến
đổi chúng cho phù hợp với mục đích sử dụng của con người.
Con người có tri thức kinh nghiệm kỹ năng lao động và năng lực sáng
tạo nhất định trong quá trình sản xuất của xã hội người lao động là chủ thể sáng
tạo đồng thời là chủ thể tiêu dùng mọi của cải vật chất xã hội. Đây là nguồn lực
cơ bản vô tận và đặc biệt của sản xuất.
Ngày nay, trong nền sản xuất xã hội tỉnh trọng lao động cơ bắp đang
có xu thế giảm trong đó lao động có trí tuệ và lao động trí tuệ ngày càng tăng lên
Kinh tế - kỹ thuật (tư liệu sản xuất): là điều kiện vật chất cần thiết để tổ
chức sản xuất, bao gồm tư liệu và đối tượng lao động.
Đối tượng lao động là những yếu tố vật chất của sản xuất mà con
người dùng tư liệu lao động tác động lên nhằm biến đổi chúng cho phù hợp với
mục đích sử dụng của con người.
Tư liệu lao động là những yếu tố vật chất của sản xuất mà con người
dựa vào đó để tác động lên đối tượng lao động nhằm biến đổi đối tượng lao
động thành sản phẩm đáp ứng yêu cầu sản xuất của con người. Tư liệu lao động gồm:
Phương tiện lao động: là những yếu tố vật chất của sản xuất cùng với
công cụ lao động mà con người sử dụng để tác động lên đối tượng lao động
trong quá trình sản xuất vật chất.
Công cụ lao động là những phương tiện vật chất mà con người trực
tiếp sử dụng để tác động vào đối tượng lao động nhằm biến đổi chúng tạo ra
các của cải vật chất phục vụ yêu nhu cầu của con người và xã hội.
Công cụ lao động là cầu nối giữa người lao động và đối tượng lao động. Vì vậy, công cụ lao
động giữ vai trò quyết định trực tiếp đến năng suất lao
động và chất lượng sản phẩm. Ngày nay công cụ lao động được tin học hoá, tự
động hoá và trí tuệ hoá…để phù hợp với nền kinh tế đang từng bước phát triển của nước ta
Là yếu tố động nhất, cách mạng nhất trong lực lượng sản xuất, là nguyên
nhân sâu xa của mọi biến đổi kinh tế - xã hội trong lịch sử; cải biến tự nhiên 7
của môi trường. Do đó, công cụ sản xuât là thước đo trình độ phát triển của LLSX
Đặc trưng chù yếu của lực lượng sản xuất: Là mối quan hệ giữa người
lao động và công cụ lao động
Người lao động là nhân tố hàng đầu giữ vai trò quyết định bởi vì người
lao động là chủ thể sáng tạo và sử dụng công cụ lao động.
Các tư liệu sản xuất chỉ là sản phẩm lao động của con người, đồng thời
giá trị và hiệu quả thực tế của các tư liệu sản xuất phụ thuộc vào trình độ sử
dụng của người lao động. Trong quá trình sản xuất, công cụ lao động bị hao phí
thì người LĐ tạo ra giá trị lớn hơn giá trị ban đầu
Người lao động là nguồn gốc của mọi sáng tạo trong sản xuất vật chất
nguồn gốc của sự phát triển sản xuất.
Công cụ lao động là chủ yếu tố cơ bản quan trọng không thể thiếu đặc biệt
trình độ phát triển của công cụ lao động là nhân tố quyết định năng suất lao động xã hội.
Lực lượng sản xuất luôn có tính khách quan. Tuy nhiên quá trình phát
triển lực lượng sản xuất là kết quả của sự thống nhất biện chứng giữa khách quan và chủ quan.
Tính chất và trình độ lực lượng sản xuất: Sự phát triển của lực lượng
sản xuất là phát triển ở cả tính chất và trình độ. Tính chất của lực lượng sản
xuất nói lên tính chất cá nhân và tính chất xã hội xã hội hóa sử dụng tư liệu sản
xuất. Trình độ của lực lượng sản xuất là sự phát triển của người lao động và
công cụ lao động. Trình độ của lực lượng sản xuất được thể hiện ở trình độ của
công cụ lao động; Trình độ tổ chức lao động sản xuất trình độ ứng dụng khoa
học vào sản xuất một trong thực tế tính chất và trình độ phát triển của lực lượng
sản xuất không tách rời nhau.
Hiện nay, khoa học đã trở thành lực lượng lao động trực tiếp:
Khoa học sản xuất ra của cải đặc biệt, hàng hóa đặc biệt.
Khoa học kịp thời giải quyết những mâu thuẫn, những yêu cầu do sản xuất đặt ra 8
Được kết tinh, “vật hoá” vào các yếu tố của lực lượng sản xuất; kích
thích sự phát triển năng lực làm chủ sản xuất của con người…
=> Trong thời đại hiện nay cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ IV đang
phát triển cả người lao động và công cụ lao động được trí tuệ hóa, nền kinh tế
của nhiều quốc gia phát triển tăng trưởng thành nền kinh tế tri thức. Đó là nền
kinh tế mà trong đó sự sản sinh phổ cập và sử dụng tri thức của con người đóng
vai trò quyết định nhất, với những đặc trưng như: công nghệ cao, thông tin trí
tuệ nhân tạo được ứng dụng rộng rãi trong sản xuất và đời sống xã hội...
1.4. Quan hệ sản xuất
Khái niệm: quan hệ sản xuất là
tổng hợp các quan hệ kinh tế - vật chất
giữa người với người trong quá trình sản xuất vật chất. Đây chính là một quan
hệ vật chất quan trọng nhất – quan hệ kinh tế. Quá trình sản xuất vật chất chính
là tổng thể các yếu tố trong một quá trình thống nhất, gồm sản xuất, phân phối,
trao đổi tiêu dùng của cải vật chất.
Quan hệ sản xuất được cấu thành từ: Các quan hệ sở hữu về tư liệu sản
xuất ( giữ vai trò chủ đạo); quan hệ tổ chức quản lý và trao đổi hoạt động với
nhau; quan hệ phân phối sản phẩm lao động
Quan hệ sở hữu về tư liệu sản xuất là quan hệ giữa các tập đoàn người
trong việc chiếm hữu, sử dụng các tư liệu sản xuất xã hội. Đây là quan hệ quy
định địa vị kinh tế - xã hội của các tập đoàn người trong sản xuất, từ đó quy
định quan hệ quản lí và phân phối. Quan hệ sở hữu về tư liệu sản xuất là quan
hệ xuất phát, cơ bản, trung tâm của quan hệ sản xuất, luôn có vai trò quyết định
các quan hệ khác bởi vì, lực lượng xã hội nào nắm phương tiện vật chất chủ
yếu của quá trình sản xuất thì sẽ quyết định việc quản lý quá trình sản xuất và phân phối sản phẩm.
Quan hệ về tổ chức quản lý sản xuất là quan hệ giữa các tập đoàn người
trong việc tổ chức sản xuất và phân công lao động. Quan hệ này có vai trò
quyết định trực tiếp đến quy mô, tốc độ, hiệu quả của nền sản xuất; có khả năng
đẩy nhanh hoặc kìm hãm sự phát triển của nền sản xuất xã hội. Ngày nay, khoa
học tổ chức quản lý sản xuất hiện đại có tầm quan trọng đặc biệt trong nâng cao
hiệu quả quá trình sản xuất.
Quan hệ phân phối sản phẩm lao động là quan hệ giữa các tập đoàn người
trong việc phân phối sản phẩm lao động xã hội, nói lên cách thức và quy mô 9
của cải vật chất mà các tập đoàn người được hưởng. Quan hệ này có vai trò đặc
biệt quan trọng, kích thích trực tiếp lợi ích con người; là “chất xúc tác” kinh tế
thúc đẩy tốc đọ, nhịp điệu sản xuất, làm năng động hóa toàn bộ đời sống kinh
tế - xã hội. Hoặc ngược lại, có thể làm trì trệ, kìm hãm quá trình sản xuất.
Các mặt trong quan hệ sản xuất có mối quan hệ hữu cơ, tác động qua lại, chi
phối, ảnh hưởng lẫn nhau; trong đó quan hệ về sở hữu tư liệu sản xuất giữ vai trò
quyết định bản chất và tính chất của quan hệ sản xuất. Quan hệ sản xuất hình thành
một cách khách quan, là quan hệ đầu tiên, cơ bản chủ yếu, quyết định mọi quan hệ xã hội.
2. Quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất
Mối quan hệ biện chứng giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất quy định sự
vận động, phát triển của các phương thức sản xuất trong lịch sử. Lực lượng sản xuất
và quan hệ sản xuất là hai mặt của một phương thức sản xuất có tác động biện chứng,
trong đó lực lượng sản xuất quyết định quan hệ sản xuất, còn quan hệ sản xuất tác
động trở lại to lớn đối với lực lượng sản xuất. Nếu quan hệ sản xuất phù hợp với trình
độ phát triển của lực lượng sản xuất thì thúc đấy lực lượng sản xuất phát triển, ngược
lại, nếu không phù hợp sẽ kìm hãm sự phát triển của lực lượng sản xuất. Đây là quy
luật cơ bản nhất của sự vận động và phát triển xã hội.
* Vai trò quyết định của lực lượng sản xuất đối với quan hệ sản xuất
Sự vận động và phát triển của phương thức sản xuất bắt đầu từ sự biến đổi của lực
lượng sản xuất. Lực lượng sản xuất là nội dung của quá trình sản xuất có tính năng
động, cách mạng, thường xuyên vận động và phát triển; quan hệ sản xuất là hình thức
xã hội của quá trình sản xuất có tính ổn định tương đối. Trong sự vận động của mâu
thuẫn biện chứng đó, lực lượng sản xuất quyết định quan hệ sản xuất. Cơ sở khách
quan quy định sự vận động, phát triển không ngừng của lực lượng sản xuất là do biện
chứng giữa sản xuất và nhu cầu con người; do tính năng động và cách mạng của sự
phát triển công cụ lao động; do vai trò của người lao động là chủ thể sáng tạo, là lực
lượng sản xuất hàng đầu; do tính kế thừa khách quan của sự phát triển lực lượng sản
xuất trong tiến trình lịch sử.
Sự phù hợp của quan hệ sản xuất với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất là
đòi hỏi khách quan của nền sản xuất. Lực lượng sản xuất vận động, phát triển không
ngừng sẽ mâu thuẫn với tính “đứng im” tương đối của quan hệ sản xuất. Quan hệ sản
xuất từ chỗ là “hình thức phù hợp”, “tạo địa bàn” phát triển của lực lượng sản xuất trở 10
thành “xiềng xích” kìm hãm sự phát triển của lực lượng sản xuất. Đòi hỏi tất yếu của
nền sản xuất xã hội là phải xoá bỏ quan hệ sản xuất cũ, thiết lập quan hệ sản xuất mới
phù hợp với trình độ của lực lượng sản xuất đã phát triển. C.Mác đã nêu tư tưởng về
vai trò của sự phát triển lực lượng sản xuất đối với việc thay đổi các quan hệ xã hội:
“Những quan hệ xã hội đều gắn liền mật thiết với những lực lượng sản xuất. Do có
những lực lượng sản xuất mới, loài người thay đổi phương thức sản xuất của mình và
do thay đổi phương thức sản xuất, cách kiếm sống của mình, loài người thay đổi tất cả
những quan hệ xã hội của mình. Cái cối xay quay bằng tay đưa lại xã hội có lãnh
chúa, các cối xay chạy bằng hơi nước đưa lại xã hội có nhà tư bản công nghiệp.”
Lực lượng sản xuất quyết định sự ra đời của một kiểu quan hệ sản xuất mới trong
lịch sử, quyết định đến nội dung và tính chất của quan hệ sản xuất. Con người bằng
năng lực nhận thức và thực tiễn, phát hiện và giải quyết mâu thuẫn, thiết lập sự phù
hợp mới làm cho quá trình sản xuất phát triển đạt tới một nấc thang cao hơn.
* Sự tác động trở lại của quan hệ sản xuất đối với lực lượng sản xuất
Do quan hệ sản xuất là hình thức xã hội của quá trình sản xuất có tính độc lập
tương đối nên tác động mạnh mẽ trở lại đối với lực lượng sản xuất, Vai trò của quan
hệ sản xuất đối với lực lượng sản xuất được thực hiện thông qua sự phù hợp biện
chứng giữa quan hệ sản xuất với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất.
Sự phù hợp của quan hệ sản xuất với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất là
đòi hỏi khách quan của nền sản xuất. Sự phù hợp của quan hệ sản xuất với lực lượng
sản xuất là một trạng thái trong đó quan hệ sản xuất là“hình thức phát triển” của lực
lượng sản xuất và “tạo địa bàn đầy đủ” cho lực lượng sản xuất phát triển. Sự phù hợp
bao gồm sự kết hợp đúng đắn giữa các yếu tố cấu thành lực lượng sản xuất; sự kết hợp
đúng đắn giữa các yếu tố cấu thành quan hệ sản xuất; sự kết hợp đúng đắn giữa lực
lượng sản xuất với quan hệ sản xuất. Sự phù hợp bao gồm cả việc tạo điều kiện tối ưu
cho việc sử dụng và kết hợp giữa người lao động và tư liệu sản xuất; tạo điều kiện hợp
lý cho người lao động sáng tạo trong sản xuất và hưởng thụ thành quả vật chất, tinh thần của lao động.
Nếu quan hệ sản xuất “đi sau” hay “vượt trước” trình độ phát triển của lực lượng
sản xuất đều là không phù hợp. Sự phù hợp không có nghĩa là đồng . nhất tuyệt đối
mà chỉ là tương đối, trong đó chứa đựng cả sự khác biệt. Sự phù hợp diễn ra trong sự
vận động phát triển, là một quá trình thường xuyên .. nảy sinh mâu thuẫn và giải quyết mâu thuẫn.
Sự phù hợp của quan hệ sản xuất với lực lượng sản xuất quy định mục đích, xu
hướng phát triển của nền sản xuất xã hội; hình thành hệ thống động lực thúc đẩy sản
xuất phát triển; đem lại năng suất, chất lượng, hiệu quả của nền sản xuất. 11
Sự tác động của quan hệ sản xuất đối với lực lượng sản xuất diễn ra theo hai chiều
hướng, đó là thúc đẩy hoặc kìm hãm sự phát triển của lực lượng sản xuất. Khi quan hệ
sản xuất phù hợp với lực lượng sản xuất thì nên sản xuất phát triển đúng hướng, quy
mô sản xuất được mở rộng, những thành tựu khoa học công nghệ được áp dụng nhanh
chóng, người lao động nhiệt tình hăng hái sản xuất, lợi ích của người lao động được
đảm bảo và thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển. Nếu quan hệ sản xuất không phù
hợp thì sẽ kìm hãm, thậm chí phá hoại lực lượng sản xuất. Tuy nhiên, sự kìm hãm đó
chỉ diễn ra trong những giới hạn, với những điều kiện nhất định.
Trạng thái vận động của mâu thuẫn biện chứng giữa lực lượng sản xuất và quan
hệ sản xuất diễn ra là từ phù hợp đến không phù hợp, rồi đến sự phù hợp mới ở trình
độ cao hơn. Con người bằng năng lực nhận thức và thực tiễn, phát hiện và giải quyết
mâu thuẫn, thiết lập sự phù hợp mới làm cho quá trình sản xuất phát triển đạt tới một
nấc thang cao hơn. C.Mác khẳng định: “Tới một giai đoạn phát triển nào đó của
chúng, các lực lượng sản xuất vật chất của xã hội mâu thuẫn với những quan hệ sản
xuất hiện có...trong đó từ trước tới nay các lực lượng sản xuất vẫn phát triển. Từ chỗ
là các hình thức phát triển của lực lượng sản xuất, những quan hệ ấy trở thành những
xiềng xích của các lực lượng sản xuất. Khi đó bắt đầu thời đại một cuộc cách mạng xã hội”.
Quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất
là quy luật phổ biến tác động trong toàn bộ tiến trình lịch sử nhân loại. Sự tác động
biện chứng giữa lực lượng sản xuất với quan hệ sản xuất làm cho lịch sử xã hội loài
người là lịch sử kế tiếp nhau của các phương thức sản xuất, từ phương thức sản xuất
cộng sản nguyên thuỷ qua phương thức sản xuất chiếm hữu nô lệ, phương thức sản
xuất phong kiến, phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa và đang phát triển đến
phương thức sản xuất cộng sản chủ nghĩa. Trong xã hội xã hội chủ nghĩa, do những
điều kiện khách quan và chủ quan quy định, quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với
trình độ phát triển của lực lượng sản xuất có những đặc điểm tác động riêng. Sự phù
hợp giữa quan hệ sản xuất với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất đòi hỏi tất
yếu thiết lập chế độ công hữu về tư liệu sản xuất chủ yếu. Phương thức sản xuất xã hội
chủ nghĩa dần dần loại trừ đối kháng xã hội. Sự phù hợp không diễn ra “tự động”, đòi
hỏi trình độ tự giác cao trong nhận thức và vận dụng quy luật. Quan hệ biện chứng
giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất trong xã hội xã hội chủ nghĩa có thể bị
“biến dạng” do nhận thức và vận dụng không đúng quy luật.
* Ý nghĩa trong đời sống xã hội
Quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất
có ý nghĩa phương pháp luận rất quan trọng. Trong thực tiễn, muốn phát triển kinh tế 12
phải bắt đầu từ phát triển lực lượng sản xuất, trước hết là phát triển lực lượng lao động
và công cụ lao động. Muốn xoá bỏ một quan hệ sản xuất cũ, thiết lập một quan hệ sản
xuất mới phải căn cứ từ trình độ phát triển của lực lượng sản xuất, không phải là kết
quả của mệnh lệnh hành chính, của mọi sắc lệnh từ trên ban xuống, mà từ tính tất yếu
kinh tế, yêu cầu khách quan của quy luật kinh tế, chống tuỳ tiện, chủ quan, duy tâm, duy ý chí.
Nhận thức đúng đắn quy luật này có ý nghĩa rất quan trọng trong quán triệt, vận
dụng quan điểm, đường lối, chính sách, là cơ sở khoa học để nhận thức sâu sắc sự đổi
mới tư duy kinh tế của Đảng Cộng sản Việt Nam. Trong quá trình cách mạng Việt
Nam, đặc biệt trong sự nghiệp đổi mới toàn diện đất nước hiện nay, Đảng Cộng sản
Việt Nam luôn luôn quan tâm hàng đầu đến việc nhận thức và vận dụng đúng đắn
sáng tạo quy luật này, đã đem lại hiệu quả to lớn trong thực tiễn. Nền kinh tế thị
trường định hướng xã hội chủ nghĩa là mô hình kinh tế tổng quát, là sự vận dụng quy
luật quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất trong phát
triển kinh tế ở Việt Nam hiện nay.
Phần II : Sự vận dụng quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với lực lượng sản
xuất trong công cuộc đổi mới ở Việt Nam.
1.Những sai lầm của Đảng về quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với lực
lượng lao động trước Đại hội VI 1986
Trong tiến trình lãnh đạo và quản lý đất nước của Đảng và Nhà nước ta trong
suốt mấy chục năm qua, thực tiễn cho thấy những mặt được cũng như những mặt hạn
chế trong quá trình nắm bắt và vận dụng các quy luật kinh tế cũng như quy luật quan
hệ sản xuất – lực lượng sản xuất vào thực tiễn ở nước ta, với đặc điểm của nước ta là
nước nông nghiệp, nghèo nàn, lạc hậu, lực lượng sản xuất thấp kém, con trâu đi trước
cái cày đi sau, trình độ quản lý thấp cùng với nền sản xuất nhỏ tự cấp, tự túc là chủ
yếu. Mặt khác nước ta là nước thuộc địa nửa phong kiến lại phải trải qua hai cuộc
chiến tranh, nhiều năm bị đế quốc Mỹ bao vây cấm vận nhiều mặt, nhất là về kinh tế,
do vậy, lực lượng sản xuất chưa có điều kiện phát triển. Sau khi giành được chính
quyền, trước yêu cầu xây dựng Chủ nghĩa xã hội trong điều kiện nền kinh tế kém
phát triển, Đảng thực hiện cơ chế quản lý kinh tế kế hoạch hoá tập trung quan liêu,
bao cấp. Thời bao cấp có hoạt động kinh tế diễn ra với nền kinh tế kế hoạch hóa theo
tư tưởng của chủ nghĩa cộng sản, xóa bỏ nền kinh tế tư nhân thay vào đó là kinh tế do
nhà nước làm chủ. Mặc dù trước đó, khi miền Bắc được giải phóng vào năm 1954,
sau chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ thắng thực dân Pháp, nền kinh tế chỉ huy đã 13
được áp dụng nhưng thời kỳ bao cấp đầy đủ nhất ở giai đoạn từ đầu năm 1976 – 1986
trên phạm vi toàn quốc. Với nền kinh tế kế hoạch, ngành kinh tế thương nghiệp tư
nhận bị loại bỏ hoàn toàn, được coi là không hợp pháp trong nền kinh tế chính thống.
Theo đó, hàng hóa sẽ phân phối tới người dân theo chế độ tem phiếu do nhà nước
điều hành, nắm toàn quyền. Thời kì này, việc vận chuyển hàng hóa tự do giữa các địa
phương, mua bán trên thị trường bị xóa bỏ hoàn toàn. Hàng hóa do nhà nước phân
phối độc quyền và hạn chế trao đổi bằng tiền mặt. Việc phân phối lương thực, thực
phẩm sẽ dựa theo đầu người, xét theo hộ khẩu. Do đó, chế độ hộ khẩu được hình
thành. Nổi bật nhất là sổ gạo, trong đó có ấn định số lượng và các mặt hàng được
phép mua dựa trên số khẩu trong một gia đình. Nền kinh tế do nhà nước quản lý hành
chính dựa trên chỉ tiêu pháp lệnh từ trên xuống dưới. Theo đó, doanh nghiệp hoạt
động theo quyết định của cơ quan nhà nước liên quan với các pháp lệnh theo quy
định từ vật liệu cung cấp, hình thức sản xuất, tiền vốn, sản phẩm cùng tổ chức nhân
sự, tiền lương và bộ máy hoạt động… Các doanh nghiệp sẽ có chỉ tiêu cần đạt theo
kế hoạch cấp vốn của nhà nước, giao nộp sản phẩm. Lỗ lãi sẽ do nhà nước quản lý.
Nền kinh tế sẽ được nhà nước quản lý theo chế độ “cấp phát – giao nộp”. Do đó, sức
lao động, tư liệu sản xuất hay phát minh sáng chế không được coi là hàng hóa trên
pháp luật. Trong thời kì này, bộ máy quản lý qua nhiều cấp từ trung ương tới địa
phương. Do có nhiều cấp trung gian nên hoạt động không năng động, kịp thời, thậm
chí dẫn tới nhiều tiêu cực ảnh hưởng tới quyền lợi của người lao động, người dân.
Thời kì bao cấp kéo dài trong 10 năm từ 1976 – 1986 trước khi thực hiện Đổi mới.
Nước ta đã thực hiện 2 kế hoạch 5 năm trong giai đoạn này bao gồm: Kế hoạch 5
năm lần thứ 2 (1976 – 1980) và kế hoạch 5 năm lần thứ 3 (1981 – 1986). Theo quan
điểm của nền kinh tế xã hội chủ nghĩa, kinh tế kế hoạch hóa là điểm nổi bật quan
trọng nhất với kế hoạch phân bổ mọi nguồn lực, không thừa nhận cơ chế thị trường
và sản xuất hàng hóa, xem kinh tế thị trường là đặc trưng của chủ nghĩa tư bản. Nền
kinh tế nhiều thành phần không được thừa nhận mà chỉ có kinh tế quốc doanh và tập
thể là chủ đạo, để tiến hành xóa bỏ kinh tế tư nhân, cá thể và sở hữu tư nhân khỏi xã
hội. Do đó, kinh tế Việt Nam thời kì này lâm vào tình trạng khủng hoảng, trì trệ với nhiều tiêu cực :
Đối với những người sản xuất nhỏ (nông dân, thợ thủ công, buôn bán nhỏ) thì
tư hữu về tư liệu sản xuất là phương thức kết hợp tốt nhất giữa sức lao động và tư liệu
sản xuất. Việc tiến hành tập thể nhanh chóng , tư liệu sản xuất dưới hình thức cá nhân 14
bị tập trung dưới hình thức sở hữu công cộng, người lao động bị tách khỏi tư liệu sản
xuất, không làm chủ được quá trình sản xuất, phụ thuộc vào lãnh đạo hợp tác xã, họ
cũng không phải là chủ thể sở hữu thực sự dấn đến tư liệu sản xuất trở thành vô chủ,
gây thiệt hại cho tập thể.
Kinh tế quốc doanh thiết lập tràn lan trong tất cả các ngành. Về pháp lý tư liệu
cũng thuộc sở hữu toàn dân, người lao động là chủ sở hữu có quyền sở hữu chi phối,
định đoạt tư liệu sản xuất và sản phẩm làm ra nhưng thực tế thì người lao động chỉ là
người làm công ăn lương, chế độ lương lại không hợp lý không phản ánh đúng số
lượng & chất lượng lao động của từng cá nhân đã đóng góp. Do đó chế độ công hữu
về tư liệu sản xuất cùng với ông chủ của nó trở thành hình thức, vô chủ, chính quyền
(bộ, ngành chủ quản) là đại diện của chủ sở hữu là người có quyền chi phối, đơn vị
kinh tế mất dần tính chủ động, sáng tạo, mất động lực lợi ích, sản xuất kinh doanh
kém hiệu quả nhưng lại không ai chịu trách nhiệm, không có cơ chế giàng buộc trách
nhiệm, nên người lao động thờ ơ với kết quả hoạt động của mình. Đây là căn nguyên
nảy sinh tiêu cực trong phân phối, chỉ có một số người có quyền định đoạt phân phối
vật tư, vật phẩm, đặc quyền đặc lợi.
Hạn chế đó, có nhiều nguyên nhân, song nguyên nhân chủ yếu là chúng ta đã chủ
quan, nóng vội, duy ý chí dẫn đến việc nhận thức và vận dụng không đúng quy luật về
sự phù hợp của quan hệ sản xuất với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất:
- Chưa nhận thức, chưa hiểu đúng quan hệ biện chứng giữa lực lượng sản
xuất với quan hệ sản xuất, tách rời quan hệ sản xuất với lực lượng sản xuất,
cường điệu quan hệ sản xuất mà coi nhẹ lực lượng sản xuất, coi nhẹ việc phát
triển, giải phóng lực lượng sản xuất, muốn tạo ra quan hệ sản xuất tiên tiến đi
trước mở đường cho lực lượng sản xuất, muốn nhanh chóng thực hiện nhiều
mục tiêu của chủ nghĩa xã hội trong điều kiện nền kinh tế của đất nước còn rất
lạc hậu, mới thống nhất được đất nước, tàn dư của chiến tranh còn rất nặng nề.
- Nhận thức quan hệ sản xuất không trong một chỉnh thể, cường điệu chế
độ sở hữu, nhất là muốn nhanh chóng thiết lập chế độ công hữu với bất kỳ giá
nào, coi sở hữu tư nhân nằm ngoài bản chất của chủ nghĩa xã hội và cần phải
nhanh chóng xóa bỏ; coi nhẹ quan hệ tổ chức - quản lý và phân phối; coi nhẹ
động lực lợi ích cá nhân của người lao động, trong khi đời sống của nhân dân
đang gặp muôn vàn khó khăn, thiếu thốn 15
- Duy trì quá lâu cơ chế tập trung quan liêu bao cấp, coi nhẹ quy luật giá
trị, quan hệ hàng hóa - tiền tệ, cơ chế thị trường, từ đó tạo thành cơ chế kìm
hãm sự phát triển của lực lượng sản xuất. Muốn tạo ra một quan hệ sản xuất
nhất loạt như nhau trong những ngành sản xuất kinh tế khác nhau, những vùng
miền, địa bàn khác nhau (vùng đồng bằng, miền núi, vùng sâu, vùng xa, biên
giới, hải đảo) với những trình độ lực lượng sản xuất rất khác nhau, tức là cào
bằng trong quan hệ sản xuất gây ra nhiều cản trở, khó khăn, nhất là trong quản lý kinh tế, xã hội
2. Đường lối phát triển quan hệ sản xuất và lực lượng sản xuất theo định
hướng XHCN từ 1986 đến nay
Nhận thức được sai lầm trong thời kỳ trước, Đại hội Đảng lần thứ VI năm 1986 đã
thẳng thắn thừa nhận khuyết điểm, khởi đầu công cuộc đổi mới, Đảng ta đã nêu ra
quan điểm phát triển nền kinh tế hàng hóa có kế hoạch gồm nhiều thành phần đi lên
chủ nghĩa xã hội, với nhiều chế độ sở hữu. Mặc dù, chưa đề cập đến cơ chế thị trường,
phát triển nền kinh tế thị trường. Nhưng đây là dấu mốc quan trọng trong quá trình đổi
mới tư duy lý luận của Đảng về con đường và phương pháp xây dựng chủ nghĩa xã
hội ở nước ta, thể hiện sự nhận thức và vận dụng quy luật về sự phù hợp giữa quan hệ
sản xuất với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất; đồng thời đã đặt cơ sở, nền
tảng quan trọng để các nhân tố mới ra đời, tạo tiền đề để từng bước phát triển nền kinh
tế nước ta. Quá trình vận dụng quy luật và xuất phát từ thực tiễn đất nước, tại Hội nghị
Trung ương 6 khóa VI (3-1989), Đảng đã khẳng định: “Thực hiện nhất quán chính
sách cơ cấu kinh tế nhiều thành phần, coi đây là chính sách có ý nghĩa chiến lược lâu
dài, có tính quy luật từ sản xuất nhỏ đi lên chủ nghĩa xã hội; trong đó mọi người được
tự do làm ăn theo pháp luật; các đơn vị sản xuất kinh doanh thuộc các thành phần
kinh tế vừa hợp tác với nhau, bổ sung cho nhau, vừa cạnh tranh với nhau trên cơ sở
bình đẳng trước pháp luật”. Thực hiện đường lối đổi mới của Đảng, nhìn tổng thể 35
năm qua đất nước ta đã đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử trên con
đường xây dựng chủ nghĩa xã hội. Trong đó, có thành tựu về nhận thức và vận dụng
quy luật về sự phù hợp của quan hệ sản xuất với trình độ phát triển của lực lượng sản
xuất ở nước ta. Hơn nữa, trong bối cảnh toàn cầu hoá và hội nhập quốc tế, việc nhanh
chóng phát triển lực lượng sản xuất đi đôi với từng bước hoàn thiện quan hệ sản xuất
để phát triển kinh tế - xã hội, khắc phục nguy cơ tụt hậu xa về kinh tế đang càng là một yêu cầu cấp thiết 16
Đảng và Nhà nước ta đã và đang tiếp tục thống nhất nhận thức về kinh tế thị
trường định hướng xã hội chủ nghĩa, nền kinh tế vận hành đầy đủ, đồng bộ theo các
quy luật của kinh tế thị trường. Đồng thời, bảo đảm định hướng xã hội chủ nghĩa phù
hợp với từng giai đoạn phát triển của đất nước; xây dựng nền kinh tế thị trường hiện
đại và chủ động hội nhập quốc tế; có sự quản lý của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ
nghĩa, do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo. Xác lập nền kinh tế Việt nam “có quan
hệ sản xuất tiến bộ phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất, có nhiều
hình thức sở hữu, nhiều thành phần kinh tế, trong đó kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ
đạo, kinh tế tư nhân là một động lực quan trọng của nền kinh tế; các chủ thể thuộc các
thành phần kinh tế bình đẳng, hợp tác và cạnh tranh theo pháp luật”; thị trường đóng
vai trò chủ yếu trong huy động và phân bổ hiệu quả các nguồn lực phát triển, là động
lực chủ yếu để giải phóng sức sản xuất; các nguồn lực nhà nước được phân bổ theo
chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phù hợp với cơ chế thị trường. Nhà nước đóng vai trò
định hướng, xây dựng và hoàn thiện thể chế kinh tế, tạo môi trường cạnh tranh bình
đẳng, minh bạch và lành mạnh; sử dụng các công cụ, chính sách và các nguồn lực của
Nhà nước để định hướng và điều tiết nền kinh tế, thúc đẩy sản xuất kinh doanh và bảo
vệ môi trường; thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội trong từng bước, từng chính sách
phát triển. Phát huy vai trò làm chủ của nhân dân trong phát triển kinh tế- xã hội, xây
dựng và phát triển bền vững đất nước.
Đảng và Nhà nước ta có nhiều chủ trương, biện pháp để đẩy mạnh công nghiệp
hoá, hiện đại hoá nhằm phát triển lực lượng sản xuất, tạo “cốt vật chất” cho quan hệ
sản xuất mới. Tiếp tục thực hiện đổi mới mô hình tăng trưởng, cơ cấu lại nền kinh tế;
đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá gắn với phát triển kinh tế tri thức, kinh tế số
nâng cao sức cạnh tranh của nền kinh tế, doanh nghiệp và hàng hoá dịch vụ chủ động
và tích cực hội nhập quốc tế để phát huy cao độ nội lực, tranh thủ ngoại lực, tiếp thu
những thành tựu về khoa học và công nghệ hiện đại trong điều của cuộc cách mạng
4.0. Xây dựng, hoàn thiện luật pháp và chính sách kinh tế để kiến tạo sự phát triển bền
vững. Đào tạo nguồn nhân lực, trọng dụng nhân tài, nhất là trong bộ máy quản lý,
quản trị nhà nước. Đổi mới thể chế nhằm tăng cường hiệu lực thực thi pháp luật và
chính sách; phát huy dân chủ, tăng cường kỷ luật, kỷ cương trong toàn xã hội.
Trong những năm đổi mới, Đảng và Nhà nước ta đã ban hành nhiều chính sách và
luật pháp nhằm đa dạng hóa các hình thức của quan hệ sản xuất để khuyến khích, thúc
đẩy lực lượng sản xuất phát triển, giải phóng mọi tiềm năng của sản xuất, tạo thêm
động lực cho người lao động. Đó là những chính sách, pháp luật liên quan đến đổi 17
mới, nâng cao chất lượng, hiệu quả của kinh tế nhà nước, nhất là doanh nghiệp nhà
nước, đến việc củng cố và phát triển kinh tế tập thể, đến phát huy vai trò động lực của
kinh tế tư nhân, thu hút mạnh mẽ và phát huy hiệu quả của kinh tế có vốn đầu tư nước
ngoài, nâng cao chất lượng và hiệu quả cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước, phát triển
kinh tế hỗn hợp...trong quá trình phát triển nền kinh tế.
Về sở hữu, tổ chức - quản lý và phân phối, Đảng và Nhà nước cũng đã ban hành
nhiều chính sách và pháp luật để hoàn thiện các mặt của quan hệ sản xuất mới theo
định hướng xã hội chủ nghĩa. Luật Đất đai (sửa đổi năm 2013), quy định về sở hữu và
đại diện chủ sở hữu, phân định quyền của người sở hữu, quyền của người sử dụng tư
liệu sản xuất và quyền quản lý của Nhà nước trong lĩnh vực kinh tế; xác định vai trò
quản lý kinh tế của Nhà nước thông qua định hướng, điều tiết, kế hoạch, quy hoạch,
chiến lược, chính sách, chương trình phát triển và các lực lượng vật chất. Thực hiện đa
dạng hóa các hình thức phân phối theo kết quả lao động, hiệu quả kinh tế, đồng thời
theo mức đóng góp vốn, trí tuệ và các nguồn lực khác và phân phối thông qua hệ
thống an sinh xã hội, phúc lợi xã hội, chăm lo đời sống của người lao động.
Đảng và Nhà nước có nhiều chủ trương, biện pháp về đầu tư để xây dựng kết cấu
hạ tầng đồng bộ với một số công trình hiện đại, tập trung vào hệ thống giao thông và
hạ tầng đô thị lớn, chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại
hóa; phát triển một số ngành công nghiệp cơ khí, đóng tàu, vận tải, khai thác vật liệu,
xây dựng, chế biến; ứng dụng những thành tựu khoa học - công nghệ hiện đại, nhất là
công nghệ thông tin; phát triển nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng
cao... Thực hiện đổi mới mô hình tăng trưởng, cơ cấu lại nền kinh tế; đẩy mạnh công
nghiệp hóa, hiện đại hóa gắn với phát triển kinh tế tri thức, kinh tế số, nâng cao sức
cạnh tranh của nền kinh tế, doanh nghiệp và hàng hóa dịch vụ.
Trong những năm đổi mới, Đảng và Nhà nước ta đã có nhiều chủ trương, chính
sách, biện pháp để tăng cường, mở rộng hợp tác quốc tế, tham gia các quan hệ song
phương và tổ chức đa phương, như ASEAN, APEC, ASEM, WTO..., thu hút mạnh
mẽ vốn đầu tư nước ngoài (FDI, ODA...), xúc tiến mạnh thương mại và đầu tư, mở
rộng thị trường xuất nhập khẩu, khai thác hiệu quả các cơ chế hợp tác quốc tế, các
nguồn lực về vốn, khoa học - công nghệ, trình độ và kinh nghiệm quản lý tiên tiến.
Việt Nam đã thiết lập quan hệ ngoại giao với 187 nước, quan hệ kinh tế thương mại và
đầu tư với hơn 220 quốc gia và vùng lãnh thổ, ký trên 90 hiệp định thương mại, đầu
tư…. Chủ động và tích cực hội nhập quốc tế để phát huy cao độ nội lực, tranh thủ
ngoại lực, tiếp thu những thành tựu về khoa học - công nghệ, về kinh tế tri thức, văn 18
minh của thế giới; kinh nghiệm quốc tế... để phát triển, hiện đại hóa lực lượng sản
xuất và củng cố, hoàn thiện quan hệ sản xuất mới.
PHẦN III: KẾT LUẬN
Qua đề tài trên, ta thấy quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển
sản xuất là quy luật phổ biến, tác động trong toàn tiến trình lịch sử nhân loại. Lực
lượng sản xuất và quan hệ sản xuất là hai yếu tố phải luôn luôn phát triển song hành
với nhau. Việc hiểu rõ được mối quan hệ này có một ý nghĩa rất lớn đối với việc phát
triển đất nước một cách đúng đắn, bền vững.
Thực tiễn cho thấy con đường chúng ta đang đi là đúng đắn và đạt được nhiều
thành tựu quan trọng, vượt qua nhiều giai đoạn lịch sửu nhạy cảm. Có được điều đó là
do Đảng ta đã không ngừng tìm tòi, phát triển nhận thức về mối quan hệ giữa lực
lượng sản xuất, quan hệ sản xuất trên tổng thể và đối với từng yếu tố cấu thành nên
quan hệ sản xuất. Các quan hệ sản xuất ở trình độ khác nhau được thiết lập đa dạng
hóa các hình thức sở hữu, nhiều thành phần kinh tế đã từng bước tạo nên sự phù hợp
với trình độ phát triển không đồng đều về mọi yếu tố trong kết cấu của lực lượng sản
xuất. Nhận thức hiện thực khách quan là một quá trình từ thấp đến cao, từ đơn giản
đến phức tạp, từ chưa hoàn thiện đến hoàn thiện. Với thái độ khách quan, khoa học và
kinh nghiệm thực tiễn của cách mạng, chúng ta tin tưởng rằng dưới ánh sáng Nghị
quyết Đại hội XIII, Đảng và Nhà nước ta tiếp tục vận dụng sáng tạo mối quan hệ biện
chứng giữa phát triển lực lượng sản xuất với xây dựng, hoàn thiện từng bước quan hệ
sản xuất, làm cho phương thức sản xuất phát triển bền vững, xây dựng được nền kinh
tế giàu mạnh, đất nước phồn vinh, cường thịnh; nhân dân ta có cuộc sống ấm no, văn minh và hạnh phúc. 19