TRƯỜNG ĐẠ ỌC THƯƠNG MẠI H I
KHOA MARKETING
BÀI TH O LU N
TRIT HC MÁC - LÊNIN
Đề tài: Quy lut thng nh t và đấu tranh gia các m t đ i l p PBCDV S
vn d ng quy lu t này trong quá trình xây d c Vi t Nam hi n nay. Liên ựng đất nướ
h vấn đề này trong h p và rèn luy n b n thân sinh viên hi n nay.c t
Ging ng d n: viên hướ Ts. Đặng Minh Tiến
Nhóm th o lu n: Nhóm 2
Lp h c ph n: 2218MLNP0221
Hà N i, tháng 3 2 năm 202
MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU .................................................................................................................... 4
CHƯƠNG I: QUAN ĐIỂ NGHĨA MÁC –M CA CH LEENIN V QUY LUT
THNG NH U TRANH GI A CÁC M I L P PBCDVẤT ĐẤ ẶT ĐỐ ........................ 5
1.1.KHÁI NIỆM VÀ CÁC TÍNH CHẤT CHUNG CỦA MÂU THUẪN ......................... 5
1.1.1.Khái niệm, vị trí và vai trò của mâu thuẫn ................................................................. 5
1.1.2.Các tính chất chung của mâu thuẫn ............................................................................ 5
1.1.3.Phân loại mâu thuẫn ................................................................................................... 6
1.2.QUÁ TRÌNH VẬN ĐỘNG CỦA MÂU THUẪN BIỆN CHỨNG .............................. 7
1.2.1.Mâu thuẫn là nguồn gốc của sự phát triển .................................................................. 7
1.2.2.Mâu thuẫn là động lực của sự vận động ................................................................................. 8
1.3. Ý NGHĨA PHƯƠNG PHÁP LUẬN CỦA QUY LUẬT .......................................... 8
CHƯƠNG II: VẬ ẤT VÀ ĐẤN DNG QUY LUT THNG NH U TRANH GIA
CÁC M I L P PBCDV VÀO QUÁ TRÌNH XÂY D T ẶT ĐỐ ỰNG ĐẤT NƯỚC VI
NAM HI N NAY ............................................................................................................. 10
2.1. MÂU THUẪN LÀ KHÁCH QUAN, TẤT YÊU TỒN TẠI TRONG QUÁ TRÌNH
XÂY DỰNG ĐẤT NƯỚC VIỆT NAM HIỆN NAY ..................................................... 10
2.1.1. Mâu thuẫn là khách quan và tất yếu trong quá trình vận động và phát triển đất nước
theo con đường chủ nghĩa xã hội ....................................................................................... 10
2.1.2. Tính tất yếu khách quan của sự phát triển đất nước giải quyết mâu thuẫn giữa kinh
tế chính trị (CNXH CNTB) các lĩnh vực khác của đời sống
hội………………………………………………………………………………………..11
a, Trong quá trình phát triển nền kinh tế thị trường .......................................................... 11
b, Trong quá trình phát triển nền kinh tế nhiều thành phần .............................................. 12
2.2. QUÁ TRÌNH VẬN ĐỘNG CỦA MÂU THUẪN TRONG QUÁ TRÌNH Y
DỰNG ĐẤT NƯỚC VIỆT NAM HIỆN NAY .............................................................. 14
2.2.1 Sự thống nhất ............................................................................................................ 14
2.2.2. Sự đấu tranh ............................................................................................................. 15
2.2.3. Sự chuyển hóa ......................................................................................................... 16
2.3. LIÊN HỆ QUY LUẬT THỐNG NHẤT ĐẤU TRANH GIỮA C MẶT ĐỐI
LẬP PBCDV TRONG HỌC TẬP VÀ RÈN LUYỆN BẢN THÂN SINH VIÊN HIỆN
NAY………………........................................................................................................... 17
2.3.1. Phải biết tôn trọng mâu thuẫn .................................................................................. 17
2.3.2. Không sợ mâu thuẫn, không né tránh mâu thuẫn .................................................... 18
2.3.3. Vận dụng quy luật mâu thuẫn liên tục tìm tòi, đổi mới và sáng tạo trong tri thức . 18
2.3.4. Quy luật mâu thuẫn đòi hỏi con người tiếp thu kiến thức một cách có hệ thống .... 19
KT LUN ...................................................................................................................... 20
DANH M C TÀI LI U THAM KH O: ...................................................................... 21
LỜI MỞ ĐẦU
Triết học từ lâu đã những đóng góp rất lớn trong việc đổi mới duy luận, thay
đổi nhận thức thực tiễn con người. Quy luật thống nhất đấu tranh giữa các mặt đối
lập là một trong ba quy luật cơ bản của phép biện chứng duy vật. Quy luật này khẳng định:
Tất cả sự vật hiện tượng đều có tính chất mâu thuẫn bên trong bản thân nó. Mâu thuẫn tồn
tại từ khi sự vật sinh ra cho đến khi kết thúc. Trong mỗi sự vật sẽ nhiều mâu thuẫn tồn
tại cùng lúc, mâu thuẫn này mất đi thì mâu thuẫn khác sẽ hình thành. Thực tế đã chứng
minh rằng việc vận dụng phép biện chứng duy vật của Chủ nghĩa Mác - Lênin nói chung,
quy luật thống nhất đấu tranh giữa các mặt đối lập nói riêng trong quá trình xây dựng
đất nước trnên quan trọng cấp thiết hơn bao giờ hết. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã thấm
nhuần tưởng của chủ nghĩa Mác Lênin vận dụng một cách sáng tạo để giải quyết -
những vấn đề của thực tiễn cách mạng Việt Nam, đưa đất nước ta giành lại độc lập và tiến
lên con đường chủ nghĩa xã hội. Nội bộ Đảng ta không ngừng tạo ra mâu thuẫn, đấu tranh
liên tục để phát triển, nhưng vẫn kiên định theo con đường độc lập dân tộc và chủ nghĩa
hội. Tuy nhiên bên cạnh những thành công, quá trình xây dựng đất nước của Đảng ta cũng
bộc lộ nhiều mâu thuẫn kìm hãm sự phát triển kinh tế. Giải quyết được những mâu thuẫn
ấy chính tạo động lực cho sự phát triển đất nước một cách vững chắc ổn định theo
đúng những định hướng đã đặt ra.
Nhận thấy tầm quan trọng cấp thiết của việc vận dụng quy luật thống nhất đấu
tranh giữa các mặt đối lập trong công cuộc y dựng đất nước cũng như trong học tập
rèn luyện của sinh viên, nhóm em chọn đề tài: Quy luật thống nhất và đấu tranh giữa
các mặt đối lập PBCDV Sự vận dụng quy luật này trong quá trình xây dựng đất
nước Việt Nam hiện nay. Liên hệ vấn đề này trong học tập và rèn luyện bản thân sinh
viên hiện nay”
Nội dung bài tiểu luận của nhóm chúng em được trình bày trong 2 chương, bao gồm:
Chương I: Cơ sở lý luận
Chương II: Vận dụng quy luật thống nhất đấu tranh giữa các mặt đối lập PBCDV
vào quá trình xây dựng đất nước Việt Nam hiện nay
Tuy nhiên, với kinh nghiệm và kiến thức tích lũy vẫn còn hạn chế, bài tiểu luận nhóm
chúng em nếu có gì sai sót, hy vọng thầy và các bạn góp ý sửa chữa ạ. Chúng em xin chân
thành cảm ơn!
CHƯƠNG I: QUAN ĐIỂM CỦA CHỦ NGHĨA MÁC – LEENIN VỀ QUY LUẬT
THỐNG NHẤT ĐẤU TRANH GIỮA CÁC MẶT ĐỐI LẬP PBCDV
1.1. KHÁI NIỆM VÀ CÁC TÍNH CHẤT CHUNG CỦA MÂU THUẪN
1.1.1. Khái niệm, vị trí của mâu thuẫn và vai trò
a. Khái niệm
Mâu thuẫn phạm trù triết học dùng để chỉ sự thống nhất đấu tranh, chuyển hóa
giữa các mặt đối lập của sự vật, hiện tượng hoặc giữa các sự vật, hiện tượng với nhau.
Mâu thuẫn biện chứng khái niệm dùng để chỉ sự liên hệ, tác động theo cách vừa
thống nhất, vừa đấu tranh; vừa đòi hỏi, vừa loại trừ, vừa chuyển hóa lẫn nhau giữa các mặt
đối lập.
Các mặt đối lập yếu tố tạo thành mâu thuẫn biện chứng c mặt đối lập, các bộ
phận, các thuộc tính... khuynh hướng biến đổi trái ngược nhau, nhưng cùng tồn tại khách
quan trong mỗi sự vật, hiện tượng của tự nhiên, hội duy. Trong mỗi mâu thuẫn,
các mặt đối lập vừa thống nhất với nhau, vừa đấu tranh lẫn nhau tạo nên trạng thái ổn định
tương đối của sự vật, hiện tượng.
Như vậy, hai điều kiện để xác định một mâu thuẫn biện chứng: thứ nhất là, các
xu hướng đối lập nhau; thứ hai là, các xu hướng là điều kiện tồn tại và phát triển của nhau.
b. Vị trí của quy luật mâu thuẫn
Quy luật u thuẫn một trong ba quy luật bản của phép biện chứng duy vật
và là quy luật quan trọng nhất của phép biện chứng duy vật trong Triết học Mác - Lênin
Quy luật mâu thuẫn thể hiện bản chất, là hạt nhân của phép biện chứng duy vật bởi
quy luật đề cập tới vấn đề cơ bản và quan trọng nhất của phép biện chứng duy vật “vấn đề
nguyên nhân, động lực của sự vận động, phát triển”
1.1.2. Các tính chất chung của mâu thuẫn
Mâu thuẫn có tính khách quan và tính phổ biến
- Phép biện chứng duy vật khẳng định rằng tất cả các sự vật, hiện tượng tồn tại trong
thực tại khách quan đều chứa đựng trong nó mâu thuẫn.
- Sự hình thành phát triển của mâu thuẫn do cấu trúc tự thân vốn bên trong
của sự vật, hiện tượng quy định. Mâu thuẫn tồn tại không phụ thuộc vào bất cứ hiện tượng
siêu nhiên nào, kể cả ý chí của con người.
- Mỗi sự vật, hiện tượng đang tồn tại đều một thể thống nhất các khuynh hướng,
các thuộc tính phát triển ngược chiều nhau, đối lập nhau. Sự liên hệ, tác động qua lại, đấu
tranh chuyển hoá, bài trừ và phủ định lẫn nhau, tạo thành động lực bên trong của mọi quá
trình vận động và phát triển khách quan của chính bản thân các sự vật hiện tượng.
- Mâu thuẫn là một hiện tượng có trong tất cả các lĩnh vực: tự nhiên, xã hội và tư duy
của con người.
Mâu thuẫn có tính đa dạng, phong phú
- Tính đa dạng của mâu thuẫn biểu hiện ở chỗ: mỗi sự vật, hiện tượng, quá trình đều
thể bao hàm nhiều loại mâu thuẫn khác nhau, biểu hiện khác nhau trong những điều
kiện lịch sử, cụ thể khác nhau; mâu thuẫn givị trí, vai trò khác nhau với sự tồn tại, vận
động và phát triển của sự vật. Trong các lĩnh vực khác nhau cũng tồn tại những mâu thuẫn
với những tính chất khác nhau tạo nên tính phong phú trong sự biểu hiện của mâu thuẫn.
1.1.3. Phân loại mâu thuẫn
Căn cứ vào quan hệ đối với sự vật được xem xét, người ta phân biệt các mâu thuẫn
thành mâu thuẫn bên trong mâu thuẫn bên ngoài.
- Mâu thuẫn bên trong là sự tác động qua lại giữa các mặt, các khuynh hướng đối lập
của cùng một sự vật.
- Mâu thuẫn bên ngoài đối với một sự vật nhất định mâu thuẫn diễn ra trong mối
quan hệ giữa các sự vật đó với sự vật khác.
Căn cứ vào ý nghĩa với sự tồn tại và phát triển của toàn bộ sự vật, mâu thuẫn được chia
thành mâu thuẫn cơ bản mâu thuẫn không cơ bản.
- Mâu thuẫn cơ bản mâu thuẫn quy định bản chất của sự vật, quy định sự phát triển
ở tất cả các giai đoạn của sự vật, nó tồn tại trong suốt quá trình tồn tại các sự vật.
- Mâu thuẫn không bản mâu thuẫn chỉ đặc trưng cho một phương diện nào đó
của sự vật, nó không quy định bản chất của sự vật.
Căn cứ vào vai trò của mâu thuẫn đối với sự tồn tại và phát triển của sự vật trong một
giai đoạn nhất định, các mâu thuẫn được chia thành mâu thuẫn chủ yếu mâu thuẫn thứ
yếu.
- Mâu thuẫn chủ yếu mâu thuẫn nổi lên hàng đầu một giai đoạn phát triển nhất
định của sự vật, nó chi phối các mâu thuẫn khác trong giai đoạn đó.
- Mâu thuẫn thứ yếu những mâu thuẫn ra đời tồn tại trong một giai đoạn phát
triển nào đó của sự vật, nhưng không đóng vai trò chi phối mà bị mâu thuẫn chủ yếu chi
phối.
Căn cứ vào tính chất của lợi ích bản đối lập nhau trong mối quan hệ giữa giai
đoạn lịch sử nhất định, trong hội mâu thuẫn đối kháng mâu thuẫn không đối
kháng.
- Mâu thuẫn đối kháng là mâu thuẫn giữa các giai cấp, tập đoàn người, lực lượng, xu
hướng xã hội có lợi ích cơ bản đối lập nhau và không thể điều hòa được.
- Mâu thuẫn không đối kháng mâu thuẫn giữa các giai cấp, tập đoàn người, lực
lượng, xu hướng hội, ... lợi íchbản không đối lập nhau nên là mâu thuẫn cục bộ,
tạm thời.
1.2. Q UÁ TRÌNH VẬN ĐỘNG CỦA MÂU THUẪN BIỆN CHỨNG
1.2.1. Mâu thuẫn là nguồn gốc của sự phát triển
Sự thống nhất, đấu tranh các mặt đối lập chính là hai xu hướng tác động khác nhau về
mặt đối lập.
- Trong đó, hai xu hướng này tạo ra loại mâu thuẫn đặc biệt, từ đó mâu thuẫn biện
chứng bao gồm sự thống nhất và sự đấu tranh của mặt đối lập.
- Trong quá trình phát triền và vận động thì sự thống nhất, đấu tranh của mặt đối lập
không tách rời nhau.
Đấu tranh của mặt đối lập được quy định tất yếu về sự thay đổi các mặt đang tác động,
làm mâu thuẫn phát triển.
- Khi bắt đầu xuất hiện thì mâu thuẫn chỉ là một sự khác nhau cơ bản. Tuy nhiên theo
khuynh hướng trái ngược nhau thì sự khác nhau này càng lớn lên rộng dẫn ra đến khi
nào trở thành đối lập.
- Khi hai mặt đối lập sự xung đột gay gắt, đủ điều kiện thì sẽ tự chuyển hóa lẫn
nhau và từ đó mâu thuẫn được giải quyết. Nhờ sự giải quyết theo hướng này mà thể thống
nhất mới sẽ thay thế thể thống nhất cũ hay sự vật mới thay cho sự vật cũ bị mất đi.
Sự phát triển là cuộc đấu tranh các mặt đối lập.
- Ta đã thấy rằng khi có thống nhất của các mặt đối lập thì sẽ có đấu tranh, đấu tranh
thống nhất các mặt đối lập thì không thể tách rời khỏi nhau đối với mâu thuẫn biện
chứng.
- Sự vận động, phát triển sự thống nhất trong tính ổn định tính thay đổi, đấu
tranh và thống nhất các mặt đối lập quy định về tính thay đổi tính ổn định sự vật. Do đó,
mâu thuẫn là nguồn gốc của sự phát triển và vận động.
1.2.2. Mâu thuẫn là động lực của sự vận động
Bất cứ sự vật, hiện tượng nào trong thế giới khách quan cũng đều chứa đựng những
mâu thuẫn trong bản thân nó, trong đó luôn diễn ra quá trình vừa thống nhất vừa đấu tranh
của các mặt đối lập làm cho sự vật, hiện tượng vận động phát triển không ngừng. Chúng
có vị trí, vai trò nhất định đối với sự tồn tại và biến đổi của sự vật, hiện tượng.
Sự thống nhất của các mặt đối lập gắn liền với sự ổn định, sự đứng im tương đối của
sự vật. Khi nào các mặt đối lập còn tồn tại trong thể thống nhất thì khi đó sự vật còn tồn
tại. Vì vậy thống nhất có tính tương đối.
Nhưng trong khi các mặt đối lập thống nhất với nhau, quá trình đấu tranh giữa chúng
không ngừng diễn ra. Đấu tranh giữa các mặt đối lập làm cho bản thân các mặt đối lập đều
biến đổi, dẫn đến mâu thuẫn ngày càng phát triển. Khi sự đấu tranh đó lên tới đỉnh điểm,
các mặt đối lập xung đột gay gắt, chúng sẽ chuyển hóa cho nhau, mâu thuẫn được giải
quyết, thể thống nhất cũ bị phá vỡ, sự vật cũ mất đi, sự vật mới ra đời. Vì vậy đấu tranh có
tính tuyệt đối.
Mâu thuẫn cũng quá trình vận động phát triển: Lúc mới xuất hiện, mâu thuẫn
chỉ sự khác nhau căn bản của các mặt đối lập nhưng theo khuynh hướng trái ngược nhau.
Sự khác nhau đó ngày càng phát triển đi đến chỗ đối lập, rồi sau đó xung đột gay gắt. Khi
hội tụ đủ điều kiện thích hợp, mâu thuẫn sẽ được giải quyết làm cho sự vật vận động
phát triển.
Nói tóm lại: Mọi sự vật, hiện tượng đều chứa những mặt, những khuynh hướng đối lập
tạo thành mâu thuẫn trong bản thân mình, sự thống nhất đấu tranh của các mặt đối lập
là nguồn gốc của sự vận động và phát triển, làm cho cái cũ mất đi và cái mới ra đời.
1.3. Ý NGHĨA PHƯƠNG PHÁP LUẬN CỦA QUY LUẬT
Thứ nhất, thừa nhận tính khách quan của mâu thuẫn trong sự vật, hiện tượng; từ đó
giải quyết mâu thuẫn phải tuân theo quy luật, điều kiện khách quan. Muốn phát hiện mâu
thuẫn, cần tìm ra thể thống nhất của các mặt đối lập trong sự vật, hiện tượng; từ đó tìm ra
phương hướng, giải pháp đúng cho hoạt động nhận thức và thực tiễn.
Thứ hai, phân tích mâu thuẫn cần bắt đầu từ việc xem xét quá trình phát sinh, phát triển
của từng loại mâu thuẫn; xem xét vai trò, vị trí và mối quan hệ giữa các mâu thuẫn và điều
kiện chuyển hóa giữa chúng. Phải biết phân tích cụ thể một mâu thuẫn cụ thể và đề ra được
phương pháp giải quyết mâu thuẫn đó.
Thứ ba, phải nắm vững nguyên tắc giải quyết mâu thuẫn bằng đấu tranh giữa các mặt
đối lập, không điều hòa mâu thuẫn ng không nóng vội hay bảo thủ, bởi giải quyết mâu
thuẫn còn phụ thuộc vào điều kiện đã đủ và chín muồi hay chưa.
CHƯƠNG II: VẬN DỤNG QUY LUẬT THỐNG NHẤT VÀ ĐẤU TRANH GIỮA
CÁC MẶT ĐỐI LẬP PBCDV VÀO QUÁ TRÌNH XÂY DỰNG ĐẤT NƯỚC VIỆT
NAM HIỆN NAY
2.1. QUÁ MÂU THUẪN LÀ KHÁCH QUAN, TẤT YÊU TỒN TẠI TRONG
TRÌNH XÂY DỰNG ĐẤT NƯỚC VIỆT NAM HIỆN NAY
2.1.1. Mâu thuẫn là khách quan và tất yếu trong quá trình vận động và phát triển
đất nước theo con đường chủ nghĩa xã hội
Mâu thu n s liên h ng qua l i l n nhau c a các m i l p bên trong m t ệ, tác độ ặt đố
s v t, m t hi ng. Mâu thu n hi ng khách quan ph bi n cái v ện tượ ện tượ ế n
có trong s v t, hi ng, và là b n ch t chung c a m i s v t, hi ện tượ ện tượng. Chính vì v y,
trong các s v t, hi ng khác nhau thì t n t i nh ng mâu thu n khác nhau, trong b n ện tượ
thân m i s v t, hi ng nhi u u thu n khác nhau, trong m i giai ện ợng cũng chứa đự
đoạn, m u mâu thuỗi quá trình cũng có nhiề ẫn khác nhau. Và đương nhiên, trong quá trình
vận độ ển đất ớc theo con đường con đường phát tri ng ch nghĩa h cũng tồi n ti
rt nhi u nh ng mâu thu n.
- Đất nư nghĩa xã hội khi các nước đi trước đã và đang gc tiến lên xây dng ch p
nhiều khó khăn nhất định trong vic t o l v t ch t c a xã h i m i, khi mà b n thân ập cơ sở
điều kin vt cht ni ti trong còn nhiu hn chế nghèo nàn. Ngoài ra, còn s
chng pca các th l i ch ng chế ực trong ngoài nước. Cho nên, đất nước đã phả u r t
nhiu áp l ực, khó khăn và gian khổ để vượt qua thi k này.
- Trong b i c nh n n kinh t th ế trường định hướng h i ch nghĩa, n n kinh t phát ế
trin m nh m t ra nhi vi c, l i s ng, nh t l i cũng đặ ều nguy về ệc suy thoái đạo đứ
sng th c d ng, thi ếu tính nhân văn cũng đang và từng ngày tng gi tác động đến cán b ,
đả ng viên nht tng l p tr. Thc tế đó m ớn cho Đảt thách thc to l ng Nhà
nướ c ta trong quá trình xây d o nựng Đảng, đào t n tng chính tr hi vng chc trong
tng l ng viên. ớp Đả
- Mặc dù quan điể luôn đượm chính tr độc lp, ch quyn, và toàn vn lãnh th c s
thng nhất và đồng ý ca các quc gia trên th gi i. Tuy nhiên, trong b i c nh hi n nay l i ế
đặ t ra nhiu thách thc v i Vi này dệt Nam hơn trong vấn đề như những thế lc thù
địch ch n tống phá đế bên ngoài hay s khó khăn, nghèo nàn và lạc hu mà nhân dân phi
chịu đựng. Đòi hỏi Vit Nam phi tht khôn khéo tế nh để va th hòa hoãn trên
phương diện đố ại đố ảnh hư ếp đếi ngo i ni nếu không s ng trc ti n s phát trin
hình Xã h i ch c. nghĩa của đất nướ
2.1.2. Tính tất yếu khách quan của sự phát triển đất nước là giải quyết mâu thuẫn
giữa kinh tế và chính trị (CNXH và CNTB) và các lĩnh vực khác của đời sống xã hội
Mâu thuẫn là hiện tượng khách quan và phổ biến, phép biện chứng duy vật khẳng định:
mọi sự vật và hiện tượng trong thế giới đều tồn tại những mặt mâu thuẫn, vì vậy, trong quá
trình phát triển đất nước hiện nay, việc giải quyết mâu thuẫn giữa kinh tế, chính trị và các
lĩnh vực khác của đời sống hội một tất yếu khách quan. Mỗi mâu thuẫn giữ một vai
trò khác nhau đối với sự vận động và phát triển của đất nước. Quá trình xây dựng đất nước
trải qua nhiều giai đoạn thăng trầm, không ngừng vận động luôn biến đổi dưới sự tác
động của nhiều yếu tố, nhiều mâu thuẫn cả bên ngoài lẫn n trong nền kinh tế, chính trị.
Trong những chuyển biến đó, đã đạt được nhiều thành công to lớn, nhưng luôn tồn tại
những mâu thuẫn làm kìm hãm sự phát triển của đất nước, đòi hỏi phải có sự phân tích k
lưỡng và giải quyết kịp thời từng yếu tố, từng mâu thuẫn.
a, Trong quá trình phát triển nền kinh tế thị trường
Mâu thuẫn giữa phát triển kinh tế thị trường với tính định hướng hội chủ nghĩa: Quá
trình xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta từ một nước phong kiến đi lên bỏ qua giai đoạn
tư bản chủ nghĩa nên gặp nhiều khó khăn và thử thách. Trước đây để xây dựng nền kinh tế
phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa nước ta đã xây dựng một nền kinh tế kế hoạch
với hai hình thức sở hữu sở hữu toàn dân sở hữu tập thể. vậy đã làm kìm hãm sự
phát triển nền kinh tế. nền kinh tế thị trường gồm nhiều thành phần kinh tế, nhiều
nh thức sở hữu và do đó cũng có nhiều hình thức phân phối. Sự phức tạp và đa dạng của
nền kinh tế thị trường làm cho định hướng xã hội chủ nghĩa ngày càng khó khăn đòi hỏi
phải có sự quản lý chặt chẽ của nhà nước. Mỗi thành phần kinh tế trong thời kỳ quá độ có
bản chất kinh tế xã hội riêng, nên bên cạnh sự thống nhất của các thành phần kinh tế, còn
có những khác biệt mâu thuẫn khiến cho nền kinh tế thtrường nước ta phát triển theo
những phương hướng khác nhau.
Mâu thuẫn giữa phát triển kinh tế thị trường với giải quyết công ăn việc làm: Phát triển
nền kinh tế thị trường tức đa dạng hoá các loại hình sản xuất kinh doanh, áp dụng các
thành tựu khoa học kỹ thuật tiên tiến vào sản xuất nhằm tăng ng suất lao động tạo -
ra sản phẩm chất lượng cao. Đồng thời phải đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá
nền kinh tế quốc dân để tạo nên sự tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững của toàn bộ nền
kinh tế. Như vậy khoa học kỹ thuật ngày càng phát triển và được ứng dụng vào quá trình -
sản xuất thì sự thay thế con người bằng máy móc diễn ra càng nhanh. Cùng với sự gia tăng
dân số thì số người thất nghiệp hàng năm hết sức trầm trọng. Thất nghiệp là nguy dẫn
đến nghèo đói và các tệ nạn xã hội khác. Đối với người lao động, thiếu hoặc không có việc
làm là một nguy cơ dẫn đến thu nhập thấp hoặc không có thu nhập.
Mâu thuẫn giữa phát triển kinh tế thị trường với : Cùng với sự phân hóa giàu nghèo
quá trình chuyển sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, thì cũng diễn ra
sự phân hoá giàu nghèo, sphân tầng xã hội theo mức sống ngày càng tăng. Sự phân hoá
giàu nghèo ngày càng dãn rộng sẽ lan sang các lĩnh vực khác như giáo dục, chăm sóc sức
khỏe, ... Điều đó đưa đến hệ quả không mong muốn, làm xuất hiện những nhóm xã hội dễ
bị tổn thương trong nền kinh tế thị trường, tác động đến tư tưởng, tâm lý, niềm tin về công
bằng xã hội.
Mâu thuẫn giữa phát triển kinh tế với : Nền kinh tế ngày vấn đề môi trường sinh thái
càng phát triển, đặc biệt các ngành công nghiệp đã làm cho môi trường ngày càng ô
nhiễm. Rừng bị triệt hạ nhiều làm cho lượng oxi trong không khí và lượng chất hữu cơ sản
sinh bị giảm sút rệt. Lượng nước dự trữ do rừng giữ lại ngày càng ít dần, làm cho quá
trình sa mạc hoá và thảo nguyên hóa càng tăng nhanh. Quá trình đô thị hóa nhanh làm cho
diện tích đất trồng ngày càng bị thu hẹp. Cùng với sự phát triển của nền kinh tế thị trường
thì nó đã kéo theo hàng loạt các nhân tố gây ảnh hưởng đến môi trường sinh thái.
b, Trong quá trình phát triển nền kinh tế nhiều thành phần
Trong quan niệm của chủ nghĩa Mác Lênin, sự tồn tại của nhiều thành phần kinh tế
trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩahội là một tất yếu lịch sử. Quá trình chuyển đổi nền
kinh tế từ chế tập trung, bao cấp, chủ yếu dựa trên chế độ sở hữu toàn dân tập thể
sang nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần, vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý
của Nhà nước, sự lãnh đạo của Đảng theo định hướng XHCN là nội dung, bản chất và đặc
điểm khái quát nhất đối với nền kinh tế nước ta trong hiện nay và tương lai. Nền kinh tế
nhiều thành phần ở nước ta là sản phẩm của quá trình Đảng và nhân dân ta nhận thức, vận
dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác Lênin, thể hiện duy mới của chúng ta về chủ nghĩa -
hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội.
- Tại Đại hội Đảng lần thứ VI (năm 1986), Đảng ta đã đề ra đường lối đổi mới toàn
diện đất nước, trong đó lấy đổi mới kinh tế làm trọng tâm với nội dung cơ bản là phát triển
nền kinh tế nhiều thành phần theo định hướng xã hội chủ nghĩa.
- Nghị quyết Đại hội lần thứ IX của Đảng (năm 2001) chỉ rõ: “Đảng Nhà nước ta
chủ trương thực hiện nhất quán và lâu dài chính sách phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều
thành phần vận hành theo cơ chế thị trường, có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng
xã hội chủ nghĩa”
- So với thời kỳ trước đổi mới, diện mạo đất nước nhiều thay đổi, kinh tế duy trì
tốc độ tăng trưởng khá, tiềm lực và quy mô nền kinh tế tăng lên (đạt ngưỡng thu nhập trung
bình), đời sống nhân dân từng bước được cải thiện:
+ Giai đoạn đầu đổi mới (1986 - 1990), mức tăng trưởng GDP bình quân hằng năm chỉ
đạt 4,4% nhưng giai đoạn 1991 1995, tăng trưởng GDP bình quân đã đạt 8,2%/năm.-
+ Các giai đoạn sau đó đều mức tăng trưởng khá cao, riêng giai đoạn 2016 - 2019
đạt mức nh quân 6,8. Liên tiếp trong 4 năm đó, Việt Nam đứng trong top 10 nước tăng
trưởng cao nhất thế giới, là một trong 16 nền kinh tế mới nổi thành công nhất.
+ Năm 2020, trong khi phần lớn các nước mức tăng trưởng âm hoặc đi vào trạng
thái suy thoái do tác động của đại dịch COVID 19, kinh tế Việt Nam vẫn tăng trưởn- g
2,91%, góp phần làm cho GDP trong 5 năm (2016 - 2020) tăng trung bình 5,9%/năm, thuộc
nhóm nước có tốc độ tăng trưởng cao nhất khu vực và thế giới.
+ Kinh tế vĩ mô cơ bản ổn định, lạm phát được kiểm soát. Môi trường đầu tư liên tục
được cải thiện đã thu hút ngày càng nhiều hơn vốn đầu tư cho phát triển.
Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu đó, chúng ta cũng cần phải nhận thức rõ những
tiêu cực do nền kinh tế nhiều thành phần gây ra, đặc biệt nguy chệch hướng hội
chủ nghĩa. Việc phân bổ các nguồn lực cho phát triển còn dàn trải, lãng phí, chưa công
bằng, chưa đem lại hiệu quả cao; vấn đề phân hóa giàu nghèo, bất bình đẳng xã hội, tệ nạn
hội chiều hướng gia tăng; đời sống vật chất tinh thần của một bộ phân dân cư,
nhất là nông dân nông thôn, vùng sâu, vùng xa chậm được cải thiện, ít được hưởng lợi từ
thành quả tăng trưởng chung của nền kinh tế. Hơn nữa, tăng trưởng kinh tế còn chậm, chưa
bền vững, vẫn dưới mức tiềm năng, lực lượng sản xuất chưa được giải phóng triệt để,
năng suất lao động thấp, khả năng cạnh tranh quốc tế chưa cao. Mối quan hệ giữa Nhà
nước, thị trường và xã hội chưa được xử lý phù hợp, rõ ràng, minh bạch.
- Đại hội IX khẳng định: “Đảng và Nhà nước ta chủ trương thực hiện nhất quán và lâu dài
chính sách phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần vận động theo chế thị
trường sự quản của nhà nước theo định hướng XHCN, đó nền kinh tế thị trường
theo định hướng XHCN”. Sự vận dụng sáng tạo phát triển những quan điểm đúng đắn
của Chủ tịch Hồ Chí Minh về xây dựng nền kinh tế nhiều thành phần, góp phần quan trọng
trong việc huy động sức mạnh của các thành phần kinh tế vào chiến lược phát triển kinh tế
thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam.
2.2. QUÁ XÂY TRÌNH VẬN ĐỘNG CỦA MÂU THUẪN TRONG QUÁ TRÌNH
DỰNG ĐẤT NƯỚC VIỆT NAM HIỆN NAY
Trong quá trình xây dựng đất nước Việt Nam hiện nay, bên cạnh những thuận lợi do
tiến trình đổi mới và hội nhập quốc tế đem lại, đất nước ta cũng gặp nhiều khó khăn, thách
thức do những yếu kém vốn của nền kinh tế, thiên tai, dịch bệnh, diễn biến phức tạp của
tình hình thế giới và khu vực, tác động của cuộc khủng hoảng tài chính suy thoái kinh
tế toàn cầu; các hoạt động chống phá, kích động, bạo loạn của các thế lực thù địch thì Đảng
và Nhà nước ta đã vận dụng “Quá trình vận động của mâu thuẫn” một cách sáng tạo trong
công cuộc đổi mới, góp phần tạo nên sự ổn định chính trị và phát triển kinh tế - xã hội của
đất nước.
2.2.1 Sự thống nhất
- Đổi mới chính trị phải gắn liền với đổi mới về kinh tế, phù hợp với yêu cầu phát
triển của kinh tế. Trên cơ sở này, Đảng từng bước hoàn thiện nhận thức về đổi mới kinh tế
và đổi mới chính trị. Song đổi mới về kinh tế theo một định hướng nhất định đó là chuyển
từ nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung sang nền kinh tế thị trường nhằm thực hiện mục tiêu
"dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng văn minh”, và cũng là cơ sở để giữ vững ổn định
về chính trị. Đại hội lần thứ VIII khẳng định “Kết hợp ngay từ đầu đổi mới kinh tế với đổi
mới chính trị, lấy đổi mới kinh tế làm trọng tâm, đồng thời từng bước đổi mới chính trị”
dụ: Cải tổ của Liên thất bại do nguyên nhân sâu xa Đảng Cộng sản Liên
đã nhận thức giải quyết không đúng mối quan hệ giữa cải tổ kinh tế cải tổ chính trị.
M.Goocbachốp đã tuyệt đổi hóa cải tổ chính trị, không chú ý đúng mức tới cải tổ kinh tế,
không lấy cải tổ kinh tế làm căn cứ, cơ sở cho cải tổ chính trị, trong cải tổ chính trị thì giải
quyết không đúng quan hệ giữa giai cấp và nhân loại, tuyệt đối hóa cái nhân loại, đánh giá
không đúng cái giai cấp trong quan hệ với cái nhân loại. Rút kinh nghiệm từ những sai lầm
vô nguyên tắc của Đảng cộng sản Liên xô, ngay từ khi bắt đầu tiến hành đổi mới, Đảng ta
đã nhận thức trước hết cần tập trung đổi mới kinh tế, trên cơ sở đó từng bước đổi mới
chính trị.
- Trong Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI nêu ra: “Ổn định phát
triển gắn liền với nhau trong quá trình vận động tiến lên, ổn định đphát triển phát
triển mới ổn định được” Ổn định chính trị là một trong những yếu tố không thể thiếu, góp .
phần giúp Việt Nam có thể kiên trì chính sách phát triển kinh tế. Nền chính trị ổn định tạo
cho Việt Nam có được một nền hòa bình và thịnh vượng.
Ví dụ: Từ năm 1990 trở lại đây, nhiều nước trên thế giới, hay ngay tại Đông Nam Á đã
trải qua các cuộc đảo chính hoặc khủng hoảng chính trị. Những bất ổn chính trị ít nhiều
kéo tụt tốc độ phát triển của một số quốc gia gây ra nhiều hệ lụy, bất ổn hội. Trong
khi đó, nền chính trị của Việt Nam luôn ổn định, đây một bảo đảm cho sự gắn kết để
thực hiện chính sách kinh tế nhất quán. Thành công của sự phát triển ở Việt Nam dựa trên
sự ổn định chính trị. Đảng ta đã xác định xây dựng CNXH ở Việt Nam là quá trình lâu dài,
trải qua nhiều chặng đường với yếu tố quan trọng, điều kiện tiên quyết phải giữ vững
được ổn định chính trị.
Trong đó, mặt này lấy mặt đối lập kia làm tiền đề cho sự tồn tại của minh. Có ổn định
thì mới phát triển, phát triển tạo điều kiện để ổn định, hai mặt đó tác động qua lại với
nhau và gắn bó chặt chẽ với đổi mới đất nước, trên nền tảng của xây dựng đất nước. Như
vậy, tuy là những mặt đối lập nhưng thống nhất biện chứng với nhau. chúng ràng buộc lẫn
nhau, cùng tồn tại.
2.2.2. Sự đấu tranh
- Việt Nam luôn kiên định nguyên tắc, mục tiêu chiến lược, nhưng mềm dẻo, linh
hoạt, có lý, có tình trong sách lược, tùy từng vấn đề, thời điểm và đối tác với phương châm
“dĩ bất biến ứng vạn biến", bạn, đối tác tin cậy, thành viên tích cực trách
nhiệm với tất cả các nước trong cộng đồng quốc tế. Đây cũng thông điệp Việt Nam
gửi tới tất cả các quốc gia trên thế giới nhưng Đảng Nhà nước ta luôn kiên quyết, kiên
trì đấu tranh giữ vững độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, bảo vệ vững chắc
biên giới và chủ quyền biển, đảo, vùng trời của Tổ quốc bằng việc phát huy mạnh mẽ sức
mạnh tổng hợp của toàn dân tộc, của cả hệ thống chính trị, tranh thủ tối đa sự đồng tình,
ủng hộ của cộng đồng quốc tế.
Ví dụ: K - hi Trung Quốc đưa giàn khoan HD 981 vào sâu trong thềm lục địa, vùng đặc
quyền kinh tế của Việt Nam thì ngay lập tức ta tổ chức trực chỉ huy chặt chẽ, tăng cường
nhiều tàu của lực lượng kiểm ngư, cảnh sát biển từ căn cứ ra thực địa để đấu tranh bảo vệ
chủ quyền của ta đồng thời Việt Nam đã triển khai giao thiệp ngoại giao để điện đàm, ta
đã bác bỏ quan điểm, hành vi sai trái của phía Trung Quốc.
- Nhà ớc ta Nhà ớc của nhân dân, do nhân dân, nhân n với quan điểm
‘‘dân làm gốc’’ cho nên Nhà nước luôn đấu tranh, kiểm soát, ngăn ngừa và trừng trị những
thế lực chống phá Đảng, chính quyền, tệ quan liêu, tham nhũng, lãng phí, vô trách nhiệm,
lạm quyền, xâm phạm quyền dân chủ của công dân; giữ nghiêm kỷ cương xã hội, nghiêm
trị mọi hành động xâm phạm lợi ích của nhân dân.
Ví dụ: Với những đối tượng xâm phạm đến thân thể, tính mạng của người khác đều sẽ phải
chịu sự trừng trị trước pháp luật nước ta tuỳ theo mức độ phạm tội để xử đúng người đúng
tội, các hình phạt không chỉ nhằm trừng trị người phạm tội còn giáo dục họ trở thành
người có ích cho xã hội, có ý thức tuân theo pháp luật và các quy tắc của cuộc sống xã hội
chủ nghĩa, ngăn ngừa họ phạm tội mới.
2.2.3. Sự chuyển hóa
- Từ một nước nghèo nàn, lạc hậu, nền kinh tế kiệt quệ, phải hứng chịu biết bao hậu
quả sau chiến tranh thì Việt Nam hiện nước đang phát triển, đạt mức thu nhập trung bình,
một trong những nền kinh tế tốc độ tăng trưởng nhanh hàng đầu thế giới; văn hóa
phát triển, đời sống vật chất tinh thần của nhân dân được cải thiện, thuộc nhóm nước
đạt chỉ số cao về phát triển con người của Liên hợp quốc, nhất là so với các nước có cùng
trình độ phát triển; trở thành một thành viên tích cực, trách nhiệm của cộng đồng quốc
tế...kết quả đạt được như vậy do Đảng và Nhà nước ta đã nhận thức kịp thời và chuyển hoá
nền kinh tế từ hoạt động theo chế kế hoạch tập trung quan liêu bao cấp sang phát triển
nền kinh tế nhiều thành phần.
Ví dụ: Trước đây, kinh tế Nhà nước kinh tế tập thể giữ vai trò chủ đạo, các thành
phần kinh tế khác hầu như không được chú trọng thì hiện tại thì nền kinh tế Nhà nước vẫn
đóng vai trò chủ đạo nhưng ngoài ra còn nhiều nền kinh tế quan trọng như kinh tế cá thể,
tiểu chủ; kinh tế bản nhân; kinh tế bản nhà nước; kinh tế vốn đầu nước
ngoài…
- Chuyển đổi nền kinh tế Việt Nam từ dựa vào nông nghiệp thủ công sang máy
móc công nghiệp là chính tạo điều kiện để phát triển lực lượng sản xuất và nâng cao năng
suất lao động hội, thúc đẩy sự tăng trưởng và phát triển kinh tế đồng thời giải quyết việc
làm, tăng thu nhập và nâng cao đời sống của nhân dân.
Ví dụ: Nhà nước tăng cường đầu công về kinh phí cho hệ thống các đơn vị nghiên
cứu trong lĩnh vực nông nghiệp và phát triển nông thôn, xây dựng đề án chuyển đổi số, nền
tảng số tập trung của ngành nông nghiệp, nông thôn nhằm cải thiện chất lượng cung cấp
dịch vụ công cho nông nghiệp, nông thôn
2.3. LIÊN H QUY LU T TH NG NH U TRANH GI A CÁC M T ẤT VÀ ĐẤ
ĐỐ I LP PBCDV TRONG H C TP VÀ RÈN LUY N BN THÂN SINH VIÊN
HIN NAY
Tất cả mọi sự vật, hiện tượng đều chứa đựng những khuynh hướng đối lập để từ đó tạo nên
những mâu thuẫn trong bản thân nó. Quy luật thống nhất và đấu tranh giữa các mặt đối lập
là quy luật quan trọng nhất của phép biện chứng duy vật, là hạt nhân của phép biện chứng
duy vật vạch ra nguồn gốc, động lực của sự vận động, phát triển của thế giới khách
quan đó sở giúp chúng ta nắm vững thực chất của tất cả các quy luật phạm
trù của phép biện chứng duy vật. Việc vận dụng “Quy luật thống nhất đấu tranh giữa
các mặt đối lập” hay “Quy luật mâu thuẫn” trong học tập rèn luyện của bản thân sinh
viên mang lại những ý nghĩa quan trọng trong nhận thức cả trong thực tiễn cuộc sống
của mỗi sinh viên hiện nay.
2.3.1. Phải biết tôn trọng mâu thuẫn
Bất kỳ sự vật, hiện tượng nào cũng đều biến đổi không ngừng. Tri thức của nhân
loại cũng không đứng im hay nằm ngoài quy luật này. Do đó, học tập phải là một quá trình
lâu dài và không ngừng nghỉ nhằm phát triển tư duy và trau dồi tri thức, đồng thời áp dụng
tri thức đó vào thực tiễn. Quy luật mâu thuẫn đòi hỏi sinh viên hiện nay không ngừng học
hỏi mà tiếp nhận sự phong phú tận của tri thức nhân loại, bởi chỉ khi có mâu thuẫn thì
mới có phát triển: tri thức cũ mất đi thì tri thức mới ra đời.
Trong quá trình học tập, sinh viên cần vạch ra kế hoạch học tập hiệu quả, tham gia các
hoạt động đoàn thể hoàn thành các mục tiêu đã đặt ra. Sinh viên thường tình trạng
mâu thuẫn giữa kiến thức được học và kiến thức trong thực tế. Những kiến thức trên giảng
đường đôi khi chưa đủ để sinh viên thể áp dụng ngoài thực tế, vậy mỗi sinh viên cần
phải chủ động, tự giác tìm tòi những kiến thức trong thực tế mà không có trên sách vở, sắp
xếp thời gian hợp lý để tham gia các hoạt động ngoại khóa, đi làm thêm hay đi thực tập để
tích lũy kinh nghiệm mà vẫn đảm bảo được việc học tập một cách hiệu quả.
Sinh viên cần tự giác tu dưỡng, rèn luyện và hoàn thiện bản thân mình. Đấu tranh với cái
chưa tốt, cái tiêu cực, đề cao phê bình và tự phê bình, tránh dễ dãi, xuôi chiều.
2.3.2. Không sợ mâu thuẫn, không né tránh mâu thuẫn
Mâu thuẫn phải được giải quyết bằng con đường đấu tranh dưới nhiều hình thức khác
nhau, không m cách tránh các mâu thuẫn. Khi gặp vấn đề cần tìm cách khắc phục để
phát triển bản thân, tích lũy kinh nghiệm để giải quyết những mâu thuẫn phát sinh sau
này.
“Khi việc có mâu thuẫn, khi phải tìm cách giải quyết tức là có vấn đề. Khi đã có vấn
đề, ta phải nghiên cứu cho rõ cái gốc của mâu thuẫn là vấn đề gì, Phải điều tra, phải nghiên
cứu các mâu thuẫn đó. Phải phân tách ràng hệ thống, phải biết cái nào mâu
thuẫn chính, cái nào là mâu thuẫn phụ. Phải đề ra cách giải quyết” - Hồ Chí Minh.
Đối với sinh viên, khi gặp mâu thuẫn trong học tập rèn luyện thì cần phải tìm cách
giải quyết các mâu thuẫn đó không được tránh. Khi không hiểu bài giảng tphải
mạnh dạn hỏi thầy cô, bạn bè; bài tập nào không làm được phải chủ động tìm tòi trên các
trang mạng, hay học hỏi giảng viên, các đàn anh, đàn chị bạn bè. Khi gặp vướng mắc
hay khó khăn trong các nhiệm vụ được giao phó tại các hoạt động Đội, âu lạc bộ Nhóm, C
thì cần học hỏi, tiếp thu các anh chị các bạn để thể ngày một tích lũy kinh nghiệm,
rèn luyện bản thân và phát triển các kỹ năng mềm. Hay mâu thuẫn của sinh viên giữa việc
sinh viên muốn đi m thêm, tham gia các hoạt động ngoại khóa để tích lũy kinh nghiệm
đồng thời kiếm thêm thu nhập phụ giúp gia đình nhưng lại sợ ảnh hưởng đến việc học, vậy
để đáp ứng được cả hai thì sinh viên cần kỹ năng sắp xếp thời gian hợp để đi làm
thêm, tham gia hoạt động ngoại khóa mà vẫn không ảnh hưởng đến học tập.
2.3.3. Vận dụng quy luật mâu thuẫn liên tục tìm tòi, đổi mới và sáng tạo trong tri
thức
Sự vật, hiện tượng biến đổi không ngừng nên quy luật mâu thuẫn không cho phép
chúng ta nghĩ mình đầy đủ tri thức để giải quyết mọi vấn đề đòi hỏi mọi người, và đặc
biệt là thế hệ trẻ như học sinh, sinh viên không ngừng học tập, nỗ lực, lĩnh hội tri thức để
ngày một tiến bộ và giải quyết được các vấn đề. Quy luật mâu thuẫn yêu cầu chúng ta vượt
qua tất cả mọi định kiến tiêu cực khi muốn loại trừ cái mới chỉ chấp nhận cái đã có từ
trước đó thay vào đó bài trừ cái cũ, cái không còn phù hợp tiếp thu, chọn lọc
những cái mới.
Để làm được những điều đó, mỗi sinh viên luôn phải chủ động tìm tòi, liên tục đổi mới
và sáng tạo ra các tri thức mới, không ngủ quên trong tri thức mà phải đón nhận sự phong
phú tận của tri thức nhân loại. Sinh viên nên xây dựng kế hoạch học tập rõ ràng, có mục
tiêu định hướng cụ thể; nâng cao năng lực tự học, tự nghiên cứu; học chọn lọc, có
quá trình, nhạy bén, linh hoạt trong việc lựa chọn phương pháp học tập; cần vận dụng sáng
tạo các nguyên tắc, quan điểm, phương pháp luận biện chứng duy vật vào nắm bắt hệ thống
khái niệm, đồng thời phải những hiểu biết về các môn khoa học cơ bản, liên ngành, kiến
thức về đời sống xã hội; tích lũy chuyên môn phù hợp với khả năng của bản thân.
Cụ thể là, khi còn ngồi trên giảng đường, sinh viên cần tập trung và tích cực tương tác
với giảng viên, khi thắc mắc hãy đặt ra u hỏi nhằm tăng khả năng ghi nhớ nâng
cao tư duy sáng tạo; phát triển năng lực tự học, cần phương pháp ghi chép sáng tạo
hiệu quả, đặc biệt là các bài tập tình huống hay các dụ không trong giáo trình, ghi chú
các từ khóa để hiểu đúng bản chất bài học. Đồng thời thì sinh viên cần trang bị cho mình
các phương pháp học tập tốt như: phương pháp đọc giáo trình, tài liệu, đồ hóa bài học,
học nhóm, học thông qua nghiên cứu khoa học, thực tế, ... những kỹ năng mềm cần thiết
như: kỹ năng thuyết trình, kỹ năng làm việc nhóm, kỹ năng quản lý thời gian, kỹ năng giải
quyết vấn đề, thông qua quá trình tích lũy trong học tập đi làm thêm, thực tập hay
tham gia các hoạt động ngoại khóa.
2.3.4. Quy luật mâu thuẫn đòi hỏi con người tiếp thu kiến thức một cách có hệ thống
Trong mỗi mâu thuẫn, các mặt đối lập vừa thống nhất, vừa đấu tranh với nhau,
nương tựa vào nhau làm tiền đề cho nhau tồn tại sự đồng nhất, những yếu tố
giống nhau. Kiến thức cũng như vậy, không đi riêng lẻ, mà ta phải nhìn nhận được sự tương
hỗ giữa các kiến thức của các ngành nghề khác nhau để bổ trợ cho sự thiếu sót của nhau
và loại bỏ những kiến thức thừa thãi.
Không có một loại tri thức hay một môn khoa học nào đứng riêng lẻ, sinh viên cần tiếp
thu tri thức giữa các môn học ngành học dưới sự tương tác qua lại, học theo một chỉnh
thể thống nhất giữa c môn để cái hiểu bản chất về kiến thức đã học được, vận dụng
khả năng tổng hợp để tích lũy kiến thức ghi nhớ những đã được học, từ đó thể
nâng cao hiệu quả học tập một cách tối ưu nhất. Sinh viên khi tham gia các hoạt động Đội,
nhóm, câu lạc bộ hay đi làm thêm thì cần lên kế hoạch cụ thể, sắp xếp các công việc theo
một chỉnh thể thống nhất để công việc được diễn ra trơn tru, thuận lợi đồng thời tích lũy
được kinh nghiệm cho bản thân.
KẾT LUẬN
Có thể nói, triết học là nguồn gốc của mọi duy suy luận, của mọi quyết định ý thức
và hành động. Sự thống nhất đấu tranh giữa các mặt đối lập tạo thành xung lực nội tại
của sự vận động phát triển, dẫn đến mất đi cái cho ra đời cái mới tiến bộ hơn. Như
vậy, trong quá trình xây dựng đất nước, Đảng và Nhà nước ta tuy gặp nhiều khó khăn nhất
định trong việc tạo dựng cơ sở vật chất của xã hội mới, gây kìm hãm sự phát triển kinh tế.
Song với sự lãnh đạo của Đảng và Nhà nước luôn kiên định đi theo con đường CNXH và
độc lập dân tộc, không ngừng sáng tạo và đổi mới tư duy, diện mạo đất nước có nhiều thay
đổi, kinh tế duy trì tốc độ tăng trưởng khá, tiềm lực quy nền kinh tế tăng lên (đạt
ngưỡng thu nhập trung bình), đời sống nhân dân từng bước được cải thiện. Đây cũng sản
phẩm của quá trình Đảng nhân dân ta nhận thức, vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác
Lênin, thể hiện tư duy mới của chúng ta về chủ nghĩa hội và con đường đi lên chủ nghĩa
hội. Không chỉ vậy, Việt Nam luôn kiên định trong nguyên tắc, mục tiêu chiến lược
nhưng lại mềm dẻo, linh hoạt trong sách lược, trong các mối quan hệ quốc tế, hoan nghênh
sự hợp tác, đầu tư quốc tế nhưng luôn nghiêm trị những hành động xâm phạm chủ quyền
quốc gia. Về phía sinh viên, cần phải biết chấp nhận mâu thuẫn như một quy luật tất yếu,
nó đòi hỏi sinh viên hiện nay không ngừng học hỏi, tiếp nhận sự phong phú vô tận của tri
thức nhân loại. Bởi càng đấu tranh thì càng nhiều mâu thuẫn, bản thân sinh viên lại càng
phát triển: tri thức cũ mất đi thì tri thức mới ra đời.

Preview text:

TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI KHOA MARKETING
BÀI THO LUN
TRIT HC MÁC - LÊNIN
Đề tài: Quy lut thng nhất và đấu tranh gia các mặt đối lp PBCDV S
vn dng quy lut này trong quá trình xây dựng đất nước Vit Nam hin nay. Liên
h
vấn đề này trong hc tp và rèn luyn bn thân sinh viên hin nay.
Ging viên hướng dn: Ts. Đặng Minh Tiến
Nhóm tho lun: Nhóm 2
Lp hc phn: 2218MLNP0221
Hà Ni, tháng 3 năm 2022 MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 4
CHƯƠNG I: QUAN ĐIỂM CA CH NGHĨA MÁC – LEENIN V QUY LUT
TH
NG NHẤT ĐẤU TRANH GIA CÁC MẶT ĐỐI LP PBCDV . . . . . . . . . . . . 5
1.1.KHÁI NIỆM VÀ CÁC TÍNH CHẤT CHUNG CỦA MÂU THUẪN . . . . . . . . . . . . . 5
1.1.1.Khái niệm, vị trí và vai trò của mâu thuẫn . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 5
1.1.2.Các tính chất chung của mâu thuẫn . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 5
1.1.3.Phân loại mâu thuẫn . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 6
1.2.QUÁ TRÌNH VẬN ĐỘNG CỦA MÂU THUẪN BIỆN CHỨNG . . . . . . . . . . . . . . . 7
1.2.1.Mâu thuẫn là nguồn gốc của sự phát triển . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 7
1.2.2.Mâu thuẫn là động lực của sự vận động ................................................................................. 8
1.3. Ý NGHĨA PHƯƠNG PHÁP LUẬN CỦA QUY LUẬT . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 8
CHƯƠNG II: VẬN DNG QUY LUT THNG NHẤT VÀ ĐẤU TRANH GIA
CÁC M
ẶT ĐỐI LP PBCDV VÀO QUÁ TRÌNH XÂY DỰNG ĐẤT NƯỚC VIT
NAM HI
N NAY . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 10
2.1. MÂU THUẪN LÀ KHÁCH QUAN, TẤT YÊU TỒN TẠI TRONG QUÁ TRÌNH
XÂY DỰNG ĐẤT NƯỚC VIỆT NAM HIỆN NAY . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 10
2.1.1. Mâu thuẫn là khách quan và tất yếu trong quá trình vận động và phát triển đất nước
theo con đường chủ nghĩa xã hội . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 10
2.1.2. Tính tất yếu khách quan của sự phát triển đất nước là giải quyết mâu thuẫn giữa kinh
tế và chính trị (CNXH và CNTB) và các lĩnh vực khác của đời sống xã
hội………………………………………………………………………………………..11
a, Trong quá trình phát triển nền kinh tế thị trường . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 11
b, Trong quá trình phát triển nền kinh tế nhiều thành phần . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 12
2.2. QUÁ TRÌNH VẬN ĐỘNG CỦA MÂU THUẪN TRONG QUÁ TRÌNH XÂY
DỰNG ĐẤT NƯỚC VIỆT NAM HIỆN NAY . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 14
2.2.1 Sự thống nhất . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 14
2.2.2. Sự đấu tranh . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 15
2.2.3. Sự chuyển hóa . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 16
2.3. LIÊN HỆ QUY LUẬT THỐNG NHẤT VÀ ĐẤU TRANH GIỮA CÁC MẶT ĐỐI
LẬP PBCDV TRONG HỌC TẬP VÀ RÈN LUYỆN BẢN THÂN SINH VIÊN HIỆN
NAY………………. . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 17
2.3.1. Phải biết tôn trọng mâu thuẫn . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 17
2.3.2. Không sợ mâu thuẫn, không né tránh mâu thuẫn . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 18
2.3.3. Vận dụng quy luật mâu thuẫn liên tục tìm tòi, đổi mới và sáng tạo trong tri thức . 18
2.3.4. Quy luật mâu thuẫn đòi hỏi con người tiếp thu kiến thức một cách có hệ thống . . 19
KT LUN . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 20
DANH M
C TÀI LIU THAM KHO: . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 21 LỜI MỞ ĐẦU
Triết học từ lâu đã có những đóng góp rất lớn trong việc đổi mới tư duy lý luận, thay
đổi nhận thức và thực tiễn con người. Quy luật thống nhất và đấu tranh giữa các mặt đối
lập là một trong ba quy luật cơ bản của phép biện chứng duy vật. Quy luật này khẳng định:
Tất cả sự vật hiện tượng đều có tính chất mâu thuẫn bên trong bản thân nó. Mâu thuẫn tồn
tại từ khi sự vật sinh ra cho đến khi kết thúc. Trong mỗi sự vật sẽ có nhiều mâu thuẫn tồn
tại cùng lúc, mâu thuẫn này mất đi thì mâu thuẫn khác sẽ hình thành. Thực tế đã chứng
minh rằng việc vận dụng phép biện chứng duy vật của Chủ nghĩa Mác - Lênin nói chung,
quy luật thống nhất và đấu tranh giữa các mặt đối lập nói riêng trong quá trình xây dựng
đất nước trở nên quan trọng và cấp thiết hơn bao giờ hết. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã thấm
nhuần tư tưởng của chủ nghĩa Mác - Lênin và vận dụng một cách sáng tạo để giải quyết
những vấn đề của thực tiễn cách mạng Việt Nam, đưa đất nước ta giành lại độc lập và tiến
lên con đường chủ nghĩa xã hội. Nội bộ Đảng ta không ngừng tạo ra mâu thuẫn, đấu tranh
liên tục để phát triển, nhưng vẫn kiên định theo con đường độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã
hội. Tuy nhiên bên cạnh những thành công, quá trình xây dựng đất nước của Đảng ta cũng
bộc lộ nhiều mâu thuẫn kìm hãm sự phát triển kinh tế. Giải quyết được những mâu thuẫn
ấy chính là tạo động lực cho sự phát triển đất nước một cách vững chắc và ổn định theo
đúng những định hướng đã đặt ra.
Nhận thấy tầm quan trọng và cấp thiết của việc vận dụng quy luật thống nhất và đấu
tranh giữa các mặt đối lập trong công cuộc xây dựng đất nước cũng như trong học tập và
rèn luyện của sinh viên, nhóm em chọn đề tài: “Quy luật thống nhất và đấu tranh giữa
các mặt đối lập PBCDV – Sự vận dụng quy luật này trong quá trình xây dựng đất
nước Việt Nam hiện nay. Liên hệ vấn đề này trong học tập và rèn luyện bản thân sinh viên hiện nay”
Nội dung bài tiểu luận của nhóm chúng em được trình bày trong 2 chương, bao gồm:
Chương I: Cơ sở lý luận
Chương II: Vận dụng quy luật thống nhất và đấu tranh giữa các mặt đối lập PBCDV
vào quá trình xây dựng đất nước Việt Nam hiện nay
Tuy nhiên, với kinh nghiệm và kiến thức tích lũy vẫn còn hạn chế, bài tiểu luận nhóm
chúng em nếu có gì sai sót, hy vọng thầy và các bạn góp ý sửa chữa ạ. Chúng em xin chân thành cảm ơn!
CHƯƠNG I: QUAN ĐIỂM CỦA CHỦ NGHĨA MÁC – LEENIN VỀ QUY LUẬT
THỐNG NHẤT ĐẤU TRANH GIỮA CÁC MẶT ĐỐI LẬP PBCDV
1.1. KHÁI NIỆM VÀ CÁC TÍNH CHẤT CHUNG CỦA MÂU THUẪN
1.1.1.
Khái niệm, vị trí và vai trò của mâu thuẫn a. Khái niệm
Mâu thuẫn là phạm trù triết học dùng để chỉ sự thống nhất và đấu tranh, chuyển hóa
giữa các mặt đối lập của sự vật, hiện tượng hoặc giữa các sự vật, hiện tượng với nhau.
Mâu thuẫn biện chứng là khái niệm dùng để chỉ sự liên hệ, tác động theo cách vừa
thống nhất, vừa đấu tranh; vừa đòi hỏi, vừa loại trừ, vừa chuyển hóa lẫn nhau giữa các mặt đối lập.
Các mặt đối lập là yếu tố tạo thành mâu thuẫn biện chứng là các mặt đối lập, các bộ
phận, các thuộc tính... có khuynh hướng biến đổi trái ngược nhau, nhưng cùng tồn tại khách
quan trong mỗi sự vật, hiện tượng của tự nhiên, xã hội và tư duy. Trong mỗi mâu thuẫn,
các mặt đối lập vừa thống nhất với nhau, vừa đấu tranh lẫn nhau tạo nên trạng thái ổn định
tương đối của sự vật, hiện tượng.
Như vậy, có hai điều kiện để xác định một mâu thuẫn biện chứng: thứ nhất là, các
xu hướng đối lập nhau; thứ hai là, các xu hướng là điều kiện tồn tại và phát triển của nhau.
b. Vị trí của quy luật mâu thuẫn
Quy luật mâu thuẫn là một trong ba quy luật cơ bản của phép biện chứng duy vật
và là quy luật quan trọng nhất của phép biện chứng duy vật trong Triết học Mác - Lênin
Quy luật mâu thuẫn thể hiện bản chất, là hạt nhân của phép biện chứng duy vật bởi
quy luật đề cập tới vấn đề cơ bản và quan trọng nhất của phép biện chứng duy vật “vấn đề
nguyên nhân, động lực của sự vận động, phát triển”
1.1.2. Các tính chất chung của mâu thuẫn
Mâu thuẫn có tính khách quan và tính phổ biến
- Phép biện chứng duy vật khẳng định rằng tất cả các sự vật, hiện tượng tồn tại trong
thực tại khách quan đều chứa đựng trong nó mâu thuẫn.
- Sự hình thành và phát triển của mâu thuẫn là do cấu trúc tự thân vốn có bên trong
của sự vật, hiện tượng quy định. Mâu thuẫn tồn tại không phụ thuộc vào bất cứ hiện tượng
siêu nhiên nào, kể cả ý chí của con người.
- Mỗi sự vật, hiện tượng đang tồn tại đều là một thể thống nhất các khuynh hướng,
các thuộc tính phát triển ngược chiều nhau, đối lập nhau. Sự liên hệ, tác động qua lại, đấu
tranh chuyển hoá, bài trừ và phủ định lẫn nhau, tạo thành động lực bên trong của mọi quá
trình vận động và phát triển khách quan của chính bản thân các sự vật hiện tượng.
- Mâu thuẫn là một hiện tượng có trong tất cả các lĩnh vực: tự nhiên, xã hội và tư duy của con người.
Mâu thuẫn có tính đa dạng, phong phú
- Tính đa dạng của mâu thuẫn biểu hiện ở chỗ: mỗi sự vật, hiện tượng, quá trình đều
có thể bao hàm nhiều loại mâu thuẫn khác nhau, biểu hiện khác nhau trong những điều
kiện lịch sử, cụ thể khác nhau; mâu thuẫn giữ vị trí, vai trò khác nhau với sự tồn tại, vận
động và phát triển của sự vật. Trong các lĩnh vực khác nhau cũng tồn tại những mâu thuẫn
với những tính chất khác nhau tạo nên tính phong phú trong sự biểu hiện của mâu thuẫn.
1.1.3. Phân loại mâu thuẫn
Căn cứ vào quan hệ đối với sự vật được xem xét, người ta phân biệt các mâu thuẫn
thành mâu thuẫn bên trong mâu thuẫn bên ngoài.
- Mâu thuẫn bên trong là sự tác động qua lại giữa các mặt, các khuynh hướng đối lập của cùng một sự vật.
- Mâu thuẫn bên ngoài đối với một sự vật nhất định là mâu thuẫn diễn ra trong mối
quan hệ giữa các sự vật đó với sự vật khác.
Căn cứ vào ý nghĩa với sự tồn tại và phát triển của toàn bộ sự vật, mâu thuẫn được chia
thành mâu thuẫn cơ bản và mâu thuẫn không cơ bản.
- Mâu thuẫn cơ bản là mâu thuẫn quy định bản chất của sự vật, quy định sự phát triển
ở tất cả các giai đoạn của sự vật, nó tồn tại trong suốt quá trình tồn tại các sự vật.
- Mâu thuẫn không cơ bản là mâu thuẫn chỉ đặc trưng cho một phương diện nào đó
của sự vật, nó không quy định bản chất của sự vật.
Căn cứ vào vai trò của mâu thuẫn đối với sự tồn tại và phát triển của sự vật trong một
giai đoạn nhất định, các mâu thuẫn được chia thành mâu thuẫn chủ yếu và mâu thuẫn thứ yếu.
- Mâu thuẫn chủ yếu là mâu thuẫn nổi lên hàng đầu ở một giai đoạn phát triển nhất
định của sự vật, nó chi phối các mâu thuẫn khác trong giai đoạn đó.
- Mâu thuẫn thứ yếu là những mâu thuẫn ra đời và tồn tại trong một giai đoạn phát
triển nào đó của sự vật, nhưng nó không đóng vai trò chi phối mà bị mâu thuẫn chủ yếu chi phối.
Căn cứ vào tính chất của lợi ích cơ bản là đối lập nhau trong mối quan hệ giữa giai
đoạn lịch sử nhất định, trong xã hội có mâu thuẫn đối kháng và mâu thuẫn không đối kháng.
- Mâu thuẫn đối kháng là mâu thuẫn giữa các giai cấp, tập đoàn người, lực lượng, xu
hướng xã hội có lợi ích cơ bản đối lập nhau và không thể điều hòa được.
- Mâu thuẫn không đối kháng là mâu thuẫn giữa các giai cấp, tập đoàn người, lực
lượng, xu hướng xã hội, ... có lợi ích cơ bản không đối lập nhau nên là mâu thuẫn cục bộ, tạm thời.
1.2. QUÁ TRÌNH VẬN ĐỘNG CỦA MÂU THUẪN BIỆN CHỨNG
1.2.1.
Mâu thuẫn là nguồn gốc của sự phát triển
Sự thống nhất, đấu tranh các mặt đối lập chính là hai xu hướng tác động khác nhau về mặt đối lập.
- Trong đó, hai xu hướng này tạo ra loại mâu thuẫn đặc biệt, từ đó mâu thuẫn biện
chứng bao gồm sự thống nhất và sự đấu tranh của mặt đối lập.
- Trong quá trình phát triền và vận động thì sự thống nhất, đấu tranh của mặt đối lập không tách rời nhau.
Đấu tranh của mặt đối lập được quy định tất yếu về sự thay đổi các mặt đang tác động,
làm mâu thuẫn phát triển.
- Khi bắt đầu xuất hiện thì mâu thuẫn chỉ là một sự khác nhau cơ bản. Tuy nhiên theo
khuynh hướng trái ngược nhau thì sự khác nhau này càng lớn lên và rộng dẫn ra đến khi
nào trở thành đối lập.
- Khi hai mặt đối lập có sự xung đột gay gắt, đủ điều kiện thì sẽ tự chuyển hóa lẫn
nhau và từ đó mâu thuẫn được giải quyết. Nhờ sự giải quyết theo hướng này mà thể thống
nhất mới sẽ thay thế thể thống nhất cũ hay sự vật mới thay cho sự vật cũ bị mất đi.
Sự phát triển là cuộc đấu tranh các mặt đối lập.
- Ta đã thấy rằng khi có thống nhất của các mặt đối lập thì sẽ có đấu tranh, đấu tranh
và thống nhất các mặt đối lập thì không thể tách rời khỏi nhau đối với mâu thuẫn biện chứng.
- Sự vận động, phát triển là sự thống nhất trong tính ổn định và tính thay đổi, đấu
tranh và thống nhất các mặt đối lập quy định về tính thay đổi và tính ổn định sự vật. Do đó,
mâu thuẫn là nguồn gốc của sự phát triển và vận động.
1.2.2. Mâu thuẫn là động lực của sự vận động
Bất cứ sự vật, hiện tượng nào trong thế giới khách quan cũng đều chứa đựng những
mâu thuẫn trong bản thân nó, trong đó luôn diễn ra quá trình vừa thống nhất vừa đấu tranh
của các mặt đối lập làm cho sự vật, hiện tượng vận động và phát triển không ngừng. Chúng
có vị trí, vai trò nhất định đối với sự tồn tại và biến đổi của sự vật, hiện tượng.
Sự thống nhất của các mặt đối lập gắn liền với sự ổn định, sự đứng im tương đối của
sự vật. Khi nào các mặt đối lập còn tồn tại trong thể thống nhất thì khi đó sự vật còn tồn
tại. Vì vậy thống nhất có tính tương đối.
Nhưng trong khi các mặt đối lập thống nhất với nhau, quá trình đấu tranh giữa chúng
không ngừng diễn ra. Đấu tranh giữa các mặt đối lập làm cho bản thân các mặt đối lập đều
biến đổi, dẫn đến mâu thuẫn ngày càng phát triển. Khi sự đấu tranh đó lên tới đỉnh điểm,
các mặt đối lập xung đột gay gắt, chúng sẽ chuyển hóa cho nhau, mâu thuẫn được giải
quyết, thể thống nhất cũ bị phá vỡ, sự vật cũ mất đi, sự vật mới ra đời. Vì vậy đấu tranh có tính tuyệt đối.
Mâu thuẫn cũng có quá trình vận động và phát triển: Lúc mới xuất hiện, mâu thuẫn
chỉ là sự khác nhau căn bản của các mặt đối lập nhưng theo khuynh hướng trái ngược nhau.
Sự khác nhau đó ngày càng phát triển đi đến chỗ đối lập, rồi sau đó xung đột gay gắt. Khi
hội tụ đủ điều kiện thích hợp, mâu thuẫn sẽ được giải quyết làm cho sự vật vận động và phát triển.
Nói tóm lại: Mọi sự vật, hiện tượng đều chứa những mặt, những khuynh hướng đối lập
tạo thành mâu thuẫn trong bản thân mình, sự thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập
là nguồn gốc của sự vận động và phát triển, làm cho cái cũ mất đi và cái mới ra đời.
1.3. Ý NGHĨA PHƯƠNG PHÁP LUẬN CỦA QUY LUẬT
Thứ nhất, thừa nhận tính khách quan của mâu thuẫn trong sự vật, hiện tượng; từ đó
giải quyết mâu thuẫn phải tuân theo quy luật, điều kiện khách quan. Muốn phát hiện mâu
thuẫn, cần tìm ra thể thống nhất của các mặt đối lập trong sự vật, hiện tượng; từ đó tìm ra
phương hướng, giải pháp đúng cho hoạt động nhận thức và thực tiễn.
Thứ hai, phân tích mâu thuẫn cần bắt đầu từ việc xem xét quá trình phát sinh, phát triển
của từng loại mâu thuẫn; xem xét vai trò, vị trí và mối quan hệ giữa các mâu thuẫn và điều
kiện chuyển hóa giữa chúng. Phải biết phân tích cụ thể một mâu thuẫn cụ thể và đề ra được
phương pháp giải quyết mâu thuẫn đó.
Thứ ba, phải nắm vững nguyên tắc giải quyết mâu thuẫn bằng đấu tranh giữa các mặt
đối lập, không điều hòa mâu thuẫn cũng không nóng vội hay bảo thủ, bởi giải quyết mâu
thuẫn còn phụ thuộc vào điều kiện đã đủ và chín muồi hay chưa.
CHƯƠNG II: VẬN DỤNG QUY LUẬT THỐNG NHẤT VÀ ĐẤU TRANH GIỮA
CÁC MẶT ĐỐI LẬP PBCDV VÀO QUÁ TRÌNH XÂY DỰNG ĐẤT NƯỚC VIỆT NAM HIỆN NAY
2.1. MÂU THUẪN LÀ KHÁCH QUAN, TẤT YÊU TỒN TẠI TRONG QUÁ
TRÌNH XÂY DỰNG ĐẤT NƯỚC VIỆT NAM HIỆN NAY
2.1.1. Mâu thuẫn là khách quan và tất yếu trong quá trình vận động và phát triển
đất nước theo con đường chủ nghĩa xã hội
Mâu thuẫn là sự liên hệ, tác động qua lại lẫn nhau của các mặt đối lập bên trong một
sự vật, một hiện tượng. Mâu thuẫn là hiện tượng khách quan và phổ biến vì nó là cái vốn
có trong sự vật, hiện tượng, và là bản chất chung của mọi sự vật, hiện tượng. Chính vì vậy,
trong các sự vật, hiện tượng khác nhau thì tồn tại những mâu thuẫn khác nhau, trong bản
thân mỗi sự vật, hiện tượng cũng chứa đựng nhiều mâu thuẫn khác nhau, trong mỗi giai
đoạn, mỗi quá trình cũng có nhiều mâu thuẫn khác nhau. Và đương nhiên, trong quá trình
vận động và phát triển đất nước theo con đường con đường chủ nghĩa xã hội cũng tồn tại
rất nhiều những mâu thuẫn.
- Đất nước tiến lên xây dựng chủ nghĩa xã hội khi các nước đi trước đã và đang gặp
nhiều khó khăn nhất định trong việc tạo lập cơ sở vật chất của xã hội mới, khi mà bản thân
điều kiện vật chất nội tại trong nó còn nhiều hạn chế và nghèo nàn. Ngoài ra, còn có sự
chống phá của các thế lực trong và ngoài nước. Cho nên, đất nước đã phải chống chịu rất
nhiều áp lực, khó khăn và gian khổ để vượt qua thời kỳ này.
- Trong bối cảnh nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, nền kinh tế phát
triển mạnh mẽ cũng đặt ra nhiều nguy cơ về việc suy thoái đạo đức, lối sống, nhất là lối
sống thực dụng, thiếu tính nhân văn cũng đang và từng ngày từng giờ tác động đến cán bộ,
đảng viên và nhất là tầng lớp trẻ. Thực tế đó là một thách thức to lớn cho Đảng và Nhà
nước ta trong quá trình xây dựng Đảng, đào tạo nền tảng chính trị xã hội vững chắc trong từng lớp Đảng viên.
- Mặc dù quan điểm chính trị độc lập, chủ quyền, và toàn vẹn lãnh thổ luôn được sự
thống nhất và đồng ý của các quốc gia trên thế giới. Tuy nhiên, trong bối cảnh hiện nay lại
đặt ra nhiều thách thức với Việt Nam hơn trong vấn đề này ví dụ như những thế lực thù
địch chống phá đến từ bên ngoài hay sự khó khăn, nghèo nàn và lạc hậu mà nhân dân phải
chịu đựng. Đòi hỏi Việt Nam phải thật khôn khéo và tế nhị để vừa có thể hòa hoãn trên
phương diện đối ngoại và đối nội nếu không sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến sự phát triển mô
hình Xã hội chủ nghĩa của đất nước.
2.1.2. Tính tất yếu khách quan của sự phát triển đất nước là giải quyết mâu thuẫn
giữa kinh tế và chính trị (CNXH và CNTB) và các lĩnh vực khác của đời sống xã hội
Mâu thuẫn là hiện tượng khách quan và phổ biến, phép biện chứng duy vật khẳng định:
mọi sự vật và hiện tượng trong thế giới đều tồn tại những mặt mâu thuẫn, vì vậy, trong quá
trình phát triển đất nước hiện nay, việc giải quyết mâu thuẫn giữa kinh tế, chính trị và các
lĩnh vực khác của đời sống xã hội là một tất yếu khách quan. Mỗi mâu thuẫn giữ một vai
trò khác nhau đối với sự vận động và phát triển của đất nước. Quá trình xây dựng đất nước
trải qua nhiều giai đoạn thăng trầm, không ngừng vận động và luôn biến đổi dưới sự tác
động của nhiều yếu tố, nhiều mâu thuẫn cả bên ngoài lẫn bên trong nền kinh tế, chính trị.
Trong những chuyển biến đó, đã đạt được nhiều thành công to lớn, nhưng luôn tồn tại
những mâu thuẫn làm kìm hãm sự phát triển của đất nước, đòi hỏi phải có sự phân tích kỹ
lưỡng và giải quyết kịp thời từng yếu tố, từng mâu thuẫn.
a, Trong quá trình phát triển nền kinh tế thị trường
Mâu thuẫn giữa phát triển kinh tế thị trường với tính định hướng xã hội chủ nghĩa: Quá
trình xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta từ một nước phong kiến đi lên bỏ qua giai đoạn
tư bản chủ nghĩa nên gặp nhiều khó khăn và thử thách. Trước đây để xây dựng nền kinh tế
phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa nước ta đã xây dựng một nền kinh tế kế hoạch
với hai hình thức sở hữu là sở hữu toàn dân và sở hữu tập thể. Vì vậy đã làm kìm hãm sự
phát triển nền kinh tế. vì nền kinh tế thị trường gồm có nhiều thành phần kinh tế, nhiều
hình thức sở hữu và do đó cũng có nhiều hình thức phân phối. Sự phức tạp và đa dạng của
nền kinh tế thị trường làm cho định hướng xã hội chủ nghĩa ngày càng khó khăn và đòi hỏi
phải có sự quản lý chặt chẽ của nhà nước. Mỗi thành phần kinh tế trong thời kỳ quá độ có
bản chất kinh tế xã hội riêng, nên bên cạnh sự thống nhất của các thành phần kinh tế, còn
có những khác biệt và mâu thuẫn khiến cho nền kinh tế thị trường nước ta phát triển theo
những phương hướng khác nhau.
Mâu thuẫn giữa phát triển kinh tế thị trường với giải quyết công ăn việc làm: Phát triển
nền kinh tế thị trường tức là đa dạng hoá các loại hình sản xuất kinh doanh, áp dụng các
thành tựu khoa học - kỹ thuật tiên tiến vào sản xuất nhằm tăng năng suất lao động và tạo
ra sản phẩm có chất lượng cao. Đồng thời phải đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá
nền kinh tế quốc dân để tạo nên sự tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững của toàn bộ nền
kinh tế. Như vậy khoa học - kỹ thuật ngày càng phát triển và được ứng dụng vào quá trình
sản xuất thì sự thay thế con người bằng máy móc diễn ra càng nhanh. Cùng với sự gia tăng
dân số thì số người thất nghiệp hàng năm là hết sức trầm trọng. Thất nghiệp là nguy cơ dẫn
đến nghèo đói và các tệ nạn xã hội khác. Đối với người lao động, thiếu hoặc không có việc
làm là một nguy cơ dẫn đến thu nhập thấp hoặc không có thu nhập.
Mâu thuẫn giữa phát triển kinh tế thị trường với sự phân hóa giàu nghèo: Cùng với
quá trình chuyển sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, thì cũng diễn ra
sự phân hoá giàu nghèo, sự phân tầng xã hội theo mức sống ngày càng tăng. Sự phân hoá
giàu nghèo ngày càng dãn rộng sẽ lan sang các lĩnh vực khác như giáo dục, chăm sóc sức
khỏe, ... Điều đó đưa đến hệ quả không mong muốn, làm xuất hiện những nhóm xã hội dễ
bị tổn thương trong nền kinh tế thị trường, tác động đến tư tưởng, tâm lý, niềm tin về công bằng xã hội.
Mâu thuẫn giữa phát triển kinh tế với vấn đề môi trường sinh thái: Nền kinh tế ngày
càng phát triển, đặc biệt là các ngành công nghiệp đã làm cho môi trường ngày càng ô
nhiễm. Rừng bị triệt hạ nhiều làm cho lượng oxi trong không khí và lượng chất hữu cơ sản
sinh bị giảm sút rõ rệt. Lượng nước dự trữ do rừng giữ lại ngày càng ít dần, làm cho quá
trình sa mạc hoá và thảo nguyên hóa càng tăng nhanh. Quá trình đô thị hóa nhanh làm cho
diện tích đất trồng ngày càng bị thu hẹp. Cùng với sự phát triển của nền kinh tế thị trường
thì nó đã kéo theo hàng loạt các nhân tố gây ảnh hưởng đến môi trường sinh thái.
b, Trong quá trình phát triển nền kinh tế nhiều thành phần
Trong quan niệm của chủ nghĩa Mác – Lênin, sự tồn tại của nhiều thành phần kinh tế
trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội là một tất yếu lịch sử. Quá trình chuyển đổi nền
kinh tế từ cơ chế tập trung, bao cấp, chủ yếu dựa trên chế độ sở hữu toàn dân và tập thể
sang nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần, vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý
của Nhà nước, sự lãnh đạo của Đảng theo định hướng XHCN là nội dung, bản chất và đặc
điểm khái quát nhất đối với nền kinh tế nước ta trong hiện nay và tương lai. Nền kinh tế
nhiều thành phần ở nước ta là sản phẩm của quá trình Đảng và nhân dân ta nhận thức, vận
dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, thể hiện tư duy mới của chúng ta về chủ nghĩa xã
hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội.
- Tại Đại hội Đảng lần thứ VI (năm 1986), Đảng ta đã đề ra đường lối đổi mới toàn
diện đất nước, trong đó lấy đổi mới kinh tế làm trọng tâm với nội dung cơ bản là phát triển
nền kinh tế nhiều thành phần theo định hướng xã hội chủ nghĩa.
- Nghị quyết Đại hội lần thứ IX của Đảng (năm 2001) chỉ rõ: “Đảng và Nhà nước ta
chủ trương thực hiện nhất quán và lâu dài chính sách phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều
thành phần vận hành theo cơ chế thị trường, có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa”
- So với thời kỳ trước đổi mới, diện mạo đất nước có nhiều thay đổi, kinh tế duy trì
tốc độ tăng trưởng khá, tiềm lực và quy mô nền kinh tế tăng lên (đạt ngưỡng thu nhập trung
bình), đời sống nhân dân từng bước được cải thiện:
+ Giai đoạn đầu đổi mới (1986 - 1990), mức tăng trưởng GDP bình quân hằng năm chỉ
đạt 4,4% nhưng giai đoạn 1991 - 1995, tăng trưởng GDP bình quân đã đạt 8,2%/năm.
+ Các giai đoạn sau đó đều có mức tăng trưởng khá cao, riêng giai đoạn 2016 - 2019
đạt mức bình quân 6,8. Liên tiếp trong 4 năm đó, Việt Nam đứng trong top 10 nước tăng
trưởng cao nhất thế giới, là một trong 16 nền kinh tế mới nổi thành công nhất.
+ Năm 2020, trong khi phần lớn các nước có mức tăng trưởng âm hoặc đi vào trạng
thái suy thoái do tác động của đại dịch COVID-19, kinh tế Việt Nam vẫn tăng trưởng
2,91%, góp phần làm cho GDP trong 5 năm (2016 - 2020) tăng trung bình 5,9%/năm, thuộc
nhóm nước có tốc độ tăng trưởng cao nhất khu vực và thế giới.
+ Kinh tế vĩ mô cơ bản ổn định, lạm phát được kiểm soát. Môi trường đầu tư liên tục
được cải thiện đã thu hút ngày càng nhiều hơn vốn đầu tư cho phát triển.
Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu đó, chúng ta cũng cần phải nhận thức rõ những
tiêu cực do nền kinh tế nhiều thành phần gây ra, đặc biệt là nguy cơ chệch hướng xã hội
chủ nghĩa. Việc phân bổ các nguồn lực cho phát triển còn dàn trải, lãng phí, chưa công
bằng, chưa đem lại hiệu quả cao; vấn đề phân hóa giàu nghèo, bất bình đẳng xã hội, tệ nạn
xã hội có chiều hướng gia tăng; đời sống vật chất và tinh thần của một bộ phân dân cư,
nhất là nông dân ở nông thôn, vùng sâu, vùng xa chậm được cải thiện, ít được hưởng lợi từ
thành quả tăng trưởng chung của nền kinh tế. Hơn nữa, tăng trưởng kinh tế còn chậm, chưa
bền vững, vẫn ở dưới mức tiềm năng, lực lượng sản xuất chưa được giải phóng triệt để,
năng suất lao động thấp, khả năng cạnh tranh quốc tế chưa cao. Mối quan hệ giữa Nhà
nước, thị trường và xã hội chưa được xử lý phù hợp, rõ ràng, minh bạch.
- Đại hội IX khẳng định: “Đảng và Nhà nước ta chủ trương thực hiện nhất quán và lâu dài
chính sách phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần vận động theo cơ chế thị
trường có sự quản lý của nhà nước theo định hướng XHCN, đó là nền kinh tế thị trường
theo định hướng XHCN”. Sự vận dụng sáng tạo và phát triển những quan điểm đúng đắn
của Chủ tịch Hồ Chí Minh về xây dựng nền kinh tế nhiều thành phần, góp phần quan trọng
trong việc huy động sức mạnh của các thành phần kinh tế vào chiến lược phát triển kinh tế
thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam.
2.2. QUÁ TRÌNH VẬN ĐỘNG CỦA MÂU THUẪN TRONG QUÁ TRÌNH XÂY
DỰNG ĐẤT NƯỚC VIỆT NAM HIỆN NAY
Trong quá trình xây dựng đất nước Việt Nam hiện nay, bên cạnh những thuận lợi do
tiến trình đổi mới và hội nhập quốc tế đem lại, đất nước ta cũng gặp nhiều khó khăn, thách
thức do những yếu kém vốn có của nền kinh tế, thiên tai, dịch bệnh, diễn biến phức tạp của
tình hình thế giới và khu vực, tác động của cuộc khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh
tế toàn cầu; các hoạt động chống phá, kích động, bạo loạn của các thế lực thù địch thì Đảng
và Nhà nước ta đã vận dụng “Quá trình vận động của mâu thuẫn” một cách sáng tạo trong
công cuộc đổi mới, góp phần tạo nên sự ổn định chính trị và phát triển kinh tế - xã hội của đất nước.
2.2.1 Sự thống nhất
- Đổi mới chính trị phải gắn liền với đổi mới về kinh tế, phù hợp với yêu cầu phát
triển của kinh tế. Trên cơ sở này, Đảng từng bước hoàn thiện nhận thức về đổi mới kinh tế
và đổi mới chính trị. Song đổi mới về kinh tế theo một định hướng nhất định đó là chuyển
từ nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung sang nền kinh tế thị trường nhằm thực hiện mục tiêu
"dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng văn minh”, và cũng là cơ sở để giữ vững ổn định
về chính trị. Đại hội lần thứ VIII khẳng định “Kết hợp ngay từ đầu đổi mới kinh tế với đổi
mới chính trị, lấy đổi mới kinh tế làm trọng tâm, đồng thời từng bước đổi mới chính trị”
Ví dụ: Cải tổ của Liên Xô thất bại do nguyên nhân sâu xa là Đảng Cộng sản Liên Xô
đã nhận thức và giải quyết không đúng mối quan hệ giữa cải tổ kinh tế và cải tổ chính trị.
M.Goocbachốp đã tuyệt đổi hóa cải tổ chính trị, không chú ý đúng mức tới cải tổ kinh tế,
không lấy cải tổ kinh tế làm căn cứ, cơ sở cho cải tổ chính trị, trong cải tổ chính trị thì giải
quyết không đúng quan hệ giữa giai cấp và nhân loại, tuyệt đối hóa cái nhân loại, đánh giá
không đúng cái giai cấp trong quan hệ với cái nhân loại. Rút kinh nghiệm từ những sai lầm
vô nguyên tắc của Đảng cộng sản Liên xô, ngay từ khi bắt đầu tiến hành đổi mới, Đảng ta
đã nhận thức rõ trước hết cần tập trung đổi mới kinh tế, trên cơ sở đó từng bước đổi mới chính trị.
- Trong Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI có nêu ra: “Ổn định và phát
triển gắn liền với nhau trong quá trình vận động tiến lên, ổn định để phát triển và có phát
triển mới ổn định được”. Ổn định chính trị là một trong những yếu tố không thể thiếu, góp
phần giúp Việt Nam có thể kiên trì chính sách phát triển kinh tế. Nền chính trị ổn định tạo
cho Việt Nam có được một nền hòa bình và thịnh vượng.
Ví dụ: Từ năm 1990 trở lại đây, nhiều nước trên thế giới, hay ngay tại Đông Nam Á đã
trải qua các cuộc đảo chính hoặc khủng hoảng chính trị. Những bất ổn chính trị ít nhiều
kéo tụt tốc độ phát triển của một số quốc gia và gây ra nhiều hệ lụy, bất ổn xã hội. Trong
khi đó, nền chính trị của Việt Nam luôn ổn định, đây là một bảo đảm cho sự gắn kết để
thực hiện chính sách kinh tế nhất quán. Thành công của sự phát triển ở Việt Nam dựa trên
sự ổn định chính trị. Đảng ta đã xác định xây dựng CNXH ở Việt Nam là quá trình lâu dài,
trải qua nhiều chặng đường với yếu tố quan trọng, điều kiện tiên quyết là phải giữ vững
được ổn định chính trị.
Trong đó, mặt này lấy mặt đối lập kia làm tiền đề cho sự tồn tại của minh. Có ổn định
thì mới phát triển, và phát triển tạo điều kiện để ổn định, hai mặt đó tác động qua lại với
nhau và gắn bó chặt chẽ với đổi mới đất nước, trên nền tảng của xây dựng đất nước. Như
vậy, tuy là những mặt đối lập nhưng thống nhất biện chứng với nhau. chúng ràng buộc lẫn nhau, cùng tồn tại. 2.2.2. Sự đấu tranh
- Việt Nam luôn kiên định nguyên tắc, mục tiêu chiến lược, nhưng mềm dẻo, linh
hoạt, có lý, có tình trong sách lược, tùy từng vấn đề, thời điểm và đối tác với phương châm
“dĩ bất biến ứng vạn biến", là bạn, là đối tác tin cậy, là thành viên tích cực và có trách
nhiệm với tất cả các nước trong cộng đồng quốc tế. Đây cũng là thông điệp mà Việt Nam
gửi tới tất cả các quốc gia trên thế giới nhưng Đảng và Nhà nước ta luôn kiên quyết, kiên
trì đấu tranh giữ vững độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, bảo vệ vững chắc
biên giới và chủ quyền biển, đảo, vùng trời của Tổ quốc bằng việc phát huy mạnh mẽ sức
mạnh tổng hợp của toàn dân tộc, của cả hệ thống chính trị, tranh thủ tối đa sự đồng tình,
ủng hộ của cộng đồng quốc tế.
Ví dụ: Khi Trung Quốc đưa giàn khoan HD- 981 vào sâu trong thềm lục địa, vùng đặc
quyền kinh tế của Việt Nam thì ngay lập tức ta tổ chức trực chỉ huy chặt chẽ, tăng cường
nhiều tàu của lực lượng kiểm ngư, cảnh sát biển từ căn cứ ra thực địa để đấu tranh bảo vệ
chủ quyền của ta đồng thời Việt Nam đã triển khai giao thiệp ngoại giao để điện đàm, ta
đã bác bỏ quan điểm, hành vi sai trái của phía Trung Quốc.
- Nhà nước ta là Nhà nước của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân với quan điểm
‘‘dân làm gốc’’ cho nên Nhà nước luôn đấu tranh, kiểm soát, ngăn ngừa và trừng trị những
thế lực chống phá Đảng, chính quyền, tệ quan liêu, tham nhũng, lãng phí, vô trách nhiệm,
lạm quyền, xâm phạm quyền dân chủ của công dân; giữ nghiêm kỷ cương xã hội, nghiêm
trị mọi hành động xâm phạm lợi ích của nhân dân.
Ví dụ: Với những đối tượng xâm phạm đến thân thể, tính mạng của người khác đều sẽ phải
chịu sự trừng trị trước pháp luật nước ta tuỳ theo mức độ phạm tội để xử đúng người đúng
tội, các hình phạt không chỉ nhằm trừng trị người phạm tội mà còn giáo dục họ trở thành
người có ích cho xã hội, có ý thức tuân theo pháp luật và các quy tắc của cuộc sống xã hội
chủ nghĩa, ngăn ngừa họ phạm tội mới. 2.2.3. Sự chuyển hóa
- Từ một nước nghèo nàn, lạc hậu, nền kinh tế kiệt quệ, phải hứng chịu biết bao hậu
quả sau chiến tranh thì Việt Nam hiện là nước đang phát triển, đạt mức thu nhập trung bình,
là một trong những nền kinh tế có tốc độ tăng trưởng nhanh hàng đầu thế giới; văn hóa
phát triển, đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân được cải thiện, thuộc nhóm nước
đạt chỉ số cao về phát triển con người của Liên hợp quốc, nhất là so với các nước có cùng
trình độ phát triển; trở thành một thành viên tích cực, có trách nhiệm của cộng đồng quốc
tế...kết quả đạt được như vậy do Đảng và Nhà nước ta đã nhận thức kịp thời và chuyển hoá
nền kinh tế từ hoạt động theo cơ chế kế hoạch tập trung quan liêu bao cấp sang phát triển
nền kinh tế nhiều thành phần.
Ví dụ: Trước đây, kinh tế Nhà nước và kinh tế tập thể giữ vai trò chủ đạo, các thành
phần kinh tế khác hầu như không được chú trọng thì hiện tại thì nền kinh tế Nhà nước vẫn
đóng vai trò chủ đạo nhưng ngoài ra còn nhiều nền kinh tế quan trọng như kinh tế cá thể,
tiểu chủ; kinh tế tư bản tư nhân; kinh tế tư bản nhà nước; kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài…
- Chuyển đổi nền kinh tế Việt Nam từ dựa vào nông nghiệp và thủ công sang máy
móc công nghiệp là chính tạo điều kiện để phát triển lực lượng sản xuất và nâng cao năng
suất lao động xã hội, thúc đẩy sự tăng trưởng và phát triển kinh tế đồng thời giải quyết việc
làm, tăng thu nhập và nâng cao đời sống của nhân dân.
Ví dụ: Nhà nước tăng cường đầu tư công về kinh phí cho hệ thống các đơn vị nghiên
cứu trong lĩnh vực nông nghiệp và phát triển nông thôn, xây dựng đề án chuyển đổi số, nền
tảng số tập trung của ngành nông nghiệp, nông thôn nhằm cải thiện chất lượng cung cấp
dịch vụ công cho nông nghiệp, nông thôn…
2.3. LIÊN H
QUY LUT THNG NHẤT VÀ ĐẤU TRANH GIA CÁC MT
ĐỐI LP PBCDV TRONG HC TP VÀ RÈN LUYN BN THÂN SINH VIÊN HIN NAY
Tất cả mọi sự vật, hiện tượng đều chứa đựng những khuynh hướng đối lập để từ đó tạo nên
những mâu thuẫn trong bản thân nó. Quy luật thống nhất và đấu tranh giữa các mặt đối lập
là quy luật quan trọng nhất của phép biện chứng duy vật, là hạt nhân của phép biện chứng
duy vật vì nó vạch ra nguồn gốc, động lực của sự vận động, phát triển của thế giới khách
quan và vì đó là cơ sở giúp chúng ta nắm vững thực chất của tất cả các quy luật và phạm
trù của phép biện chứng duy vật. Việc vận dụng “Quy luật thống nhất và đấu tranh giữa
các mặt đối lập” hay “Quy luật mâu thuẫn” trong học tập và rèn luyện của bản thân sinh
viên mang lại những ý nghĩa quan trọng trong nhận thức và cả trong thực tiễn cuộc sống
của mỗi sinh viên hiện nay.
2.3.1. Phải biết tôn trọng mâu thuẫn
Bất kỳ sự vật, hiện tượng nào cũng đều có biến đổi không ngừng. Tri thức của nhân
loại cũng không đứng im hay nằm ngoài quy luật này. Do đó, học tập phải là một quá trình
lâu dài và không ngừng nghỉ nhằm phát triển tư duy và trau dồi tri thức, đồng thời áp dụng
tri thức đó vào thực tiễn. Quy luật mâu thuẫn đòi hỏi sinh viên hiện nay không ngừng học
hỏi mà tiếp nhận sự phong phú vô tận của tri thức nhân loại, bởi chỉ khi có mâu thuẫn thì
mới có phát triển: tri thức cũ mất đi thì tri thức mới ra đời.
Trong quá trình học tập, sinh viên cần vạch ra kế hoạch học tập hiệu quả, tham gia các
hoạt động đoàn thể và hoàn thành các mục tiêu đã đặt ra. Sinh viên thường có tình trạng
mâu thuẫn giữa kiến thức được học và kiến thức trong thực tế. Những kiến thức trên giảng
đường đôi khi chưa đủ để sinh viên có thể áp dụng ngoài thực tế, vậy mỗi sinh viên cần
phải chủ động, tự giác tìm tòi những kiến thức trong thực tế mà không có trên sách vở, sắp
xếp thời gian hợp lý để tham gia các hoạt động ngoại khóa, đi làm thêm hay đi thực tập để
tích lũy kinh nghiệm mà vẫn đảm bảo được việc học tập một cách hiệu quả.
Sinh viên cần tự giác tu dưỡng, rèn luyện và hoàn thiện bản thân mình. Đấu tranh với cái
chưa tốt, cái tiêu cực, đề cao phê bình và tự phê bình, tránh dễ dãi, xuôi chiều.
2.3.2. Không sợ mâu thuẫn, không né tránh mâu thuẫn
Mâu thuẫn phải được giải quyết bằng con đường đấu tranh dưới nhiều hình thức khác
nhau, không tìm cách né tránh các mâu thuẫn. Khi gặp vấn đề cần tìm cách khắc phục để
phát triển bản thân, tích lũy kinh nghiệm để giải quyết những mâu thuẫn phát sinh sau này.
“Khi việc gì có mâu thuẫn, khi phải tìm cách giải quyết tức là có vấn đề. Khi đã có vấn
đề, ta phải nghiên cứu cho rõ cái gốc của mâu thuẫn là vấn đề gì, Phải điều tra, phải nghiên
cứu các mâu thuẫn đó. Phải phân tách rõ ràng và có hệ thống, phải biết rõ cái nào là mâu
thuẫn chính, cái nào là mâu thuẫn phụ. Phải đề ra cách giải quyết” - Hồ Chí Minh.
Đối với sinh viên, khi gặp mâu thuẫn trong học tập và rèn luyện thì cần phải tìm cách
giải quyết các mâu thuẫn đó mà không được né tránh. Khi không hiểu bài giảng thì phải
mạnh dạn hỏi thầy cô, bạn bè; bài tập nào không làm được phải chủ động tìm tòi trên các
trang mạng, hay học hỏi giảng viên, các đàn anh, đàn chị và bạn bè. Khi gặp vướng mắc
hay khó khăn trong các nhiệm vụ được giao phó tại các hoạt động Đội, Nhóm, Câu lạc bộ
thì cần học hỏi, tiếp thu các anh chị và các bạn để có thể ngày một tích lũy kinh nghiệm,
rèn luyện bản thân và phát triển các kỹ năng mềm. Hay mâu thuẫn của sinh viên giữa việc
sinh viên muốn đi làm thêm, tham gia các hoạt động ngoại khóa để tích lũy kinh nghiệm
đồng thời kiếm thêm thu nhập phụ giúp gia đình nhưng lại sợ ảnh hưởng đến việc học, vậy
để đáp ứng được cả hai thì sinh viên cần có kỹ năng sắp xếp thời gian hợp lý để đi làm
thêm, tham gia hoạt động ngoại khóa mà vẫn không ảnh hưởng đến học tập.
2.3.3. Vận dụng quy luật mâu thuẫn liên tục tìm tòi, đổi mới và sáng tạo trong tri thức
Sự vật, hiện tượng biến đổi không ngừng nên quy luật mâu thuẫn không cho phép
chúng ta nghĩ mình có đầy đủ tri thức để giải quyết mọi vấn đề đòi hỏi mọi người, và đặc
biệt là thế hệ trẻ như học sinh, sinh viên không ngừng học tập, nỗ lực, lĩnh hội tri thức để
ngày một tiến bộ và giải quyết được các vấn đề. Quy luật mâu thuẫn yêu cầu chúng ta vượt
qua tất cả mọi định kiến tiêu cực khi muốn loại trừ cái mới và chỉ chấp nhận cái đã có từ
trước đó mà thay vào đó là bài trừ cái cũ, cái không còn phù hợp và tiếp thu, chọn lọc những cái mới.
Để làm được những điều đó, mỗi sinh viên luôn phải chủ động tìm tòi, liên tục đổi mới
và sáng tạo ra các tri thức mới, không ngủ quên trong tri thức mà phải đón nhận sự phong
phú vô tận của tri thức nhân loại. Sinh viên nên xây dựng kế hoạch học tập rõ ràng, có mục
tiêu và định hướng cụ thể; nâng cao năng lực tự học, tự nghiên cứu; học có chọn lọc, có
quá trình, nhạy bén, linh hoạt trong việc lựa chọn phương pháp học tập; cần vận dụng sáng
tạo các nguyên tắc, quan điểm, phương pháp luận biện chứng duy vật vào nắm bắt hệ thống
khái niệm, đồng thời phải có những hiểu biết về các môn khoa học cơ bản, liên ngành, kiến
thức về đời sống xã hội; tích lũy chuyên môn phù hợp với khả năng của bản thân.
Cụ thể là, khi còn ngồi trên giảng đường, sinh viên cần tập trung và tích cực tương tác
với giảng viên, khi có thắc mắc hãy đặt ra câu hỏi nhằm tăng khả năng ghi nhớ và nâng
cao tư duy sáng tạo; phát triển năng lực tự học, cần có phương pháp ghi chép sáng tạo và
hiệu quả, đặc biệt là các bài tập tình huống hay các ví dụ không có trong giáo trình, ghi chú
các từ khóa để hiểu đúng bản chất bài học. Đồng thời thì sinh viên cần trang bị cho mình
các phương pháp học tập tốt như: phương pháp đọc giáo trình, tài liệu, sơ đồ hóa bài học,
học nhóm, học thông qua nghiên cứu khoa học, thực tế, ... và những kỹ năng mềm cần thiết
như: kỹ năng thuyết trình, kỹ năng làm việc nhóm, kỹ năng quản lý thời gian, kỹ năng giải
quyết vấn đề, … thông qua quá trình tích lũy trong học tập và đi làm thêm, thực tập hay
tham gia các hoạt động ngoại khóa.
2.3.4. Quy luật mâu thuẫn đòi hỏi con người tiếp thu kiến thức một cách có hệ thống
Trong mỗi mâu thuẫn, các mặt đối lập vừa thống nhất, vừa đấu tranh với nhau, nó
nương tựa vào nhau và làm tiền đề cho nhau tồn tại và có sự đồng nhất, có những yếu tố
giống nhau. Kiến thức cũng như vậy, không đi riêng lẻ, mà ta phải nhìn nhận được sự tương
hỗ giữa các kiến thức của các ngành nghề khác nhau để bổ trợ cho sự thiếu sót của nhau
và loại bỏ những kiến thức thừa thãi.
Không có một loại tri thức hay một môn khoa học nào đứng riêng lẻ, sinh viên cần tiếp
thu tri thức giữa các môn học và ngành học dưới sự tương tác qua lại, học theo một chỉnh
thể thống nhất giữa các môn để có cái hiểu bản chất về kiến thức đã học được, vận dụng
khả năng tổng hợp để tích lũy kiến thức và ghi nhớ những gì đã được học, từ đó có thể
nâng cao hiệu quả học tập một cách tối ưu nhất. Sinh viên khi tham gia các hoạt động Đội,
nhóm, câu lạc bộ hay đi làm thêm thì cần lên kế hoạch cụ thể, sắp xếp các công việc theo
một chỉnh thể thống nhất để công việc được diễn ra trơn tru, thuận lợi đồng thời tích lũy
được kinh nghiệm cho bản thân. KẾT LUẬN
Có thể nói, triết học là nguồn gốc của mọi tư duy suy luận, của mọi quyết định ý thức
và hành động. Sự thống nhất và đấu tranh giữa các mặt đối lập tạo thành xung lực nội tại
của sự vận động và phát triển, dẫn đến mất đi cái cũ và cho ra đời cái mới tiến bộ hơn. Như
vậy, trong quá trình xây dựng đất nước, Đảng và Nhà nước ta tuy gặp nhiều khó khăn nhất
định trong việc tạo dựng cơ sở vật chất của xã hội mới, gây kìm hãm sự phát triển kinh tế.
Song với sự lãnh đạo của Đảng và Nhà nước luôn kiên định đi theo con đường CNXH và
độc lập dân tộc, không ngừng sáng tạo và đổi mới tư duy, diện mạo đất nước có nhiều thay
đổi, kinh tế duy trì tốc độ tăng trưởng khá, tiềm lực và quy mô nền kinh tế tăng lên (đạt
ngưỡng thu nhập trung bình), đời sống nhân dân từng bước được cải thiện. Đây cũng là sản
phẩm của quá trình Đảng và nhân dân ta nhận thức, vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác –
Lênin, thể hiện tư duy mới của chúng ta về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa
xã hội. Không chỉ vậy, Việt Nam luôn kiên định trong nguyên tắc, mục tiêu chiến lược
nhưng lại mềm dẻo, linh hoạt trong sách lược, trong các mối quan hệ quốc tế, hoan nghênh
sự hợp tác, đầu tư quốc tế nhưng luôn nghiêm trị những hành động xâm phạm chủ quyền
quốc gia. Về phía sinh viên, cần phải biết chấp nhận mâu thuẫn như một quy luật tất yếu,
nó đòi hỏi sinh viên hiện nay không ngừng học hỏi, tiếp nhận sự phong phú vô tận của tri
thức nhân loại. Bởi càng đấu tranh thì càng có nhiều mâu thuẫn, bản thân sinh viên lại càng
phát triển: tri thức cũ mất đi thì tri thức mới ra đời.