

















Preview text:
QUYỀN LỰC CỦA ĐỊA LÝ
Tác giả: TIM MARSHALL Sách đổi Ebook:
⇒ Cần ebook của sách mới
⇒ Mua 1 sách mới được 2 ebook ☎ 0907 060 886
Tim Marshall đã nhận xét rất xác đáng rằng: "Các đế chế
nổi lên rồi suy tàn. Các liên minh hình thành rồi tan
rã. Thời kỳ hòa bình ở châu Âu sau các cuộc chiến của
Napoleon kéo dài khoảng sáu mươi năm; ảo vọng 'Bá chủ
nghìn năm' của Đức quốc xã cũng chỉ tồn tại hơn một thập
niên. Cho nên không thể biết được chính xác cán cân
quyền lực sẽ thay đổi như thế nào trong những năm tới..."
Và "những nền kinh tế và địa chính trị khổng lồ sẽ tiếp tục
có sức ảnh hưởng lớn đến các vấn đề toàn cầu", vì vậy mà
trong cuốn sách bán chạy Những tù nhân địa lý của mình,
Tim Marshall đã đề cập đến các cường quốc có ảnh hưởng
đến chính trị toàn cầu như Mỹ, Nga, Trung Quốc, EU, Ấn Độ...
Tuy thế, các quốc gia nhỏ hơn cũng đóng một vai trò quan
trọng, vì địa chính trị liên quan đến các đồng minh, và với
trật tự thế giới đang thay đổi không ngừng, các cường
quốc lớn cần lôi kéo các nước nhỏ về phe mình và ngược
lại. Quyền lực của địa lý sẽ đề cập đến vai trò, vị thế của
quốc gia và vùng lãnh thổ nhỏ hơn đó.
Chúng ta sẽ thấy, liệu Thổ Nhĩ Kỳ, Ả Rập Saudi và Anh có
cơ hội nào để giành lấy quyền lực trong tương lai hay không?
Có cách gì hóa giải được những rắc rối ở vùng Sahel để
ngăn chặn cuộc khủng hoảng tị nạn tiếp theo cho châu Âu không?
Tại sao Trung Đông phải có tầm nhìn vượt xa khỏi dầu và
cát để đảm bảo được tương lai của chính mình?
Và không chỉ giới hạn ở "lãnh địa trần gian", cuộc đua
chính trị trong kỷ nguyên này sẽ còn vượt cả vào vũ trụ,
khi nhiều quốc gia tuyên bố chủ quyền không gian ở ngoài
hành tinh. Và liệu bầu không gian của Trái Đất có trở
thành chiến trường tiếp theo của thế giới? Mục lục Mục lục LỜI GIỚI THIỆU CHƯƠNG 1 ÚC CHƯƠNG 2 IRAN CHƯƠNG 3 Ả RẬP SAUDI CHƯƠNG 4 VƯƠNG QUỐC ANH CHƯƠNG 5 HY LẠP CHƯƠNG 6 THỔ NHĨ KỲ CHƯƠNG 7 VÙNG SAHEL CHƯƠNG 8 ETHIOPIA CHƯƠNG 9 TÂY BAN NHA CHƯƠNG 10 KHÔNG GIAN LỜI CẢM ƠN LỜI GIỚI THIỆU
Con chim ưng mất liên lạc với người;
Toàn tan rã; trung tâm không thể giữ;
“Trở lại lần hai”, W. B. Yeats
Ởkhu vực Trung Đông, pháo đài sừng sững Iran và kẻ thù
truyền kiếp của nó là Ả Rập Saudi vẫn đang đối đầu nhau
qua vịnh Ba Tư. Ở Nam Thái Bình Dương, Úc thấy mình mắc kẹt
giữa hai cường quốc hùng mạnh nhất thời đại chúng ta: Hoa Kỳ
và Trung Quốc. Ở Địa Trung Hải, Hy Lạp và Thổ Nhĩ Kỳ vẫn
đang trong một cuộc đua tranh bắt nguồn từ thời cổ đại nhưng
luôn chực chờ để bùng phát thành bạo lực bất cứ khi nào.
Chào mừng bạn đến với thập niên 2020. Kỷ nguyên Chiến
tranh Lạnh, khi mà Hoa Kỳ và Liên Xô thống trị thế giới, đã dần
trở thành dĩ vãng xa xôi. Chúng ta đang bước vào một kỷ
nguyên mới của cuộc cạnh tranh giữa các cường quốc, với sự
góp mặt của rất nhiều tay chơi, thậm chí là nhỏ bé, tất cả đều
đang chen lấn xô đẩy để giành lấy sân khấu trung tâm. Vở kịch
địa chính trị thậm chí còn vượt ra ngoài lãnh địa trần gian khi
nhiều nước đua tranh tuyên bố chủ quyền không gian ngoài
hành tinh, ở tận Mặt Trăng và xa hơn thế.
Khi trật tự đã được thiết lập qua nhiều thế hệ hóa ra chỉ là
tạm thời, người ta dễ dàng trở nên bất an. Nhưng tình trạng đó
từng xảy ra, hiện đang xảy ra và sẽ còn xảy ra. Chúng ta đã ở
trên con đường hướng tới một thế giới “đa cực” một thời gian.
Sau Chiến tranh Thế giới thứ hai, chúng ta thấy một trật tự
mới: kỷ nguyên lưỡng cực với một bên là chế độ tư bản do Mỹ
cầm đầu và bên kia là chế độ cộng sản được vận hành bởi thứ
trên thực tế là Đế quốc Nga và Trung Quốc. Trật tự này tồn tại
trong khoảng từ năm mươi đến tám mươi năm, tùy theo cách
nhìn nhận của mỗi người. Sang thập niên 1990, chúng ta bước
vào giai đoạn mà một số nhà phân tích gọi là thập niên “đơn
cực”, khi sức mạnh của Mỹ gần như là tuyệt đối. Nhưng rõ ràng
là giờ đây, chúng ta đang quay trở lại với những gì từng là
chuẩn mực trong phần lớn lịch sử loài người – kỷ nguyên đối
đầu của đa cường quốc.
Thật khó để xác định nó bắt đầu xảy ra từ bao giờ, không có
một sự kiện nào châm ngòi cho sự thay đổi. Nhưng có những
khoảnh khắc bạn thoáng thấy được một điều gì đó và thế giới
chính trị quốc tế mờ mịt bỗng trở nên rõ ràng hơn. Tôi đã có
một trải nghiệm như thế vào một đêm mùa hè ẩm ướt năm
1999 ở Pristina, thủ đô đổ nát của Kosovo. Sự tan rã của Nam
Tư năm 1991 đã kéo theo nhiều năm chiến tranh thịt rơi máu
đổ. Khi đó, các máy bay của NATO đã tiến hành trút bom ồ ạt
buộc lực lượng Serbia rút khỏi Kosovo, còn dưới đất, quân đội
NATO đang chờ lệnh để tiến vào Kosovo từ phía nam. Suốt ngày
hôm ấy, chúng tôi nghe thấy những tin đồn rằng một lực lượng
quân sự của Nga đã khởi hành từ Bosnia nhằm đảm bảo duy trì
ảnh hưởng truyền thống của Nga trong các vấn đề Serbia.
Trong cả một thập niên trước đó, gấu Nga đã bị bật ra ngoài
cuộc chơi, suy kiệt, hoang mang và chỉ còn là cái bóng của
chính mình. Nó đã phải ngậm ngùi nhìn NATO “lấn tới” các
biên giới phía tây của mình, khi các dân tộc ở những quốc gia
từng nằm dưới trướng của Nga lần lượt bỏ phiếu xin gia nhập
NATO và/hoặc EU; và ở Mỹ Latin cùng Trung Đông, ảnh hưởng
của Nga cũng đã suy yếu. Năm 1999, Moscow đạt được một
thỏa thuận với các cường quốc phương Tây về việc ai ở đâu thì ở
nguyên chỗ đó và không tiến xa hơn nữa. Kosovo chính là
đường ranh giới mong manh. Tổng thống Yeltsin đã yêu cầu
quân đội Nga can thiệp (mặc dù người ta cho rằng chính trị gia
Vladimir Putin, sau này theo chủ nghĩa dân tộc cứng rắn, có
góp phần vào quyết định ấy).
Tôi có mặt ở Pristina khi đơn vị thiết giáp Nga ầm ầm tiến
vào con đường chính dẫn tới sân bay của Kosovo ở vùng ngoại ô
vào buổi sáng sớm hôm đó. Tôi được kể lại rằng Tổng thống
Clinton đã nắm được thông tin về cuộc đổ bộ của quân Nga
trước cả các lực lượng thực địa của NATO, nhờ phóng sự “Người
Nga đã tiến vào thị trấn. Họ đã trở lại vũ đài quốc tế” của tôi.
Khó có thể coi bài báo này là tác phẩm để giành giải Pulitzer
nhưng là bản ghi chép đầu tiên về sự kiện lịch sử này, nó thật sự
có ý nghĩa. Người Nga đã tái thiết lập vị trí của mình trong sự
kiện lớn nhất của năm và tuyên bố rằng dòng chảy lịch sử, vốn
đang chảy theo hướng đối nghịch với lợi ích của họ, giờ đây sẽ
phải được điều chỉnh lại. Vào cuối những năm 1990, sức mạnh
của Mỹ rõ ràng là vô song còn phương Tây dường như thắng thế
trong mọi vấn đề toàn cầu. Nhưng sự phản kháng đã bắt đầu
trỗi dậy. Nga dù không còn là cường quốc cực kỳ đáng gòm như
nó đã từng và hiện chỉ là một trong số rất nhiều cường quốc,
nhưng người Nga sẽ chiến đấu để khẳng định mình ở bất cứ nơi
nào họ có thể. Họ sẽ còn tiếp tục chứng minh điều đó ở Georgia,
Ukraine, Syria và những nơi khác.
Bốn năm sau, tôi đến thành phố Karbala của Iraq, một trong
những địa điểm linh thiêng nhất của Hồi giáo dòng Shia. Mặc
dù Saddam Hussein đã bị liên minh do Mỹ và Anh cầm đầu lật
đổ, nhưng cuộc nổi dậy vẫn diễn ra. Dưới thời Saddam (một
người Hồi giáo dòng Sunni), nhiều nghi lễ tôn giáo của người
Shia bị cấm đoán, trong đó có nghi lễ tự dùng roi đánh mình.
Sau khi Saddam bị lật đổ, vào một ngày nắng nóng như thiêu
đốt, tôi được chứng kiến cảnh tượng hơn một triệu người Hồi
giáo dòng Shia đổ về Karbala từ khắp nơi trên đất nước. Rất
nhiều người trong số họ lấy roi quất vào lưng hay cửa vào trán
của mình cho đến khi toàn thân bê bết máu. Máu chảy thành
dòng, nhuộm đỏ cả bụi đường. Tôi biết rằng ở bên kia biên giới
phía đông Iraq, Iran – cường quốc Hồi giáo Shia – từ lúc này sẽ
dùng mọi thủ đoạn có thể để dựng nên một chính phủ Iraq do
người Shia kiểm soát, và sử dụng chính phủ này để khuếch
trương quyền lực của Tehran về phía tây với tốc độ mạnh mẽ,
xuyên qua Trung Đông và kết nối với các lực lượng đồng minh
của Iran ở Syria và Lebanon. Địa lý và chính trị khiến những
việc ấy khó mà tránh khỏi. Khi quan sát dòng người trên đường
phố ngày hôm ấy, tôi đã nghĩ: “Trông thì có vẻ là tôn giáo
nhưng đây cũng là chính trị, và những làn sóng từ sự cuồng
nhiệt này sẽ còn lan xa tới tận Địa Trung Hải.” Cán cân chính trị
đã thay đổi và quyền lực ngày càng vươn xa của Iran sẽ thách
thức sự thống trị của Hoa Kỳ trong khu vực. Karbala là tấm
phông nền để người ta bắt đầu vẽ tranh lên đó. Đáng buồn thay,
màu sắc chi phối bức tranh ấy là màu đỏ của máu.
Đây mới chỉ là hai trong số những khoảnh khắc quan trọng
giúp định hình nên thế giới phức tạp mà chúng ta đang sống,
khi các nước lớn giằng co, kéo đẩy, đôi khi còn đụng độ với
nhau trong cái mà trước đây được gọi là “cuộc chơi lớn”. Cả hai
khoảnh khắc này đều hé lộ cho tôi thấy chúng ta đang dịch
chuyển theo hướng nào. Với một loạt sự kiện xảy ra ở Ai Cập,
Libya và Syria trong những năm 2010, hướng dịch chuyển ấy
càng rõ rệt hơn. Ở Ai Cập, quân đội chơi trò ném đá giấu tay, lợi
dụng tình trạng bạo lực trên đường phố để lật đổ Tổng thống
Mubarak trong một cuộc đảo chính. Ở Libya, đại tá Gadda bị
lật đổ và sau đó bị giết chết. Ở Syria, Tổng thống Assad rơi vào
thế ngàn cân treo sợi tóc cho đến khi được người Nga và Iran
cứu nguy. Trong cả ba trường hợp ấy, người Mỹ đều tỏ thái độ sẽ
không bảo vệ các nhà độc tài mà họ đã làm ăn cùng trong nhiều
thập niên. Hoa Kỳ từ từ rút khỏi trường quốc tế trong tám năm
nhiệm kỳ của Tổng thống Obama, một động thái được duy trì
trong bốn năm dưới thời Tổng thống Trump. Trong khi đó, các
quốc gia khác như Ấn Độ, Trung Quốc và Brazil bắt đầu nổi lên
như những cường quốc thế giới mới, với nền kinh tế phát triển
nhanh, đang tìm cách mở rộng tầm ảnh hưởng toàn cầu của mình.
Nhiều người không thích ý tưởng Hoa Kỳ đóng vai trò “sen
đầm quốc tế” trong kỷ nguyên hậu Chiến tranh Thế giới thứ
hai. Có nhiều ví dụ cho thấy hành động của nước này mang lại
những tác động cả tích cực và tiêu cực. Mặc dù vậy, nói gì thì
nói, nếu không ai làm nhiệm vụ sen đầm quốc tế này thì rất
nhiều phe phái khác nhau sẽ tìm cách kiểm soát ngay các nước
láng giềng của mình. Nếu các phe phái còn cạnh tranh với nhau
thì nguy cơ bất ổn sẽ càng tăng.
Các đế chế nổi lên rồi suy tàn. Các liên minh hình thành rồi
tan rã. Thời kỳ hòa bình ở châu Âu sau các cuộc chiến của
Napoléon kéo dài khoảng sáu mươi năm; ảo vọng “Bá chủ nghìn
năm” của Đức Quốc xã cũng chỉ tồn tại hơn một thập niên. Cho
nên không thể biết được chính xác cán cân quyền lực sẽ thay
đổi như thế nào trong những năm tới. Rõ ràng những nền kinh
tế và địa chính trị khổng lồ sẽ tiếp tục có sức ảnh hưởng lớn đến
các vấn đề toàn cầu, trong số đó đương nhiên có Mỹ, Trung
Quốc, Nga, tập thể các quốc gia châu Âu trong khối EU cũng
như cường quốc kinh tế đang phát triển nhanh là Ấn Độ.
Nhưng các quốc gia nhỏ hơn cũng đóng một vai trò quan trọng.
Địa chính trị liên quan đến các đồng minh, và với trật tự thế
giới hiện đang ở trạng thái thay đổi liên tục, đây là thời điểm
mà các cường quốc lớn cần lôi kéo các cường quốc nhỏ về phe
mình và ngược lại. Điều này mang lại cho những quốc gia này,
chẳng hạn như Thổ Nhĩ Kỳ, Ả Rập Saudi và Anh, cơ hội để đặt
mình vào vị thế chiến lược nhằm giành lấy quyền lực trong
tương lai. Hiện tại, chiếc kính vạn hoa vẫn đang rung lắc và các
mảnh màu vẫn chưa lắng xuống.
Năm 2015, tôi viết cuốn sách Những tù nhân của địa lý với
mục đích cho mọi người thấy địa lý có thể ảnh hưởng đến chính
trị toàn cầu cũng như định hình các quyết định của các quốc gia
và các nguyên thủ của họ như thế nào. Tôi đã viết về địa chính
trị của Nga, Trung Quốc, Hoa Kỳ, Tây Âu, Trung Đông, châu Phi,
Ấn Độ và Pakistan, Nhật Bản và Triều Tiên, Mỹ Latin, và Bắc
Cực. Tôi đã muốn tập trung vào những đối thủ máu mặt nhất,
những khu vực hoặc khối địa chính trị lớn để cung cấp cho độc
giả một cái nhìn khái quát toàn cầu. Thế nhưng vẫn còn nhiều
điều chưa được nói hết. Mặc dù Hoa Kỳ vẫn là quốc gia duy nhất
có khả năng triển khai sức mạnh hải quân thực sự cùng lúc ở cả
hai đại dương, nhưng dãy Himalaya vẫn ngăn cách Ấn Độ và
Trung Quốc, và Nga vẫn dễ bị tổn thương tại những vùng đất
bằng phẳng nằm ở phía tây của nó, các thực tế địa chính trị mới
luôn luôn xuất hiện và còn nhiều đối thủ khác đáng để chúng
ta phải chú ý, với sức mạnh định hình tương lai của chúng ta.
Giống như Những tù nhân của địa lý, cuốn Quyền lực của địa
lý cũng sẽ nhìn vào các yếu tố núi non, sông ngòi và biển cả
dưới một thể thống nhất để hiểu hơn về các thực tế địa chính
trị. Địa lý là yếu tố chủ chốt quyết định giới hạn những gì nhân
loại có thể và không thể làm. Đúng là các chính trị gia rất quan
trọng nhưng địa lý còn quan trọng hơn. Những lựa chọn của
con người đang và sẽ không bao giờ có thể tách rời bối cảnh tự
nhiên. Xuất phát điểm trong câu chuyện của bất kỳ quốc gia
nào luôn là vị trí của quốc gia đó trong mối quan hệ với các
nước láng giềng, các tuyến đường biển và tài nguyên thiên
nhiên. Nếu sống trên một hòn đảo lộng gió bên ngoài Đại Tây
Dương ư? Vậy là bạn đã ở vào vị trí tốt để khai thác sức mạnh
của sóng và gió. Nếu sống ở một đất nước nơi mặt trời chiếu rọi
quanh năm? Các tấm pin năng lượng mặt trời là con đường
tương lai. Nếu sống ở một khu vực có mỏ cobalt? Đó có thể là
một phước lành lẫn lời nguyền dành cho bạn.
Một số người vẫn xem thường xuất phát điểm này vì nó có
vẻ tất định. Người ta còn nói về một “thế giới phẳng” mà ở đó,
các giao dịch tài chính và thông tin liên lạc được thực hiện qua
không gian mạng đã triệt tiêu mọi khoảng cách và khiến cảnh
quan địa lý trở nên vô nghĩa. Tuy nhiên, đó là thế giới của số ít,
chỉ chiếm tỷ lệ rất nhỏ của dân số thế giới, những người có thể
họp hành trực tuyến rồi bay vèo qua núi non và biển cả để đến
gặp mặt và nói chuyện trực tiếp với nhau; chứ không phải là
trải nghiệm của hầu hết 8 tỷ người khác trên trái đất này. Nông
dân Ai Cập vẫn phải phụ thuộc vào Ethiopia để có nước. Những
dãy núi ở phía bắc Athens vẫn cản trở hoạt động giao thương
của nó với châu Âu. Địa lý không làm nên số phận – con người
vẫn là nhân tố quyết định những gì xảy ra – nhưng nó rất quan trọng.
Có nhiều yếu tố góp phần vào việc tạo nên một thập niên
mà chúng ta thấy trước là sẽ đầy biến động và chia rẽ khi bước
sang một kỷ nguyên mới. Toàn cầu hóa, chống toàn cầu hóa,
Covid-19, công nghệ và biến đổi khí hậu, tất cả đều có tác động
và đều được đề cập trong cuốn sách này. Quyền lực của địa lý
phân tích một số cuộc xung đột và sự kiện nổi lên trong thế kỷ
hai mươi mốt có tiềm năng gây ra những hậu quả sâu rộng
trong một thế giới đa cực.
Iran, chẳng hạn, đang định hình tương lai của Trung Đông.
Là quốc gia bị cộng đồng quốc tế cô lập vì phát triển chương
trình hạt nhân, để duy trì được ảnh hưởng, nước này buộc phải
giữ cho được hành lang “Shia” của mình thông suốt tới Địa
Trung Hải, thông qua Baghdad, Damascus và Beirut. Đối thủ
trong khu vực của Iran là Ả Rập Saudi, quốc gia được hình
thành trên dầu và cát. Nước này trước nay vẫn phải dựa dẫm
vào đồng minh Hoa Kỳ của mình, nhưng khi nhu cầu dầu mỏ
của thế giới giảm đi và Hoa Kỳ trở nên độc lập hơn về năng
lượng thì mối quan tâm của họ đối với Trung Đông cũng sẽ từ từ mà cạn.
Ở một nơi khác, không phải dầu mỏ mà nước lại là thứ gây
rối loạn. Được ví như “tháp nước của châu Phi", ", Ethiopia nắm
giữ một lợi thế quan trọng so với các nước láng giềng của mình,
đặc biệt là Ai Cập. Đây là một trong những khu vực trọng điểm
có khả năng xảy ra “chiến tranh vì nguồn nước” trong thế kỷ
này, nhưng cũng là nơi cho chúng ta thấy được sức mạnh của
công nghệ khi nhìn vào Ethiopia và cách nước này sử dụng
thủy điện để thay đổi vận mệnh của mình.
Nhưng đó không phải là một lựa chọn ở nhiều khu vực khác
của châu Phi, chẳng hạn như Sahel, một miền đất trống trải
rộng lớn bên rìa phía nam của sa mạc Sahara, một khu vực bị
chiến tranh tàn phá, nằm giữa các đường phân chia địa lý và
văn hóa cổ đại, và một vài phần đang bị Al-Qaeda và ISIS chiếm
cứ. Nhiều người dân sẽ bỏ chạy khỏi đó, một số sẽ đi về phía bắc
hướng tới châu Âu. Cuộc khủng hoảng nhân đạo vốn đã rất
nghiêm trọng ở đây có thể sẽ còn tồi tệ hơn nữa.
Là cửa ngõ vào châu Âu, Hy Lạp là một trong những quốc
gia đầu tiên cảm nhận được tác động của những làn sóng di cư
mới. Địa lý của Hy Lạp cũng đặt nước này vào trung tâm của
một trong những điểm nóng địa chính trị trong những năm
tới: phía đông Địa Trung Hải, nơi các mỏ khí đốt mới được phát
hiện đã đẩy thành viên của EU này đến bờ vực của cuộc xung
đột với Thổ Nhĩ Kỳ vốn đang ngày càng gây hấn. Trong khi phô
diễn sức mạnh ở Đông Địa Trung Hải, Thổ Nhĩ Kỳ còn nuôi
những tham vọng lớn hơn nhiều. Chính sách “tân Ottoman”
của Thổ Nhĩ Kỳ bắt nguồn từ lịch sử uy quyền và vị trí của nước
này ở giao lộ Đông-Tây, nhằm hoàn thành sứ mệnh của mình là
trở thành một cường quốc lớn trên toàn cầu.
Một quốc gia khác đã mất đi đế chế của mình, Vương quốc
Anh, một quần đảo lạnh giá nằm ở phía tây của Đồng bằng Bắc
Âu, hiện vẫn đang tìm kiếm vai trò cho mình. Hậu Brexit, có
thể Anh sẽ thấy mình là một cường quốc tầm trung ở châu Âu
đang thúc đẩy các mối quan hệ chính trị và kinh tế trên toàn
thế giới. Nhưng nước này đang phải đối mặt với những thách
thức từ cả trong lẫn ngoài khi phải đối diện với viễn cảnh về một Scotland độc lập.
Ở phía nam, Tây Ban Nha, một trong những quốc gia lâu đời
nhất của châu Âu, cũng đang đối mặt với nguy cơ tan rã bởi chủ
nghĩa dân tộc ở các vùng miền của nó. Châu Âu không thể ủng
hộ cuộc đấu tranh giành độc lập của người Catalonia; nhưng
việc từ chối tình trạng độc lập của Catalonia sẽ để ngỏ cửa cho
Nga và Trung Quốc gây ảnh hưởng ở châu Âu. Các phong trào
đấu tranh ở Tây Ban Nha phản chiếu sự mong manh của một số
quốc gia dân tộc cũng như các liên minh siêu quốc gia trong thế kỷ hai mươi mốt.
Tuy nhiên, có lẽ diễn biến kỳ thú nhất trong thời đại này là
cuộc tranh giành quyền lực địa chính trị của chúng ta đang
thoát ra khỏi phạm vi trái đất và bành trướng vào không gian.
Ai sở hữu không gian? Bạn quyết định như thế nào? Thực sự thì
không có gì là “biên giới cuối cùng”, nhưng vũ trụ gần giống
như thế, và các biên giới có xu hướng trở thành những nơi
hoang dã, vô pháp. Lên đến một độ cao nhất định sẽ không còn
khái niệm lãnh thổ có chủ quyền nữa; nếu tôi muốn đặt vệ tinh
trang bị laser của mình ngay phía trên đất nước của bạn, viện
dẫn luật nào để bạn có thể nói tôi không được làm việc đó? Với
việc nhiều quốc gia đang chạy đua để trở thành cường quốc
chiếm ưu thế trong không gian, và các công ty tư nhân nhập
cuộc, vũ đài của cuộc chạy đua vũ trang sử dụng những công
nghệ tiên tiến nhất và vô cùng nguy hiểm đã được dựng lên, trừ
phi chúng ta có thể học hỏi từ những sai lầm trong quá khứ và
thừa nhận lợi ích lớn từ việc hợp tác trên bình diện quốc tế.
Nhưng chúng ta sẽ bắt đầu cuốn sách này ở một nơi trên trái
đất, nơi từng bị coi là xa xôi hẻo lánh và không ai biết đến
nhưng giờ đây thấy mình đứng giữa Trung Quốc và Hoa Kỳ, với
sức mạnh định hình các sự kiện xảy ra ở khu vực Ấn Độ Dương-
Thái Bình Dương, một đối thủ chính trong câu chuyện của
chúng ta, lục địa đảo Úc. CHƯƠNG 1 ÚC
“Hãy chơi rắn toàn trận. Hãy nghiền nát bọn chúng.”
Don Bradman, vận động viên bóng gậy
Nước Úc, từ một nơi xa xôi biệt lập, nổi lên thành nước rất
lớn và giờ đây đang đứng ở vũ đài trung tâm. Điều đó diễn ra như thế nào?
Vùng đất “bên dưới” này là một hòn đảo, nhưng là hòn đảo
không giống bất kỳ hòn đảo nào. Nó quá rộng lớn, lớn đến mức
cũng chính là một lục địa, với rừng mưa cận nhiệt đới tươi tốt,
sa mạc bỏng giãy, thảo nguyên trập trùng đến những ngọn núi
phủ tuyết trắng. Lái xe từ Brisbane đến Perth nghĩa là bạn đã đi
xuyên qua nước Úc, nhưng quãng đường ấy dài tương đương
quãng đường từ London đến Beirut, qua các nước Pháp, Bỉ, Đức,
Áo, Hungary, Serbia, Bulgaria, Thổ Nhĩ Kỳ và Syria.
Nằm ở một nơi xa xôi biệt lập, Úc cách nước Mỹ tới 11.500
km tính từ Brisbane về phía đông bắc qua Thái Bình Dương,
cách Nam Mỹ tới 13.000 km về phía đông và cách châu Phi
8.000 km tính từ Perth về phía tây qua Ấn Độ Dương. Ngay cả
nước “láng giềng” là New Zealand cũng cách Úc tới 2.000 km về
phía đông nam, từ đó di chuyển thêm 5.000 km đường biển nữa
là tới châu Nam Cực. Chỉ khi nhìn về phía bắc, chúng ta mới
thấy vị trí thực sự của Úc theo nghĩa “địa chính trị”. Nó nằm ở
đó, một lãnh thổ quá rộng lớn, một nền dân chủ tiến bộ theo
định hướng phương Tây, và phía trên nó là đế chế độc tài hùng
mạnh về kinh tế và quân sự: Trung Quốc. Nhìn rộng ra, bạn sẽ
thấy quốc gia châu lục này nằm ngay giữa Ấn Độ Dương và Thái
Bình Dương, một cường quốc kinh tế của thế kỷ hai mươi mốt.
Câu chuyện nước Úc bắt đầu khi người Anh quyết định lưu
đày những phạm nhân bị kết án đến một nơi càng xa càng tốt
rồi bỏ họ ở lại đó. Liệu có nơi nào tốt hơn tận cùng thế giới, nơi
mà từ đó người ta không bao giờ có thể quay trở về? Họ như bị
nhốt lại còn chìa khóa thì bị ném đi. Nhưng cuối cùng, khi thế
giới xa xôi này thay đổi, song sắt nhà tù địa lý bị bẻ cong, Úc
bỗng trở thành đối thủ nặng ký trên vũ đài chính trị toàn cầu.
Nhưng một thời gian dài trước đó, nó từng là địa ngục đối với nhiều người.
Trong câu nói được trích dẫn ở đầu chương này, Don
Bradman có thể chỉ muốn nói tới môn bóng gậy ở Anh, nhưng
những lời của ông bắt nguồn từ tinh thần của một người Úc
được tôi luyện bởi địa lý quốc gia. Quan niệm phổ biến về chủ
nghĩa quân bình, tính tình thẳng thắn, không màu mè và tinh
thần bất khuất của người Úc có thể là rập khuôn nhưng cũng
rất thật. Tinh thần ấy được sản sinh từ miền đất rộng lớn, nóng
như thiêu đốt, nhiều nơi không thể ở được nhưng cũng từ miền
đất ấy, một xã hội hiện đại phát triển mạnh mẽ được hình
thành, chuyển mình từ một xã hội gần như chỉ có một độc tôn
văn hóa thành một trong những xã hội đa văn hóa nhất trên thế giới.
Hiện giờ, Úc đang nhìn xung quanh và tự hỏi nó nên đóng
vai trò gì và nên chơi cùng ai.
Liên quan đến chính sách đối ngoại và quốc phòng, xuất
phát điểm của một quốc gia không phải là những gì nó dự định
làm mà là khả năng nó làm được đến đâu; khả năng ấy thường
bị giới hạn bởi yếu tố địa lý. Diện tích rộng lớn và vị trí địa lý
của Úc vừa là điểm mạnh vừa là điểm yếu. Chúng bảo vệ Úc
khỏi các cuộc ngoại xâm nhưng đồng thời kìm hãm sự phát
triển chính trị của nước này. Chúng khiến quốc gia này cần phải
có các mạng lưới liên kết thương mại đường dài rộng khắp vốn
đòi hỏi một lực lượng hải quân hùng mạnh để đảm bảo các
tuyến đường biển luôn được thông suốt. Hơn nữa, Úc ở quá xa
các đồng minh chính của mình.
Úc trở thành lục địa đảo cách đây 35 triệu năm, sau khi bị
tách khỏi châu Nam Cực và trôi dạt về phía bắc. Hiện hòn đảo
này vẫn đang trong quá trình dịch chuyển để rồi sẽ va chạm với
Indonesia, nhưng người dân hai nước không cần quá lo lắng vì
nó đang dịch chuyển với tốc độ chỉ 7 cm mỗi năm, vì thế họ có
vài trăm triệu năm nữa để đón nhận cú va chạm.
Với diện tích 7,5 triệu kilomet vuông, Úc là quốc gia lớn thứ
sáu trên thế giới. Nước Úc hiện đại gồm có sáu tiểu bang, trong
đó lớn nhất là tiểu bang Tây Úc, chiếm một phần ba diện tích
lục địa, lớn hơn tổng diện tích của tất cả các quốc gia Tây Âu
cộng lại. Tiểu bang lớn thứ nhì là Queensland, tiếp đó là Nam
Úc, New South Wales, Victoria và đảo Tasmania. Úc có hai lãnh
thổ nội địa là Lãnh thổ phía Bắc và Lãnh thổ Thủ đô Úc, ngoài
ra còn có nhiều lãnh thổ nhỏ hơn trong đó có quần đảo Cocos và đảo Christmas.
Cuộc sống ở Úc đối diện với vô vàn thách thức. Thách thức
đầu tiên là, kể từ lúc bị tách ra thành một hòn đảo cho đến khi
con người đến (khoảng 60.000 năm trước), đã có một khoảng
thời gian dài để đòi sống động vật kỳ dị ở Úc phát triển. Khi mà
có quá nhiều loài vật dường như lúc nào cũng chực chờ để cắn
xé, đốt chích, gõ mổ hoặc đầu độc con người, thì quả là phi
thường khi chỉ trong 30.000 năm hiện diện, con người đã phát
triển rộng khắp lục địa.
Thách thức tiếp theo khó lòng tránh được là từ địa hình và
khí hậu. Địa hình của Úc phần lớn là các đồng bằng rộng lớn và

