Đang tải lên
Vui lòng đợi trong giây lát...
Preview text:
TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI
VIỆN ĐÀO TẠO SAU ĐẠI HỌC
TIỂU LUẬN MÔN TRIẾT HỌC
Đề tài: So sánh triết học Phương Đông và Phương Tây.
Học viên thực hiện: Nguyễn Thùy Dương Mã học viên: 23BM0201008 Lớp: CH29BTCNH.N1 1 MỤC LỤC
MỤC LỤC.......................................................................................................................................- 1 -
ĐẶT VẤN ĐỀ.................................................................................................................................- 2 -
NỘI DUNG......................................................................................................................................- 3 - I.
KHÁI NIỆM CHUNG VỀ TRIẾT HỌC.............................................................................- 3 -
II. ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN-KINH TẾ-XÃ HỘI CỦA PHƯƠNG ĐÔNG VÀ PHƯƠNG TÂY.......- 5 - 1.
Phương Đông - Trung Quốc - Ấn Độ cổ đại.................................................................- 5 - 2.
Phương Tây-Hy Lạp cổ đại............................................................................................- 6 - III.
NHỮNG ĐIỂM KHÁC NHAU CƠ BẢN CỦA TRIẾT HỌC PHƯƠNG ĐÔNG VÀ
TRIẾT HỌC PHƯƠNG TÂY THỜI KỲ CỔ ĐẠI.....................................................................- 7 - 1.
Mục đích của triết học....................................................................................................- 8 - 2.
Phương pháp tiếp cận của triết học...............................................................................- 8 - 3.
Đối tượng nghiên cứu của triết học...............................................................................- 9 - 4.
Phương pháp luận........................................................................................................- 11 - 5.
Triết học Phương Tây gắn với khoa học tự nhiên còn triết học Phương Đông gắn với
chính trị xã hội......................................................................................................................- 12 - 6.
Triết học Phương Tây mang tính giai cấp trực diện còn triết học Phương Đông thì tính
giai cấp mờ nhạt…...............................................................................................................- 13 -
KẾT LUẬN...................................................................................................................................- 15 -
TÀI LIỆU THAM KHẢO.............................................................................................................- 16 - 2 ĐẶT VẤN ĐỀ
Trong quá trình khám phá thế giới, giải đáp những câu hỏi về nguồn gốc của con
người, nguồn gốc của thế giới và vị trí của con người trong thế giới làm hình thành ở
con người những quan niệm nhất định, trong đó có những yếu tố cảm xúc và trí tuệ,
tri thức và niềm tin… Cùng với sự phát triển ngày càng đa dạng và phức tạp của hoạt
động thực tiễn, tư duy của con người không ngừng được “mài sắc”. Sự ra đời của
triết học cho thấy tính tích cực của tư duy con người đã đạt được bước chuyển biến
về chất nhờ sự xuất hiện của tầng lớp lao động trí óc trong xã hội cổ đại.
Từ khi ra đời, triết học đóng vai trò quan trọng trong nhận thức cũng như hoạt
động của con người, Ph. Ăngghen viết: “Một dân tộc muốn đứng vững trên đỉnh cao
của khoa học thì không thể không có tư duy lý luận”. Nhưng tư duy lý luận chỉ là một
đặc tính bẩm sinh dưới dạng năng lực của người ta mà thôi. Năng lực ấy cần phải
được phát triển hoàn thiện mà muốn hoàn thiện thì cần nghiên cứu toàn bộ triết học từ thời đại trước.
Trong lịch sử tư tưởng nhân loại nói chung và lịch sử triết học nói riêng, triết học
phương đông và triết học phương tây cổ đại giữ một vị trí hết sức quan trọng. Việc
nhận thức một cách đầy đủ những giá trị của hai nền triết học này là một vấn đề có ý
nghĩa lý luận và thực tiễn sâu sắc, vừa cấp bách, vừa lâu dài. Đó là lý do mà em chọn
đề tài “So sánh triết học phương Đông và triết học phương Tây ”. NỘI DUNG 3
I. KHÁI NIỆM CHUNG VỀ TRIẾT HỌC
Trong lịch sử nhân loại ở Phương Đông cũng như Phương Tây, triết học ra đời từ
rất sớm. Tuy nhiên, trong thời kỳ nguyên thủy con người chỉ mới có mầm mống của
tư duy triết học ở trình độ thấp, mang tính chất huyền thoại. Triết học chỉ thực sự tồn
tại với tư cách là một môn khoa học khi nhân loại bước sang xã hội chiếm hữu nô lệ
(ở Phương Tây, tại Hy Lạp khoảng thế kỷ thứ VII trc CN, ở Phương Đông như Trung
Quốc, Ấn Độ…chế độ chiếm hữu nô lệ còn xuất hiện sớm hơn). Lúc đầu, triết học
bao gồm tri thức của hầu hết các môn khoa học, triết học thậm chí còn coi là “khoa
học của các khoa học”. Qua thời gian và lịch sử do nhu cầu ngày càng đi sâu nghiên
cứu, tìm hiểu thế giới nên các khoa học cụ thể dần dần tách ra khỏi triết học để trở
thành một môn nghiên cứu độc lập. Đổi tượng nghiên cứu của triết học cũng từng
bước được xác lập. Bản thân quan niệm về triết học cũng có sự thay đổi trong lịch sử.
Triết học ra đời do kết quả của sự tách biệt giữa lao động chí óc và lao động chân
tay. Bên cạnh đó, triết học ra đời còn do tư duy nhân loại đã phát triển ở trình độ cao
– trình độ hệ thống hóa, khái quát hóa và trừu tượng hóa. Triết học ra đời vào khoảng
thế kỷ VIII-VI TCN gắn liền với sự ra đời của các nền văn minh cổ đại như Trung
Quốc, Ấn Độ, Hy lạp… “Triết” theo nghĩa chữ Hán là trí – Sự hiểu biết của con
người, là sự truy tìm bản chất của đối tượng trong quá trình nhận thức thế giới.
“Triết” theo nghĩa Án Độ là Darshna,là sự chiêm ngưỡng, suy ngẫm con người đến
chân lý, là sự hiểu biết nói chung. “Triết học” theo tiếng Hy lạp là Philosophya ( sự
ham mê hiểu biết cộng với sự thông thái). Như vậy dù là ở Phương Đông hay phương
tây, Triết học thời cổ đại đều có nghĩa là sự hiểu biết, sự nhận thức chung của con người về thế giới.
Theo quan điểm của triết học Mác- Lênin: “Triết học là hệ thống các quan điểm lý
luận chung nhất về thế giới và vị trí của con người trong thế giới”. Ăngghen khẳng 4
định “vấn đề cơ bản lớn của mọi triết học đặc biệt là của triết học hiện đại, là quan hệ
giữa tư duy với tồn tại”. Vấn đề cơ bản của triết học gồm hai mặt:
- Mặt thứ nhất, tư duy và tồn tại (ý thức và vật chất) cái nào có trước cái nào có
sau? Cái nào quyết định cái nào?
- Mặt thứ hai, con người có khả năng nhận thức thế giới hay không?
Tùy theo cách giải quyết vấn đề cơ bản của triết học mà người ta phân chia thành hai
trường phái: duy vật và duy tâm.
+ Triết học duy vật cho rằng vật chất có trước, vật chất quyết định ý thức. Con
người hoàn toàn có thể nhận thức được thế giới, chỉ có những gì con người chưa biết
chứ không có cái gì con người không biết. Có những sự vật và hiện tượng mà các thế
hệ hôm nay chưa biết nhưng cùng với sự phát triển của thực tiễn, của khoa học thì
các thế hệ mai sau hoàn toàn có thể sẽ nhận thức được.
+ Triết học duy tâm (dù là duy tâm chủ quan hay duy tâm khách quan) đều cho
rằng ý thức có trước, ý thức quyết định vật chất. Nhìn chung thì triết học duy tâm phủ
nhận khả năng nhận thức của con người nếu có nhận thức được thì con người chỉ có
thể nhận thức được cái bề ngoài chứ không thể nhận thức được bản chất bên trong
của các sự vật hiện tượng.
Bên cạnh cuộc đấu tranh giữa chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm, lịch sử
triết học còn diễn ra cuộc đấu tranh giữa hai phương pháp: biện chứng và siêu hình.
- Phương pháp biện chứng khẳng định các sự vật hiện tượng trong thế giới tồn tại
trong mối liên hệ phổ biến và vận động, phát triển không ngừng.
- Phương pháp siêu hình nhìn nhận thế giới trong sự cô lập, tách rời nhau, tĩnh tại
bất biến, nếu có vận động thì chỉ là sự tăng giảm về số lượng mà không có sự biến đổi về chất.
Trên cơ sở nhận thức những vấn đề chung nêu trên, chúng ta có thể đánh giá, so
sánh đặc điểm triết học Phương Tây và Triết học Phương Đông cổ đại thông qua
quan niệm của các nhà triết học tiêu biểu. 5
II. ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN-KINH TẾ-XÃ HỘI CỦA PHƯƠNG ĐÔNG VÀ PHƯƠNG TÂY.
1. Phương Đông - Trung Quốc - Ấn Độ cổ đại
Về mặt địa lý, Phương Đông cổ đại trải dài từ Ai Cập, Babilon tới Ấn Độ, Trung
Quốc…Phương Đông cổ đại là một trong những cái nôi của văn minh nhân loại .
Trung Quốc và Ấn Độ là những trung tâm phát triển rực rỡ nhất của nền văn minh ấy.
Trung Quốc cổ đại:
Trung Quốc cổ đại bao gồm nhiều quốc gia nhỏ, chủ yếu nằm rải rác ở lưu vực
sông Hoàng Hà, Dương Tử…chế độ nô lệ ở Trung Quốc hình thành sớm với những
đặc trưng của chế độ chiếm hữu nô lệ không điển hình. Sự phân hóa giai cấp không
rõ rệt và nô lệ không phải lực lượng sản xuất chủ yếu…Ngay từ thời ký nhà Hạ nền
văn minh Trung Quốc cổ đại đã đạt được những thành tựu rực rỡ trên hầu hết các lĩnh vực kinh tế xã hội.
Đến thời ký Xuân Thu-Chiến Quốc (là thời kỳ chuyển biến từ XH nô lệ sang
XH phong kiến), XH ở vào tình trạng hết sức đảo lộn. Sự tranh giành địa vị của các
thế lực cát cứ đã đẩy TQ vào những cuộc chiến tranh “huynh đệ tương tàn”. Đây
cũng chính là giai đoạn lịch sự đặt ra rất nhiều vấn đề cần phải giải quyết.
Sự chuyển biên sôi động của thời đại cũng làm xuất hiện nhiều nhà tư tưởng
lớn. Có thể nói đây cũng chính là thời kỳ triết học phát triển rực rỡ nhất. Lịch sử gọi
đây là thời kỳ: “Bách gia chư tử”. Với những tên tuổi lớn như: Khổng tử, Lão Tử,
Mạc Tử… và những học thuyết có ảnh hưởng sâu rộng như nho giáo, lão giáo…
Ấn Độ cổ đại
Ấn Độ cổ đại là một vùng đất nằm ở phía nam Châu Á được bao bọc bởi Ấn
Độ Dương và dãy Hymalaya hùng vĩ. Đây là vùng đất có những yếu tố địa lý trái
ngược nhau vừa có núi cao, vừa có biển sâu, vừa có sông Ấn chảy về phía Tây lại
vừa có sông Hằng chảy về phía Đông, vừa có đồng bằng phì nhiêu, lại vừa có sa mạc
khô cằn…Khoảng 2500 năm trước CN, ở Ấn Độ đã có một nền văn minh tương đối
phát triển gọi là nền văn minh sông Ấn của người Dravida bản địa. Từ thế ký thứ XV 6
xã hội Ấn Độ đã diễn ra một biến động lớn, những người Arya từ Trung Á xâm nhập
vào Ấn Độ, họ định cư và từng bước đồng hóa người bản địa. Người Arya bắt đầu
xác lập nền văn minh thứ hai trên đất Ấn Độ gọi là nền văn minh Veda.
Đặc điểm kinh tế- xã hội nổi bật của Ấn Độ cổ đại là chế độ quốc hữu hóa
ruộng đất và sự tồn tại dai dẳng của công xã nông thôn. Trên cơ sở đó sự phân hóa
giai cấp không rõ rệt. Trong xã hội tồn tại chế độ đẳng cấp hết sức nghiệt ngã với 4
đẳng cấp cơ bản: Tăng lữ (Brahman), Quý tộc (Ksytriya), bình dân (Vaisya) và tôi tớ, nô lệ (Ksudra).
Người Ấn Độ cổ đại đã đạt được những thành tựu rất quan trọng về thiên văn
học, toán học, y học và kiến trúc. Tiêu biểu như việc phát minh ra lịch 365 ngày, giải
thích được các hiện tượng nhật thực, nguyệt thực, trong toán học đã phát hiện ra số
thập phân, quan hệ giữa cạnh huyền và cạnh góc vuông…Văn hóa Ấn Độ mang dấu
ấn sâu đậm về tín ngưỡng, tôn giáo và văn hóa tâm linh…
Tất cả những đặc điểm trên là những tiền đề làm nảy sinh và phát triển phong phú
của những tư tưởng triết học.
2. Phương Tây-Hy Lạp cổ đại
Đại biểu cho triết học Phương Tây cổ đại và triết học Hy Lạp cổ đại. Hy lạp cổ đại
là một vùng đất đai rộng lớn bao gồm miền Nam bán đảo Ban căng thuộc châu Âu,
nhiều hòn đảo ở biển Êgie và cả miền ven biển của bán đảo Tiếu Á. Đây là vùng đất
có điều kiện địa lý thuận lợi, là cửa ngõ nối liền Phương Tây với Phương Đông, tài
nguyên thiên nhiên phong phú, mưa thuận gió hòa, giúp cho ngành nông nghiệp, thủ
công nghiệp, và thương nghiệp phát triển mãnh mẽ.
Vào thời kỳ cổ đại ở Hy Lạp đã có nền kinh tế xã hội và văn hóa tương đối phát
triển. Một số ngành khoa học như toán học, vật lý, thiên văn học đã đạt được những
thành tựu rất quan trọng.
Cơ cấu xã hội-giai cấp cũng có những biến đổi nhanh chóng và sâu sắc. Những
mâu thuẫn và xung đột xã hội ngày càng trở lên quyết liệt. Tiêu biểu là cuộc đấu
tranh giữa hai tập đoàn chủ nô: chủ nô dân chủ và chủ nô quý tộc. 7
+ Chủ nô dân chủ là bộ phận tiến bộ của giai cấp chủ nô. Họ đại diện cho lực
lượng xã hội đang lên. Chủ nô dân chủ thường đề xuất những chủ trương dân chủ, cải
cách và hạn chế quyền lực của chủ nô quý tộc.
+ Chủ nô quý tộc là bộ phận bảo thủ, thậm chí là phản động của giai cấp chủ
nô. Chủ nô quý tộc đại diện cho quan hệ sản xuất thống trị, họ có quyền lực rất lớn
trong xã hội; do vậy, chủ nô quý tộc thường tìm mọi biện pháp, bao gồm cả thủ đoạn
để duy trì sản xuất và trật tự xã hội cũ.
Những đặc điểm kinh tế xã hội và văn hóa đã tạo điều kiện cho triết học ra đời và
phát triển rực rỡ, từ triết học Hy Lạp thời kỳ cổ đại đã xuất hiện mầm mống cho hầu
hết các loại thế giới quan triết học sau này. Khi đánh giá về những thành tựu của triết
học Hy Lạp, trong tác phẩm “Biện chứng của tự nhiên” Ăngghen có viết “ Đó là một
trong những lý do làm cho trong triết học cũng như trong nhiều lĩnh vực khác, chúng
ta phải luôn trở lại với thành tựu của các dân tộc nhỏ bé đó, cái dân tộc mà năng lực
hoạt động toàn diện của nó đã tạo ra cho nó một địa vị mà không một dân tộc nào
khác có thể mong ước được trong lịch sử của nhân loại”.
III.NHỮNG ĐIỂM KHÁC NHAU CƠ BẢN CỦA TRIẾT HỌC PHƯƠNG ĐÔNG
VÀ TRIẾT HỌC PHƯƠNG TÂY THỜI KỲ CỔ ĐẠI.
Có thể nói các trào lưu triết học Phương Đông cũng như Phương Tây đều tập
trung xoay quanh trả lời câu hỏi: Thế giới bắt đầu từ đâu, thế giới sẽ đi đến đâu? Bản
chất của thế giới là gì? Điều này cho thấy, các nhà triết học đều mong muốn vượt qua
ảnh hưởng của thế giới quan thần thoại để giải đáp những gì diễn ra xung quanh và
tác động lên đời sống con người. Việc các nhà triết học quan tâm đến tự nhiên theo
Aristote không phải vì bản thân tự nhiên mà vì chính con người, vì sự khẳng định vị
trí con người trong thế giới.
Khi lý giải về khả năng nhận thức của con người, các nhà triết học không chỉ xem
con người như là một bộ phận của vũ trụ mà con người còn luôn chứng tỏ sự hiện 8
hữu vượt trội của mình nhờ có năng lực nhận thức, dù rằng nhận thức ấy chỉ mang
tính chất thần linh thượng đế mà thôi.
Nhìn chung do những điều kiện hạn chế của lịch sử, trước những biến đổi nhanh
chóng trong đời sống xã hội cũng những bế tắc trong nhận thức đã đẩy các nhà triết
học Phương Đông và Phương Tây cổ đại ít nhiều lại gần hơn với những quan niệm
duy tâm thần bí coi thế giới thần linh như một điểm tựa cuối cùng…Đó là những nét
giống nhau cơ bản của triết học Phương Đông và triết học Phương Tây cổ đại. Tuy
vây, sự khác biệt giữa triết học Phương Đông và triết học Phương Tây là hết sức sâu sắc.
1. Mục đích của triết học.
Sự ra đời của triết học trước hết xuất phát từ những đòi hỏi của cuộc sống; điều này
làm cho triết học có vị trí đặc biệt quan trọng; sự tồn tại của triết học không phải vì
bản thân của triết học mà bởi vì nó cần cho cuộc sống. Tuy vậy, mục đích của hai nền
triết học cũng có sự khác nhau. Mục đích của triết học Phương Tây là nhận thức để
cải tạo thế giới; triết học trở thành công cụ giúp cho con người chinh phục tự nhiên.
Trong khi đó mục đích của triết học Phương Đông lại chủ yếu nhằm xây dựng những
con người lý tưởng, khôi phục lại “trật tự xã hội đã mất” (Nho giáo) hay “ giải thoát”
con người (Phật giáo), làm cho con người “hòa đồng” với thiên nhiên (Đạo giáo)…
2. Phương pháp tiếp cận của triết học
Triết học Phương Tây thường đi từ thế giới quan, bản thể luận đến nhân sinh
quan, nhận thức luận, lô gic học, từ đó tạo nên một hệ thống tương đối hoàn chỉnh,
chặt chẽ. Triết học Phương Tây nhìn chung có xu hướng đi từ thực thể ban đầu tạo
nên thế giới như nước, lửa, không khí, nguyên tử… Trong khi đó triết học Phương
Đông, các nhà tư tưởng lớn lại đi từ nhân sinh quan đến thế giới quan. Việc đề cập tới
giới tự nhiên xét đến cùng cũng là nhằm để lý giải về con người và xã hội loài người.
Sự khác nhau về phương pháp tiếp cận của triết học Phương đông và triết học
phương tây còn có những cách lý giả khác nhau. Tuy nhiên, theo tôi điều này chủ yếu
xuất phát từ nguyên nhân sau đây: 9
+ Như chúng ta đã phân tích , ở Phương Đông không tồng tại chế độ nô lệ quy
mô điển hình như ổ Phương tây. Ở Trung quốc chế độ nô lệ có manh nha từ thời nhà
Ân (thế kỷ XIV trước CN). Đến thời Tây Chu (1027-770 Trước CN) nhà nước mang
tính chất nô lệ ra đời, đay là giai đoạn phương thức sản xuất còn hết sức lạc hậu, chưa
có đồ sắt. Trong khi đó, Hy Lạp sự xuất hiện của nhà nước lại hoàn toàn ngược lại.
+ Sự xuất hiện của đồ sắt đã thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển nhanh
chóng. Chế độ nguyên thủy được “thanh toán” một cách nhanh chóng và triệt để.
Quan hệ sản xuất mới ra đời và trên cơ sở đó hình thành nhà nước. Như vậy, theo quy
luật ở Phương Tây cơ sở hạ tầng quyết định kiến trúc thượng tầng. Còn ở Phương
Đông, kiến trúc thượng tầng lại hình thành trước và thúc đẩy sự phát triển của cơ sở hạ tầng.
3. Đối tượng nghiên cứu của triết học.
Từ phương pháp tiếp cận, mục đích của hai nền triết học có sự khác nhau mà
đối tượng nghiên cứu của triết học Phương Đông và Phương Tây cũng có sự khác nhau.
Đối với triết học Phương Tây, đối tượng của triết học rất rộng, bao gồm toàn
bộ giới tự nhiên, xã hội và tư duy con người, trong đó tự nhiên là cơ sở. Chính vì đối
tượng rất rộng cho nên phạm vi tri thức triết học cũng rất rộng và vô cùng phong phú,
bao quát trên nhiều lĩnh vực. Ví lấy tự nhiên làm cơ sở nên triết học có xu hướng ngả
sang “hướng ngoại” tức là lấy cái bên ngoài giải thích cho cái bên trong, hướng hoạt
động của con người ra thế giới tự nhiên. Muốn tồn tại con người phải chinh phục tự
nhiên. Triết học Phương Tây luôn tìm cách trả lời cho câu hỏi: ta là ai? Ta có cái gì?
Ta sẽ được những gì?...Đề cao “văn minh vật chất” do vậy triết học Phương Tây hơi
ngả về duy vật. Hướng ngoại và ngả về duy vật không có nghĩa là triết học Phương
Tây không có hướng nội và duy tâm, song hướng ngoại và duy vật vẫn là cơ bản.
Điều này được luận giải bởi nó đi từ thế giới quan đến nhân sinh quan từ cơ sở hạ
tầng đến kiến trúc thượng tầng. 10
Đối với Phương Đông, đối tượng của triết học là xã hội, là con người cá nhân,
là cái “Tâm” và nhìn chung nó lấy con người làm gốc. Triết học Phương Đông xem
cái tinh thần là cái cao cả, giá trị của con người tìm ở tinh thần và chính nó làm cho
những con người ngày càng mang tính người hơn. Phương Đông quan niệm: “Thiên
thời, địa lợi, nhân hòa”, có thiên thời, có địa lợi nhưng không thể thiếu nhân hòa.
Điều này cho thấy con người tình cảm, đạo đức, lương tâm là cao quý. Tri thức triết
học Phương Đông bị giới hạn bởi những vấn đề xã hội, chính trị, đạo đức, tâm linh.
Nếu triết học Phương Tây nghiêng về “hướng ngoại” thì triết học Phương Đông lại
thịnh về “hướng nội”, lại lấy cái bên trong giải thích cho cái bên ngoài. Ví dụ như
“Người buồn cảnh có vui đâu bao giờ” (Nguyễn Du). Đồng thời triết học Phương
Đông cũng ngả về duy tâm. Ở Ấn Độ trường phái duy vật (Lokayata) còn được gọi là
những kẻ “tham ăn tục uống”…Có lẽ những điều này một lần nữa được lý giải bởi
triết học Phương Đông đi từ nhân sinh quan đến thế giới quan, từ kiến trúc thượng
tầng đến cơ sở hạ tầng.
Một vấn đề cũng cần lưu ý là triết học Phương Tây đề cao tri thức khoa học
(duy khoa học) mà rất ít bàn đế những vấn đề đao đức, lương tâm hay trách nhiêm…
thì triết học Phương Đông lại đề cao tình cảm, chỉ cần sống tố…(duy ý chí). Điều này
dẫn đến xã hội Phương Tây luôn phát triển năng động còn các xã hội Phương Đông
thường có xu hướng bình lặng, đi vào ổn định.
Nếu triết học Phương Tây ngả về tư duy duy ý, phân tích, sự vật hiện tượng thì
triết học Phương Đông lại nghiêng về trực giác. Mối phương pháp có những ưu điểm
và hạn chế nhất định nhưng rõ ràng tư duy duy lý làm cho khoa học kỹ thuật phát
triển kéo theo sự phát triển của công nghiệp. Khôn phải ngẫu nhiên mà các nước
Phương Tây hoặc Phương Tây hóa lại có nền khoa học kỹ thuật phát triển cao.
Phương pháp trực giác (hiểu thẳng vào bản chất “sâu thẳm” của sự vật hiện tượng).
Đây là phương pháp phù hợp với nhận thức sự vật đang sống, đang vận động biến đổi
không ngừng nhưng cũng chính nó không tạo ra được bước phát triển trong khoa học 11
kỹ thuật. Mặt khác, không khi nào “trực giác” của chúng ta cũng nắm bắt được bản chất của đối tượng.
Thực ra, hai phương pháp này có mối quan hệ mật thiết với nhau, có thể bổ sung,
hỗ trợ cho nhau. Nếu không phân tích, mổ xẻ đối tượng thì không thể hiểu một cách
đầy đủ về đối tượng. Tuy nhiên tuyệt đối hóa nó thì lại rơi vào sai lầm. Bởi lẽ, con
người không thể nắm bắt được giới tự nhiên một cách đầy đủ như một chỉnh thế.
Nhận thức của con người là một quá trình, đó là một quá trình vô hạn. trong khi đó
cuộc đời con người là có hạn. Cái có hạn vươn tới cái vô hạn, cái tuyệt đích cuối
cùng cũng sẽ là một mâu thuẫn, một bi kịch. Để nhận thức bản chất của sự vật (nói
đúng hơn chỉ là cái gần nhất bản chất) chúng ta không khỏi phải tạo ra những trừu
tượng, những khái niêm…và phương pháp trực giác lúc này lại tỏ ra phù hợp.
4. Phương pháp luận
Một sự khác biệt là có tính phương pháp luận giữa hai nền triết học là ở chỗ,
triết học Phương Tây phân biệt rõ chủ thể và khách thể, chủ quan và khách quan,
người nhận thức và đối tượng nhận thức thì ở Phương Đông chủ trương để nhận thức
sự vật con người cần phải hòa mình vào đối tượng.
Minh triết Phương Đông cho rằng hiểu cái hiểu của người khác là không thực hiểu.
Nếu như công cụ, phương tiện nhận thức của triết học Phương Tây là khái
niệm thì công cụ, phương tiện nhận thức của triết học Phương Đông lại là những ẩn
dụ, liên tưởng, ngụ ngôn. Với những công cụ khái niệm việc phân tích, mô tả đối
tượng trở nên rõ ràng hơn. Tất nhiên nếu chỉ trên cơ sở khái niệm dễ dẫn chúng ta
đến chỗ không phân tích trực tiếp đối tượng mà chỉ là cái bóng của khia niệm chùm lên đối tượng.
Trong quá trình phát triển, triết học Phương Tây thường có những sự biến đổi
nhảy vọt mang tính cách mạng, vạch thời đại. Có thể nói, triết học Phương Tây ngày
càng đi xa gốc, ngày càng phong phú. Trong khi đó triết học Phương Đông lại
nghiêng về sự phát triển tuần tự. Triết học Phương Đông có sự phát triển nhưng chỉ là
sự phát triển cục bộ, đi sâu vào từng chi tiết. Những nhà triết học đi sau thường bổ 12
sung và hoàn thiện những quan niệm của người đi trước, tự nhận là “học trò” của
người đi trước. Với phương châm giữ lấy gốc mà phát triển triết học Phương Đông
như một dòng sông cứ trôi đi, chảy mãi, luôn đổi hướng mà không bao giờ tách khỏi
nguồn cội. Chính vì thế, Huxley gọi triết học Phương Đông là “triết lý vĩnh cửu”
Về phép biện chứng cả triết học Phương Đông và Phương Tây đều thừa nhận rằng
chân lý thì chỉ có một còn sai lầm thì phong phú vô cùng. Tuy nhiên phép biện chứng
trong triết học Phương Tây nghiêng về đấu tranh, nghiêng về vận động và phát triển
theo chiều hướng đi lên…Thì triết học Phương Đông lại đề cao sự thống nhất, coi
vận động và phát triển là những vòng tuần hoàn, thậm chí là những vòng tròn khép kín.
5. Triết học Phương Tây gắn với khoa học tự nhiên còn triết học Phương Đông
gắn với chính trị xã hội.
Những sự khác biệt về cơ sở kinh tế xã hội lẽ dĩ nhiên dẫn đến những khác biệt
trong tư tưởng triết học. Bên cạnh đó chúng ta cũng thấy rằng, ở Phương Tây các nhà
triết học hầu hết đồng thời là những nhà khoa học tự nhiên. Chính vì vậy, những tư
tưởng triết học thường gắn với những tựu của khoa học tự nhiên. Thời cổ đại Hy Lạp
người ta quan niệm triết học - nghĩa là yêu mến sự thông thái nhà triết học là nhà
thông thái. Hêraclit coi phương châm nghiên cứu của mình không dừng lại ở sự thông
thái, hiểu biết nhiều mà quan trọng nhất là nhà triết học phải nắm được cái “Logos”,
tức là cái bản chất, quy luật của sự vật…Trong quá trình nhận thức các sự vật hiện
tượng tự nhiên, xã hội và con người, các nhà triết học Phương Tây đã dựa vào các
thành tựu của khoa học tự nhiên nên xu hướng chủ đạo của triết học là duy vật.
Trái lại, Triết học phương đông ít khi tồn tại dưới dạng triết học thuần túy. Tư
tưởng triết học thường “lẩn khuất” đằng sau những học thuyết chính trị xã hội và tôn
giáo. Nhà triết học ở Phương Đông chủ yếu là những người hoạt động xã hội. Họ
được coi là “người hiền” hay “hiền triết”, “minh triết”… Triết học Phương Đông
nhìn chung xuất pháp từ việc luận giải những vấn đề xã hội đang đặt ra. Việc đề cao
luân lý đạo đức coi trọng tình cảm con người, mong muốn xây dựng một “xã hội lý 13
tưởng” bằng những con người lý tưởng… Đã đưa những nhà triết học ít nhiều đến
gần hơn với lập trường duy tâm, duy ý trí. Bị chi phối bởi lập trường duy tâm, cho dù
những nhà triết học Phương Đông đã cố gắng giải thích những vấn đề tự nhiên nhưng
cuối cùng thì họ cũng không khỏi quay về với thần linh, thượng đế, để tìm một chỗ
dựa một lối thoát cho sự bế tắc trong tư duy của họ.
6. Triết học Phương Tây mang tính giai cấp trực diện còn triết học Phương Đông
thì tính giai cấp mờ nhạt…
Lịch sự loài người là một quá trình lịch sử, tự nhiên, là sự thay thế của các hình
thái kinh tế, xã hội khác nhua. Tuy nhiên, không giống như ở Phương Tây sự phân
chia các hình thái kinh tế xã hội ở Phương Đông không rõ nét. Còn có nhiều quan
điểm khác nhau về sự tồn tại của cái gọi là phương thức sản xuất Châu Á. Nhưng có
thể nhận thấy rằng có nhiều nguyên nhân, đặc biệt là chế độ quốc hữu hóa về ruộng
đất và sự tồn tại dai dẳng của công xã nông thôn đã làm cho sự phát nhiển của các xã
hội Phương Đông có tính chất “tiệm tiến” mà ít có những biến đổi nhảy vọt. Trong
điều kiện như vây, mọi cá nhân bị hòa tan trong cộng đồng, bị trói buộc trong những
mối quan hệ cổ truyền. Việc đề cao đời sống, tình cảm, tâm lý, luân lý, đạo đức đã
không chỉ hạn chế lý trí của con người mà còn làm cho con người giảm thiểu những
nhu cầu, mất hết tính chủ động sáng tạo.
Khổng Tử cho rằng mỗi con người đều có số mệnh định sẵn. Theo Khổng Tử:
Sinh hữu mệnh, phú quý tại nhiên” (nghĩa là sống chết có số phận, giàu nghèo là tại
trời). Ở đây đã thể hiện rõ triết lý định mệnh phục vụ cho giai cấp thống trị, chế độ
đẳng cấp, khuyên con người chấp nhận số phận, từ bỏ đấu tranh…
Trái lại ở Phương Tây, ngay từ khi mới ra đời, triết học đã là thế giới quan của
các tập đoàn chủ nô, thống trị xã hội. Chính vì vậy, nó mang tính giai cấp, điều này
thể hiện trong cuộc đấu tranh quyết liệt giữa chủ nghĩa duy vật và duy tâm, giữa hai
phương pháp biện chứng và siêu hình. Triết học thời ký phản ánh cuộc đấu tranh giữa
tầng lớp chủ nô dân chủ tiến bộ và tầng lớp chủ nô quý tộc bảo thủ. Chủ nghĩa duy
vật là thế giới quan của tâng lớp chủ nô dân chủ tiến bộ, trong đó tiêu biểu phải kể 14
đến là Anaxago, Ampedocolo, Democrit…Những quan điểm triết học tiến bộ gắn
liền với tư tưởng chính trị của họ là co sở lý luận cho cuộc đấu tranh của tầng lớp chủ
nô dân chủ. Ngược lại, chủ nghĩa duy atam là thế giới quan của tầng lớp chủ nô quý
tộc. Những đại biểu của chủ nghĩa duy tâm tiêu biểu như Xocrat, Platon…Quan điểm
triết học của họ thậm chí không những phản khoa học mà còn phản động về xã hội.
Có thể tóm lược bản so sánh sau đây. Phương Đông Phương Tây
Tinh thần-Đời người-Tĩnh lặng cảm Vật chất - Máy móc - Mạnh mẽ, nhận các mối quan hệ
quyết liệt, thực thể độc lập
Thiên về tôn giáo, mỹ thuật, nghệ Thiên về khoa học công nghệ thuật
Sử dụng tình cảm, quan tâm đạo đức- Sử dụng trí tuệ, tư tưởng, quan tâm con người, đạo học
sự vật hiện tượng tự nhiên, học thuyết
Dùng trực giác, tổng thể vẫn loanh Dùng lý trí, mất dần tổng thể, ngày
quanh những lối cũ, bề ngoài càng phong phú, cụ thể.
Quan tâm phần ngọn, nhân sinh Quan tâm phần gốc: thế giới quan,
quan, cách sống lối sống
bản thể luận, nhận thức luận
Ảnh hưởng tới: kinh nghiệm hoàn Ảnh hưởng tới: giải thích, lý luận về
thiện cá nhân, ổn định xã hội
thế giới, thực hành kỹ nghệ, tự do cá nhân, cách mạng xã hội 15 KẾT LUẬN
Như vậy, nhìn chung triết học Phương Tây và Phương Đông cổ đại đều xoay
quanh giải quyết vấn đề cơ bản của triết học. Tuy nhiên, do những đặc điểm kinh tế
xã hội và lịch sử triết học Phương Đông và triết học Phương Tây cũng có sự khác biệt
về nội dung, phương pháp tiếp cận, mục đích nghiên cứu, đối tượng của triết học…
Mặc dù có sự khác nhau nhất định, xong triết học Phương Tây cũng như triết học
Phương Đông đã cơ bản đáp ứng được những vấn đề cấp bách mà thời đại lúc bấy
giờ đã đặt ra. Theo như C.Mác: “mọi triết học chân chính đều là tinh hoa về mặt tinh
thần của thời đại mình”.
Các triết học Phương Tây cũng như Phương Đông đã đặt những nền tảng hết
sức có giá trị cho sự phát triển của triết học sau này. Họ xứng đáng là những nhà triết
học chân chính bởi lẽ tư tưởng cua họ cũng chính là kết tinh những giá trị văn hóa của thời đại.
Việc so sánh đặc điểm triết học Phương Tây và Phương Đông cổ đại đã giúp
chúng ta một lần nữa hiểu thêm về lịch sư tư tưởng nhân loại nói chung và lịch sử
triết học nói riêng. Những giá trị của hai nền triết học đã đạt được là những viên ngọc
quý mà hào quang của nó còn mãi tỏa sáng không chỉ hôm nay mà còn tới mãi tận mai sau. 16 TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Ấn Độ Xưa và Nay. Trần Thị Lý (chủ biên) cùng tập thể tác giả. Nxb KHXH, 1997.
2. C. Mác và Ph Ăng ghen: Toàn tập (1995), Tập 21 Nxb Sự Thật , Hà Nội.
3. Đại Cương Triết Học Phương Đông Cổ Đại, Doãn Chính (Chủ biên). Nxb CTQG,1998.
4. Giáo Trình Triết Học Mác-Lê Nin (dùng cho các trường ĐH&CĐ), Bộ giáo
dục và đào tạo (2002), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
5. Giáo Trình Triết Học (Dùng cho học viên cao học và nghiên cứu sinh không
thuộc chuyên ngành Triết học), Nxb lý luận chính trị, Hà Nội, 2007.
6. Lịch Sử Triết Học, Trần Đăng Sinh (chủ biên), Nxb Đại học sư phạm, 2009. 17