57
TP CHÍ KHOA HỌC, Đại hc Huế, tp 72B, s 3, năm 2012
SỰ CẦN THIẾT VÀ NHỮNG HƯỚNG KHAI THÁC
KHI VẬN DỤNG HỌC THUYẾT GIÁ TRỊ THẶNG DƯ CỦA C.MÁC
TRONG QUÁ TRÌNH XÂY DỰNG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG
ĐỊNH HƯỚNG XÃ HI CH NGHĨA Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
Lê Quang Diên
Trường Đại hc Kinh tế, Đại hc Huế
m tt. Bài viết phân tích m s cn thiết những hướng khai thác hc
thuyết giá tr thặng dư của C.Mác trong qtrình xây dng nn kinh tế th trường
định hướng hi ch nghĩa Vit Nam. Tđó, rút ra nhng kết lun ý nghĩa
thc tin quan trọng đối vi s phát trin nn kinh tế ở nước ta hin nay.
Hc thuyết giá tr thặng dư của C.Mác ra đời trên cơ sở nghiên cứu phương thc
sn xuất bn ch nghĩa. Học thuyết đó đã vch trn thc cht bóc lột tư bn ch nghĩa
ci nguồn đối lp kinh tế gia giai cp sn giai cp tư sản, vũ trang cho giai
cp vô sn lun cách mng sc bén trong cuộc đấu tranh chng ch nghĩa bản.
Song, ý nghĩa thực tin ca hc thuyết giá tr thặng không dừng đó. Ngày nay, t
quan điểm đổi mi v ch nghĩa xã hi, hc thuyết này còn có ý nghĩa quan trọng trong
s nghip xây dng ch nghĩa xã hi. Vic vn dng hc thuyết giá tr thặng mt
quá trình lâu i nhiu ni dung cần đưc nghiên cứu để đảm bo tính khoa hc,
phù hp vi thc tin Vit Nam. Trong gii hn ca bài báo, tác gi ch yếu tp trung
nghiên cu làm s cn thiết và những hướng khai thác khi vn dng hc thuyết giá tr
thặng dư trong quá trình xây dng nn kinh tế th trường đnh hướng xã hi ch nghĩa
Vit Nam hin nay.
1. S cn thiết vn dng hc thuyết giá tr thặng trong thời kquá độ lên ch
nghĩa xã hi c ta hin nay.
- Cn nhn thức đúng khái niệm bóc lt và bóc lt giá tr thặng khi vận dng
thuyết giá tr thng dư của C.Mác.
Khi đất nước chuyn sang nn kinh tế hàng hoá nhiu thành phn vận động theo
chế thtrường, vic vn dng hc thuyết giá tr thặng của Mác trước hết phi
nhn thức đúng khái niệm bóc lt bóc lt giá tr thặng trong hc thuyết Mác. T
đó, có cơ sở khoa học để lun gii nhng hiện tượng kinh tế ca xã hi hin nay.
“Bóc lt” là mt b phận người trong xã hi hoc tập đoàn xã hi nào đó, chiếm
đoạt không bồi tng thành qulao động ca một người khác hoc ca tập đoàn xã
58
hi. Do đó, thuộc tính bn cht ca bóc lt là “chiếm hu không có bi tờng”, nhưng
vic “chiếm hu không bồi thường” thành qu lao đng của người khác hoc tp
đoàn xã hi, không ch dựa vào liu sn xut hoặc tư bn tin t, mà cũng thể
thông qua bo lc, quyn lc, chinh phc bng vũ lc để đạt ti mục đích chiếm đot
không có bồi thường thành qulao động của người khác.
Theo Mác, vic bóc lt lao động đều có trong tt c các hình thái hi ttrước
ti nay vận động trong nhng mâu thun giai cp. Nhưng chỉ khi nào sn phm ca lao
động thng đó mang hình thái gtr thặng (tức b phn giá tr mi i ra ngoài
giá tr sc lao động ca công nhân làm thuê to ra b nhà bn chiếm không), ch khi
o k s hữu tư liu sn xut tìm ra được người công nhân t do, với cách là đối
tượng bóc lt, và bóc lt người ng nhân đó nhm mục đích sản xuất ra hàng hoá để
thu được giá tr tăng thêm, chỉ khi đó mi bóc lt giá tr thặng dư, tư liu sn xut
mi mang tính chất đặc biệt là tư bản. Và điều đó chỉ din ra trên quy mô ln t cui thế
kỷ XV đầu thế k XVI.
Mác cho rng, bt k mt loi hình bóc lt nào trong giai đoạn lch s nhất đnh
ca hi loài người đều tính lch sử, hơn nữa ông còn ch : mt trong nhng mt
văn minh của bản là phương thức điu kin bóp nặn lao động thặng so
vi các hình thc ca chế độ l chế độ nông trước đây đều lợi hơn cho sự
phát trin sc sn xut, có li cho s phát trin quan h hi, li cho vic ng to
ra các yếu t sn xut nh thái mi cao cp hơn.
Trong nn kinh tế th trường định hướng hi ch nghĩa nước ta hin nay,
vi nhiu thành phn kinh tế, không th ph nhn ch doanh nghiệp tư nhân ng như
đông đảo công nhân, nông n, t thức đều người xây dng nhà nước hi ch
nghĩa, thông qua hoạt động sn xut kinh doanh hp pháp đã p phần thúc đẩy lc
lượng sn xut phát trin nâng cao mc sng ca nhân dân. Tuy nhiên, xét mt cách
bin chng t thu nhp ca ch doanh nghiệp tư nhân, nht là nhng doanh nghip loi
ln loi va, ngoài b nhn tin lương tương ứng vi thu nhp của lao đng phc tp
(lao động quản , lao động k thut), còn bao hàm li nhun nhiều hơn (tc giá tr
thặng dư). Lợi nhun này s chiếm hữu lao động thặng của người khác, bao hàm
bóc lột. Tương tự trong kinh tế tư bản nước ngoài cũng bao hàm hiện tượng bóc lt.
Người lao động đầu dưới hình thc c phiếu, trái phiếu, tin gi ngân hàng
thu được li tc c phn, li tc trái phiếu, li tc tin gi, người làm công tác khoa
hc - k thuật đầu dưới nh thc bng tri thc k thut chuyên môn cao dành
được thu nhp cao, thì nhng nh thc thu nhp này suy cho cùng là phân phi li g
tr thặng dư, bởi h s hu các yếu t này sáng tạo ra. Do đó, không thuộc v bóc lt.
Hin nay, mt s nhà nghiên cu do cách tiếp cn thiên v ch nghĩa thc
chng, không nhm gii tch ngun gc giá tr thặng dư, mà mô tả một cách hc
quá trình luân chuyn, phân phi giá tr tăng thêm của hàng hóa trên th trường. Vì thế,
59
họ thường quan nim bóc lt dưới nhiu hình thức khác nhau, như: Cướp đoạt ln nhau;
tham nhũng; đặc quyền đặc li; thm chí c chuyện người lười nhác bóc lt người
siêng năng; ngưi nghèo bóc lột người giàu, người kém bóc lt người i năng... Đây
mt quan nim không khoa hc. Bi bn thân các thuyết này đã xây dng nên nhng
mô hình toán học để đo độ bt nh đẳng trong phân phi ca ci hi. Trong khi v
mt bn cht trong hin thc hi không th những con người như nhau về sc
khe, hoàn cnh, knăng lao động... cho nên nhng thuyết này ra đời, tuy gii quyết
được mt phần nào đó nhu cầu ca cuc sng thc tiễn, nhưng vẫn sa vào những ước l
thiên v lôgíc hình thc, và nhất là chưa thể phn ánh được đầy đủ, chchưa nói
gii thích đúng bản cht ca các hin tượng kinh tế - xã hi [8; tr. 83].
- Vn dng hc thuyết giá tr thặng của Mác cn thiết li cho s
phát trin kinh tế thị trường định hướng xã hi ch nghĩa ở nước ta.
Cn phi khẳng đnh rng chiếm đot giá tr thặng dư là xấu so vi chế độ không
người bóc lột người chúng ta đang phấn đấu để xây dng ch xây dng được
chừng nào đã to ra mt lực lưng sn xut xã hi cao với năng suất lao động cao hơn
năng suất lao động ca ch nghĩa tư bn hin nay rt nhiều, đó là mt thi k quá độ lâu
dài, không th nóng vội. Nhưng chủ nghĩa bản li tt so vi sn xut nh và sn xut
t cung t cp dựa trên lao động th công. Trong khi phê phán mt tiêu cc ca ch
nghĩa tư bản, C.Mác V.I.Lênnin đồng thi ca ngi công lao to ln ca ch nghĩa
bn ch trong my thế k đã to ra mt lc lượng sn xut khng l bng lực ng sn
xut ca mấy ngàn năm trước đó cng li, đồng thời đã nâng cao trình độ xã hi hoá sn
xut. Và chính C.Mác đã viết: “Chúng ta đau kh không nhng s phát trin ca nn
sn xuất tư bn ch nghĩa, mà còn đau khổ phát triển chưa đầy đủ. Ngoài nhng
tai ho ca thời đại hin nay, chúng ta n phi chu đựng c mt lot nhng tai ho
tha kế do ch phương thức sn xut c xưa li thi vn tiếp tc sng dai dng vi
nhng quan h chính tr và xã hi trái mùa do chúng đẻ ra” [4; tr. 14].
Nước ta la chọn con đường đi lên ch nghĩa xã hi t đim xuất phát nước
tiu nông, nghĩa là t mt nước chưa có nn kinh tế hàng hoá, mc sn xut hàng
hoá. Cái thiếu của đất nước ta, theo cách i ca Mác - không phi và ch yếu là i
đó, mà chính chưa trải qua s ng tr ca cách t chc ca kinh tế xã hi theo kiểu tư
bn ch nghĩa. Nhưng nền kinh tế nước ta là nn kinh tế quá độ lên ch nghĩa xã hi,
do vy “cách t chc ca kinh tế hitheo kiu sn xut hàng hoá cũng mang tính
quá độ. Nghĩa là, trong cùng mt nn kinh tế va có kinh tế hàng hoá vì li ích ca nhân
dân, va kinh tế hàng h li ích của nhân. Nhưng nn kinh tế hàng hoá
o thì sn phm cũng đều mang nh thc giá tr thặng dư, mc chúng phn ánh
nhng quan h xã hi đối lập nhau. Trong đó, giá tr thặng dư phản ánh mi quan h bóc
lt và b bóc lt vẫn được coi nhân t tr th ca ch nghĩa xã hi”, “xúc tiến ch
nghĩa xã hội”, là cái “có ích” và “đáng mong đi”. Vì thế, ct lõi ca vấn đềphi to
điều kin môi trường cho s gia tăng khối lượng giá tr thặng toàn xã hi ngày ng
60
ln, t sut ngày càng cao.
Ngày nay, tri qua thc tin, chúng ta ngày ng nhn thc rõ: “Sn xut hàng
hoá không đi lp vi ch nghĩa xã hi, mà là thành tu phát trin ca nền văn minh
nhân loi, tn ti khách quan, cn thiết cho công cuc xây dng ch nghĩa xã hi c
khi ch nghĩa xã hội đã được xây dng” [2; tr. 97]. Đường li đổi mi của Đảng được
th chế hóa thành pháp lut to hành lang pháp cho vic nh thành phát trin nn
kinh tế thi trường xã hi ch nghĩa.
Trong ng cuc xây dng ch nghĩa xã hi c trong ch nghĩa xã hi vn
còn phm tgiá tr thặng dư. Vì thế, chúng ta phi hc tập các nhà tư bản để sn xut
ra càng nhiu giá tr thặng ng tốt. Điều đó hoàn toàn phù hp vi lun ca
V.I.Lênin: Tri thc v ch nghĩa xã hi t chúng ta có, nhưng chúng ta chưa có tri thc
v t chc vi quy mô hàng triệu người, chưa tri thc v t chc phân phi sn
phm... Cho nên chúng ta nói: hắn tên đại bp bm, nhưng mt khi hn mt
thương nhân đã tng làm công vic t chc sn xut phân phi cho hàng triu
hàng chc triệu người, mt khi hn kinh nghim thì chúng ta phi hc hn[7; tr.
314-315].
Nghiên cứu để khẳng đnh sđúng đắn v lun giá tr thặng không phải để
nhm k th thành phn kinh tế nhân. Ti li, hiu mục đích, bản chất động lc
ca kinh tế tư nhân, để chính sách thích hp, va khuyến khích nó phát trin, va
chính sách qun và điu tiết hợp lý đ s dng kinh tế tư nhân phục v cho s nghip
xây dng ch nghĩa xã hi một nước kém phát triển quá độ lên ch nghĩa xã hi.
Khuyến khích kinh tế nhân không phải mt “thđọan vbéo để làm tht”,
không phi dtư nhân bỏ vốn ra, đầu tư phát trin sn xut, kinh doanh ri li dp”,
“xóa” như trước đây. Li càng không phải để kinh tế tư nhân phát trin t phát theo con
đường bn ch nghĩa. Khai thác động lc kinh tế tư nhân là để phát trin kinh tế th
trường định hướng xã hi ch nghĩa. Có chính sách đúng đắn và bảo đảm mc li nhun
thỏa đáng cho tư nhân. Đây không chỉ mt khon “cng np” mà còn phi coi mt
khon “học phí để hi tiếp xúc vi trang thiết b ng ngh hiện đại, vi
phương pháp tổ chc qun tiên tiến, hiu qu. Hin nay, kinh tế tư nhân ở nước ta
đã đóng góp 60% GDP và thu hút 91% lao đng vic làm trong cả nưc.
Theo tinh thn đó, trong nền kinh tế th trường định hướng hi ch nghĩa
nước ta hin nay, vic vn dng hc thuyết giá tr thặng dư là cần thiết và có li.
2. Những hướng khai thác khi vn dng hc thuyết giá tr thặng của C.Mác
trong quá trình xây dng nn kinh tế thtrường định hướng xã hi ch nghĩa xã
hi Vit Nam hin nay.
Nghiên cu hc thuyết giá tr của C.Mác trong điu kin hin nay, cn nh li
dn ca V.I.Lênin: “Chúng ta không h coi lun của c như là mti gì xong xuôi
61
hn bt kh xâm phm; trái li, chúng ta tin rng lý luận đó chỉ đặt nn móng cho
môn khoa hc mà những người xã hi ch nghĩa cần phi phát trin hơn nữa v mi mt,
nếu h không mun tr thành lc hậu đối vi cuc sng” [6; 232]
Ngày nay, hc thuyết giá tr thặng dư vẫn có ý nghĩa quan trọng trong s nghip
xây dng nn kinh tế trong thi k quá độ lên ch nghĩa xã hi. Vic nghiên cu, vn
dng hc thuyết này ở nước ta tr thành mt vic làm cn thiết, theo các hướng sau đây:
Mt , khai thác nhng di sn lun trong hc thuyết giá tr thng về nn
kinh tế hàng hoá.
Hc thuyết giá tr thặng của Mác đưc xây dng trên sở nghiên cu lch
s nn sn xuất hàng hoá, đặc bit là nn kinh tế hàng hoá tư bn ch nghĩa. Cho nên,
chính Mác ch không phi ai khác là mt trong những người nghiên cu sâu sc v kinh
tế th trường. Nước ta đang phát trin kinh tế hàng hnhiu thành phn vận động theo
chế th trường, có s qun lý của Nhà nước theo định hướng hi ch nghĩa. Mặc
nn kinh tế hàng hoá nước ta những đặc trưng riêng của nó, song đã là sn xut
hàng hthì ở đâu cũng đều có những đặc tính ph biến, cũng phải nói đến giá tr và giá
tr thặng dư. Điu khác nhau ch trong nhng quan h kinh tế khác nhau t giá tr
giá tr thặng dư mang bản cht hi khác nhau. Do vy, vic nghiên cu tính ph biến
tính đặc thù ca nn sn xuất hàng hoá bản, nghiên cu nhng phm trù, quy lut
vic s dng chúng trong nn kinh tế hàng hoá tư bản ch nghĩa từ di sn lun ca
Mác là vic làm nhiu ý nghĩa thực tin ở nước ta hin nay.
Khi phân tích sn xuất hàng hóa tư bn ch nghĩa, Mác cho rằng mi hot động
của bản đu xoay quanh vic tn dng pơng tin bóc lt nhm khai thác ti đa sức
lao động để tăng thêm lao động thặng dư. Do đó, dẫn đến tt yếu kéoi ngày lao động,
tăng cường độ lao động hay ci tiến k thut, ng dng công ngh mi, tăng năng suất
lao động để thêm điều kin thu hút nhiều hơn nữa giá tr thặng dư, nguồn gc m
giàu ca giai cấp sản. Trong hai yếu t ca sn xut hàng hóa, thì sức lao đng là yếu
tbn nht, n tư liu sn xuất là phương tiện cn thiết cho sn xut. Nếu trong
hội tư bản, liu sn xuất đã được tn dụng để tăng hiu qu bóc lt t trong xã hi ta
phải được chú trọng phát huy để đạt năng suất lao động cao - yếu t quyết định s
thng li ca ch nghĩa xã hi. Yếu t thc s to ra ca ci, to ra giá tr giá tr tăng
thêm là người lao động. Người lao đng yếu t năng động, sáng to nht ca lc
lượng sn xut. Chính hđã ci to và làm biến đổi thế gii t nhiên, xã hi chính
bn thân nh, sáng to ra lch s ca mình. Do đó, vấn đề lao động chiến lược con
người đang được các nước toàn thế gii hết sức quan m. Nước ta ngun lao
động dồi dào. Để tạo được bước phát trin nhy vt trong lực lượng sn xut, phi tp
trung mi ngun lực để thc hin chiến lược đào tạo ngun nhân lực đáp ứng được yêu
cu phát trin của đất nước trong thi k đẩy mnh ng nghip hóa, hiện đại hóa. Đại
hi VII của Đảng đã ch rõ: Mục tiêu động lc chính ca s phát trin con
người, do con người, chiến lược phát trin kinh tế - hội đặt con người vào v trí trung
62
tâm...” .Đng thi, phát triển đồng b các loi th trường: tư liu sn xut, liu tu
dùng, sức lao động, vn, tin t.. Xây dng, hoàn chnh h thng pp lut, to môi
trường pháp thun li cho các ch th kinh tế phát trin sn xut, kinh doanh, t do
làm gu trong khuôn kh pháp luật. Điều đó hoàn toàn phù hp vi vic phát trin kinh
tế hàng hóa, kinh tế th trường nước ta hin nay trong quá trình hi nhp kinh tế quc
tế ngày càng sâu rng. Quy mô, thc lc ca nn kinh tế nước ta tăng lên không ngừng
sau 10 năm 2001-2010, quy mô GDP tính theo giá so sánh tăng gấp đôi. Nếu theo giá
thc tế tính bằng đô la Mỹ năm 2010, GDP đạt khong 101,6 t USD, gp 3,26 ln so
với năm 2000 (31,2 t USD). m 2008, GDP bình quân đầu người đt 1.047 USD,
năm 2010 đạt 1.168 USD, gp khong 3 ln so với năm 2000. Việt Nam đã ra khi
nhóm nước có thu nhp thp [3; 151].
Hai là, khai thác nhng luận đim ca Mác nói v quá trình sn xut, thc hin,
phân phi giá tr thặng trong ch nghĩa bản cùng nhng bin pháp, thđoạn nhm
thu được nhiu gtr thặng của các nhà tư bản để p phn vào vic qun thành
phn kinh tế nhân (đặc bit là kinh tế bản nhân) trong nn kinh tế nước ta sao
cho va th khuyến kch phát trin, vừa hướng thành phn kinh tế này đi vào quỹ
đạo ca ch nghĩa xã hội. Điều đó đòi hi cn chính sách thích đáng hiu lc
để thúc đẩy các thành phn kinh tế phát trin vi nhiu loi hình sn xut kinh doanh,
qua đó thu hút nhiu lao động xã hi, s dng nhiu trình độ lao động để to ra nhiu
sn phm tha mãn nhu cu hi. Trước mt, cn giải pháp ưu đãi tài tr vn
cho các doanh nghip va nh (hin nay chiếm 97% trong tng s 500 ngàn doanh
nghip trong nn kinh tế nước ta) [12; tr. 7], tạo điều kin thun li các doanh nghip
này vượt qua khó khăn, vươn lên làm ăn hiu quả. Đng thi tiếp tục đẩy mnh ci
cách hành chính, gim xung mc ti thiu lực lượng sn xut gián tiếp và đặc bit
gim biên chế b máy nhà nước theo hướng tinh gn, hiu qu. Trong từng sở sn
xut, phải đảm bảo có được lao động thặng dư, kiên quyết gii th các doanh nghip nhà
nước sn xut kinh doanh kém hiu qu, gây tht thoát tin vn, tài sn của nhà nước.
Trong các đơn vị sn xut kinh doanh cn đnh mc, bảo đảm gi ng quy
định để cường độ bng mc trung bình ca hội, đồng thi ch cc ci tiến k
thut, ng dng quy trình công ngh mi, ci tiến t chc sn xuất để nâng cao năng
suất lao động. Bi s giàu có ca xã hi được quyết định năng suất lao động thặng dư.
Biện pháp để tăng năng suất lao động thặng dư có ý nghĩa sống còn, bức xúc đối vi s
tăng trưởng phát trin kinh tế bn vững. Đó là con đường để thoát khỏi nguy tụt
hu xa hơn v kinh tế bảo đảm tăng trưởng kinh tế gn vi tiến b công bng
hi trong quá trình phát trin kinh tế thị trường định hướng xã hi ch nghĩa ở nước ta.
Ba là, khai tc di sn lun ca Mác nói v quá trình t chc sn xut tái
sn xuất bản ch nghĩa với tính cách mt nn sn xut ln gn vi quá trình hi
hóa sn xut ngàyng cao nhm to ra khối lượng giá tr thặng dư ngày càng ln.
Khi phân tích giá tr thng tương đối, Mác đã trình bày các giai đon phát
63
trin ca ch nghĩa bản trong công nghip với các đặc điểm, ưu thế và v t lch s
ca từng giai đọan. Vic nghiên cu các giai đoạn đó giúp chúng ta nhiu bài hc b ích
trong quá trình t chc sn xut một đất nước sn xut nh còn ph biến. Chng
hn, hip tác giản đơn là điểm khi đầu ca sn xut ca ch nghĩa tư bản, tác dng
quan trng trong vic khẳng định bước chuyn lên sn xut lớn. Nhưng trong hip tác
đó quy mô tập trung tư liu sn xut sức lao động ch hiu qu khi mang tính
tt yếu kinh tế, khi hiu qu, khi có tinh thn t nguyn, t giác tht s của người lao
động. Nó đòi hi vai tch huy năng động, ng to, biết qun sn xut kinh doanh.
đòi hi phải tăng cường qu không chia, to ra các liu sn xut buc phi tiến
hành lao đng tp th...
Hip tác gin đơn nhiều bài hc b ích thì giai đoạn công trường th công và
đại công nghip càng nhiu ý nghĩa thực tin đi với nước ta. Công trường th công,
giai đon chun bcho đại công nghiệp khí ra đời trên các mt: Chun bđưa máy
móc thay thế lao động th công, chun b đội ngũ quản đội ngũ công nhân kỹ thut,
chun b th trường cho công nghip ln phát trin. Nhng tng kết đó của Mác v quá
tnh phát trin ca ch nghĩa tư bn vn còn nguyên giá tr đối với nước ta hiện nay, đó
là:
+ Để nâng cao năng suất lao động thặng dư, sản xut phải được t chc thành
mt dây chuyn cht ch gia những người lao động đã được bố t đúng năng khiếu, s
trường vào các b phnng việc, người trước cung cp công việc cho người sau, người
sau kim tra công vic của người trước. Vi t chức đó, người lao động chđược s
dng mt lượng thi gian cn thiết cho ng vic ca nh, tđó doanh nghiệp th
tính ngay được thời gian lao động cn thiết phi hao phí cho một đơn vị sn phm, to
điều kin thun li cho cnh tranh.
+ Trong điu kin hin nay nước ta phi coi trọng phân công lao động, phân
công phi thích ng vi k thut mi php vi từng đơn vị, tng ngành toàn
hi, m rng hợp tác phân công lao động quc tế. Phân ng lao đng phải đảm bo
thúc đẩy và to điu kin cho s phát trin hp lý ca các ngành, ngh trong xã hội, đảm
bo chuyên môn hóa và năng suất lao động cao trong từng đơn vị.
+ Trên cơ sở nhng vấn đề được coi là tt yếu ca quá trình lch s t nhiên, đặc
bit là mt t chc - kinh tế, vn dng vào nn kinh tế nước ta trong thi k quá độ lên
ch nghĩa xã hi, nhằm thúc đẩy nhanh quá trình xã hội hoá theo định hướng xã hi ch
nghĩa từ mt nn sn xut nh tr thành nn sn xut ln sn xut ra ngày càng nhiu
giá tr thặng dư, thực hin nhim v trung tâm ca thi kquá độ công nghip hoá,
hiện đại hđất nước để xây dng sở vt cht k thut cho ch nghĩa xã hi, thúc
đẩy tăng trưởng kinh tế để không ngừng nâng cao đời sng vt cht và tinh thn ca
nhânn.
Bn là, thu hi giá tr thặng và định hướng xã hi ch nghĩa trong điu kin
64
cho phép bóc lt giá tr thng dư. Điều này đã được V.I.Lênin trình bày qua lun
kinh nghim ch đo thc tin ở nước Nga Xô Viết. Vấn đề đặt ra đối với nước ta là:
- Thu hồi được ca cng np mt cách đúng đắn, đầy đủ không b tht thoát.
- Ngăn chặn được nhng ma lc hút nn kinh tế chch khi quđạo hi ch
nghĩa.
- Phimt nhà nước mnh.
nước ta hin nay, đẩy mnh hi hoá sn xuất theo định hướng XHCN t
mt nn sn xut nh lên nn sn xut lớn để sn xut ra ngày ng nhiu giá tr thng
dư, cần phi:
+ Làm cho kinh tế nnước gi vai trò chđạo cùng vi kinh tế tp th
tr thành nn tng ca nn kinh tế quc dân.
+ Khuyến khích tạo điều kiện để các thành phn kinh tế khai thác tối đa các
ngun lc: vn, sức lao động, công ngh hiện đại, kinh nghim tiên tiến phc v cho
công nghip hoá, hiện đại hoá, nâng cao hiu qu kinh tế hi, ci thin nâng
cao đời sng cho nhân dân.
+ Thc hin nhiu hình thc phân phi, ly phân phi theo lao động và hiu qu
kinh tế là ch yếu; tha nhận thuê mướn lao động nhưng không đểtr thành quan h
thng tr.
+ Gi vng vai tlãnh đạo của Đảng Cng sn Việt Nam, tăng cường hiu lc
qun vĩ mô của Nhà nước; phát huy mt tích cc hn chế mt tiêu cc của chế
th trường; khuyến khích làm giàu hợp pháp đi đôi với x đói gim nghèo, tránh s
phân hxã hi thành hai cực đối lập, không để chênh lch quá ln v mc sng và
tnh độ phát trin gia các vùng, các tng lớp dân cư, kết hợp tăng trưởng kinh tế vi
tiến b và công bng xã hi ngay trong từng bưc và tng chính sách phát trin.
T vic nghiên cu hc thuyết giá tr thặng dư của C.Mác theo cách tiếp cn trên,
đề tài rút ra mt s kết luận sau đây:
Mt là, hc thuyết giá tr thặng - hc thuyết v bn cht bóc lt và địa v lch
s ca ch nghĩa tư bn vẫn là cơ sở phương pp luận để nhn thức đúng ch nghĩa
bn hiện đại. Hc thuyết đó có ý nghĩa luận thc tin quan trng trong quá trình
xây dng nn kinh tế trong thi k quá độ Vit Nam.
Hai là, thi k quá độ lên ch nghĩa xã hi nn kinh tế c ta trong mt chng
mực nào đó, quan h bóc lt chưa thể xóa b ngay. Chng nào quan h bóc lt còn
tác dng gii phóng sc sn xuất và thúc đẩy lực lượng sn xut phát trin, thì chừng đó
nước ta còn phi chp nhn s hin din ca nó.
Ba là, trong quá tnh phát trin nn kinh tế th trường định hướng hi ch
nghĩa, đường li chtrương chính sách của Đảng Nhà nước phải đưc th chế hóa
65
thành lut. Lut pháp phi là ng csở để điều chnh các nh vi xã hi. Bo
đảm ai chấp hành đúng pháp luật t được hi tha nhn n vinh, p phn y
dng mt xã hi dân giàu, nước mnh, dân ch, công bằng, văn minh. Trong qun xã
hội, Nhà nước phi xây dng được cơ chế và chế tài đủ mạnh để kim soát cht ch thu
nhp nhân, thu nhp ca các doanh nghip thuc tt c các tnh phn kinh tế nhm,
mt mt, chng tht thu thuế, mặt khác, đảm bo s công bng trong phân phi thông
qua Nhà nước và bng c kênh” phân phi lại và điu tiết thu nhp xã hi. Qua đó, góp
phn vào vic gii phóng sc sn xut, to đng lc phát trin kinh tế và chđộng hi
nhp nn kinh tế thế gii.
Bn là, phát trin kinh tế th trường nhưng phải bo v được quyn li chính
đáng của c người lao động ln gii ch s dụng lao động bng lut bng chế tài c
th phù hp với điều kin lch s c th trong tng giai đon phát trin ca nn kinh tế.
Bo vđược nhng quyn li chính đáng, nhng quyn lợi được pháp lut bo v, ca
tt c các bên trong quan hệ lao động là s hin thc hóa có hiu qu vic vn dng mt
cách hp hc thuyết giá tr thng của C.Mác trong điu kin hin nay, là s đóng
góp thiết thực bn nht cho c quá trình hoàn thin và xây dng mô hình kinh tế th
trường định hướng xã hi ch nghĩa ở Vit Nam.
TÀI LIU THAM KHO
1. Đảng cng sn Vit Nam, Văn kiện Đại hi VII, Nxb. Chính tr quc gia, H.1991.
2. Đảng cng sn Vit Nam, Văn kiện Đại hi VIII, Nxb. Chính tr quc gia, H.1996.
3. Đảng cng sn Vit Nam, Văn kiện Đại hi XI, Nxb. Chính tr quc gia, H.2011.
4. Các Mác, Tư bản, tp th nht, phn 2, quyn I, Nxb. Tiến bộ, Matxcơva- S tht,
H.1984.
5. Các Mác, Tư bản, tp th nht, phn 1, quyn I, Nxb. Tiến bộ, Matxcơva- S tht,
H.1984.
6. V.I Lê nin: Toàn tp, tp 4, Nxb. Tiến b, Matxcơva- S tht, H.1974.
7. V.I Lê nin: Toàn tp, tp 36, Nxb. Tiến b, Matxcơva- S tht, H.1977.
8. Xuân Bình, Vấn đề bóc lt giá tr thặng dư và quan hệ giữa tư bản và lao động hin
nay, Tp chí Cng sn, s 9, tháng 5 năm 2006.
9. Bùi Ngọc Chưởng, Ý nghĩa ngày nay ca hc thuyết gtr thặng của C.Mác, Tp
chí Cng sn, số 9, tháng 5 năm 2005.
10. Hc vin chính tr Quc gia H Chí Minh - Phân vin thành ph H Chí Minh, Hc
thuyết giá tr thng của C.Mác, Nxb. Chính tr quc gia, H.1997.
66
11. PGS.TS Đỗ Thế Tùng, Hc thuyết giá tr thặng vn gi nguyên tính khoa hc
tính thi s, Tp chí Nghiên cu lý lun, tháng 2/1993.
12. Báo Thanh niên, ngày 18-10-2010.
THE NECESSILY AND WAYS TO EXPLOIT K.WARX’S
THEORY OF SURPLUS VALUE IN THE PROCESS OF
BUILDING A SOCIALIST - ORIENTED MARKET ECONOMY
IN VIETNAM TODAY
Le Quang Dien
College of Economics, Hue University
Abstract. This paper analyses the necessity of K.Marx’s theory of surplus value
and ways to exploit this theory in the process of building a socialist-oriented
market economy in Vietnam. From these, significant conclusions which are
important to the development of our country’s economy today are drawn.

Preview text:

TẠP CHÍ KHOA HỌC, Đại học Huế, tập 72B, số 3, năm 2012
SỰ CẦN THIẾT VÀ NHỮNG HƯỚNG KHAI THÁC
KHI VẬN DỤNG HỌC THUYẾT GIÁ TRỊ THẶNG DƯ CỦA C.MÁC
TRONG QUÁ TRÌNH XÂY DỰNG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG
ĐỊNH HƯỚNG XÃ HỘI CHỦ NGHĨA Ở VIỆT NAM HIỆN NAY Lê Quang Diên
Trường Đại học Kinh tế, Đại học Huế
Tóm tắt. Bài viết phân tích làm rõ sự cần thiết và những hướng khai thác học
thuyết giá trị thặng dư của C.Mác trong quá trình xây dựng nền kinh tế thị trường
định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam. Từ đó, rút ra những kết luận có ý nghĩa
thực tiễn quan trọng đối với sự phát triển nền kinh tế ở nước ta hiện nay.
Học thuyết giá trị thặng dư của C.Mác ra đời trên cơ sở nghiên cứu phương thức
sản xuất tư bản chủ nghĩa. Học thuyết đó đã vạch trần thực chất bóc lột tư bản chủ nghĩa
và cội nguồn đối lập kinh tế giữa giai cấp vô sản và giai cấp tư sản, vũ trang cho giai
cấp vô sản lý luận cách mạng sắc bén trong cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa tư bản.
Song, ý nghĩa thực tiễn của học thuyết giá trị thặng dư không dừng ở đó. Ngày nay, từ
quan điểm đổi mới về chủ nghĩa xã hội, học thuyết này còn có ý nghĩa quan trọng trong
sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội. Việc vận dụng học thuyết giá trị thặng dư là một
quá trình lâu dài và có nhiều nội dung cần được nghiên cứu để đảm bảo tính khoa học,
phù hợp với thực tiễn ở Việt Nam. Trong giới hạn của bài báo, tác giả chủ yếu tập trung
nghiên cứu làm rõ sự cần thiết và những hướng khai thác khi vận dụng học thuyết giá trị
thặng dư trong quá trình xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay.
1. Sự cần thiết vận dụng học thuyết giá trị thặng dư trong thời kỳ quá độ lên chủ
nghĩa xã hội ở nước ta hiện nay.

- Cần nhận thức đúng khái niệm bóc lột và bóc lột giá trị thặng dư khi vận dụng
thuyết giá trị thặng dư của C.Mác.
Khi đất nước chuyển sang nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần vận động theo
cơ chế thị trường, việc vận dụng học thuyết giá trị thặng dư của Mác trước hết phải
nhận thức đúng khái niệm bóc lột và bóc lột giá trị thặng dư trong học thuyết Mác. Từ
đó, có cơ sở khoa học để luận giải những hiện tượng kinh tế của xã hội hiện nay.
“Bóc lột” là một bộ phận người trong xã hội hoặc tập đoàn xã hội nào đó, chiếm
đoạt không có bồi thường thành quả lao động của một người khác hoặc của tập đoàn xã 57
hội. Do đó, thuộc tính bản chất của bóc lột là “chiếm hữu không có bồi thường”, nhưng
việc “chiếm hữu không có bồi thường” thành quả lao động của người khác hoặc tập
đoàn xã hội, không chỉ dựa vào tư liệu sản xuất hoặc tư bản tiền tệ, mà cũng có thể
thông qua bạo lực, quyền lực, chinh phục bằng vũ lực để đạt tới mục đích chiếm đoạt
không có bồi thường thành quả lao động của người khác.
Theo Mác, việc bóc lột lao động đều có trong tất cả các hình thái xã hội từ trước
tới nay vận động trong những mâu thuẫn giai cấp. Nhưng chỉ khi nào sản phẩm của lao
động thặng dư đó mang hình thái giá trị thặng dư (tức bộ phận giá trị mới dôi ra ngoài
giá trị sức lao động của công nhân làm thuê tạo ra bị nhà tư bản chiếm không), chỉ khi
nào kẻ sở hữu tư liệu sản xuất tìm ra được người công nhân tự do, với tư cách là đối
tượng bóc lột, và bóc lột người công nhân đó nhằm mục đích sản xuất ra hàng hoá để
thu được giá trị tăng thêm, chỉ khi đó mới là bóc lột giá trị thặng dư, tư liệu sản xuất
mới mang tính chất đặc biệt là tư bản. Và điều đó chỉ diễn ra trên quy mô lớn từ cuối thế
kỷ XV và đầu thế kỷ XVI.
Mác cho rằng, bất kỳ một loại hình bóc lột nào trong giai đoạn lịch sử nhất định
của xã hội loài người đều có tính lịch sử, hơn nữa ông còn chỉ rõ: một trong những mặt
văn minh của tư bản là phương thức và điều kiện mà nó bóp nặn lao động thặng dư so
với các hình thức của chế độ nô lệ và chế độ nông nô trước đây đều có lợi hơn cho sự
phát triển sức sản xuất, có lợi cho sự phát triển quan hệ xã hội, có lợi cho việc sáng tạo
ra các yếu tố sản xuất hình thái mới cao cấp hơn.
Trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta hiện nay,
với nhiều thành phần kinh tế, không thể phủ nhận chủ doanh nghiệp tư nhân cũng như
đông đảo công nhân, nông dân, trí thức đều là người xây dựng nhà nước xã hội chủ
nghĩa, thông qua hoạt động sản xuất kinh doanh hợp pháp đã góp phần thúc đẩy lực
lượng sản xuất phát triển và nâng cao mức sống của nhân dân. Tuy nhiên, xét một cách
biện chứng thì thu nhập của chủ doanh nghiệp tư nhân, nhất là những doanh nghiệp loại
lớn và loại vừa, ngoài bộ nhận tiền lương tương ứng với thu nhập của lao động phức tạp
(lao động quản lý, lao động kỹ thuật), còn bao hàm lợi nhuận nhiều hơn (tức giá trị
thặng dư). Lợi nhuận này là sự chiếm hữu lao động thặng dư của người khác, bao hàm
bóc lột. Tương tự trong kinh tế tư bản nước ngoài cũng bao hàm hiện tượng bóc lột.
Người lao động đầu tư dưới hình thức cổ phiếu, trái phiếu, tiền gửi ngân hàng
thu được lợi tức cổ phần, lợi tức trái phiếu, lợi tức tiền gửi, người làm công tác khoa
học - kỹ thuật đầu tư dưới hình thức bằng tri thức và kỹ thuật chuyên môn cao dành
được thu nhập cao, thì những hình thức thu nhập này suy cho cùng là phân phối lại giá
trị thặng dư, bởi họ sở hữu các yếu tố này sáng tạo ra. Do đó, không thuộc về bóc lột.
Hiện nay, có một số nhà nghiên cứu do cách tiếp cận thiên về chủ nghĩa thực
chứng, không nhằm giải thích nguồn gốc giá trị thặng dư, mà mô tả một cách cơ học
quá trình luân chuyển, phân phối giá trị tăng thêm của hàng hóa trên thị trường. Vì thế, 58
họ thường quan niệm bóc lột dưới nhiều hình thức khác nhau, như: Cướp đoạt lẫn nhau;
tham nhũng; đặc quyền đặc lợi; thậm chí có cả chuyện người lười nhác bóc lột người
siêng năng; người nghèo bóc lột người giàu, người kém bóc lột người tài năng... Đây là
một quan niệm không khoa học. Bởi bản thân các lý thuyết này đã xây dựng nên những
mô hình toán học để đo độ bất bình đẳng trong phân phối của cải xã hội. Trong khi về
mặt bản chất trong hiện thực xã hội không thể có những con người như nhau về sức
khỏe, hoàn cảnh, kỹ năng lao động... cho nên những lý thuyết này ra đời, tuy giải quyết
được một phần nào đó nhu cầu của cuộc sống thực tiễn, nhưng vẫn sa vào những ước lệ
và thiên về lôgíc hình thức, và nhất là chưa thể phản ánh được đầy đủ, chứ chưa nói là
giải thích đúng bản chất của các hiện tượng kinh tế - xã hội [8; tr. 83].
- Vận dụng học thuyết giá trị thặng dư của Mác là cần thiết và có lợi cho sự
phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta.
Cần phải khẳng định rằng chiếm đoạt giá trị thặng dư là xấu so với chế độ không
có người bóc lột người mà chúng ta đang phấn đấu để xây dựng và chỉ xây dựng được
chừng nào đã tạo ra một lực lượng sản xuất xã hội cao với năng suất lao động cao hơn
năng suất lao động của chủ nghĩa tư bản hiện nay rất nhiều, đó là một thời kỳ quá độ lâu
dài, không thể nóng vội. Nhưng chủ nghĩa tư bản lại tốt so với sản xuất nhỏ và sản xuất
tự cung tự cấp dựa trên lao động thủ công. Trong khi phê phán mặt tiêu cực của chủ
nghĩa tư bản, C.Mác và V.I.Lênnin đồng thời ca ngợi công lao to lớn của chủ nghĩa tư
bản chỉ trong mấy thế kỷ đã tạo ra một lực lượng sản xuất khổng lồ bằng lực lượng sản
xuất của mấy ngàn năm trước đó cộng lại, đồng thời đã nâng cao trình độ xã hội hoá sản
xuất. Và chính C.Mác đã viết: “Chúng ta đau khổ không những vì sự phát triển của nền
sản xuất tư bản chủ nghĩa, mà còn đau khổ vì nó phát triển chưa đầy đủ. Ngoài những
tai hoạ của thời đại hiện nay, chúng ta còn phải chịu đựng cả một loạt những tai hoạ
thừa kế do chỗ phương thức sản xuất cổ xưa lỗi thời vẫn tiếp tục sống dai dẳng với
những quan hệ chính trị và xã hội trái mùa do chúng đẻ ra” [4; tr. 14].
Nước ta lựa chọn con đường đi lên chủ nghĩa xã hội từ điểm xuất phát là nước
tiểu nông, nghĩa là từ một nước chưa có nền kinh tế hàng hoá, mặc dù có sản xuất hàng
hoá. Cái thiếu của đất nước ta, theo cách nói của Mác - không phải là và chủ yếu là cái
đó, mà chính là chưa trải qua sự ngự trị của cách tổ chức của kinh tế xã hội theo kiểu tư
bản chủ nghĩa. Nhưng nền kinh tế nước ta là nền kinh tế quá độ lên chủ nghĩa xã hội,
do vậy “cách tổ chức của kinh tế xã hội” theo kiểu sản xuất hàng hoá cũng mang tính
quá độ. Nghĩa là, trong cùng một nền kinh tế vừa có kinh tế hàng hoá vì lợi ích của nhân
dân, vừa có kinh tế hàng hoá vì lợi ích của tư nhân. Nhưng dù là nền kinh tế hàng hoá
nào thì sản phẩm cũng đều mang hình thức giá trị thặng dư, mặc dù chúng phản ánh
những quan hệ xã hội đối lập nhau. Trong đó, giá trị thặng dư phản ánh mối quan hệ bóc
lột và bị bóc lột vẫn được coi là nhân tố “trợ thủ của chủ nghĩa xã hội”, “xúc tiến chủ
nghĩa xã hội”, là cái “có ích” và “đáng mong đợi”. Vì thế, cốt lõi của vấn đề là phải tạo
điều kiện môi trường cho sự gia tăng khối lượng giá trị thặng dư toàn xã hội ngày càng 59
lớn, tỷ suất ngày càng cao.
Ngày nay, trải qua thực tiễn, chúng ta ngày càng nhận thức rõ: “Sản xuất hàng
hoá không đối lập với chủ nghĩa xã hội, mà là thành tựu phát triển của nền văn minh
nhân loại, tồn tại khách quan, cần thiết cho công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội và cả
khi chủ nghĩa xã hội đã được xây dựng” [2; tr. 97]. Đường lối đổi mới của Đảng được
thể chế hóa thành pháp luật tạo hành lang pháp lý cho việc hình thành và phát triển nền
kinh tế thi trường xã hội chủ nghĩa.
Trong công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội và cả trong chủ nghĩa xã hội vẫn
còn phạm trù giá trị thặng dư. Vì thế, chúng ta phải học tập các nhà tư bản để sản xuất
ra càng nhiều giá trị thặng dư càng tốt. Điều đó hoàn toàn phù hợp với lý luận của
V.I.Lênin: “Tri thức về chủ nghĩa xã hội thì chúng ta có, nhưng chúng ta chưa có tri thức
về tổ chức với quy mô hàng triệu người, chưa có tri thức về tổ chức và phân phối sản
phẩm... Cho nên chúng ta nói: dù hắn là tên đại bịp bợm, nhưng một khi hắn là một
thương nhân đã từng làm công việc tổ chức sản xuất và phân phối cho hàng triệu và
hàng chục triệu người, một khi hắn có kinh nghiệm thì chúng ta phải học ở hắn” [7; tr. 314-315].
Nghiên cứu để khẳng định sự đúng đắn về lý luận giá trị thặng dư không phải để
nhằm kỳ thị thành phần kinh tế tư nhân. Trái lại, hiểu rõ mục đích, bản chất động lực
của kinh tế tư nhân, để có chính sách thích hợp, vừa khuyến khích nó phát triển, vừa có
chính sách quản lý và điều tiết hợp lý để sử dụng kinh tế tư nhân phục vụ cho sự nghiệp
xây dựng chủ nghĩa xã hội ở một nước kém phát triển quá độ lên chủ nghĩa xã hội.
Khuyến khích kinh tế tư nhân không phải là một “thủ đọan vỗ béo để làm thịt”,
không phải dụ tư nhân bỏ vốn ra, đầu tư phát triển sản xuất, kinh doanh rồi lại “dẹp”,
“xóa” như trước đây. Lại càng không phải để kinh tế tư nhân phát triển tự phát theo con
đường tư bản chủ nghĩa. Khai thác động lực kinh tế tư nhân là để phát triển kinh tế thị
trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Có chính sách đúng đắn và bảo đảm mức lợi nhuận
thỏa đáng cho tư nhân. Đây không chỉ là một khoản “cống nộp” mà còn phải coi là một
khoản “học phí” để có cơ hội tiếp xúc với trang thiết bị và công nghệ hiện đại, với
phương pháp tổ chức quản lý tiên tiến, có hiệu quả. Hiện nay, kinh tế tư nhân ở nước ta
đã đóng góp 60% GDP và thu hút 91% lao động việc làm trong cả nước.
Theo tinh thần đó, trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở
nước ta hiện nay, việc vận dụng học thuyết giá trị thặng dư là cần thiết và có lợi.
2. Những hướng khai thác khi vận dụng học thuyết giá trị thặng dư của C.Mác
trong quá trình xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa xã
hội ở Việt Nam hiện nay.

Nghiên cứu học thuyết giá trị của C.Mác trong điều kiện hiện nay, cần nhớ lời
dặn của V.I.Lênin: “Chúng ta không hề coi lý luận của Mác như là một cái gì xong xuôi 60
hẳn và bất khả xâm phạm; trái lại, chúng ta tin rằng lý luận đó chỉ đặt nền móng cho
môn khoa học mà những người xã hội chủ nghĩa cần phải phát triển hơn nữa về mọi mặt,
nếu họ không muốn trở thành lạc hậu đối với cuộc sống” [6; 232]
Ngày nay, học thuyết giá trị thặng dư vẫn có ý nghĩa quan trọng trong sự nghiệp
xây dựng nền kinh tế trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Việc nghiên cứu, vận
dụng học thuyết này ở nước ta trở thành một việc làm cần thiết, theo các hướng sau đây:
Một là, khai thác những di sản lý luận trong học thuyết giá trị thặng dư về nền kinh tế hàng hoá.
Học thuyết giá trị thặng dư của Mác được xây dựng trên cơ sở nghiên cứu lịch
sử nền sản xuất hàng hoá, đặc biệt là nền kinh tế hàng hoá tư bản chủ nghĩa. Cho nên,
chính Mác chứ không phải ai khác là một trong những người nghiên cứu sâu sắc về kinh
tế thị trường. Nước ta đang phát triển kinh tế hàng hoá nhiều thành phần vận động theo
cơ chế thị trường, có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Mặc
dù nền kinh tế hàng hoá ở nước ta có những đặc trưng riêng của nó, song đã là sản xuất
hàng hoá thì ở đâu cũng đều có những đặc tính phổ biến, cũng phải nói đến giá trị và giá
trị thặng dư. Điều khác nhau chỉ là trong những quan hệ kinh tế khác nhau thì giá trị và
giá trị thặng dư mang bản chất xã hội khác nhau. Do vậy, việc nghiên cứu tính phổ biến
và tính đặc thù của nền sản xuất hàng hoá tư bản, nghiên cứu những phạm trù, quy luật
và việc sử dụng chúng trong nền kinh tế hàng hoá tư bản chủ nghĩa từ di sản lý luận của
Mác là việc làm có nhiều ý nghĩa thực tiễn ở nước ta hiện nay.
Khi phân tích sản xuất hàng hóa tư bản chủ nghĩa, Mác cho rằng mọi hoạt động
của tư bản đều xoay quanh việc tận dụng phương tiện bóc lột nhằm khai thác tối đa sức
lao động để tăng thêm lao động thặng dư. Do đó, dẫn đến tất yếu kéo dài ngày lao động,
tăng cường độ lao động hay cải tiến kỹ thuật, ứng dụng công nghệ mới, tăng năng suất
lao động để có thêm điều kiện thu hút nhiều hơn nữa giá trị thặng dư, nguồn gốc làm
giàu của giai cấp tư sản. Trong hai yếu tố của sản xuất hàng hóa, thì sức lao động là yếu
tố cơ bản nhất, còn tư liệu sản xuất là phương tiện cần thiết cho sản xuất. Nếu trong xã
hội tư bản, tư liệu sản xuất đã được tận dụng để tăng hiệu quả bóc lột thì trong xã hội ta
nó phải được chú trọng phát huy để đạt năng suất lao động cao - yếu tố quyết định sự
thắng lợi của chủ nghĩa xã hội. Yếu tố thực sự tạo ra của cải, tạo ra giá trị và giá trị tăng
thêm là người lao động. Người lao động là yếu tố năng động, sáng tạo nhất của lực
lượng sản xuất. Chính họ đã cải tạo và làm biến đổi thế giới tự nhiên, xã hội và chính
bản thân mình, sáng tạo ra lịch sử của mình. Do đó, vấn đề lao động và chiến lược con
người đang được các nước và toàn thế giới hết sức quan tâm. Nước ta có nguồn lao
động dồi dào. Để tạo được bước phát triển nhảy vọt trong lực lượng sản xuất, phải tập
trung mọi nguồn lực để thực hiện chiến lược đào tạo nguồn nhân lực đáp ứng được yêu
cầu phát triển của đất nước trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Đại
hội VII của Đảng đã chỉ rõ: “Mục tiêu và động lực chính của sự phát triển là vì con
người, do con người, chiến lược phát triển kinh tế - xã hội đặt con người vào vị trí trung 61
tâm...” .Đồng thời, phát triển đồng bộ các loại thị trường: tư liệu sản xuất, tư liệu tiêu
dùng, sức lao động, vốn, tiền tệ.. Xây dựng, hoàn chỉnh hệ thống pháp luật, tạo môi
trường pháp lý thuận lợi cho các chủ thể kinh tế phát triển sản xuất, kinh doanh, tự do
làm giàu trong khuôn khổ pháp luật. Điều đó hoàn toàn phù hợp với việc phát triển kinh
tế hàng hóa, kinh tế thị trường ở nước ta hiện nay trong quá trình hội nhập kinh tế quốc
tế ngày càng sâu rộng. Quy mô, thực lực của nền kinh tế nước ta tăng lên không ngừng
sau 10 năm 2001-2010, quy mô GDP tính theo giá so sánh tăng gấp đôi. Nếu theo giá
thực tế tính bằng đô la Mỹ năm 2010, GDP đạt khoảng 101,6 tỷ USD, gấp 3,26 lần so
với năm 2000 (31,2 tỷ USD). Năm 2008, GDP bình quân đầu người đạt 1.047 USD,
năm 2010 đạt 1.168 USD, gấp khoảng 3 lần so với năm 2000. Việt Nam đã ra khỏi
nhóm nước có thu nhập thấp [3; 151].
Hai là, khai thác những luận điểm của Mác nói về quá trình sản xuất, thực hiện,
phân phối giá trị thặng dư trong chủ nghĩa tư bản cùng những biện pháp, thủ đoạn nhằm
thu được nhiều giá trị thặng dư của các nhà tư bản để góp phần vào việc quản lý thành
phần kinh tế tư nhân (đặc biệt là kinh tế tư bản tư nhân) trong nền kinh tế nước ta sao
cho vừa có thể khuyến khích phát triển, vừa hướng thành phần kinh tế này đi vào quỹ
đạo của chủ nghĩa xã hội. Điều đó đòi hỏi cần có chính sách thích đáng và có hiệu lực
để thúc đẩy các thành phần kinh tế phát triển với nhiều loại hình sản xuất kinh doanh,
qua đó thu hút nhiều lao động xã hội, sử dụng nhiều trình độ lao động để tạo ra nhiều
sản phẩm thỏa mãn nhu cầu xã hội. Trước mắt, cần có giải pháp ưu đãi và tài trợ vốn
cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ (hiện nay chiếm 97% trong tổng số 500 ngàn doanh
nghiệp trong nền kinh tế nước ta) [12; tr. 7], tạo điều kiện thuận lợi các doanh nghiệp
này vượt qua khó khăn, vươn lên làm ăn có hiệu quả. Đồng thời tiếp tục đẩy mạnh cải
cách hành chính, giảm xuống mức tối thiểu lực lượng sản xuất gián tiếp và đặc biệt
giảm biên chế bộ máy nhà nước theo hướng tinh gọn, hiệu quả. Trong từng cơ sở sản
xuất, phải đảm bảo có được lao động thặng dư, kiên quyết giải thể các doanh nghiệp nhà
nước sản xuất kinh doanh kém hiệu quả, gây thất thoát tiền vốn, tài sản của nhà nước.
Trong các đơn vị sản xuất kinh doanh cần có định mức, bảo đảm giờ công quy
định để có cường độ bằng mức trung bình của xã hội, đồng thời tích cực cải tiến kỹ
thuật, ứng dụng quy trình công nghệ mới, cải tiến tổ chức sản xuất để nâng cao năng
suất lao động. Bởi sự giàu có của xã hội được quyết định ở năng suất lao động thặng dư.
Biện pháp để tăng năng suất lao động thặng dư có ý nghĩa sống còn, bức xúc đối với sự
tăng trưởng và phát triển kinh tế bền vững. Đó là con đường để thoát khỏi nguy cơ tụt
hậu xa hơn về kinh tế và bảo đảm tăng trưởng kinh tế gắn với tiến bộ và công bằng xã
hội trong quá trình phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta.
Ba là, khai thác di sản lý luận của Mác nói về quá trình tổ chức sản xuất và tái
sản xuất tư bản chủ nghĩa với tính cách là một nền sản xuất lớn gắn với quá trình xã hội
hóa sản xuất ngày càng cao nhằm tạo ra khối lượng giá trị thặng dư ngày càng lớn.
Khi phân tích giá trị thặng dư tương đối, Mác đã trình bày rõ các giai đoạn phát 62
triển của chủ nghĩa tư bản trong công nghiệp với các đặc điểm, ưu thế và vị trí lịch sử
của từng giai đọan. Việc nghiên cứu các giai đoạn đó giúp chúng ta nhiều bài học bổ ích
trong quá trình tổ chức sản xuất ở một đất nước mà sản xuất nhỏ còn phổ biến. Chẳng
hạn, hiệp tác giản đơn là điểm khởi đầu của sản xuất của chủ nghĩa tư bản, có tác dụng
quan trọng trong việc khẳng định bước chuyển lên sản xuất lớn. Nhưng trong hiệp tác
đó quy mô tập trung tư liệu sản xuất và sức lao động chỉ có hiệu quả khi nó mang tính
tất yếu kinh tế, khi có hiệu quả, khi có tinh thần tự nguyện, tự giác thật sự của người lao
động. Nó đòi hỏi vai trò chỉ huy năng động, sáng tạo, biết quản lý sản xuất kinh doanh.
Nó đòi hỏi phải tăng cường quỹ không chia, tạo ra các tư liệu sản xuất buộc phải tiến
hành lao động tập thể...
Hiệp tác giản đơn có nhiều bài học bổ ích thì giai đoạn công trường thủ công và
đại công nghiệp càng có nhiều ý nghĩa thực tiễn đối với nước ta. Công trường thủ công,
giai đoạn chuẩn bị cho đại công nghiệp cơ khí ra đời trên các mặt: Chuẩn bị đưa máy
móc thay thế lao động thủ công, chuẩn bị đội ngũ quản lý và đội ngũ công nhân kỹ thuật,
chuẩn bị thị trường cho công nghiệp lớn phát triển. Những tổng kết đó của Mác về quá
trình phát triển của chủ nghĩa tư bản vẫn còn nguyên giá trị đối với nước ta hiện nay, đó là:
+ Để nâng cao năng suất lao động thặng dư, sản xuất phải được tổ chức thành
một dây chuyền chặt chẽ giữa những người lao động đã được bố trí đúng năng khiếu, sở
trường vào các bộ phận công việc, người trước cung cấp công việc cho người sau, người
sau kiểm tra công việc của người trước. Với tổ chức đó, người lao động chỉ được sử
dụng một lượng thời gian cần thiết cho công việc của mình, từ đó doanh nghiệp có thể
tính ngay được thời gian lao động cần thiết phải hao phí cho một đơn vị sản phẩm, tạo
điều kiện thuận lợi cho cạnh tranh.
+ Trong điều kiện hiện nay ở nước ta phải coi trọng phân công lao động, phân
công phải thích ứng với kỹ thuật mới phù hợp với từng đơn vị, từng ngành và toàn xã
hội, mở rộng hợp tác phân công lao động quốc tế. Phân công lao động phải đảm bảo
thúc đẩy và tạo điều kiện cho sự phát triển hợp lý của các ngành, nghề trong xã hội, đảm
bảo chuyên môn hóa và năng suất lao động cao trong từng đơn vị.
+ Trên cơ sở những vấn đề được coi là tất yếu của quá trình lịch sử tự nhiên, đặc
biệt là mặt tổ chức - kinh tế, vận dụng vào nền kinh tế nước ta trong thời kỳ quá độ lên
chủ nghĩa xã hội, nhằm thúc đẩy nhanh quá trình xã hội hoá theo định hướng xã hội chủ
nghĩa từ một nền sản xuất nhỏ trở thành nền sản xuất lớn sản xuất ra ngày càng nhiều
giá trị thặng dư, thực hiện nhiệm vụ trung tâm của thời kỳ quá độ là công nghiệp hoá,
hiện đại hoá đất nước để xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật cho chủ nghĩa xã hội, thúc
đẩy tăng trưởng kinh tế để không ngừng nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân.
Bốn là, thu hồi giá trị thặng dư và định hướng xã hội chủ nghĩa trong điều kiện 63
cho phép bóc lột giá trị thặng dư. Điều này đã được V.I.Lênin trình bày qua lý luận và
kinh nghiệm chỉ đạo thực tiễn ở nước Nga Xô Viết. Vấn đề đặt ra đối với nước ta là:
- Thu hồi được của cống nạp một cách đúng đắn, đầy đủ không bị thất thoát.
- Ngăn chặn được những ma lực hút nền kinh tế chệch khỏi quỹ đạo xã hội chủ nghĩa.
- Phải có một nhà nước mạnh.
Ở nước ta hiện nay, đẩy mạnh xã hội hoá sản xuất theo định hướng XHCN từ
một nền sản xuất nhỏ lên nền sản xuất lớn để sản xuất ra ngày càng nhiều giá trị thặng dư, cần phải:
+ Làm cho kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo và nó cùng với kinh tế tập thể
trở thành nền tảng của nền kinh tế quốc dân.
+ Khuyến khích và tạo điều kiện để các thành phần kinh tế khai thác tối đa các
nguồn lực: vốn, sức lao động, công nghệ hiện đại, kinh nghiệm tiên tiến phục vụ cho
công nghiệp hoá, hiện đại hoá, nâng cao hiệu quả kinh tế và xã hội, cải thiện và nâng
cao đời sống cho nhân dân.
+ Thực hiện nhiều hình thức phân phối, lấy phân phối theo lao động và hiệu quả
kinh tế là chủ yếu; thừa nhận thuê mướn lao động nhưng không để nó trở thành quan hệ thống trị.
+ Giữ vững vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, tăng cường hiệu lực
quản lý vĩ mô của Nhà nước; phát huy mặt tích cực và hạn chế mặt tiêu cực của cơ chế
thị trường; khuyến khích làm giàu hợp pháp đi đôi với xoá đói giảm nghèo, tránh sự
phân hoá xã hội thành hai cực đối lập, không để chênh lệch quá lớn về mức sống và
trình độ phát triển giữa các vùng, các tầng lớp dân cư, kết hợp tăng trưởng kinh tế với
tiến bộ và công bằng xã hội ngay trong từng bước và từng chính sách phát triển.
Từ việc nghiên cứu học thuyết giá trị thặng dư của C.Mác theo cách tiếp cận trên,
đề tài rút ra một số kết luận sau đây:
Một là, học thuyết giá trị thặng dư - học thuyết về bản chất bóc lột và địa vị lịch
sử của chủ nghĩa tư bản vẫn là cơ sở phương pháp luận để nhận thức đúng chủ nghĩa tư
bản hiện đại. Học thuyết đó có ý nghĩa lý luận và thực tiễn quan trọng trong quá trình
xây dựng nền kinh tế trong thời kỳ quá độ ở Việt Nam.
Hai là, thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội nền kinh tế nước ta trong một chừng
mực nào đó, quan hệ bóc lột chưa thể xóa bỏ ngay. Chừng nào quan hệ bóc lột còn có
tác dụng giải phóng sức sản xuất và thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển, thì chừng đó
nước ta còn phải chấp nhận sự hiện diện của nó.
Ba là, trong quá trình phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ
nghĩa, đường lối chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước phải được thể chế hóa 64
thành luật. Luật pháp phải là công cụ và cơ sở để điều chỉnh các hành vi xã hội. Bảo
đảm ai chấp hành đúng pháp luật thì được xã hội thừa nhận và tôn vinh, góp phần xây
dựng một xã hội dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh. Trong quản lý xã
hội, Nhà nước phải xây dựng được cơ chế và chế tài đủ mạnh để kiểm soát chặt chẽ thu
nhập cá nhân, thu nhập của các doanh nghiệp thuộc tất cả các thành phần kinh tế nhằm,
một mặt, chống thất thu thuế, mặt khác, đảm bảo sự công bằng trong phân phối thông
qua Nhà nước và bằng cả “kênh” phân phối lại và điều tiết thu nhập xã hội. Qua đó, góp
phần vào việc giải phóng sức sản xuất, tạo động lực phát triển kinh tế và chủ động hội
nhập nền kinh tế thế giới.
Bốn là, phát triển kinh tế thị trường nhưng phải bảo vệ được quyền lợi chính
đáng của cả người lao động lẫn giới chủ sử dụng lao động bằng luật và bằng chế tài cụ
thể phù hợp với điều kiện lịch sử cụ thể trong từng giai đoạn phát triển của nền kinh tế.
Bảo vệ được những quyền lợi chính đáng, những quyền lợi được pháp luật bảo vệ, của
tất cả các bên trong quan hệ lao động là sự hiện thực hóa có hiệu quả việc vận dụng một
cách hợp lý học thuyết giá trị thặng dư của C.Mác trong điều kiện hiện nay, là sự đóng
góp thiết thực cơ bản nhất cho cả quá trình hoàn thiện và xây dựng mô hình kinh tế thị
trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Đảng cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội VII, Nxb. Chính trị quốc gia, H.1991.
2. Đảng cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội VIII, Nxb. Chính trị quốc gia, H.1996.
3. Đảng cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội XI, Nxb. Chính trị quốc gia, H.2011.
4. Các Mác, Tư bản, tập thứ nhất, phần 2, quyển I, Nxb. Tiến bộ, Matxcơva- Sự thật, H.1984.
5. Các Mác, Tư bản, tập thứ nhất, phần 1, quyển I, Nxb. Tiến bộ, Matxcơva- Sự thật, H.1984.
6. V.I Lê nin: Toàn tập, tập 4, Nxb. Tiến bộ, Matxcơva- Sự thật, H.1974.
7. V.I Lê nin: Toàn tập, tập 36, Nxb. Tiến bộ, Matxcơva- Sự thật, H.1977.
8. Lê Xuân Bình, Vấn đề bóc lột giá trị thặng dư và quan hệ giữa tư bản và lao động hiện
nay, Tạp chí Cộng sản, số 9, tháng 5 năm 2006.
9. Bùi Ngọc Chưởng, Ý nghĩa ngày nay của học thuyết giá trị thặng dư của C.Mác, Tạp
chí Cộng sản, số 9, tháng 5 năm 2005.
10. Học viện chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh - Phân viện thành phố Hồ Chí Minh, Học
thuyết giá trị thặng dư của C.Mác, Nxb. Chính trị quốc gia, H.1997. 65
11. PGS.TS Đỗ Thế Tùng, Học thuyết giá trị thặng dư vẫn giữ nguyên tính khoa học và
tính thời sự, Tạp chí Nghiên cứu lý luận, tháng 2/1993.
12. Báo Thanh niên, ngày 18-10-2010.
THE NECESSILY AND WAYS TO EXPLOIT K.WARX’S
THEORY OF SURPLUS VALUE IN THE PROCESS OF
BUILDING A SOCIALIST - ORIENTED MARKET ECONOMY IN VIETNAM TODAY Le Quang Dien
College of Economics, Hue University
Abstract. This paper analyses the necessity of K.Marx’s theory of surplus value
and ways to exploit this theory in the process of building a socialist-oriented
market economy in Vietnam. From these, significant conclusions which are
important to the development of our country’s economy today are drawn. 66