1. Khái niệm:
- An tử (euthanasia) hay còn được gọi là cái chết êm ái, đó là hành động để kết
thúc sự sống bằng những biện pháp ít đau đớn nhất có thể, thường dành cho những
bệnh nhân gần như hoặc không thể chữa được
-Quyền an tử là một thuật ngữ pháp lý đề cập đến quyền của một người được
quyết định kết thúc cuộc sống của mình với sự hỗ trợ của chủ thể có thẩm quyền,
khi người này mắc bệnh nan y, rơi vào trạng thái bệnh lý không có khả năng chữa
trị, đau đớn cùng cực
(Nguồn: Trần Thị Hiền Lương. . An tử và vấn đề hợp pháp hóa quyền an tử ở Việt Nam
7d128d9a-522d-40ee-b7b1-eeca2cd0a749.pdf, 2020.)
2. Quyền an tử ở một số quốc gia:
Hiện nay, quyền an tử được công nhận hoặc cho phép dưới các hình thức khác nhau ở
một số nước, trước hết mình sẽ đi tìm hiểu về quốc gia đầu tiên trên thế giới hợp pháp
hóa quyền an tử là Hà Lan:
2.1. Hà Lan
Hà Lan hợp pháp hóa quyền an tử vào năm 2002 với Luật kiểm soát chấm dứt sinh mạng
và trợ tử theo yêu cầu. An tử có thể được thực hiện hợp pháp ở Hà Lan nếu đáp ứng các
điều kiện:
Bệnh nhân phải yêu cầu an tử . được xem xét một cách tự nguyện và có ý thức
thận trọng và được lặp lại và không có bất kỳ áp lực bên ngoài nào
Bệnh nhân phải đang trải qua sự đau đớn không thể chịu đựng được và không có
biện pháp giảm đau đớn
Yêu cầu an tử phải được xác nhận bởi ít nhất hai bác sĩ. Ngoài ra, an tử đối với
trẻ em trên 12 tuổi cũng được phép, nhưng từ 12 đến 16 tuổi đòi hỏi có sự chấp
thuận của cha mẹ
Sau khi thực hiện an tử, bác sĩ phải báo cáo với một hội đồng đánh giá, bao gồm
một bác sĩ, một nhà luật học và một chuyên gia đạo đức. Hội đồng này sẽ xem xét
vụ việc để đảm bảo rằng luật đã được tuân thủ.
Đối với người bị bệnh tâm thần không còn khả năng quyết, yêu cầu an tử phải
được chuẩn bị từ trước khi họ còn đủ minh mẫn
2.2. Bỉ
Bỉ là quốc gia thứ hai trên thế giới, sau Hà Lan, hợp pháp hóa quyền an tử vào năm 2002.
Quyền an tử tại Bỉ được cho phép đối với cả bệnh nhân người lớn và trẻ em
không giới hạn độ tuổi, nhưng đối với trẻ em, phải có sự đồng ý của cha mẹ đồng
thời không thể chịu được đau đớn do bệnh tật không thể chữa khỏi gây ra.
Bệnh nhân phải ở trong tình trạng không thể cứu chữa và phải chịu đau đớn
về mặt thể chất hoặc tinh thần không thể giảm nhẹ.
Giống như Hà Lan, yêu cầu an tử phải được thực hiện một cách tự nguyện và rõ
ràng, đồng thời được xác nhận bởi hai bác sĩ.
Người mắc bệnh tâm thần cần có các đánh giá chặt chẽ. Nếu một bệnh nhân mắc
bệnh tâm thần, nhưng không phải giai đoạn cuối, thì cần phải có sự xác nhận từ
một chuyên gia về tâm lý rằng họ vẫn có khả năng đưa ra quyết định đúng đắn.
2.3. Thụy Sĩ
Thụy Sĩ không chính thức hợp pháp hóa an tử, nhưng cũng không hoàn toàn cấm
đoán.
Tại Thụy Sĩ, hỗ trợ tự tử là hợp pháp nếu không có động cơ tư lợi, có nghĩa là
người hỗ trợ không thể hưởng lợi về tài chính hay lợi ích cá nhân từ cái chết của
bệnh nhân.
Các bác sĩ không trực tiếp tiêm thuốc, mà chỉ cung cấp cho bệnh nhân loại thuốc
giúp họ tự kết thúc sự sống.
2.4. Úc
Bang Victoria là nơi đầu tiên ở Úc hợp pháp hóa trợ tử vào năm 2017. Các điều kiện để
thi hành an tử bao gồm:
Bệnh nhân phải mắc bệnh giai đoạn cuối, đau đớn nghiêm trọng và không thể chịu
đựng được. Thường thì bệnh nhân phải có thời gian sống còn lại dưới 6 tháng
(hoặc dưới 12 tháng với các bệnh thần kinh).
Bệnh nhân phải tự nguyện yêu cầu trợ tử và có đủ năng lực để đưa ra quyết định
này. Yêu cầu cần được thực hiện nhiều lần trong một khoảng thời gian để tránh
các quyết định bốc đồng.
Hai bác sĩ độc lập phải đánh giá và xác nhận rằng bệnh nhân đáp ứng các tiêu chí
pháp lý, bao gồm việc bệnh nhân đủ năng lực nhận thức và không chịu áp lực từ
bên ngoài.
Sau khi được chấp thuận, bệnh nhân có thể tự dùng thuốc an tử hoặc được bác sĩ
trợ giúp trong việc sử dụng
3. Có nên hay không hợp pháp hóa quyền an tử ở Việt Nam:
Để trả lời cho câu hỏi có nên hay không hợp pháp hóa quyền an tử, trước hết chúng ta
phải đặt quyền an tử vào mối quan hệ với luật nhân quyền quốc tế.
3.1. Mối quan hệ giữa quyền an tử và pháp luật nhân quyền quốc tế:
- Quyền sống và quyền an tử
+ Pháp luật nhân quyền quốc tế chỉ ra rằng quyền sống là quyền có mối quan
hệ gần gũi nhất với quyền an tử.
+Theo khoản 1 điều 6 ICCPR: “Mọi người đều có quyền cố hữu là được
sống. Quyền này phải được pháp luật bảo vệ. Không ai có thể bị tước
mạng sống một cách tùy tiện” ( cố hữu tức là vốn có, gắn liền với con
người)
+Nếu xem quyền được sống là bắt buộc, tức chỉ có duy nhất một cách thực
hiện là phải hưởng thụ quyền mà không được từ bỏ, Như vậy, ở trường
hợp này quyền an tử sẽ đi ngược lại với quyền sống.
+Nếu được coi là mang tính tùy nghi, chủ thể của quyền sống sẽ có quyền
lựa chọn hưởng thụ hoặc từ bỏ (tức không hưởng thụ quyền được sống).
Trong trường hợp này, quyền an tử không mâu thuẫn mà song hành với
quyền sống.
- Quyền không bị tra tấn và bị đối xử vô nhân đạo và quyền an tử
+ Điều 7 ICCPR quy định: “Không ai có thể bị tra tấn, đối xử hoặc trừng
phạt một cách tàn ác, vô nhân đạo hoặc hạ thấp nhân phẩm. Đặc biệt,
không ai có thể bị sử dụng để làm thí nghiệm y học hoặc khoa học mà
không có sự đồng ý tự nguyện của người đó”.
+ Nếu xét ở góc độ:
Một người bệnh mắc bệnh nan y không thể cứu chữa, để giải phóng
nỗi đau cùng cực của bệnh nhân thì an tử là một cái chết nhân đạo
Các phương pháp thực hiện an tử ngày nay là kết quả của một quá
trình nghiên cứu lâu dài và theo quy định chặt chẽ của pháp luật,
không tồn tại dưới dạng thí nghiệm y học
Thực hiện an tử xuất phát từ tính chủ ý của người bệnh, hoàn
toàn không có tính cưỡng ép.
Từ những phân tích trên, quyền an tử về cơ bản không đi ngược lại
với quyền không bị tra tấn và đối xử vô nhân đạo
- Quan điểm của các tổ chức nhân quyền
+ Các tổ chức nhân quyền quốc tế có quan điểm khác nhau về quyền an tử,
một số tổ chức vận động cho quyền lựa chọn chết, cho rằng việc ngăn cản
quyền an tử có thể vi phạm quyền cơ bản về tự do và phẩm giá của con
người.
-Kết luận: Từ những điều trên, ta có thể thấy dù chưa được đề cập trong các văn
bản pháp luật quốc tế về quyền con người, tuy nhiên nhìn một cách tổng thể, có
thể thấy quyền an tử không mâu thuẫn với luật nhân quyền quốc tế.
3.2. Lí do nên hợp pháp hóa quyền an tử:
- Giảm nỗi đau cho bệnh nhân:
+Nỗi đau về thể xác: Những bệnh nhân mắc các bệnh hiểm nghèo không thể
cứu chữa ngay cả khi sử dụng các biện pháp giảm đau vẫn phải chịu đựng
sự giày vò, đau đớn rất lâu trước khi qua đời
+Nỗi đau về tinh thần: Việc phụ thuộc quá nhiều vào người thân trong thời
gian dài cũng khiến cho bệnh nhân cảm thấy áy náy, buồn phiền
- Giảm gánh nặng cho người than:
+Áp lực tài chính: Các khoản chi phí lớn liên quan đến điều trị kéo dài có
thể gây ra áp lực cho gia đình
+Áp lực tâm lý: Việc chứng kiến người thân của mình đau đớn từng ngày,
từng giờ và biết chắc y học không thể chữa trị được sẽ khiến người nhà
bệnh nhân khổ sở, mệt mỏi, dằn vặt theo
- Giảm áp lực cho hệ thống y tế:
+Tiết kiệm nguồn lực y tế: Những bệnh nhân không còn cơ hội phục hồi sẽ
không phải tiêu tốn các nguồn lực y tế khan hiếm, vốn có thể được phân bổ
cho những bệnh nhân có cơ hội cứu chữa cao hơn
+Giảm áp lực cho nhân viên y tế: Việc phải chăm sóc các bệnh nhân đã
không thể cứu chữa sẽ gây áp lực, căng thẳng đến công việc, thời gian, sức
lực của các y bác sĩ, trong bối cảnh số lượng bệnh nhân đang điều trị bệnh
hiểm nghèo tại VN tăng cao
3.3. Tranh cãi về quyền an tử và một số điều kiện có thể đặt ra để thực hiện
quyền an tử:
-Tranh cãi:
+Việc hợp pháp hóa quyền an tử sẽ khiến bệnh nhân không còn tinh thần
chiến đấu chống lại bệnh tật, buông xuôi mọi đau đớn để chấm dứt bằng
một cái chết êm ái trong khi vẫn còn khả năng chữa trị
+Gia đình trốn tránh nghĩa vụ chăm sóc, nuôi dưỡng người bệnh, hoặc
nhằm mục đích tranh giành gia sản, ép buộc người thân ký vào giấy đề
nghị an tử. Với trường hợp này, quyền an tử sẽ biến tướng trở thành một
công cụ giết người có chủ đích
+Những người đang đối diện với tình trạng vỡ nợ, không thể chi trả các
khoản nợ đã vay sẽ lợi dụng quyền an tử để trốn nợ
-Một số điều kiện có thể đặt ra để thực hiện quyền an tử:
+ Người có nguyện vọng thực hiện quyền an tử phải có đầy đủ năng lực hành
vi dân sự, tức là từ đủ 18 tuổi trở lên, đưa ra yêu cầu chấm dứt cuộc sống
trong tình trạng tỉnh táo, chủ động và tự nguyện.
+ Trong trường hợp người bệnh đã và đang sống thực vật, người chưa thành
niên mắc bệnh nan y không thể cứu chữa, tất cả các thành viên trong gia
đình phải lập văn bản đề nghị an tử có chữ ký của tất cả thành viên( những
người có đầy đủ năng lực hành vi dân sự).
+ Bệnh nhân mắc bệnh nan y đến mức các bệnh viện tuyến trung ương của
Việt Nam xác nhận là không thể cứu chữa và không thể chịu đựng nỗi đau
thể xác.
+ Người mong muốn được chết phải không trực tiếp hoặc gián tiếp liên quan
trong các giao dịch về tài chính hoặc đang có nghĩa vụ phải trả nợ.
+ Người mong muốn được chết không vi phạm pháp luật hoặc đang trong
thời kì bị truy tố, xét xử hay đang chấp hành các loại hình phạt (Thể hiện sự
khách quan, công bằng đối với mọi công dân trong xã hội và tính nghiêm
minh của pháp luật. Chỉ đến khi người mong muốn được chết không còn
bất kì nghĩa vụ với nhà nước thì họ mới có quyền tự quyết định vấn đề tồn
tại hay không tồn tại.)

Preview text:

1. Khái niệm:
- An tử (euthanasia) hay còn được gọi là cái chết êm ái, đó là hành động để kết
thúc sự sống bằng những biện pháp ít đau đớn nhất có thể, thường dành cho những
bệnh nhân gần như hoặc không thể chữa được
-Quyền an tử là một thuật ngữ pháp lý đề cập đến quyền của một người được
quyết định kết thúc cuộc sống của mình với sự hỗ trợ của chủ thể có thẩm quyền,
khi người này mắc bệnh nan y, rơi vào trạng thái bệnh lý không có khả năng chữa
trị, đau đớn cùng cực
(Nguồn: Trần Thị Hiền Lương. An tử và vấn đề hợp pháp hóa quyền an tử ở Việt Nam.
7d128d9a-522d-40ee-b7b1-eeca2cd0a749.pdf, 2020.)
2. Quyền an tử ở một số quốc gia:
Hiện nay, quyền an tử được công nhận hoặc cho phép dưới các hình thức khác nhau ở
một số nước, trước hết mình sẽ đi tìm hiểu về quốc gia đầu tiên trên thế giới hợp pháp
hóa quyền an tử là Hà Lan: 2.1. Hà Lan
Hà Lan hợp pháp hóa quyền an tử vào năm 2002 với Luật kiểm soát chấm dứt sinh mạng
và trợ tử theo yêu cầu. An tử có thể được thực hiện hợp pháp ở Hà Lan nếu đáp ứng các điều kiện:
● Bệnh nhân phải yêu cầu an tử một cách tự nguyện và có ý thức. được xem xét
thận trọng và được lặp lại và không có bất kỳ áp lực bên ngoài nào
● Bệnh nhân phải đang trải qua sự đau đớn không thể chịu đựng được và không có
biện pháp giảm đau đớn
Yêu cầu an tử phải được xác nhận bởi ít nhất hai bác sĩ. Ngoài ra, an tử đối với
trẻ em trên 12 tuổi cũng được phép, nhưng từ 12 đến 16 tuổi đòi hỏi có sự chấp thuận của cha mẹ
● Sau khi thực hiện an tử, bác sĩ phải báo cáo với một hội đồng đánh giá, bao gồm
một bác sĩ, một nhà luật học và một chuyên gia đạo đức. Hội đồng này sẽ xem xét
vụ việc để đảm bảo rằng luật đã được tuân thủ.
Đối với người bị bệnh tâm thần không còn khả năng quyết, yêu cầu an tử phải
được chuẩn bị từ trước khi họ còn đủ minh mẫn 2.2. Bỉ
Bỉ là quốc gia thứ hai trên thế giới, sau Hà Lan, hợp pháp hóa quyền an tử vào năm 2002.
● Quyền an tử tại Bỉ được cho phép đối với cả bệnh nhân người lớn và trẻ em
không giới hạn độ tuổi, nhưng đối với trẻ em, phải có sự đồng ý của cha mẹ đồng
thời không thể chịu được đau đớn do bệnh tật không thể chữa khỏi gây ra.
● Bệnh nhân phải ở trong tình trạng không thể cứu chữa và phải chịu đau đớn
về mặt thể chất hoặc tinh thần không thể giảm nhẹ.
● Giống như Hà Lan, yêu cầu an tử phải được thực hiện một cách tự nguyện và rõ
ràng, đồng thời được xác nhận bởi hai bác sĩ.
Người mắc bệnh tâm thần cần có các đánh giá chặt chẽ. Nếu một bệnh nhân mắc
bệnh tâm thần, nhưng không phải giai đoạn cuối, thì cần phải có sự xác nhận từ
một chuyên gia về tâm lý rằng họ vẫn có khả năng đưa ra quyết định đúng đắn. 2.3. Thụy Sĩ
Thụy Sĩ không chính thức hợp pháp hóa an tử, nhưng cũng không hoàn toàn cấm đoán.
Tại Thụy Sĩ, hỗ trợ tự tử là hợp pháp nếu không có động cơ tư lợi, có nghĩa là
người hỗ trợ không thể hưởng lợi về tài chính hay lợi ích cá nhân từ cái chết của bệnh nhân.
Các bác sĩ không trực tiếp tiêm thuốc, mà chỉ cung cấp cho bệnh nhân loại thuốc
giúp họ tự kết thúc sự sống. 2.4. Úc
Bang Victoria là nơi đầu tiên ở Úc hợp pháp hóa trợ tử vào năm 2017. Các điều kiện để thi hành an tử bao gồm:
● Bệnh nhân phải mắc bệnh giai đoạn cuối, đau đớn nghiêm trọng và không thể chịu
đựng được. Thường thì bệnh nhân phải có thời gian sống còn lại dưới 6 tháng
(hoặc dưới 12 tháng với các bệnh thần kinh).
● Bệnh nhân phải tự nguyện yêu cầu trợ tử và có đủ năng lực để đưa ra quyết định
này. Yêu cầu cần được thực hiện nhiều lần trong một khoảng thời gian để tránh
các quyết định bốc đồng.
● Hai bác sĩ độc lập phải đánh giá và xác nhận rằng bệnh nhân đáp ứng các tiêu chí
pháp lý, bao gồm việc bệnh nhân đủ năng lực nhận thức và không chịu áp lực từ bên ngoài.
● Sau khi được chấp thuận, bệnh nhân có thể tự dùng thuốc an tử hoặc được bác sĩ
trợ giúp trong việc sử dụng
3. Có nên hay không hợp pháp hóa quyền an tử ở Việt Nam:
Để trả lời cho câu hỏi có nên hay không hợp pháp hóa quyền an tử, trước hết chúng ta
phải đặt quyền an tử vào mối quan hệ với luật nhân quyền quốc tế. 3.1.
Mối quan hệ giữa quyền an tử và pháp luật nhân quyền quốc tế:
- Quyền sống và quyền an tử
+ Pháp luật nhân quyền quốc tế chỉ ra rằng quyền sống là quyền có mối quan
hệ gần gũi nhất với quyền an tử.
+Theo khoản 1 điều 6 ICCPR: “Mọi người đều có quyền cố hữu là được
sống. Quyền này phải được pháp luật bảo vệ. Không ai có thể bị tước
mạng sống một cách tùy tiện” ( cố hữu
tức là vốn có, gắn liền với con người)
+Nếu xem quyền được sống là bắt buộc, tức chỉ có duy nhất một cách thực
hiện là phải hưởng thụ quyền mà không được từ bỏ, Như vậy, ở trường
hợp này quyền an tử sẽ đi ngược lại với quyền sống.

+Nếu được coi là mang tính tùy nghi, chủ thể của quyền sống sẽ có quyền
lựa chọn hưởng thụ hoặc từ bỏ (tức không hưởng thụ quyền được sống).
Trong trường hợp này, quyền an tử không mâu thuẫn mà song hành với quyền sống.
- Quyền không bị tra tấn và bị đối xử vô nhân đạo và quyền an tử
+ Điều 7 ICCPR quy định: “Không ai có thể bị tra tấn, đối xử hoặc trừng
phạt một cách tàn ác, vô nhân đạo hoặc hạ thấp nhân phẩm. Đặc biệt,
không ai có thể bị sử dụng để làm thí nghiệm y học hoặc khoa học mà
không có sự đồng ý tự nguyện của người đó”.
+ Nếu xét ở góc độ:
● Một người bệnh mắc bệnh nan y không thể cứu chữa, để giải phóng
nỗi đau cùng cực của bệnh nhân thì an tử là một cái chết nhân đạo
● Các phương pháp thực hiện an tử ngày nay là kết quả của một quá
trình nghiên cứu lâu dài và theo quy định chặt chẽ của pháp luật,
không tồn tại dưới dạng thí nghiệm y học
Thực hiện an tử xuất phát từ tính chủ ý của người bệnh, hoàn
toàn không có tính cưỡng ép.
● Từ những phân tích trên, quyền an tử về cơ bản không đi ngược lại
với quyền không bị tra tấn và đối xử vô nhân đạo
- Quan điểm của các tổ chức nhân quyền
+ Các tổ chức nhân quyền quốc tế có quan điểm khác nhau về quyền an tử,
một số tổ chức vận động cho quyền lựa chọn chết, cho rằng việc ngăn cản
quyền an tử có thể vi phạm quyền cơ bản về tự do và phẩm giá của con người.
-Kết luận: Từ những điều trên, ta có thể thấy dù chưa được đề cập trong các văn
bản pháp luật quốc tế về quyền con người, tuy nhiên nhìn một cách tổng thể, có
thể thấy quyền an tử không mâu thuẫn với luật nhân quyền quốc tế. 3.2.
Lí do nên hợp pháp hóa quyền an tử:
- Giảm nỗi đau cho bệnh nhân:
+Nỗi đau về thể xác: Những bệnh nhân mắc các bệnh hiểm nghèo không thể
cứu chữa ngay cả khi sử dụng các biện pháp giảm đau vẫn phải chịu đựng
sự giày vò, đau đớn rất lâu trước khi qua đời
+Nỗi đau về tinh thần: Việc phụ thuộc quá nhiều vào người thân trong thời
gian dài cũng khiến cho bệnh nhân cảm thấy áy náy, buồn phiền
- Giảm gánh nặng cho người than:
+Áp lực tài chính: Các khoản chi phí lớn liên quan đến điều trị kéo dài có
thể gây ra áp lực cho gia đình
+Áp lực tâm lý: Việc chứng kiến người thân của mình đau đớn từng ngày,
từng giờ và biết chắc y học không thể chữa trị được sẽ khiến người nhà
bệnh nhân khổ sở, mệt mỏi, dằn vặt theo
- Giảm áp lực cho hệ thống y tế:
+Tiết kiệm nguồn lực y tế: Những bệnh nhân không còn cơ hội phục hồi sẽ
không phải tiêu tốn các nguồn lực y tế khan hiếm, vốn có thể được phân bổ
cho những bệnh nhân có cơ hội cứu chữa cao hơn
+Giảm áp lực cho nhân viên y tế: Việc phải chăm sóc các bệnh nhân đã
không thể cứu chữa sẽ gây áp lực, căng thẳng đến công việc, thời gian, sức
lực của các y bác sĩ, trong bối cảnh số lượng bệnh nhân đang điều trị bệnh
hiểm nghèo tại VN tăng cao 3.3.
Tranh cãi về quyền an tử và một số điều kiện có thể đặt ra để thực hiện quyền an tử: -Tranh cãi:
+Việc hợp pháp hóa quyền an tử sẽ khiến bệnh nhân không còn tinh thần
chiến đấu chống lại bệnh tật, buông xuôi mọi đau đớn để chấm dứt bằng
một cái chết êm ái trong khi vẫn còn khả năng chữa trị
+Gia đình trốn tránh nghĩa vụ chăm sóc, nuôi dưỡng người bệnh, hoặc
nhằm mục đích tranh giành gia sản, ép buộc người thân ký vào giấy đề
nghị an tử. Với trường hợp này, quyền an tử sẽ biến tướng trở thành một
công cụ giết người có chủ đích
+Những người đang đối diện với tình trạng vỡ nợ, không thể chi trả các
khoản nợ đã vay sẽ lợi dụng quyền an tử để trốn nợ
-Một số điều kiện có thể đặt ra để thực hiện quyền an tử:
+ Người có nguyện vọng thực hiện quyền an tử phải có đầy đủ năng lực hành
vi dân sự, tức là từ đủ 18 tuổi trở lên, đưa ra yêu cầu chấm dứt cuộc sống
trong tình trạng tỉnh táo, chủ động và tự nguyện.
+ Trong trường hợp người bệnh đã và đang sống thực vật, người chưa thành
niên mắc bệnh nan y không thể cứu chữa, tất cả các thành viên trong gia
đình phải lập văn bản đề nghị an tử có chữ ký của tất cả thành viên( những
người có đầy đủ năng lực hành vi dân sự).
+ Bệnh nhân mắc bệnh nan y đến mức các bệnh viện tuyến trung ương của
Việt Nam xác nhận là không thể cứu chữa và không thể chịu đựng nỗi đau thể xác.
+ Người mong muốn được chết phải không trực tiếp hoặc gián tiếp liên quan
trong các giao dịch về tài chính hoặc đang có nghĩa vụ phải trả nợ.
+ Người mong muốn được chết không vi phạm pháp luật hoặc đang trong
thời kì bị truy tố, xét xử hay đang chấp hành các loại hình phạt (Thể hiện sự
khách quan, công bằng đối với mọi công dân trong xã hội và tính nghiêm
minh của pháp luật. Chỉ đến khi người mong muốn được chết không còn
bất kì nghĩa vụ với nhà nước thì họ mới có quyền tự quyết định vấn đề tồn
tại hay không tồn tại.)