Tạp chí Khoa học xã hội Việt Nam, số 8(81) - 2014
50
S DNG MẠNG XÃ HỘI TRONG SINH VIÊN VIT NAM
TRẦN THỊ MINH ĐỨC
*
BÙI THỊ HỒNG THÁI
**
Tóm tắt: Hiện nay, mạng hội (MXH) đang phát triển mạnh Việt Nam.
Trong đó, những người sử dụng chủ yếu là thanh thiếu niên và sinh viên. Bài
viết trình bày một số kết quả về: 1/ Thực trạng sử dụng MXH trong sinh viên,
2/ Bảo mật thông tin trên MXH, 3/ Nhu cầu sử dụng MXH 4/ Những áp lực
sinh viên (SV) có thể gặp phải khi sử dụng MXH. Từ số liệu điều tra bằng
bảng hỏi trên 4.205 sinh viên sử dụng MXH 6 thành phố lớn, các tác giả
đã chỉ ra: trong các MXH sinh viên thường dùng thì Facebook được sử dụng
nhiều nhất (chiếm 86,6%), với thời gian sử dụng trải dài từ 1 giờ đến dưới 5
giờ/ngày. Sinh viên sử dụng mạng xã hội chủ yếu cho nhu cầu tương tác và giải
trí, mặc mức độ chịu áp lực từ việc sử dụng mạng hội sinh viên chưa
đáng báo động, nhưng khi sinh viên càng nhu cầu sử dụng mạng hội cao
thì họ càng dễ có nguy cơ chịu áp lực từ MXH.
T ka: Mạng xã hội; sinh viên; bảo mật; nhu cầu; áp lực.
1. Đặt vấn đề
Ở Việt Nam, những năm gần đây, các
mạng hội phát triển mạnh thu hút
một lượng lớn người sử dụng, chủ yếu là
thanh thiếu niên sinh viên. Mạng
hội tạo ra một hệ thống kết nối các
thành viên cùng sở thích với nhiều mục
đích khác nhau, không phân biệt không
gian thời gian với những tính năng
như kết bạn, chat, e-mail, phim ảnh,
voice chat dựa trên nền Internet. Nghiên
cứu về MXH tại Việt Nam chưa nhiều
gần như chưa nghiên cứu về MXH
với SV ở quy mô lớn.
Để tìm hiểu về việc sử dụng mạng
hội trong SV Việt Nam, chúng tôi đã
tiến hành phương pháp điều tra bằng
bảng hỏi trên 4.247 SV từ năm thứ nhất
tới năm thứ 4 với tuổi trung bình
20,42 (trong đó, nam: 1.791 người -
chiếm 43,2% nữ 2.359 người -
chiếm 56,8%) 6 thành phố lớn
Nội, Hải Phòng, Vinh, Huế, Đà Nẵng
thành phố Hồ Chí Minh.
(*)
Trong khuôn
khổ bài báo y, chúng tôi chỉ trình bày
một số kết quả về: 1/ Thực trạng sử
dụng MXH trong SV, 2/ Bảo mật thông
tin trên MXH, 3/ Nhu cầu sử dụng MXH
4/ Những áp lực SV thể gặp phải
khi sử dụng MXH.
(*)
Giáo sư, tiến sĩ, Trường Đại học Khoa học
Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội.
(**)
Tiến sĩ, Trường Đại học Khoa học Xã hội
Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội.
Sử dụng mạng xã hội trong sinh viên Việt Nam
51
Các số liệu điều tra được xử
phân tích bằng phần mềm SPSS 16.0.
Đối với phần thực trạng sử dụng vấn
đề bảo mật thông tin trên MXH của SV,
phương pháp xử số liệu tập trung vào
các phép toán thống tả (tính điểm
trung bình, chỉ số phần trăm của các
phương án lựa chọn tương quan
chéo). Chúng tôi sử dụng phân tích
thống suy luận (phân tích tương quan
nhị biến) khi xem xét số liệu về nhu cầu
áp lực sử dụng mạng hội. 2
phần này, chúng tôi sử dụng thang
Likert 4 bậc. Điểm trung bình của c
item hoặc các biến cho thấy tương
quan thuận giữa các nhu cầu sử dụng
MXH hoặc các áp lực sử dụng MXH khi
so sánh với nhau. Nghiên cứu dùng phép
phân tích nhân tố cho hai thang đo y
nhằm tìm ra các nhóm nhu cầu các
nhóm áp lực. Dựa vào điểm trung bình
chung độ lệch chuẩn chung của toàn
thang đo, chúng tôi xác định được 3
mức xếp hạng thấp, trung bình và cao
khi phân tích các nhóm nhu cầu các
nhóm áp lực đối với việc sử dụng MXH
trong SV.
2. Thực trạng sử dụng mạng hội
trong sinh viên
Kết quả điều tra mức độ sử dụng
MXH trong SV cho thấy trong tổng số
4.247 SV được khảo sát, đến 4.205
SV (chiếm 99%) sử dụng MXH. Như
vậy, việc sử dụng MXH trong SV hiện
nay phổ biến. Vậy MXH nào được
SV sử dụng nhiều nhất?
Biểu đồ 1: Các mạng xã hội được sinh viên sử dụng (%)
Tạp chí Khoa học xã hội Việt Nam, số 8(81) - 2014
52
Biểu đồ 1 cho thấy Facebook hiện
đang MXH được ưa dùng nhất trong
SV - chiếm 86,6%. Không chỉ được ưa
dùng Việt Nam trên toàn thế giới,
Facebook đang được xếp thứ nhất trong
số 11 MXH lớn
(1)
. Do Facebook tính
tương tác cao, kho lưu trữ ứng dụng lớn,
đa ngôn ngữ phát triển sớm trên
mạng di động nên mức độ sử dụng của
Facebook đối với SV rất cao. S ưa
chuộng MXH y trong SV được chúng
tôi ghi nhận qua ý kiến của một người
sử dụng MXH n Heliter: Việt
Nam, mi người dùng đu ng Facebook.
Còn nước ngoài thì người ta dùng
Facebook, Twitter, Google+ một số
MXH khác. Nếu như bạn nhiều bạn
dùng Facebook thì tốt nhất nên
đăng Facebook. đa số dân Việt
Nam đều dùng Facebook, số người dùng
Twitter rất ít”
(2)
.
Xếp vị trí thứ hai trong nghiên cứu
này Youtube, với 60% SV sử dụng.
Theo ý kiến của nhiều SV, Youtube
ưu điểm là tính tiện dụng trong việc chia
sẻ các video trực tuyến với những hình
ảnh, âm thanh chuyển động của nội
dung các video tạo ra tác động trực quan
tới mặt cảm xúc của người dùng.
Youtube khả năng chứa đựng số
lượng video lớn với đầy đủ c chương
trình truyền hình, video phim ảnh do
chính các thành viên chia sẻ. vậy,
những SV tham gia cộng đồng mạng
này không chỉ giải trí bằng các bộ phim,
bài hát còn thể học hỏi được các
chủ đề đa dạng như lịch sử, ngoại ngữ
hay các kỹ năng sống, cách lựa chọn
trang phục, kiểu tóc v.v..
Google+ xếp hạng vị trí thứ 3 trong
số các MXH được SV Việt Nam ưa
dùng với tỉ lệ 56,2%. Các SV Việt Nam,
do yêu cầu của hoạt động học tập, nên
cần phải lập thư điện tử (gmail) để liên
lạc với giảng viên, các thành viên trong
các nhóm học tập, bạn bè v.v.. Tài khoản
Google của họ được mặc định một tài
khoản của MXH Google+, ngay cả khi
họ không bao giờ đăng nhập vào nó.
(1)
Xem xét những khó khăn thường gặp
phải khi sử dụng MXH, kết quả khảo t
cho thấy: chỉ 24,5% SV cho rằng họ
gặp khó khăn khi sử dụng MXH.
Trong đó, hai khó khăn lớn nhất SV
gặp phải sự hạn chế về ngoại ngữ
(chiếm 39,6%) không nắm vững chức
năng của MXH (chiếm 22,2%). Ngoài
ra, những khó khăn khác cũng được sinh
viên nhắc tới, đó là: sử dụng MXH chưa
thuần thục (chiếm 16,1%) SV cảm
thấy lúng túng trước một lượng thông
tin lớn trên mạng (chiếm 13,8%). Một
số cản trở nhỏ khác (trong tổng số 9,9%)
được SV nêu ra về phía khách quan như
mạng yếu, mạng bị chặn khó khăn
chủ quan thiếu thời gian không
(1)
http://kenh14.vn/2-tek/11-website-khung-nhat-
the-gioi-20130207114344885.chn,11 website
"khng" nht thế gii, truy cp ngày 07/02/2013.
(2)
http://vn.answers.yahoo.com/question/index?
qid=20130916210120AAs5G6Y.
Sử dụng mạng xã hội trong sinh viên Việt Nam
53
làm chủ được thời gian để vào MXH.
Nghiên cứu cũng đề cập đến khía
cạnh thời gian SV dành ra mỗi ngày để
truy cập MXH. Kết quả về thời gian sử
dụng MXH trong ngày của SV được
trình bày ở biểu đồ 2.
Biểu đồ 2: Số giờ sử dụng mạng xã hội trong ngày (%)
Biểu đồ 2 cho thấy tỉ lệ SV thường sử
dụng MXH từ 1 giờ đến dưới 3 giờ/ngày
cao nhất (chiếm 43,5%), từ 3 giờ
đến dưới 5 giờ/ngày (chiếm 31,5%).
Đáng lưu ý là: 7,2% SV cho biết họ
thường bỏ ra trên 8 giờ/ngày để vào
MXH. Lượng thời gian y đáng báo
động về một trong những dấu hiệu cho
thấy nguy cơ nghiện MXH trong SV.
Theo nghiên cứu của Tiffany A
cộng sự (2009), SV đại học Hoa Ksử
dụng Facebook trung bình từ 10 đến 30
phút mỗi ngày
(3)
. Trong nghiên cứu của
chúng tôi, kết quả cho thấy đến trên
50% SV sử dụng MXH nhiều hơn 3 giờ
mỗi ngày. Khi các nhu cầu của giới trẻ
không được đáp ứng một cách toàn diện
thì việc ngồi nhiều thời gian trên MXH
để họ học tập, tán gẫu, giải trí, tìm cảm
giác mạnh thông qua các trò chơi điện tử
điều dễ hiểu. Mặc vậy, hiệu quả
của việc đáp ứng các nhu cầu đã chiếm
nhiều thời gian từ một môi trường ảo
đang y nhiều ồn ào, bàn tán điều
đáng để quan tâm nghiên cứu.
Xem xét số lượng bạn trên MXH,
chúng tôi đã dựa vào “con số Dunbar”
(4)
(3)
Tiffany A. Pempek, Yevdokiya A. Yermolayeva,
Sandra L. Calvert (2009), “College students'
social networking experiences on Facebook”,
Journal of Applied Developmental Psychology,
30, 227 - 238.
(4)
Số Dunbar là một giới hạn về số lượng người
một nhân thể duy trì các mối quan hệ
xã hội ổn định. Đâynhững mối quan hệ trong
đó một nhân biết người mỗi người như thế
nào mỗi người liên quan đến tất cả mọi
người khác. Con số này lần đầu tiên được đề
xuất bởi nhà nhân chủng học người Anh Robin
Dunbar (1992), người đã tìm thấy một mối
tương quan giữa kích thước não động vật linh
trưởng kích thước nhóm hội trung bình.
Dựa vào kích thước bộ não trung bình của con
người ngoại suy từ kết quả nghiên cứu trên
các loài linh trưởng, ông đề xuất rằng con người
chỉ có thể thoải mái duy trì mối quan hệ ổn định
trong mức 150 người.
Tạp chí Khoa học xã hội Việt Nam, số 8(81) - 2014
54
để phân chia các khoảng số lượng bạn
một SV duy trì trên trang cá nhân
của mình. Theo đó các mức: dưới
150 bạn (mức trung bình); từ 150 đến
dưới 300 bạn (khá nhiều bạn); từ 300
đến dưới 500 bạn (nhiều bạn); trên 500
bạn (quá nhiều bạn). Kết quả nghiên cứu
cho thấy: mức dưới 150 bạn chiếm
35,4%, tiếp đó mức trên 500 bạn chiếm
23,6%, mức từ 150 bạn đến dưới 300
bạn chiếm 23% từ 300 bạn đến dưới
500 bạn chiếm 18%. Theo con số
Dunbar, đa phần SV được nghiên cứu
duy trì lượng bạn mức thông thường
(150 bạn), giống như số lượng mối quan
hệ lý tưởng có thể duy trì trong đời thực.
Tuy nhiên, một tỉ lkhá lớn SV duy
trì mức bạn lên tới trên 500 bạn. mức
trên 500 bạn, SV thông báo đến
3.000 bạn, thậm chí 5.000 bạn. Kết quả
này cho thấy, trong khi một bộ phận lớn
SV y dựng mạng lưới quan hệ trong
thế giới “ảo” sự gắn kết với thế giới
“thực” thì một bộ phận khác dường như
muốn “phóng đại” các quan hệ trong thế
giới “ảo”. Thực tế với số lượng bạn trên
MXH đông đến trên 500 bạn thậm
chí lên đến vài nghìn bạn thì chỉ thể
tồn tại dạng bạn với slần họ “like” cho
nhau thôi. Trong khi đó, một nghiên
cứu (được dẫn từ Psychology Today) đã
chỉ ra số lượng bạn tưởng trên
Facebook 302 - con số y đủ để
người dùng không cảm thấy đơn hay
quá lệ thuộc vào người khác
(5)
.
m hiểu mối quan h giữa giới tính
của SV và số lượng bạn trên MXH của họ,
kiểm định Chi-square cho thấy tồn tại
mối quan hệ ý nghĩa giữa hai biến số
này với giá trX
2
(3)
= 49.467, p < 0.001.
Kết quả cụ thể cho thấy hầu như nSV có
số lượng bạn trên mạng nhiều hơn so với
nam SV. Tuy nhiên mức trên 500 bạn,
nam SV lại có số bạn lớn hơn nSV.
(5)
Xem xét số lượng bạn SV thường
xuyên trao đổi trên MXH, kết quả ghi
nhận rằng: 46,3% SV thường xuyên trao
đổi với ới 25 bạn, 32% SV thường
xuyên trao đổi với từ 25 bạn đến ới
100 bạn và 21,7% SV thường xuyên trao
đổi với trên 100 bạn trên MXH. mối
liên hệ ý nghĩa giữa số bạn SV và
số bạn họ thường xuyên trao đổi trên
MXH với gtrị X
2
(6)
= 1.244.908, p <
0.001. Theo đó, những SV ới 150
bạn tập trung nhiều nhất nhóm thường
xuyên liên lạc với dưới 25 bạn còn
những SV trên 500 bạn lại tập trung
đông nhất nhóm thường xuyên trao
đổi với trên 100 bạn. Kết quả y cho
thấy xu hướng càng nhiều bạn trên
MXH, SV càng thường xuyên trao đổi
với nhiều bạn bè hơn.
(5)
Uyên Huynh (Dch t Psychology Today),
quá nhiu bn trên Facebook? Bao nhiêu
đủ? http://vietpsy.com/2013/06/09/qua-nhieu-
ban-be-tren-facebook/, Truy cp ngày 23 tháng
7 năm 2013.
Sử dụng mạng xã hội trong sinh viên Việt Nam
55
3. Bảo mật thông tin nhân trên
mạng xã hội của sinh viên
Theo Boyd Danah (2007), bảo mật
thông tin trên MXH được hiểu là một
nhân những tng tin quan trọng
người khác không thể biết, thông tin
đó có th những thông tin nhân
như tên, địa ch liên lạc, chứng minh
thư hoặc những thông tin khác nếu
nhân cho đó những thông tin riêng
(6)
. Bảo mật thông tin trên MXH
thường gắn liền với sự rng của cá
nhân rất khác nhau giữa nhân
y với nhân khác. Những thông tin
riêng này được giới hạn trong những
cách thức, k thuật bảo mật của
nhân. Trong phần này, cng tôi m
hiểu SV bảo vệ thông tin riêng tư của
mình trên mạng hội như thế nào?
Đồng thời m nhận thức của SV về
những thông tin theo họ cần phải
bảo mật.
Biểu đồ 3: Cách thức bảo vệ thông tin của sinh viên (%)
Số liệu khảo sát cho thấy có đến
81,8% SV cho rằng mình đã bảo mật
thông tin của mình trên MXH, chỉ
18,2% SV không quan tâm đến chuyện
này. Tuy nhiên, cách thức họ bảo mật
thông tin của mình thể hiện như thế nào
điều đáng được làm rõ. Trong 7 cách
thức bảo mật nghiên cứu đưa ra,
biểu đồ 3 cho thấy: SV thường sử dụng
nhiều hơn cả cách thức
(6)
Cảnh giác
với những tin nhắn, lời dụ lạ (chiếm
(6)
Danah Boyd (2007), “Why Youth (Heart)
Social Network Sites: The Role of Networked
Publics in Teenage Social Life.” MacArthur
Foundation Series on Digital Learning - Youth,
Identity, and Digital Media Volume (ed. David
Buckingham). Cambridge, MA: MIT Press,
http://www.danah.org/papers/ WhyYouthHeart.pdf.
Tạp chí Khoa học xã hội Việt Nam, số 8(81) - 2014
56
41,7%), Không đưa thông tin về
nhân(chiếm 35,9%) Để mật khẩu,
tự lạ khó nhớ(chiếm 34,5%). Trong
khi đó, những cách thức SV ít sử
dụng nhất liên quan đến việc
Thường xuyên thay đổi mật khẩu
(chiếm 15,8%) Không truy cập
mạng nơi công cộng(chiếm 7,8%).
Kết quả xác định mức độ bảo mật
thông tin nhân trên MXH theo 7 hình
thức (biểu đồ 3) cho thấy: trong tổng số
3.432 SV (chiếm 81,8%) bảo mật
thông tin, có 73,2% SV giữ bí mật thông
tin nhân đạt mức độ thấp (chỉ từ
1 đến 2 cách thức bảo mật), SV bảo mật
thông tin mức độ trung bình chiếm
23,6% (có từ 3 đến 5 cách thức bảo mật)
số SV bảo mật thông tin mức độ
cao chỉ chiếm 3,2% (có từ 6 đến 7 cách
thức bảo mật). Kết quả y cho thấy SV
Việt Nam trong nghiên cứu y còn khá
chủ quan khi chia sẻ các thông tin của
mình trên mạng. Đây chính nguy
của sự bắt nạt, lừa gạt, quấy rối tình dục,
v.v. trên MXH. Thực tế là, khi một
người chia sẻ thông tin nhân lên
MXH thì cũng nghĩa người đó đang
chia sẻ thông tin với mọi người trên thế
giới. Những thông tin riêng nhạy
cảm sẽ nguy trở thành những
phiền phức sau này. vậy, bảo mật
thông tin thực sự cần thiết đối với
sinh viên sử dụng MXH.
Xem t quan điểm của SV về những
nội dung thông tin không nên đăng tải
trên MXH, kết qunhư sau: về chính trị
chiếm 40,6%, về các mối quan h
nhân chiếm 39,9%, về tôn giáo chiếm
29% về kế hoạch dự định nhân
chiếm 24%, về Tình yêu chiếm 17,3%
gia đình chiếm 7,1%, về ng
việc/học tập chiếm 11,8% hoạt động
giải trí chiếm 5,9%. Như vậy, thể
thấy, SV trong nghiên cứu y dường
như thận trọng với những chia sẻ thể
hiện quan điểm, nim tin nhân nhiều
hơn những chia sẻ ln quan đến c
hoạt động thường nhật của mình.
4. Nhu cầu sử dụng mạng hội
của sinh viên
Nghiên cứu việc sử dụng MXH của
bất cứ nhóm người nào, các tác giả trên
thế giới đều tập trung xác định những
nhu cầu của người sử dụng khi tham gia
vào MXH. Kiểm định độ tin cậy của
toàn thang đo về nhu cầu sử dụng MXH
của SV cho kết quả α Cronbach = 0,826
(cho thấy thang đo độ tin cậy đảm
bảo). Sau khi tiến hành phân tích nhân tố
để cấu trúc lại số liệu định lượng của
thang đo từ 20 nhu cầu bằng phương
pháp Varimax, chúng tôi thu được 5
nhóm nhu cầu về s dụng MXH (giải
thích 54,074% sự biến thiên của biến)
tên tương ứng với các nội dung như sau:
1/ Nhóm nhu cầu chia sẻ = 0,702),
bao gồm các nội dung liên quan đến:
bày tỏ cảm xúc, ý kiến; thăm dò, hỏi đáp
Sử dụng mạng xã hội trong sinh viên Việt Nam
57
thắc mắc; gửi quà tặng, lời chúc; chia sẻ
khó khăn tâm lý; đăng tải hình ảnh,
video, mp3 và viết nhật kí, ghi chú.
2/ Nhóm nhu cầu thể hiện bản thân
tìm kiếm việc làm = 0,685), bao
gồm: quảng cáo sản phẩm; tham gia
cuộc thi trên mạng; chát sex, chụp hình
nude; và tìm kiếm việc làm.
3/ Nhóm nhu cầu giải trí = 0,617),
gồm: nghe nhạc, xem phim; chơi game;
cập nhật thông tin, sự thật xảy ra trong
xã hội và đọc truyện.
4/ Nhóm nhu cầu kinh doanh (α =
0,766), gồm: mua ng; n bàng và các
hoạt động thu t liên quan đến quảng o.
5/ Nhóm nhu cầu tương tác =
0,616), gồm: giao lưu, kết bạn; tìm kiếm
người thân, bạn bè và chát, gửi tin nhắn.
Giá trị trung bình của từng nhóm nhu
cầu được trình bày biểu đồ 4, cho
thấy: khi sử dụng MXH, SV nhu cầu
tương tác (ĐTB = 2,22) nhu cầu giải
trí (ĐTB = 1,90) mức cao; nhóm nhu
cầu chia sẻ nằm trong mức bình thường
(ĐTB = 1,64). Trong khi đó, nhóm nhu
cầu kinh doanh TB = 0,7) nhu cầu
thể hiện bản thân, tìm kiếm việc làm
(ĐTB = 0,67) nằm ở mức thấp.
Biểu đồ 4: Điểm trung bình các nhóm nhu cầu sử dụng mạng xã hội
Xét về đặc điểm hoạt động của SV,
ngoài việc học tập thì phát triển, gìn giữ
các mối quan hệ hội cũng hoạt
động chủ đạo ý nghĩa quan trọng
trong việc phát triển các đặc điểm tâm lý
nhân. Do vậy, việc các SV sử dụng
nhiều nhất MXH như công cụ để trò
chuyện, ơng tác với người khác
Tạp chí Khoa học xã hội Việt Nam, số 8(81) - 2014
58
điều dễ nhận thấy.
Ngoài mục đích giao tiếp, kết nối với
bạn bè, SV cũng những người nhu
cầu giải trí cao khi những mối bận m
về gia đình, công việc còn chưa chiếm
nhiều tâm trí thời gian của họ. Nhìn
chung, hầu hết các MXH đều được khen
ngợi vì tính năng cung cấp nguồn giải trí
cho người sử dụng như nghe nhạc, xem
phim, chơi game trực tuyến. Chỉ cần
một chiếc máy tính hay điện thoại di
động có kết nối internet, các SV dễ dàng
xem phim, nghe nhạc, đọc truyện, chơi
game, v.v. trong bất cứ thời gian địa
điểm nào. lẽ đây do khiến việc
thực hiện nhu cầu giải trí cũng nằm mức
độ cao trong nghiên cứu này.
Nhóm nhu cầu kinh doanh và nhu cầu
thể hiện bản thân, tìm kiếm việc làm nằm
ở mức thấp cho thấy việc kinh doanh qua
MXH không phải mối bận tâm của
SV. Bên cạnh đó, 80% SV trong nghiên
cứu này đang học đại học năm thứ I, thứ
II thứ III đại học, nên thể họ chưa
bị áp lực về công việc tương lai nên việc
tìm kiếm công việc trên MXH chưa phải
nhu cầu cao của họ.
5. Áp lực từ sử dụng mạng xã hội
đối với sinh viên
Kiểm định thang đo áp lực của việc
sử dụng MXH lên tâm người sử dụng
cho thấy hệ số α rất đáng tin cậy =
0,894). Phân tích nhân tố từ 18 nội dung
về áp lực y ra đối với người xử dụng
mạng hội cho phép c định 4 nhóm
áp lực (giải thích 62,158% sự biến thiên
của biến) tên tương ứng với các nội
dung trong từng nhóm như sau:
1/ Áp lực về cảm xúc = 0,833) với
điểm trung bình 1,17, bao gồm 6 nội
dung về sự không thoải mái, sự bồn
chồn, cảm giác cuộc sống vị, cảm
giác mất mát, mệt mỏi không th
cưỡng lại khi không sử dụng MXH.
2/ Áp lực về thời gian (α = 0,803) với
điểm trung bình 1,27, với 4 nội dung
như: thời gian dành cho MXH ngày
càng nhiều hơn, tăng lên liên tục, thời
gian nhiều n so với dự định so với
trước đây.
3/ Áp lực tới hoạt động sống =
0,799) có điểm trung bình 1,27, với 4
nội dung nói vviệc dùng MXH nhiều
ảnh ởng tiêu cực đến việc học tập,
sức khỏe suy giảm, giao tiếp với bạn bè
bị ít đi các hoạt động giải trí khác b
giảm xút.
4/ Áp lực tới khng m ch bản
thân = 0,718) với điểm trung bình là
1,13, bao gồm 3 ni dung, n: cá
nhân kng th kiềm chế mong muốn
o MXH, nhân không thành ng
khi cgim bớt thời gian o MXH
vic không gii thoát được nỗi ám nh
luôn thường trc trong đu liên quan
đến MXH.
Sử dụng mạng xã hội trong sinh viên Việt Nam
59
Biểu đồ 5: Điểm trung bình các nhóm áp lực do sử dụng mạng xã hội
Kết quả biểu đồ 5 cho thấy: SV sử
dụng MXH trong nghiên cứu này chịu
những áp lực bởi MXH mức bình
thường. Nói cách khác, điểm trung nh
của các nhóm áp lực (từ 1,13 đến 1,27)
chưa phải mức đáng lo ngại về ảnh
hưởng tiêu cực của MXH lên SV - những
người đang sử dụng MXH hàng ngày.
Xem xét mối ơng quan giữa c
nhóm áp lực đối với việc sử dụng MXH
(hình 1), kết qucho thấy có mối ơng
quan thuận mức ơng đối mạnh giữa
nhu cầu sử dụng MXH áp lực từ MXH
(vi c g trị: r = 0,313 p < 0,001).
Hình 1: Tương quan giữa các nhóm áp lực do sử dụng mạng xã hội
(***p < 0,001)
Tạp chí Khoa học xã hội Việt Nam, số 8(81) - 2014
60
Như vậy, khi SV nhu cầu sử dụng
MXH ng cao thì họ ng có nguy
chịu áp lực từ việc sử dụng MXH. Kết
quả y gợi ý vvai trò của nhu cầu s
dụng MXH đối với nguy chịu áp lực
từ MXH của người sử dụng. Mặt khác,
khi sinh viên sử dụng MXH có nguy cơ
chịu áp lực bất cứ khía cạnh nào
trong số 4 nhóm áp lực thng
nguy bị những áp lực còn lại. dụ,
một sinh viên bị áp lực về thời gian
cũng sẽ xu hướng đồng thời chịu áp
lực về mặt cảm xúc (r = 0,60***), áp lực
tới các hoạt động sống (r = 0,495***) và
áp lực tới khả năng làm chủ bản thân
(r = 0,431***) khi sử dụng MXH.
6. Kết luận
SV những người trẻ, năng động
nên việc họ sử dụng MXH điều tất
yếu. Không thể phủ nhận những lợi ích
của MXH khi giúp sinh viên tăng cường
các mối quan hệ, tăng cường tri thức
hiểu biết, cung cấp nguồn giải trí lớn
cho người sử dụng. Mặc vậy, với
những kết quả trình bày trên, chúng
tôi cho rằng cần có sự định hướng cho
SV trong việc sử dụng MXH liên quan
đến thời gian, mục đích sử dụng, cũng
như những cách thức bảo vệ bản thân
khi tham gia vào cộng đồng mạng. Việc
SV (trong nghiên cứu y) đã sử dụng
MXH cho những mối tương tác hội
giải trí nhân vượt mức cho phép
(mức chuẩn). Điều y đặt ra những câu
hỏi cho các nghiên cứu tiếp theo: Phải
chăng SV hiện nay xu hướng chú
trọng đến việc duy trì các mối quan hệ
của bản thân thông qua MXH hơn
bằng con đường giao tiếp trực tiếp ngoài
đời thực? Những tương tác trên MXH
giúp SV giảm bớt sự căng thẳng từ
việc bị chối bỏ hay thất bại trong những
mối quan hệ trong thế giới thực? Liệu có
phải những sân chơi phục vụ cho việc
giải trí, thư giãn của SV còn quá ít nên
họ tìm đến MXH để hiện thực hóa nhu
cầu của bản thân?
Tài liệu tham khảo
1. Tiffany A. Pempek, Yevdokiya A. Yermolayeva,
Sandra L. Calvert (2009), “College students'
social networking experiences on Facebook”,
Journal of Applied Developmental Psychology,
30, 227 - 238.
2. Danah Boyd (2007), “Why Youth (Heart)
Social Network Sites: The Role of Networked
Publics in Teenage Social Life”, MacArthur
Foundation Series on Digital Learning - Youth,
Identity, and Digital Media Volume (ed. David
Buckingham), Cambridge, MA: MIT Press,
http://www.danah.org/papers/ WhyYouthHeart.pdf.
3. Uyên Huynh (Dch t Psychology Today),
quá nhiu bn trên Facebook? Bao nhiêu
đủ? http://vietpsy.com/2013/06/09/qua-nhieu-
ban-be-tren-facebook/, Truy cp ngày 23 tháng
7 năm 2013.
4. http://kenh14.vn/2-tek/11-website-khung-
nhat-the-gioi-20130207114344885.chn, 11 website
"khng" nht thế gii, Truy cp ngày 07 tháng
02 năm 2013.
5. http://vn.answers.yahoo.com/question/ind
ex?qid=20130916210120AAs5G6Y
6. http://en.wikipedia.org/wiki/Dunbar's_
number
Sử dụng mạng xã hội trong sinh viên Việt Nam
61

Preview text:


Tạp chí Khoa học xã hội Việt Nam, số 8(81) - 2014

SỬ DỤNG MẠNG XÃ HỘI TRONG SINH VIÊN VIỆT NAM
TRẦN THỊ MINH ĐỨC *
BÙI THỊ HỒNG THÁI **
Tóm tắt: Hiện nay, mạng xã hội (MXH) đang phát triển mạnh ở Việt Nam.
Trong đó, những người sử dụng chủ yếu là thanh thiếu niên và sinh viên. Bài
viết trình bày một số kết quả về: 1/ Thực trạng sử dụng MXH trong sinh viên,
2/ Bảo mật thông tin trên MXH, 3/ Nhu cầu sử dụng MXH và 4/ Những áp lực
sinh viên (SV) có thể gặp phải khi sử dụng MXH. Từ số liệu điều tra bằng
bảng hỏi trên 4.205 sinh viên có sử dụng MXH ở 6 thành phố lớn, các tác giả
đã chỉ ra: trong các MXH sinh viên thường dùng thì Facebook được sử dụng
nhiều nhất (chiếm 86,6%), với thời gian sử dụng trải dài từ 1 giờ đến dưới 5
giờ/ngày. Sinh viên sử dụng mạng xã hội chủ yếu cho nhu cầu tương tác và giải
trí, mặc dù mức độ chịu áp lực từ việc sử dụng mạng xã hội ở sinh viên chưa
đáng báo động, nhưng khi sinh viên càng có nhu cầu sử dụng mạng xã hội cao
thì họ càng dễ có nguy cơ chịu áp lực từ MXH.
Từ khóa: Mạng xã hội; sinh viên; bảo mật; nhu cầu; áp lực. 1. Đặt vấn đề
bảng hỏi trên 4.247 SV từ năm thứ nhất
Ở Việt Nam, những năm gần đây, các tới năm thứ 4 với tuổi trung bình là
mạng xã hội phát triển mạnh và thu hút 20,42 (trong đó, nam: 1.791 người -
một lượng lớn người sử dụng, chủ yếu là chiếm 43,2% và nữ là 2.359 người -
thanh thiếu niên và sinh viên. Mạng xã chiếm 56,8%) ở 6 thành phố lớn là Hà
hội tạo ra một hệ thống kết nối các Nội, Hải Phòng, Vinh, Huế, Đà Nẵng và
thành viên cùng sở thích với nhiều mục thành phố Hồ Chí Minh.(*)Trong khuôn
đích khác nhau, không phân biệt không khổ bài báo này, chúng tôi chỉ trình bày
gian và thời gian với những tính năng một số kết quả về: 1/ Thực trạng sử
như kết bạn, chat, e-mail, phim ảnh, dụng MXH trong SV, 2/ Bảo mật thông
voice chat dựa trên nền Internet. Nghiên tin trên MXH, 3/ Nhu cầu sử dụng MXH
cứu về MXH tại Việt Nam chưa nhiều và và 4/ Những áp lực SV có thể gặp phải
gần như chưa có nghiên cứu về MXH khi sử dụng MXH. với SV ở quy mô lớn.
Để tìm hiểu về việc sử dụng mạng xã (*) Giáo sư, tiến sĩ, Trường Đại học Khoa học
hội trong SV Việt Nam, chúng tôi đã Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội.
(**) Tiến sĩ, Trường Đại học Khoa học Xã hội và
tiến hành phương pháp điều tra bằng Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội. 50
Sử dụng mạng xã hội trong sinh viên Việt Nam
Các số liệu điều tra được xử lí và phân tích nhân tố cho hai thang đo này
phân tích bằng phần mềm SPSS 16.0. nhằm tìm ra các nhóm nhu cầu và các
Đối với phần thực trạng sử dụng và vấn nhóm áp lực. Dựa vào điểm trung bình
đề bảo mật thông tin trên MXH của SV, chung và độ lệch chuẩn chung của toàn
phương pháp xử lí số liệu tập trung vào thang đo, chúng tôi xác định được 3
các phép toán thống kê mô tả (tính điểm mức xếp hạng là thấp, trung bình và cao
trung bình, chỉ số phần trăm của các khi phân tích các nhóm nhu cầu và các
phương án lựa chọn và tương quan nhóm áp lực đối với việc sử dụng MXH
chéo). Chúng tôi sử dụng phân tích trong SV.
thống kê suy luận (phân tích tương quan
2. Thực trạng sử dụng mạng xã hội
nhị biến) khi xem xét số liệu về nhu cầu trong sinh viên
và áp lực sử dụng mạng xã hội. Ở 2
Kết quả điều tra mức độ sử dụng
phần này, chúng tôi sử dụng thang MXH trong SV cho thấy trong tổng số
Likert 4 bậc. Điểm trung bình của các 4.247 SV được khảo sát, có đến 4.205
item hoặc các biến cho thấy có tương SV (chiếm 99%) có sử dụng MXH. Như
quan thuận giữa các nhu cầu sử dụng vậy, việc sử dụng MXH trong SV hiện
MXH hoặc các áp lực sử dụng MXH khi nay là phổ biến. Vậy MXH nào được
so sánh với nhau. Nghiên cứu dùng phép SV sử dụng nhiều nhất?
Biểu đồ 1: Các mạng xã hội được sinh viên sử dụng (%) 51
Tạp chí Khoa học xã hội Việt Nam, số 8(81) - 2014

Biểu đồ 1 cho thấy Facebook hiện chủ đề đa dạng như lịch sử, ngoại ngữ
đang là MXH được ưa dùng nhất trong hay các kỹ năng sống, cách lựa chọn
SV - chiếm 86,6%. Không chỉ được ưa trang phục, kiểu tóc v.v..
dùng ở Việt Nam mà trên toàn thế giới,
Google+ xếp hạng ở vị trí thứ 3 trong
Facebook đang được xếp thứ nhất trong số các MXH được SV Việt Nam ưa
số 11 MXH lớn(1). Do Facebook có tính dùng với tỉ lệ 56,2%. Các SV Việt Nam,
tương tác cao, kho lưu trữ ứng dụng lớn, do yêu cầu của hoạt động học tập, nên
đa ngôn ngữ và phát triển sớm trên cần phải lập thư điện tử (gmail) để liên
mạng di động nên mức độ sử dụng của lạc với giảng viên, các thành viên trong
Facebook đối với SV là rất cao. Sự ưa các nhóm học tập, bạn bè v.v.. Tài khoản
chuộng MXH này trong SV được chúng Google của họ được mặc định là một tài
tôi ghi nhận qua ý kiến của một người khoản của MXH Google+, ngay cả khi
sử dụng MXH có tên Heliter: “Ở Việt họ không bao giờ đăng nhập vào nó.(1)
Nam, mọi người dùng đều dùng Facebook.
Xem xét những khó khăn thường gặp
Còn ở nước ngoài thì người ta dùng phải khi sử dụng MXH, kết quả khảo sát
Facebook, Twitter, Google+ và một số cho thấy: chỉ có 24,5% SV cho rằng họ
MXH khác. Nếu như bạn có nhiều bạn có gặp khó khăn khi sử dụng MXH.
bè dùng Facebook thì tốt nhất là nên Trong đó, hai khó khăn lớn nhất mà SV
đăng ký Facebook. Vì đa số dân Việt gặp phải là sự hạn chế về ngoại ngữ
Nam đều dùng Facebook, số người dùng (chiếm 39,6%) và không nắm vững chức
Twitter rất ít”(2).
năng của MXH (chiếm 22,2%). Ngoài
Xếp ở vị trí thứ hai trong nghiên cứu ra, những khó khăn khác cũng được sinh
này là Youtube, với 60% SV sử dụng. viên nhắc tới, đó là: sử dụng MXH chưa
Theo ý kiến của nhiều SV, Youtube có thuần thục (chiếm 16,1%) và SV cảm
ưu điểm là tính tiện dụng trong việc chia thấy lúng túng trước một lượng thông
sẻ các video trực tuyến với những hình tin lớn trên mạng (chiếm 13,8%). Một
ảnh, âm thanh và chuyển động của nội số cản trở nhỏ khác (trong tổng số 9,9%)
dung các video tạo ra tác động trực quan được SV nêu ra về phía khách quan như
tới mặt cảm xúc của người dùng. mạng yếu, mạng bị chặn và khó khăn
Youtube có khả năng chứa đựng số chủ quan là thiếu thời gian và không
lượng video lớn với đầy đủ các chương
trình truyền hình, video và phim ảnh do (1) http://kenh14.vn/2-tek/11-website-khung-nhat-
chính các thành viên chia sẻ. Vì vậy, the-gioi-20130207114344885.chn,11 website
những SV tham gia cộng đồng mạng "khủng" nhất thế giới, truy cập ngày 07/02/2013. (2)
này không chỉ giải trí bằng các bộ phim, http://vn.answers.yahoo.com/question/index?
bài hát mà còn có thể học hỏi được các qid=20130916210120AAs5G6Y. 52
Sử dụng mạng xã hội trong sinh viên Việt Nam
làm chủ được thời gian để vào MXH.
truy cập MXH. Kết quả về thời gian sử
Nghiên cứu cũng đề cập đến khía dụng MXH trong ngày của SV được
cạnh thời gian SV dành ra mỗi ngày để trình bày ở biểu đồ 2.
Biểu đồ 2: Số giờ sử dụng mạng xã hội trong ngày (%)
Biểu đồ 2 cho thấy tỉ lệ SV thường sử nhiều thời gian từ một môi trường ảo
dụng MXH từ 1 giờ đến dưới 3 giờ/ngày đang gây nhiều ồn ào, bàn tán là điều
là cao nhất (chiếm 43,5%), và từ 3 giờ đáng để quan tâm nghiên cứu.
đến dưới 5 giờ/ngày (chiếm 31,5%).
Xem xét số lượng bạn bè trên MXH,
Đáng lưu ý là: có 7,2% SV cho biết họ chúng tôi đã dựa vào “con số Dunbar”(4)
thường bỏ ra trên 8 giờ/ngày để vào
MXH. Lượng thời gian này là đáng báo (3)
động về một trong những dấu hiệu cho
Tiffany A. Pempek, Yevdokiya A. Yermolayeva,
Sandra L. Calvert (2009), “College students'
thấy nguy cơ nghiện MXH trong SV.
social networking experiences on Facebook”,
Theo nghiên cứu của Tiffany A và Journal of Applied Developmental Psychology,
cộng sự (2009), SV đại học Hoa Kỳ sử 30, 227 - 238.
(4) Số Dunbar là một giới hạn về số lượng người
dụng Facebook trung bình từ 10 đến 30 mà một cá nhân có thể duy trì các mối quan hệ
phút mỗi ngày(3). Trong nghiên cứu của xã hội ổn định. Đây là những mối quan hệ trong
chúng tôi, kết quả cho thấy có đến trên đó một cá nhân biết người mỗi người là như thế
nào và mỗi người liên quan đến tất cả mọi
50% SV sử dụng MXH nhiều hơn 3 giờ người khác. Con số này lần đầu tiên được đề
mỗi ngày. Khi các nhu cầu của giới trẻ xuất bởi nhà nhân chủng học người Anh Robin
không được đáp ứng một cách toàn diện Dunbar (1992), người đã tìm thấy một mối
tương quan giữa kích thước não động vật linh
thì việc ngồi nhiều thời gian trên MXH trưởng và kích thước nhóm xã hội trung bình.
để họ học tập, tán gẫu, giải trí, tìm cảm Dựa vào kích thước bộ não trung bình của con
giác mạnh thông qua các trò chơi điện tử người và ngoại suy từ kết quả nghiên cứu trên
các loài linh trưởng, ông đề xuất rằng con người
là điều dễ hiểu. Mặc dù vậy, hiệu quả chỉ có thể thoải mái duy trì mối quan hệ ổn định
của việc đáp ứng các nhu cầu đã chiếm trong mức 150 người. 53
Tạp chí Khoa học xã hội Việt Nam, số 8(81) - 2014

để phân chia các khoảng số lượng bạn quá lệ thuộc vào người khác(5).
bè mà một SV duy trì trên trang cá nhân
Tìm hiểu mối quan hệ giữa giới tính
của mình. Theo đó có các mức: dưới của SV và số lượng bạn trên MXH của họ,
150 bạn (mức trung bình); từ 150 đến kiểm định Chi-square cho thấy có tồn tại
dưới 300 bạn (khá nhiều bạn); từ 300 mối quan hệ có ý nghĩa giữa hai biến số
đến dưới 500 bạn (nhiều bạn); trên 500 này với giá trị X2(3) = 49.467, p < 0.001.
bạn (quá nhiều bạn). Kết quả nghiên cứu Kết quả cụ thể cho thấy hầu như nữ SV có
cho thấy: mức dưới 150 bạn chiếm số lượng bạn trên mạng nhiều hơn so với
35,4%, tiếp đó mức trên 500 bạn chiếm nam SV. Tuy nhiên ở mức trên 500 bạn,
23,6%, mức từ 150 bạn đến dưới 300 nam SV lại có số bạn lớn hơn nữ SV.(5)
bạn chiếm 23% và từ 300 bạn đến dưới
Xem xét số lượng bạn SV thường
500 bạn chiếm 18%. Theo con số xuyên trao đổi trên MXH, kết quả ghi
Dunbar, đa phần SV được nghiên cứu nhận rằng: 46,3% SV thường xuyên trao
duy trì lượng bạn ở mức thông thường đổi với dưới 25 bạn, 32% SV thường
(150 bạn), giống như số lượng mối quan xuyên trao đổi với từ 25 bạn đến dưới
hệ lý tưởng có thể duy trì trong đời thực. 100 bạn và 21,7% SV thường xuyên trao
Tuy nhiên, có một tỉ lệ khá lớn SV duy đổi với trên 100 bạn trên MXH. Có mối
trì mức bạn lên tới trên 500 bạn. Ở mức liên hệ có ý nghĩa giữa số bạn SV có và
trên 500 bạn, có SV thông báo có đến số bạn họ thường xuyên trao đổi trên
3.000 bạn, thậm chí 5.000 bạn. Kết quả MXH với giá trị X2(6) = 1.244.908, p <
này cho thấy, trong khi một bộ phận lớn 0.001. Theo đó, những SV có dưới 150
SV xây dựng mạng lưới quan hệ trong bạn tập trung nhiều nhất ở nhóm thường
thế giới “ảo” có sự gắn kết với thế giới xuyên liên lạc với dưới 25 bạn còn
“thực” thì một bộ phận khác dường như những SV có trên 500 bạn lại tập trung
muốn “phóng đại” các quan hệ trong thế đông nhất ở nhóm thường xuyên trao
giới “ảo”. Thực tế với số lượng bạn trên đổi với trên 100 bạn. Kết quả này cho
MXH đông đến trên 500 bạn và thậm thấy xu hướng càng có nhiều bạn trên
chí lên đến vài nghìn bạn thì chỉ có thể MXH, SV càng thường xuyên trao đổi
tồn tại dạng bạn với số lần họ “like” cho với nhiều bạn bè hơn.
nhau mà thôi. Trong khi đó, một nghiên
cứu (được dẫn từ Psychology Today) đã
(5) Uyên Huynh (Dịch từ Psychology Today),
chỉ ra số lượng bạn bè lý tưởng trên Có quá nhiều bạn trên Facebook? Bao nhiêu là đủ
Facebook là 302 - con số này đủ để
? http://vietpsy.com/2013/06/09/qua-nhieu-
ban-be-tren-facebook/, Truy cập ngày 23 tháng
người dùng không cảm thấy cô đơn hay 7 năm 2013. 54
Sử dụng mạng xã hội trong sinh viên Việt Nam
3. Bảo mật thông tin cá nhân trên thường gắn liền với sự riêng tư của cá
mạng xã hội của sinh viên
nhân và nó rất khác nhau giữa cá nhân
Theo Boyd Danah (2007), bảo mật này với cá nhân khác. Những thông tin
thông tin trên MXH được hiểu là một riêng tư này được giới hạn trong những
cá nhân có những thông tin quan trọng cách thức, kỹ thuật bảo mật của cá
mà người khác không thể biết, thông tin nhân. Trong phần này, chúng tôi tìm
đó có thể là những thông tin cá nhân hiểu SV bảo vệ thông tin riêng tư của
như tên, địa chỉ liên lạc, chứng minh mình trên mạng xã hội như thế nào?
thư hoặc những thông tin khác nếu cá Đồng thời làm rõ nhận thức của SV về
nhân cho đó là những thông tin riêng những thông tin mà theo họ cần phải
tư(6). Bảo mật thông tin trên MXH bảo mật.
Biểu đồ 3: Cách thức bảo vệ thông tin của sinh viên (%)
Số liệu khảo sát cho thấy có đến nhiều hơn cả là cách thức(6)“Cảnh giác
81,8% SV cho rằng mình đã bảo mật với những tin nhắn, lời dụ lạ” (chiếm
thông tin của mình trên MXH, chỉ có
18,2% SV không quan tâm đến chuyện
này. Tuy nhiên, cách thức họ bảo mật (6) Danah Boyd (2007), “Why Youth (Heart)
thông tin của mình thể hiện như thế nào Social Network Sites: The Role of Networked
Publics in Teenage Social Life.” MacArthur
là điều đáng được làm rõ. Trong 7 cách Foundation Series on Digital Learning - Youth,
thức bảo mật mà nghiên cứu đưa ra, Identity, and Digital Media Volume (ed. David
Buckingham). Cambridge, MA: MIT Press,
biểu đồ 3 cho thấy: SV thường sử dụng http://www.danah.org/papers/ WhyYouthHeart.pdf. 55
Tạp chí Khoa học xã hội Việt Nam, số 8(81) - 2014

41,7%), “Không đưa thông tin về cá nội dung thông tin không nên đăng tải
nhân
” (chiếm 35,9%) và “Để mật khẩu, trên MXH, kết quả như sau: về chính trị
kí tự lạ khó nhớ” (chiếm 34,5%). Trong chiếm 40,6%, về các mối quan hệ cá
khi đó, những cách thức mà SV ít sử nhân chiếm 39,9%, về tôn giáo chiếm
dụng nhất có liên quan đến việc 29% về kế hoạch dự định cá nhân
Thường xuyên thay đổi mật khẩu” chiếm 24%, về Tình yêu chiếm 17,3%
(chiếm 15,8%) và “Không truy cập gia đình chiếm 7,1%, về công
mạng nơi công cộng
” (chiếm 7,8%).
việc/học tập chiếm 11,8% và hoạt động
Kết quả xác định mức độ bảo mật giải trí chiếm 5,9%. Như vậy, có thể
thông tin cá nhân trên MXH theo 7 hình thấy, SV trong nghiên cứu này dường
thức (biểu đồ 3) cho thấy: trong tổng số như thận trọng với những chia sẻ thể
3.432 SV (chiếm 81,8%) có bảo mật hiện quan điểm, niềm tin cá nhân nhiều
thông tin, có 73,2% SV giữ bí mật thông hơn là những chia sẻ liên quan đến các
tin cá nhân đạt ở mức độ thấp (chỉ có từ hoạt động thường nhật của mình.
1 đến 2 cách thức bảo mật), SV bảo mật
4. Nhu cầu sử dụng mạng xã hội
thông tin ở mức độ trung bình chiếm của sinh viên
23,6% (có từ 3 đến 5 cách thức bảo mật)
Nghiên cứu việc sử dụng MXH của
và số SV bảo mật thông tin ở mức độ bất cứ nhóm người nào, các tác giả trên
cao chỉ chiếm 3,2% (có từ 6 đến 7 cách thế giới đều tập trung xác định những
thức bảo mật). Kết quả này cho thấy SV nhu cầu của người sử dụng khi tham gia
Việt Nam trong nghiên cứu này còn khá vào MXH. Kiểm định độ tin cậy của
chủ quan khi chia sẻ các thông tin của toàn thang đo về nhu cầu sử dụng MXH
mình trên mạng. Đây chính là nguy cơ của SV cho kết quả α Cronbach = 0,826
của sự bắt nạt, lừa gạt, quấy rối tình dục, (cho thấy thang đo có độ tin cậy đảm
v.v. trên MXH. Thực tế là, khi một bảo). Sau khi tiến hành phân tích nhân tố
người chia sẻ thông tin cá nhân lên để cấu trúc lại số liệu định lượng của
MXH thì cũng có nghĩa người đó đang thang đo từ 20 nhu cầu bằng phương
chia sẻ thông tin với mọi người trên thế pháp Varimax, chúng tôi thu được 5
giới. Những thông tin riêng tư và nhạy nhóm nhu cầu về sử dụng MXH (giải
cảm sẽ có nguy cơ trở thành những thích 54,074% sự biến thiên của biến) có
phiền phức sau này. Vì vậy, bảo mật tên tương ứng với các nội dung như sau:
thông tin là thực sự cần thiết đối với
1/ Nhóm nhu cầu chia sẻ (α = 0,702), sinh viên sử dụng MXH.
bao gồm các nội dung liên quan đến:
Xem xét quan điểm của SV về những bày tỏ cảm xúc, ý kiến; thăm dò, hỏi đáp 56
Sử dụng mạng xã hội trong sinh viên Việt Nam
thắc mắc; gửi quà tặng, lời chúc; chia sẻ hoạt động thu hút liên quan đến quảng cáo.
khó khăn tâm lý; đăng tải hình ảnh,
5/ Nhóm nhu cầu tương tác (α =
video, mp3 và viết nhật kí, ghi chú.
0,616), gồm: giao lưu, kết bạn; tìm kiếm
2/ Nhóm nhu cầu thể hiện bản thân người thân, bạn bè và chát, gửi tin nhắn.
và tìm kiếm việc làm (α = 0,685), bao
Giá trị trung bình của từng nhóm nhu
gồm: quảng cáo sản phẩm; tham gia cầu được trình bày ở biểu đồ 4, cho
cuộc thi trên mạng; chát sex, chụp hình thấy: khi sử dụng MXH, SV có nhu cầu
nude; và tìm kiếm việc làm.
tương tác (ĐTB = 2,22) và nhu cầu giải
3/ Nhóm nhu cầu giải trí (α = 0,617), trí (ĐTB = 1,90) ở mức cao; nhóm nhu
gồm: nghe nhạc, xem phim; chơi game; cầu chia sẻ nằm trong mức bình thường
cập nhật thông tin, sự thật xảy ra trong (ĐTB = 1,64). Trong khi đó, nhóm nhu
xã hội và đọc truyện.
cầu kinh doanh (ĐTB = 0,7) và nhu cầu
4/ Nhóm nhu cầu kinh doanh (α = thể hiện bản thân, tìm kiếm việc làm
0,766), gồm: mua hàng; bán bàng và các (ĐTB = 0,67) nằm ở mức thấp.
Biểu đồ 4: Điểm trung bình các nhóm nhu cầu sử dụng mạng xã hội
Xét về đặc điểm hoạt động của SV, trong việc phát triển các đặc điểm tâm lý
ngoài việc học tập thì phát triển, gìn giữ cá nhân. Do vậy, việc các SV sử dụng
các mối quan hệ xã hội cũng là hoạt nhiều nhất MXH như công cụ để trò
động chủ đạo và có ý nghĩa quan trọng chuyện, tương tác với người khác là 57
Tạp chí Khoa học xã hội Việt Nam, số 8(81) - 2014
điều dễ nhận thấy.
về áp lực gây ra đối với người xử dụng
Ngoài mục đích giao tiếp, kết nối với mạng xã hội cho phép xác định 4 nhóm
bạn bè, SV cũng là những người có nhu áp lực (giải thích 62,158% sự biến thiên
cầu giải trí cao khi những mối bận tâm của biến) có tên tương ứng với các nội
về gia đình, công việc còn chưa chiếm dung trong từng nhóm như sau:
nhiều tâm trí và thời gian của họ. Nhìn
1/ Áp lực về cảm xúc (α = 0,833) với
chung, hầu hết các MXH đều được khen điểm trung bình là 1,17, bao gồm 6 nội
ngợi vì tính năng cung cấp nguồn giải trí dung về sự không thoải mái, sự bồn
cho người sử dụng như nghe nhạc, xem chồn, cảm giác cuộc sống vô vị, cảm
phim, chơi game trực tuyến. Chỉ cần giác mất mát, mệt mỏi và không thể
một chiếc máy tính hay điện thoại di cưỡng lại khi không sử dụng MXH.
động có kết nối internet, các SV dễ dàng
2/ Áp lực về thời gian (α = 0,803) với
xem phim, nghe nhạc, đọc truyện, chơi điểm trung bình là 1,27, với 4 nội dung
game, v.v. trong bất cứ thời gian và địa như: thời gian dành cho MXH ngày
điểm nào. Có lẽ đây là lí do khiến việc càng nhiều hơn, tăng lên liên tục, thời
thực hiện nhu cầu giải trí cũng nằm mức gian nhiều hơn so với dự định và so với
độ cao trong nghiên cứu này. trước đây.
Nhóm nhu cầu kinh doanh và nhu cầu
3/ Áp lực tới hoạt động sống (α =
thể hiện bản thân, tìm kiếm việc làm nằm 0,799) có điểm trung bình là 1,27, với 4
ở mức thấp cho thấy việc kinh doanh qua nội dung nói về việc dùng MXH nhiều
MXH không phải là mối bận tâm của ảnh hưởng tiêu cực đến việc học tập,
SV. Bên cạnh đó, 80% SV trong nghiên sức khỏe suy giảm, giao tiếp với bạn bè
cứu này đang học đại học năm thứ I, thứ bị ít đi và các hoạt động giải trí khác bị
II và thứ III đại học, nên có thể họ chưa giảm xút.
bị áp lực về công việc tương lai nên việc
4/ Áp lực tới khả năng làm chủ bản
tìm kiếm công việc trên MXH chưa phải thân (α = 0,718) với điểm trung bình là là nhu cầu cao của họ.
1,13, bao gồm 3 nội dung, như: cá
5. Áp lực từ sử dụng mạng xã hội nhân không thể kiềm chế mong muốn
đối với sinh viên
vào MXH, cá nhân không thành công
Kiểm định thang đo áp lực của việc khi cố giảm bớt thời gian vào MXH và
sử dụng MXH lên tâm lí người sử dụng việc không giải thoát được nỗi ám ảnh
cho thấy hệ số α rất đáng tin cậy (α = luôn thường trực trong đầu liên quan
0,894). Phân tích nhân tố từ 18 nội dung đến MXH. 58
Sử dụng mạng xã hội trong sinh viên Việt Nam
Biểu đồ 5: Điểm trung bình các nhóm áp lực do sử dụng mạng xã hội
Kết quả biểu đồ 5 cho thấy: SV sử người đang sử dụng MXH hàng ngày.
dụng MXH trong nghiên cứu này chịu
Xem xét mối tương quan giữa các
những áp lực bởi MXH ở mức bình nhóm áp lực đối với việc sử dụng MXH
thường. Nói cách khác, điểm trung bình (hình 1), kết quả cho thấy có mối tương
của các nhóm áp lực (từ 1,13 đến 1,27) quan thuận ở mức tương đối mạnh giữa
chưa phải là mức đáng lo ngại về ảnh nhu cầu sử dụng MXH và áp lực từ MXH
hưởng tiêu cực của MXH lên SV - những (với các giá trị: r = 0,313 và p < 0,001).
Hình 1: Tương quan giữa các nhóm áp lực do sử dụng mạng xã hội (***p < 0,001) 59
Tạp chí Khoa học xã hội Việt Nam, số 8(81) - 2014

Như vậy, khi SV có nhu cầu sử dụng của bản thân thông qua MXH hơn là
MXH càng cao thì họ càng có nguy cơ bằng con đường giao tiếp trực tiếp ngoài
chịu áp lực từ việc sử dụng MXH. Kết đời thực? Những tương tác trên MXH
quả này gợi ý về vai trò của nhu cầu sử có giúp SV giảm bớt sự căng thẳng từ
dụng MXH đối với nguy cơ chịu áp lực việc bị chối bỏ hay thất bại trong những
từ MXH của người sử dụng. Mặt khác, mối quan hệ trong thế giới thực? Liệu có
khi sinh viên sử dụng MXH có nguy cơ phải những sân chơi phục vụ cho việc
chịu áp lực ở bất cứ khía cạnh nào giải trí, thư giãn của SV còn quá ít nên
trong số 4 nhóm áp lực thì họ cũng có họ tìm đến MXH để hiện thực hóa nhu
nguy cơ bị những áp lực còn lại. Ví dụ, cầu của bản thân?
một sinh viên bị áp lực về thời gian
cũng sẽ có xu hướng đồng thời chịu áp Tài liệu tham khảo
lực về mặt cảm xúc (r = 0,60***), áp lực
1. Tiffany A. Pempek, Yevdokiya A. Yermolayeva,
tới các hoạt động sống (r = 0,495***) và Sandra L. Calvert (2009), “College students'
áp lực tới khả năng làm chủ bản thân
social networking experiences on Facebook”,
(r = 0,431***) khi sử dụng MXH.
Journal of Applied Developmental Psychology, 6. Kết luận 30, 227 - 238.
SV là những người trẻ, năng động
2. Danah Boyd (2007), “Why Youth (Heart)
nên việc họ sử dụng MXH là điều tất Social Network Sites: The Role of Networked
yếu. Không thể phủ nhận những lợi ích Publics in Teenage Social Life”, MacArthur
của MXH khi giúp sinh viên tăng cường Foundation Series on Digital Learning - Youth,
các mối quan hệ, tăng cường tri thức Identity, and Digital Media Volume (ed. David
hiểu biết, cung cấp nguồn giải trí lớn Buckingham), Cambridge, MA: MIT Press,
cho người sử dụng. Mặc dù vậy, với http://www.danah.org/papers/ WhyYouthHeart.pdf.
những kết quả trình bày ở trên, chúng
3. Uyên Huynh (Dịch từ Psychology Today),
tôi cho rằng cần có sự định hướng cho Có quá nhiều bạn trên Facebook? Bao nhiêu là
SV trong việc sử dụng MXH liên quan đủ? http://vietpsy.com/2013/06/09/qua-nhieu-
đến thời gian, mục đích sử dụng, cũng ban-be-tren-facebook/, Truy cập ngày 23 tháng
như những cách thức bảo vệ bản thân 7 năm 2013.
khi tham gia vào cộng đồng mạng. Việc
4. http://kenh14.vn/2-tek/11-website-khung-
SV (trong nghiên cứu này) đã sử dụng nhat-the-gioi-20130207114344885.chn, 11 website
MXH cho những mối tương tác xã hội "khủng" nhất thế giới, Truy cập ngày 07 tháng
và giải trí cá nhân vượt mức cho phép 02 năm 2013.
(mức chuẩn). Điều này đặt ra những câu
5. http://vn.answers.yahoo.com/question/ind
hỏi cho các nghiên cứu tiếp theo: Phải ex?qid=20130916210120AAs5G6Y
chăng SV hiện nay có xu hướng chú
6. http://en.wikipedia.org/wiki/Dunbar's_
trọng đến việc duy trì các mối quan hệ number 60
Sử dụng mạng xã hội trong sinh viên Việt Nam 61