



















Preview text:
Vấn đề 1: Nguồn gốc, bản chất của Nhà nước
1. Nguồn gốc của Nhà nước a. Điều kiện ra đời
• Quan điểm phi Mác-xít
- Thuyết thần học: NN như một lực lượng siêu tự nhiên do thượng đế tạo
ra để duy trì & ổn định trật tự xã hội. Phục tùng nhà nước -> phục tùng thượng đế
- Thuyết gia trưởng: những người đứng đầu gia đình
- Thuyết khế ước xã hội (tiến bộ&hạn chế): quyền lực NN thuộc dân, do dân, vì dân
• Học thuyết Mác-Lênin
- Nhà nước: là một hiện tượng lịch sử ra đời khi có những điều kiện kkinh
tế nhất định, gắn với sự thay thế các hình thái xã hội
- Chế độ cộng sản nguyên thủy: chưa có NN
+ Đặc điểm kinh tế: chế độ sở hữu chung về tư liệu sản xuát&sản phẩm
lao động -> chế độ công hữu
+ Đặc điểm xã hội: chưa có phân chia giai cấp, lãnh đạo bằng uy tín (thủ lĩnh, tộc trưởng. .)
- 3 lần phân công lao động xã hội và kết quả:
+ Lần 1: chăn nuôi tách khỏi trồng trọt => nghề chăn nuổi phát triển, giữ
lại tù binh làm nô lệ chăn nuôi gia súc; giai cấp nô lệ sở hữu sinh ra
=> bắt đầu xã hội tư hữu
+ Lần 2: thủ CN tách khỏi CN => đẩy nhanh phân hóa xã hội; mâu thuẫn
giữa chủ nô&nô lệ tăng lên
+ Lần 3: thương mại độc lập (xã hội phát triển) => nhu cầu trao ddoooir
tăng, hình thành đội ngũ thương nhân; mâu thuẫn xã hội ngày càng gay
gắt (những người chủ nô lo lắng những người nô lệ sẽ làm loạn nên lập ra
bộ máy NN chấn áp những người nô lệ)
Mâu thuẫn xã hội gay gắt > đấu tranh > NN ra đời để điều hòa mâu thuẫn,
kiểm soát xung đột xã hội trong trật tự
2 điều kiện cho sự ra đời và tồn tại của NN:
Kinh tế (chế độ tư hữu, tư liệu sx) + Xã hội (phân chia giai cấp)
+ Thời kì cộng sản nguyên thủy chưa có NN
+ Từ khi xuất hiện chế độ chiếm hữu nô lệ xuất hiện 2 chế độ trên
+ NN đầu tiên ra đời là NN chủ nô b. Sự ra đời của NN • Ở phương Đông:
- NN TQ, Ấn Độ, Ai cập cổ đại... được hình thành từ rất sớm
- Nhu cầu trị thủy và chống giặc ngoại xâm đã trở thành yếu tố thúc đẩy &
mang tính đặc thù trong sự ra đời NN của các quốc gia phương Đông
- Việt Nam: từ sự hình thành phôi thai của NN cuối thời Hùng Vương-Văn
Lang đến NN sơ khai thời An Dương Vương-Âu Lạc năm 208 TCN
2. Bản chất của NN
• Bản chất giai cấp: NN là công cụ giai cấp thống trị XH trên cả 3 phương diện
- Kinh tế: sở hữu tư liệu sx chủ yếu
- Chính trị: loại trừ sự phản kháng của giai cấp khác
- Tư tưởng: áp đặt, duy trì hệ tư tưởng của giai cấp mình cho toàn XH
VD. NN chủ nô do giai cấp chủ nô lập ra, nắm quyền, bảo vệ trước hết cho giai cấp chủ nô • Bản chất xã hội:
- NN quản lí XH, thực hiện những chức năng vì lợi ích chung của XH
- NN ban hành chính sách quản lí dựa trên điều kiện thực tế của XH
- NN thay đổi khi XH thay đổi
• Bản chất giai cấp & Bản chất xã hội có thể biểu hiện ở mức độ khác nhau
trong điều kiện cụ thể
Vấn đề 2: Đặc điểm của Nhà nước Nhà nước
Tổ chức, đoàn thể xã hội
• Nhà nước sẽ phân bố dân cư
• Có quyền lực trong phạm vi
theo các đơn vị hành chính và cộng đồng nhỏ
lãnh thổ, hoàn toàn không bị giới
• Không có quyền quản lí dân cư
hạn vì giai cấp, dân tộc hay tôn và lãnh thổ
giáo. Bằng chứng là nhà nước
• Không có chủ quyền. .
Việt Nam có 54 dân tộc anh em • Không có quyền
và nhiều tôn giáo khác nhau. • Không có quyền
• Nhà nước có bộ máy quyền lực
và có sức mạnh cưỡng chế đến
từ lực lượng quân đội, tòa án, cảnh sát…
• Có chủ quyền trong phạm vi
lãnh thổ quốc gia, có quyền được
quyết định những vấn đề quan trọng của đất nước.
• Được phép ban hành pháp luật
cũng như những quy tắc xử sự
chung mang tính bắt buộc với
các thành viên sống trong quốc gia đó.
• Có quyền được quy định các loại
thuế mang tính bắt buộc với cá
nhân cũng như các tổ chức trong
xã hội nhằm mục tiêu thiết lập
tài chính để nuôi bộ máy nhà
nước, từ đó có thể thực hiện tốt chức năng của mình.
Vấn đề 3: Kiểu Nhà nước & Hình thức Nhà nước 1, Kiểu nhà nước
• Khái niệm : là những dấu hiệu cơ bản đặc thù thể hiện bản chất giai cấp, điều
kiện phát triển của NN trong một hình thái kinh tế xã hội nhất định
---> Dựa vào khái niệm kiểu NN chúng ta có thể nhận thức được một cách cụ thể
và logic về bản chất và ý nghĩa xã hội của các NN được xếp vào cùng loại ,về
những điều kiện tồn tại và phát triển của NN đó. Ví dụ khi xác định một NN đã tồn
tại trong một thời điểm lịch sử nhất định thuộc kiểu NN chủ nô, chúng ta sẽ có
ngay những thông tin cơ bản về bản chất và những dấu hiệu đặc trưng của NN đó.
• Trong lịch sử xã hội có giai cấp đã tồn tại bốn hình thái KTXH : Chiếm hữu nô
lệ, Phong kiến, Tư bản chủ nghĩa, Xã hội chủ nghĩa. Phù hợp với bốn hình thức
kinh tế xã hội đã có 4 kiểu NN:
- Kiểu nhà nước chủ nô:
+ Bản chất của nhà nước chủ nô: NN chủ nô cũng có hai bản chất tính giai cấp và tính xã hội:
+ Cơ sở kinh tế của nhà nước chủ nô: là quan hệ sản xuất chiếm hữu nô lệ.
Những quan hệ sản xuất này được xây dựng trên cơ sở chế độ chiếm hữu của chủ nô
đối với toàn bộ tư liệu sản xuất và cả người sản xuất là nô lệ
+ Cơ sở xã hội của nhà nước chủ nô: Trong xã hội chiếm hữu nô lệ tồn tại hai
giai cấp cơ bản là chủ nô và nô lệ. Chủ nô chỉ là một thiểu số dân cư trong xã hội
những tất cả: đất đai, tư liệu sản xuất, nô lệ, tự do cá nhân và toàn quyền thống trị
đối với nô lệ. Nô lệ chiếm số đông trong xã hội nhưng tính mạng, số phận cũng như
các hoạt động xã hội nhưng tính mạng, số phận cũng như các hoạt động xã hội của
họ đều do chủ nô quyết định.
+ Tính giai cấp: NN chủ nô là công cụ bạo lực để duy trì sự thống trị mọi mặt
của giai cấp chủ nô đối lưu lệ và các tầng lớp nhân dân lao động trong xã hội, duy
trì tình trạng bất bình đẳng giữa chủ nô với lu lệ với các tầng lớp nhân dân lao động khác.
+ Tính xã hội: Các NN chủ nô ở các mức độ khác nhau đã tiến hành những
hoạt động mang tính xã hội như: hoạt động làm thuỷ lợi ở các quốc gia chiếm hữu
nô lệ phương Đông, xây dựng và bảo vệ các công trình công cộng, hay hoạt động
phát triển kinh tế thương mại ở Hy Lạp. - Kiểu NN phong kiến:
+ Cơ sở kinh tế của NN phong kiến: là phương thức sản xuất phong kiến với
nét đặc trưng là chế độ chiếm hữu ruộng đất của vua chúa phong kiến và giai
cấp địa chủ. Lực lượng sản xuất chủ yếu trong xã hội là giai cấp nông dân.
+ Xã hội phong kiến có kết cấu xã hội phức tạp, giai cấp thống trị trong xã hội
gồm vua, chúa, quan lại, quý tộc (công, hầu, bá, tử, nam), địa chủ, tăng lữ, cố đạo...
Giai cấp bị thống trị là các tầng lớp nông dân nghèo, những người lao động tự do,
tầng lớp tiểu thương và nông nô.
+ Nhà nước phong kiến cũng có hai bản chất là tính giai cấp và tính xã hội:
Tính giai cấp: Bộ máy chuyên chính của giai cấp địa chủ, phong kiến, là công
cụ để thực hiện và bảo vệ lợi ích, quyền, địa vị thống trị của giai cấp địa chủ, quý tộc
phong kiến trong xã hội trên cả 3 lĩnh vực: KT, CT, TT.
Tính xã hội: còn là tổ chức quyền lực chung của xã hội, là đại diện chính thức
của toàn xã hội nên NNPK có nhiệm vụ tổ chức và điều hành các hoạt động chung
của xã hội vì sự tồn tại và lợi ích chung của cả cộng đồng xã hội (+) tiến hành 1 số
hoạt động nhằm phát triển kinh tế – xã hội.
=> Tính xã hội mờ nhạt, hạn chế, tính giai cấp thể hiện công khai, rõ rệt. - Kiểu NN tư sản: + Tính giai cấp:
Thời kì 1: “NNTB là UB giải quyết công việc chung của gia cấp tư sản”: nhà
nước đối xử với các giai cấp tư sản hoàn toàn như nhau => NN đều là phương tiện,
công cụ giải quyết công việc chung.
Thời kì 2: “……………tập đoàn TB lũng đoạn” => NNTB sẵn sang tước đoạt,
chà đạp quyền lợi nhà tư bản nhỏ và vừa dưới danh nghĩa quốc hữu hóa vì quyền lợi quốc gia.
+ Tính xã hội: Đặc điểm chung qua các thời kì
Giai đoạn của CNTB tự do cạnh tranh: TS và với là đồng minh chống phong kiến
Giai đoạn của CNTB độc quyền lũng đoạn nhà nước hay gđ chủ nghĩa đế quốc:
bộ máy bạo lực đàn áp phong trào đấu tranh.
Giai đoạn của CNTB hiện đại
- Kiểu NN xã hội chủ nghĩa:
+ Cơ sở kinh tế của NNXHCN: là quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa mà đặc
trưng là chế độ công hữu về tư liệu sản xuất.
+ Cơ sở xã hội của NNXHCN: là quan hệ giữa các giai cấp, tầng lớp trong xã
hội, trong đó nền tảng là liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và tầng lớp trí thức.
1. Hình thức
• Khái niệm: là cách thức tổ chức và thực hiện quyền lực NN của giai cấp thống
trị bao gồm hình thức chủ thể, hình thức cấu trúc và chế độ chính trị
- Hình thức chính thể: là cách thức và trình tự thành lập cơ quan cao nhất
của quyền lực nhà nước, xác lập moi quan hệ giữa cơ quan đó với cơ quan
cẩp cao khác và với nhân dân.
+ Hình thức chính thể thành hai dạng cơ bản là chính thể quân chủ và chính
thể cộng hoà: Hình thức quân chủ là chính thể mà trong đó quyền lực tối
cao của nhà nước tập trung toàn bộ hoặc một phần vào tay một cá nhân
(vua, quốc vương...) theo phương thức cha truyền con nổi (thế tập); Cộng
hoà là chỉnh thể mà trong đó quyền lực cao nhẩt của nhà nước thuộc về cơ
quan (tập thể) đại diện của nhân dân.
+ Hình thức cấu trúc :Hình thức cấu trúc nhà nước là cách thức tổ chửc
quyền lực nhà nước theo các đơn vị hành chính - lãnh thổ và xác lập mối
quan hệ giữa các cấp chính quyền nhà nước với nhau.
Nhà nước đơn nhất là hình thức cấu trúc nhà nước truyền thống và rất
phổ biến ữên thế giới, tuy nhiên hình thức cấu trúc này rất đa dạng và
phức tạp, phụ thuộc vào điều kiện kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội... của mỗi nước.
Nhà nước liên bang được hình thành bằng nhiều con đường khác nhau.
Chẳng hạn, nhà nước liên bang có thể được hình thành từ việc các nhà
nước đơn nhất tự nguyện liên kết với nhau;1 có thể thông qua con đường
xâm chiếm, mua bán lãnh thổ. Chẳng hạn: Liên Xô, Tiệp Khắc, 13 bang
đầu tiên của Mỹ... Bang Floriđa là Mỹ mua của Tây Ban Nha, bang
Louisiana mua của Pháp, bang Alasca mua của Nga...; cũng có thể từ
một nhà nước đơn nhất được liên bang hoá...
• Chế độ chính trị: là tổng thể các phương pháp mà nhà nước sử dụng để thực
hiện quyền lực NN có thể chia thành hai dạng cơ bản là chế độ chính trị dân
chủ và chế độ chính trị phản dân chủ.
• Hình thức nhà nước trên thế giới vô cùng đa dạng, phức tạp. Cũng như các
yếu tố khác của nhà nước, hình thức nhà nước phụ thuộc vào điều kiện kinh
tế - xã hội của đất nước; tương quan lực lượng giữa các giai cấp, các lực lượng
xã hội; phong tục, tập quán, đặc điểm tâm lí, truyền thống dân tộc và xu thế của thời đại...
Vấn đề 4: Nhà nước xã hội chủ nghĩa Việt Nam
• Nhà nước xã hội chủ nghĩa có bản chất và mục đích khác với các kiểu nhà
nước đã tồn tại trước nó, vì vậy nó đòi hỏi phải có một bộ máy tương ứng,
phản ánh đúng bản chất của nhà nước, phù hợp với các quy luật vận động và
phát triển khách quan của xã hội, phù hợp với các điều kiện lịch sử, chính trị,
kinh tế, văn hóa, xã hội và các yếu tố truyền thống,đạo đức của mỗi nước
trong mỗi giai đoạn cụ thể.
• Bộ máy NNXHCN nói chung cũng như bộ máy của nhà nước ta hiện nay có
những đặc điểm riêng,thể hiện ở những mặt cơ bản sau:
Thứ nhất, bộ máy quản lý của NNXHCN phát triển mạnh và không ngừng
được củng cố, hoàn thiện.
Thứ hai, bộ máy NNXHCN được tổ chức theo nguyên tắc quyền lực nhà
nước là thống nhất, có sự phân công và phối hợp giữa các cơ quan nhà nước
trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp.
Thứ ba, bộ máy NNXHCN có đội ngũ cán bộ là những công chức mới. Đội
ngũ cán bộ đó phải đáp ứng những tiêu chuẩn chung
1. Các loại cơ quan nhà nước xã hội chủ nghĩa
• Cơ quan nhà nước: là bộ phận cấu thành của BMNN, đây là tổ chức (hoặc cá
nhân) mang quyền lực nhà nước được thành lập và có thẩm quyền theo quy
định của pháp luật với mục đích nhằm thực hiện nhiệm vụ và chức năng của NN
• Có nhiều cách tiếp cận khác nhau để phân loại các cơ quan của bộ máy nhà
nước xã hội chủ nghĩa.
- Xét theo hình thức thực hiện ba quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp thì các
cơ quan nhà nước được chia thành cơ quan lập pháp, cơ quan hành pháp
và cơ quan tư pháp. Tuy nhiên, cách phân chia này cũng chỉ mang tính
tương đối và cũng chỉ có thể sử dụng để xem xét bộ máy nhà nước ở trung ương.
- Xét theo trình tự thành lập, các cơ quan NNXHCN có thể được chia thành
các cơ quan do nhân dân trực tiếp bầu ra (hệ cơ quan thứ nhất, có tính phát
sinh) và các cơ quan không do nhân dân trực tiếp bầu ra (hệ cơ quan thứ hai, có tính phát sinh).
- Xét theo tinh chất thẩm quyền, các cơ quan NNXHCN có thể chia thành
các cơ quan có thẩm quyền chung và các cơ quan có thẩm quyền riêng.
Loại cơ quan thứ nhất có quyền xem xét và quyết định bất cứ vấn đề gì để
bảo đảm lợi ích xã hội (gồm Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội, Chủ
tịch nước, Chính phủ, Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân các cấp).
Loại cơ quan thứ hai chỉ có thẩm quyền xem xét và quyết định những vấn
để trong một phạm vi nhất định của đời sống xã hội(gồm các bộ, các sở, phòng.)
- Xét theo cấp độ thẩm quyền các cơ quan NNXHCN được chia thành các
cơ quan nhà nước ở Trung ương và các cơ quan nhà nước ở địa phương.
2. Các cơ quan quyền lực nhà nước
• Các cơ quan quyền lực nhà nước (còn gọi là hệ thống cơ quan đại diện) bao
gồm Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp. Các cơ quan quyền lực nhà
nước do nhân dẫn trực tiếp bầu ra, nhân danh nhân dân để thể hiện và thực thi
một cách thống nhất quyền lực, phải chịu trách nhiệm và phải báo cáo trước
nhân dân (cử tri) về mọi hoạt động của mình.
• Ở nước ta, Quốc hội là cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân và là cơ quan
quyền lực nhà nước cao nhất, là cơ quan duy nhất có quyền lập hiến và lập pháp.
*Chủ tịch nước: Trong bộ máy NNXHCN, chủ tịch nước là một trong những
thành tố rất quan trọng và trong hiến pháp thường có hẳn một chế định pháp luật về chủ tịch nước.
3. Các cơ quan quản lý nhà nước
• Các cơ quan quản lý NN còn được gọi là hệ thống cơ quan chấp hành, điều
hành hoặc cơ quan hành chính nhà nước.
Ở nước ta, hệ thống cơ quan quản lý NN gồm có: Chính phủ, các bộ, các cơ quan
ngang bộ, các cơ quan thuộc Chính phủ và Ủy ban nhân dân các cấp.
• Chính phủ là cơ quan cao nhất trong hệ thống cơ quan quản lý nhà nước, là
cơ quan có thẩm quyền chung
4. Các cơ quan quốc phòng và an ninh
• Hệ thống cơ quan quốc phòng và an ninh mặc dù nằm trong hệ thống các cơ
quan quản lý NN nhưng lại có vị trí và vai trò rất quan trọng trong bộ máy
NNXHCN. Chúng được tổ chức ra nhằm thực hiện chức năng bảo đảm an
ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội, bảo đảm sự ổn định chính trị và các quyền
tự do dân chủ của nhân dân, bảo vệ những thành quả cách mạng, tính mạng
tài sản của nhân dân, tài sản xã hội chủ nghĩa, đấu tranh phòng ngừa và chống các loại tội phạm.
• Ở nước ta hệ thống cơ quan quốc phòng, an ninh gồm có: Hội đồng quốc
phòng và an ninh, Bộ Quốc phòng, Bộ Công an và các cơ quan quốc phòng, an ninh địa phương.
5. Các cơ quan xét xử
• Hệ thống các cơ quan xét xử là loại cơ quan có chức năng đặc thù của bộ máy
NNXHCN, được thể hiện ở chỗ chúng trực thuộc cơ quan quyền lực NN, chịu
trách nhiệm báo cáo trước cơ quan quyền lực NN, nhưng trong hoạt động lại
độc lập và chỉ tuân theo pháp luật.
• Ở nước ta hệ thống cơ quan xét xử gồm có: Tòa án nhân dân tối cao, các Toà
án nhân dân địa phương, các Toà án quân sự và các toà án khác do luật định
6. Các cơ quan kiểm sát
• Hệ thống cơ quan kiểm sát của bộ máy nhà nước xã hội chủ nghĩa cũng có
đặc thù riêng đó là, chúng được tổ chức ra không chỉ để thực hiện quyền công
tố mà còn để kiểm sát các hoạt động tư pháp, góp phần bảo đảm cho pháp luật
được chấp hành nghiêm chỉnh và thống nhất.
• Ở nước ta hệ thống cơ quan kiểm sát gồm có: Viện kiểm sát nhân dân tối cao,
các Viện kiểm sát nhân dân địa phương và các Viện kiểm sát quân sự.
*Các nguyên tắc tổ chức và hoạt động cơ bản của bộ máy nhà nước xã hội chủ nghĩa
1. Nguyên tắc bảo đảm quyền lực nhân dân trong tổ chức và hoạt động của
bộ máy nhà nước: Đây là một trong những nguyên tắc rất quan trọng trong
tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước xã hội chủ nghĩa. Nội dung của nguyên tắc: •
Thứ nhất, phải bảo đảm cho nhân dân tham gia đông đảo và tích cực vào việc tổ chức lập ra BMNN •
Thứ hai, phải bảo đảm cho nhân dân tham gia đông đảo vào việc quản lý các
công việc NN và quyết định những vấn đề trọng đại của đất nước. •
Thứ ba, phải có cơ chế bảo đảm cho nhân dân thực hiện việc kiểm tra, giám
sát hoạt động của các cơ quan NN, nhân viên NN, các tổ chức và cá nhân khác
được trao cho những quyền hạn nhất định để quản lý một số công việc của NN
2. Nguyên tắc bảo đảm sự lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước
• NNXHCN là tổ chức thông qua đó Đảng cộng sản thực hiện sự lãnh đạo của
mình đối với tiến trình phát triển của xã hội.
• Ở nước ta, nguyên tắc bảo đảm sự lãnh đạo của Đảng đối với NN là nguyên
tắc hiến định: “Đảng cộng sản Việt Nam là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và lãnh đạo xã hội".
3. Nguyên tắc tập trung dân chủ
Tập trung dân chủ là nguyên tắc thể hiện sự kết hợp hài hoà giữa sự chỉ đạo tập trung
thống nhất của các cơ quan NN ở trung ương và các cơ quan NN cấp trên, là cơ sở
để phát huy tính chủ động, sáng tạo của quần chúng nhân dân, của tập thể và đề cao
trách nhiệm, ý thức kỷ luật của cán bộ, công chức NN
4. Nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa
• Nguyên tắc pháp chế XHCN đòi hỏi việc tổ chức và hoạt động của các cơ
quan NN phải được tiến hành theo đúng pháp luật trên cơ sở của PL
• Pháp chế XHCN là nguyên tắc phản ánh nhu cầu tự nhiên của bộ máy nhà
nước, đồng thời là đòi hỏi, là yêu cầu cẩu từ phía nhân dân đối với bộ máy NN và nhân viên NN
• Ở nước ta nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa là nguyên tắc hiến định.
5. Nguyên tắc bình đẳng, đoàn kết giữa các dân tộc
• Xuất phát từ bản chất của mình các NNXHCN đều thực hiện nguyên tắc bình
đẳng và đoàn kết giữa các giữacác dân tộc cùng sinh sống trên đất nước. NN
luôn tạo mọi điều kiện để các dân tộc phát huy mọi khả năng của dân tộc mình
tham gia tích cực vào quản lý NN, quản lý xã hội
• Nguyên tắc bình đẳng, đoàn kết giữa các dân tộc thường được biểu hiện ở
những điểm cơ bản trong lĩnh vực : chính trị, kinh tế, văn hoá- giáo dục
*Việc xây dựng và kiện toàn bộ máy nhà nước ta phải đáp ứng những yêu cầu cơ bản là:
1. Tiếp tục phát huy cao độ bản chất dân chủ, tạo điều kiện cho nhân dân thực
hiện quyền làm chủ của mình thông qua các hình thức dân chủ đại diện và
dân chủ trực tiếp. Tham gia tích cực vào việc xây dựng và bảo vệ NN, kiểm
tra, giám sát hoạt động của cơ quan NN và cán bộ, công chức NN
2. Kiện toàn bộ máy NN trong sạch, vững mạnh, tỉnh giản, gọn nhẹ, hoạt động
có hiệu lực và hiệu quả; nâng cao trách nhiệm của cán bộ, công chức NN trước nhân dân.
3. Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với NN
*Công tác xây dựng và kiện toàn bộ máy nhà nước ta trong giai đoạn hiện nay
bao gồm những nội dung sau đây:
1. Kiện toàn tổ chức, đổi mới phương thức và nâng cao hiệu quả hoạt động
của Quốc hội, trọng tâm là tăng cường công tác lập pháp, quyết định và phân
bổ ngân sách nhà nước, thực hiện quyền giám sát tối cao đối với toàn bộ
hoạt động của NN. Xây dựng một nền hành chính NN dân chủ, trong sạch,
vững mạnh, từng bước hiện đại hoá
2. Cải cách tổ chức, nâng cao chất lượng và hoạt động của các cơ quan tư
pháp, nâng cao tinh thần trách nhiệm của cơ quan và cán bộ tư pháp.Tăng
cường sự lãnh đạo của Đảng đối với tổ chức và hoạt động của bộ máy NN
nhằm giữ vững bản chất của NN, bảo đảm quyền lực nhân dân, đưa công
cuộc đổi mới đi đúng định hướng XHCN
3. Tăng cường tổ chức và cơ chế, tiếp tục đẩy mạnh cuộc đấu tranh chống
tham nhũng trong bộ máy NN và toàn bộ hệ thống chính trị
Vấn đề 5: Nguồn gốc, đặc điểm của Pháp luật
1) Nguồn gốc của Pháp luật
• Những nguyên nhân làm phát sinh NN cũng là những nguyên nhân dẫn đến
sự ra đời của pháp luật. Trong xã hội cộng sản nguyên thủy, những tập quán
(và tín điều tôn giáo) đã là những quy phạm xã hội rất phù hợp để điều chỉnh
các mối quan hệ xã hội lúc đó, bởi vì chúng phản ánh đúng trình độ phát triển
kinh tế - xã hội của chế độ cộng sản nguyên thủy. Khi chế độ tư hữu xuất hiện
và xã hội đã phân chia thành giai cấp thì những tập quán đó không còn phù
hợp nữa, vì tập quán thể hiện ý chí chung của mọi người trong thị tộc. Trong
điều kiện lịch sử mới khi những xung đột về lợi ích giai cấp diễn ra gay gắt
và cuộc đấu tranh giai cấp là không thể điều hòa được, thì cần thiết phải có
một loại quy phạm mới để thiết lập cho xã hội một "trật tự", một loại quy
phạmnhạm thể hiện ý chí của giai cấp thống trị, đó là quy phạm pháp luật
• Hệ thống pháp luật của các NN được hình thành dần dần từng bước phụ thuộc
vào những điều kiện và hoàn cảnh cụ thể của mỗi nước. Nhưng nói chung,
giai cấp thống trị đều tìm cách vận dụng các tập quán để phục vụ lợi ích của
giai cấp mình, dần dần thay đổi nội dung của các tập quán và bằng con đường
nhà nước nâng chúng thành các quy phạm pháp luật Hệ thống pháp luật của
các nhà nước còn được hình thành từ một nguồn khác, đó là các văn bản do
các cơ quan nhà nước ban hành. Việc chuyển hóa các tập quán để nâng chúng
thành luật chỉ là một bộ phận trong sự hình thành hệ thống pháp luật của các
nhà nước. Những mối quan hệ phức tạp mới phát sinh trong xã hội, đòi hỏi
phải có các quy phạm pháp luật mới để điều chỉnh. Vì vậy, hoạt động xây
dựng pháp luật của các nhà nước ra đời. Tuy nhiên, hoạt động này lúc đầu
còn đơn giản và phiến diện, nhiều quyết định của các cơ quan tư pháp, tòa án
đã có ý nghĩa như những nguyên tắc chung, những quy định chung
• Hệ thống pháp luật được hình thành dẫn cùng với sự phát triển của các NN
và hoạt động xây dựng pháp luật của các cơ quan trung ương. NN đã ban
hành ra các văn bản pháp luật nhằm củng cố chế độ tư hữu và quy định đặc
quyền cho giai cấp thống trị
• Như vậy, pháp luật là hệ thống các quy phạm do NN ban hành, thể hiện ý chí
của giai cấp thống trị. Nó khác hoàn toàn với các quy phạm xã hội khác (bao
gồm chủ yếu là các tập quán) thể hiện ý chí của tất cả mọi người. Pháp luật ra
đời cùng với NN, pháp luật là công cụ sắc bén để thực hiện quyền lực NN,
duy trì địa vị và bảo vệ lợi ích của giai cấp thống trị. NN ban hành ra pháp
luật và đảm bảo cho pháp luật được thực hiện. Cả hai hiện tượng đều là sản
phẩm của cuộc đấu tranh giai cấp.
2. Đặc điểm của pháp luật
• Pháp luật do NN ban hành và bảo đảm thực hiện: Pháp luật do NN ban hành
thông qua rất nhiều những trình tự thủ tục chặt chẽ và phức tạp với sự tham
gia của rất nhiều các cơ quan nhà nước có thẩm quyền, các tổ chức và các cá
nhân nên pháp luật luôn có tính khoa học, chặt ché, chính xác trong điều chỉnh
các quan hệ xã hội. Pháp luật được NN bảo đảm thực hiện bằng nhiều biện
pháp, trong đó các biện pháp cưỡng chế nhà nước rất nghiêm khắc như phạt
tiền, phạt tù có thời hạn, tù chung thân… Với sự bảo đảm của NN đã làm cho
pháp luật luôn được các tổ chức và cá nhân tôn trọng và thực hiện nghiêm
chỉnh, có hiệu quả trong đời sống xã hội
• Pháp luật có tính quy phạm phổ biến, gồm những quy tắc xử sự mang tính bắt
buộc chung: Pháp luật gồm các quy tắc xử sự chung, được thể hiện trong
những hình thức xác định, có kết cấu logic rất chặt chẽ và được đặt ra không
phải xuất phát từ một trường hợp cụ thể mà là sự khái quát hóa từ rất nhiều
những trường hợp có tính phổ biến trong xã hội. Điều này đã làm cho quy
định pháp luật có tính khái quát hóa cao, là những khuôn mẫu điển hình để
các chủ thể (tổ chức, cá nhân) thực hiện theo khi gặp phải những tình huống
mà pháp luật đã dự liệu. Pháp luật mang tính bắt buộc chung, các quy định
pháp luật được dự liệu không phải cho một tổ chức hay cá nhân cụ thể mà cho
tất cả các tổ chức và cá nhân có liên quan. Xuất phát từ vị trí, vai trò của nhà
nước trong xã hội (tổ chức đại diện chính thức cho toàn xã hội), nên pháp luật
là bắt buộc đối với tất cả, việc thực hiện pháp luật
• Pháp luật có tính xác định chặt chẽ về hình thức: Pháp luật luôn được thể hiện
dưới những hình thức phải nhất định, nói cách khác, những quy định pháp luật
phải được chứa đựng trong các nguồn luật như tập quán pháp, tiền lệ pháp,
văn bản quy phạm pháp luật… Sự xác định chặt chẽ về hình thức là điều kiện
để phân biệt giữa pháp luật với những quy định không phải là pháp luật, đồng
thời, cũng tạo nên sự thống nhất, chặt chẽ, rõ ràng, chính xác về nội dung của pháp luật
Ngoài các đặc điểm cơ bản nói trên, pháp luật còn có những điểm khác nữa như tính
ổn định, tính hệ thống …
Vấn đề 6: Kiểu pháp luật và Hình thức pháp luật
*Kiểu pháp luật
• Kiểu pháp luật: Là tổng thể những dấu hiệu, đặc thù cơ bản của pháp luật,
thể hiện bản chất giai cấp và và điều kiện tồn tại của pháp luật trong 1 hình thái kte xh nhất định.
• Là một bộ phận thuộc kiến trúc thượng tầng dựa trên các cơ sở kinh tế, chính
trị của một xã hội nhất định, tương ứng với các hình thái kinh tế – xã hội có
giai cấp có các kiểu pháp luật sau đây:
1. Kiểu pháp luật chủ nô a. Về bản chất •
Pháp luật chủ nô là hệ thống các quy tắc xử sự do NN chủ nô đặt ra hoặc thừa
nhận và bảo đảm thực hiện, chủ yếu thể hiện ý chí và bảo vệ địa vị của giai
cấp chủ nô, là nhân tố điều chỉnh và bảo đảm cho sự phát triển ổn định của
các quan hệ xã hội chiếm hữu nô lệ. Bản chất của pháp luật chủ nô thể hiện
qua tính giai cấp và tính xã hội. Cụ thể
- Tính giai cấp: pháp luật chủ nô là sự thể hiện ý chí của giai cấp chủ nô và nhằm bảo vệ lợi ích
- Tính xã hội: Pháp luật chủ nô góp phần xác lập trật tự xã hội thông qua việc
xác định các khuôn mẫu ứng xử cho con người, định hình các quy tắc hành
vi trong các hoạt động sinh hoạt, lao động, buôn bán, dịch vụ… Giống như
nhà nước chủ nô, tính giai cấp của nhà nước chủ nô thể hiện công khai và rõ
rệt hơn nhiều so với tính xã hội b. Đặc điểm
• Pháp luật chủ nô pháp luật chủ nô tạo cơ sở pháp lý cho việc củng cố và bảo
vệ quan hệ sản xuất chiếm hữu nô lệ, hợp pháp hóa chế độ bóc lột của chủ nô đối với nô lệ.
c. Nguồn và hình thức của pháp luật chủ nô
• Có thể nói nguồn quan trọng nhất của pháp luật chủ nô là phong tục tập quán
và đạo đức. Pháp luật chủ nô có cả ba hình thức cơ bản là tập quán pháp, tiền
lệ pháp và văn bản quy phạm pháp luật, trong đó hình thức tập quán pháp
chiếm ưu thế tuyệt đối.
2. Kiểu pháp luật phong kiến a. Bản chất
• Pháp luật phong kiến là kiểu pháp luật thứ hai trong lịch sử, ra đời cùng với
sự ra đời của nhà nước phong kiến. Kiểu pháp luật phong kiến thay thế cho
kiểu pháp luật chủ nô, chứa đựng nhiều yếu tố tiến bộ hơn pháp luật chủ nô.
Xét về bản chất của pháp luật phong kiến do chính các điều kiện kinh tế xã
hội phong kiến quy định hay nói cách khác nó do quan hệ sản xuất mặt bản
phong kiến quy định. Vì vậy, về mặt bản chất giai cấp, pháp luật phong kiến
thế hiện ý chí của giai cấp địa chủ, phong kiến, là phương tiện để bảo vệ trật
tự xã hội phong kiến, trước hết là quan hệ sản xuất phong kiến. Nó ghi nhận
sự bất bình đẳng giữa các đẳng cấp khác nhau trong xã hội, sự lệ thuộc của
nông dân vào giai cấp địa chủ, bảo vệ sự áp bức bóc lột của giai cấp địa chủ
phong kiến đối với nông dân.
• Về phương diện xã hội pháp luật phong kiến có vai trò xã hội nhất định. Nó
là phương tiện để nhà nước phong kiến thực hiện những công việc chung của
xã hội, ghi nhận và phát triển các quan hệ xã hội của hình thái kinh tế xã hội
phong kiến cao hơn, tiến bộ hơn so với hình thái kinh tế xã hội chiếm hữu nô
lệ. Đồng thời pháp luật phong kiến là phương tiện để nhà nước phong kiến
thực hiện những công việc chung, những chức năng xã hội. Trong những hoàn
cảnh, điều kiện lịch sử cụ thể pháp luật phong kiến không chỉ thể hiện ý chí
của giai cấp địa chủ phong kiến mà còn phản ánh ý chí chung của toàn xã hội. b. Đặc điểm
• Pháp luật phong kiến là pháp luật đẳng cấp và đặc quyền
• Pháp luật phong kiến mang tính dã man, tàn bạo
• Pháp luật phong kiến liên quan mật thiết tới tôn giáo và đạo đức phong kiến.
3. Kiểu pháp luật tư sản
• Pháp luật tư sản là hệ thống các quy phạm pháp luật ( các quy tắc ) có tính
chất bắt buộc chung, do Nhà nước tư sản ban hành ( hoặc thừa nhận ) và bảo
đảm thực hiện bằng sức mạnh cưỡng chế, trực tiếp thể hiện ý chí và bảo vệ
lợi ích của giai cấp tư sản, là công cụ có hiệu lực nhất để điều chỉnh các quan
hệ xã hội chủ yếu phù hợp với ý chí và lợi ích cơ bản của giai cấp tư sản.
• Những điểm tiến bộ của pháp luật tư sản so với pháp luật phong kiến Pháp
luật phong kiến là pháp luật đặc quyền về đẳng cấp còn pháp luật tư sản quy
định mọi công dân bình đẳng trước pháp luật. Với sự ra đời của pháp luật tư
sản lần đầu tiên trong lịch sử Pháp luật của nhân loại, nguyên tắc mọi công
dân bình đẳng trước pháp luật được thiết lập.
• Pháp luật tư sản tồn tại và phát triển trên cơ sở của quan hệ sản xuất tư bản
chủ nghĩa và chịu sự chi phối có tính chất quyết định của các quan hệ đó. Theo
Mác, nhà nước, pháp luật, đạo đức, khoa học, nghệ thuật … thực chất chỉ là
các loại hình đặc biệt của nền sản xuất và vì thế phải tuân thủ quy luật phổ
biến của nó. Kết luận này của Mác có ý nghĩa phương pháp luận rất lớn đối
với việc nghiên cứu bản chất của pháp luật tư sản. Không thể hiểu được bản
chất của pháp luật tư sản nếu không nói đến các điều kiện kinh tế – xã hội hợp
thành cơ sở tồn tại của nó.
• Quan hệ sản xuất tư bản là quan hệ sản xuất hàng hóa tồn tại dựa trên chế độ
tư hữu và bóc lột lao động làm thuê. Chính vì vậy, giai cấp tư sản đặc biệt
quan tâm đến việc duy trì và củng cố chế độ tư hữu, cạnh tranh tự do. Điều
này không chỉ thể hiện ở việc giai cấp tư sản biến việc bảo vệ chế độ tư hữu
thành một trong những chức năng cơ bản của nhà nước mà ở việc thể chế hóa nó thành pháp luật
• Như vậy, pháp luật tư sản thể hiện ý chí của giai cấp tư sản là bằng mọi giá
phải duy trì và củng cố chế độ tư hữu và sự chi phối không hạn chế của nó
đối với các yếu tố xã hội, kinh tế và chính trị.
4. Kiểu pháp luật xã hội chủ nghĩa
• Kiểu pháp luật XHCN là kiểu pháp luật cuối cùng trong lịch sử nhà nước và
pháp luật, hình thành sau cách mạng vô sản và thiết lập nhà nước chuyên chính vô sản.
• Đặc điểm cơ bản của kiểu pháp luật XHCN là: thể hiện ý chí và bảo vệ quyền
lợi của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và cả cộng đồng dân tộc nói
chung; có mối quan hệ mật thiết với đường lối chủ trương chính sách của
Đảng cộng sản; thừa hưởng những thành quả của pháp luật ra đời trong xã hội
tư sản; không chia thành công pháp và tư pháp; có hình thức chủ yếu là văn
bản quy phạm pháp luật.
• Xét ở góc độ chung, cũng như các kiểu pháp luật khác, pháp luật xã hội chủ
nghĩa vừa mang tính giai cấp vừa thể hiện tính xã hội. Tuy nhiên, do những
điều kiện, kinh tế, chính trị, xã hội, văn hóa, hệ tư tưởng trong chủ nghĩa xã
hội nên pháp luật xã hội chủ nghĩa có những đặc thù riêng, điều này làm cho
bản chất của pháp luật xã hội chủ nghĩa khác hẳn với bản chất của các kiểu pháp luật trước đó.
• Bản chất của pháp luật XHCN được thể hiện ở những đặc điểm cơ bản sau:
- Pháp luật XHCN là hệ thống quy tắc xử sự có tính thống nhất nội tại cao
- Pháp luật XHCN thể hiện ý chí của giai cấp công nhân
- Pháp luật XHCN có quan hệ chặt chẽ với các quy phạm xã hội * Hình thức pháp luật
• Là cách thức mà giai cấp thống trị sử dụng để nâng ý chí của giai cấp mình lên thành pháp luật.
• Có ba hình thức pháp luật phổ biến là pháp luật tập quán, pháp luật án lệ và
văn bản quy phạm pháp luật.
- Pháp luật tập quán (tập quán pháp) là những tập quán được Nhà nước thừa
nhận và đảm bảo thực hiện bằng cưỡng chế nhà nước;
- Án lệ pháp luật (án lệ pháp, tiền lệ pháp) là hình thức pháp luật hình thành từ
hoạt động xét xử của Toà án. Các bản án mẫu mực sau khi được một Hội đồng
Thẩm phán có thẩm quyền thừa nhận sẽ trở thành khuôn mẫu áp dụng cho các
vụ việc tương tự về sau;
- Văn bản quy phạm pháp luật do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành
theo thủ tục, trình tự luật định trong đó có chứa đựng các quy tắc xử sự mang
tính bắt buộc chung, được Nhà nước đảm bảo thực hiện nhằm điều chỉnh các
quan hệ xã hội quan trọng, cơ bản hoặc cần thiết.
Vấn đề 7: Quan hệ pháp luật
• Khái niệm: Quan hệ pháp luật là các quan hệ xã hội được điều chỉnh bởi các
quy phạm pháp luật khác nhau, những quan hệ xã hội này xác lập, phát triển,
tồn tại hay chấm dứt dựa trên quy định của pháp luật, các bên tham gia vào
quan hệ đó là những chủ thể có quyền chủ thể và nghĩa vụ pháp lý phát sinh
được pháp luật quy định và NN sẽ bảo đảm thực hiện • Đặc điểm:
- Quan hệ này được phát sinh trên cơ sở quy phạm pháp luật. Trong đó, quy
phạm pháp luật là sự dự liệu tình huống nảy sinh quan hệ pháp luật, xác định
được chủ thể tham gia, quyền lợi và nghĩa vụ pháp lý.
- Quan hệ mang tính ý chí, đây là ý chí của Nhà nước sau đó mới là ý chí của
các bên tham gia vào quan hệ đó.
- Nhà nước đảm bảo cho việc thực hiện quan hệ pháp luật, thậm chí là bảo đảm
bằng các biện pháp cưỡng chế thi hành.
- Khi tham gia quan hệ này, các bên bị ràng buộc bằng quyền chủ thể và nghĩa
vụ mà pháp luật quy định.
- Quan hệ pháp luật còn mang tính cụ về chủ thể tham gia là cá nhân, tổ chức
hay cơ quan nhà nước cũng như quyền và nghĩa vụ của các bên tham gia.
• Yếu tố cấu thành: Các yếu tố cấu thành quan hệ pháp luật gồm có: Chủ thể
của quan hệ pháp luật; Khách thể của quan hệ pháp luật và Nội dung của quan hệ pháp luật.
1. Chủ thể quan hệ pháp luật
- Chủ thể trong quan hệ pháp luật có thể là cá nhân, tổ chức phải có năng pháp
luật, năng lực hành vi phù hợp phù hợp để tham gia vào các quan hệ đó và
thực hiện các quyền, lợi ích hợp pháp cũng như nghĩa vụ pháp lý theo quy định.
- Trong đó chủ thể là cá nhân và tổ chức khác nhau, cụ thể:
+ Chủ thể quan hệ pháp luật là cá nhân: Năng lực pháp luật của cá nhân là khả
năng để cá nhân đó có quyền và nghĩa vụ dân sự. Còn năng lực hành vi dân
sự của cá nhân là khả năng mà cá nhân đó bằng hành vi của mình để xác lập,
thực hiện quyền và nghĩa vụ dân sự.
+ Chủ thể quan hệ pháp luật là tổ chức: Đối với chủ thể này, năng lực pháp
luật dân sự và năng lực hành vi sẽ xuất hiện đồng thời khi tổ chức đó thành
lập theo quy định của pháp luật và chấm dứt tư cách pháp lý khi bị phá sản, giải thể.
2. Khách thể quan thể quan hệ pháp luật
- Khách thể của quan hệ pháp luật là những lợi ích mà các chủ thể mong muốn
đạt được đó là lợi ích về vật chất hoặc tinh thần, khi tham gia vào quan hệ pháp luật
- Khách thể trong quan hệ pháp mà các bên hướng đến có thể là tài sản vật chất,
lợi ích phi vật chất hay hành vi xử sự của con người VD.
+ Vàng, trang sức, đá quý, tiền. xe, nhà, đất,… (tài sản vật chất)
+ Khám chữa bệnh, vận chuyển hàng hóa, chăm sóc sắc đẹp, tham gia bầu cử,…(hành vi xử sự)
+ Quyền nhân thân, danh dự, nhân phẩm, học hàm học vị,…(Lợi ích phi vật chất)
3. Nội dung quan hệ pháp luật
- Nội dung của quan hệ pháp luật là tổng thể quyền và nghĩa vụ pháp của các
chủ thể tham giam trong quan hệ đó. Trong đó:
+ Quyền của chủ thể tham gia: Chủ thể thực hiện quyền của mình thông qua
việc thực hiện các hành vi trong khuôn khổ pháp luật, yêu cầu chủ thể khác thực
hiện hoặc kiềm chế thực hiện hành vi nhất định
+ Nghĩa vụ của chủ thể tham gia: Chủ thể tham gia phải xử sự theo quy định
của pháp luật và chịu trách nhiệm trước pháp luật
Vấn đề 8: Thực hiện pháp luật
1. Khái niệm
• Pháp luật là hành vi thực tế, hợp pháp, có mục đích của các chủ thể được
hình thành trong quá trình hiện thực hóa các quy định pháp luật
• Từ việc hiểu “Thực hiện pháp luật” là gì có thể khái quát được hai thực tế:
- Thực hiện pháp luật là hành vi hợp pháp của các chủ thể pháp luật
- Thực hiện pháp luật được tiến hành bởi nhiều chủ thể với nhiều cách thức
khác nhau, chủ thể có khả năng nhận thức và điều khiển hành vi
2. Các hình thức thực hiện pháp luật
• Tuân thủ pháp luật: Là hình thức thực hiện pháp luật mà chủ thể pháp luật
kiềm chế mình để không thực hiện điều pháp luật cấm. Tuân thủ pháp luật
mang tính chất bắt buộc
- Hình thức thể hiện: Thường dưới dạng những quy định cấm đoán. Tức
quy phạm không bắt buộc chủ thể không được thực hiện những hành vi nhất định.
- Đối tượng thực hiện: Mọi chủ thể.
- Bản chất: Tuân thủ pháp luật có tính chất thụ động và thể hiện dưới dạng
hành vi không hành động.
- Ví dụ: Pháp luật cấm hành vi mua bán mại dâm, mua bán ma túy, vũ khí. .
• Thi hành pháp luật: Là việc chủ thể pháp luật chủ động thực hiện điều
pháp luật yêu cầu. Thi hành pháp luật mang tính bắt buộc thực hiện
- Hình thức thể hiện: Thường dưới những quy phạm bắt buộc. Do đó chủ
thể buộc phải thực hiện hành vi hành động mang tính hợp pháp.
- Đối tượng thực hiện: Mọi chủ thể.