-
Thông tin
-
Quiz
Tài liệu ôn tập Triết học Mác - Lênin | Trường đại học Luật, đại học Huế
Tài liệu ôn tập Triết học Mác - Lênin | Trường đại học Luật, đại học Huế được sưu tầm và soạn thảo dưới dạng file PDF để gửi tới các bạn sinh viên cùng tham khảo, ôn tập đầy đủ kiến thức, chuẩn bị cho các buổi học thật tốt. Mời bạn đọc đón xem!
Triết học Mac - Lenin (TH) 20 tài liệu
Trường Đại học Luật, Đại học Huế 440 tài liệu
Tài liệu ôn tập Triết học Mác - Lênin | Trường đại học Luật, đại học Huế
Tài liệu ôn tập Triết học Mác - Lênin | Trường đại học Luật, đại học Huế được sưu tầm và soạn thảo dưới dạng file PDF để gửi tới các bạn sinh viên cùng tham khảo, ôn tập đầy đủ kiến thức, chuẩn bị cho các buổi học thật tốt. Mời bạn đọc đón xem!
Môn: Triết học Mac - Lenin (TH) 20 tài liệu
Trường: Trường Đại học Luật, Đại học Huế 440 tài liệu
Thông tin:
Tác giả:












Tài liệu khác của Trường Đại học Luật, Đại học Huế
Preview text:
TRIẾT HỌC PHẦN 2 :
Câu 5 : Nội dung cặp phạm trù cái riêng và cái chung Định nghĩa Cái riêng
1 sự vật , 1 hiện tượng
là phạm trù TH dùng để chỉ nhất định .
Cái chung chỉ dùng để chỉ những mặt , những thuộc tính không những có ở một sự
vật 1 hiện tượng , mà còn lặp lại trong nhiều sự vật, hiện tượng ( nhiều cái riêng) khác nữa.
Cái đơn chất dùng để chỉ các mặt , các đặc
điểm chỉ tồn tại ở
1 sv, ht và không lặp
lại ở sv , ht khác.
Thế giới động vật bao gồm các cá thể ( cái đơn nhất ) nhiều loài khác nhau ( mỗi loài
là 1 cái riêng ) nhung tất cả đều tuân theo các quy luật chung của sự sống ( cái chung )
Vd : 1 cá nhân , 1 quốc gia là 1 cái riêng ; quy luật cung cầu , cạnh tranh, giá trị là cái chung ở
các nền kte thị trường ,……
Mối quan hệ biện chứng giữa cái chung và cái riêng – ý nghĩa phương pháp luận
Cái chung là chỉ tồn tại trong cái riêng , thông qua cái riêng mà biểu hiện sự tồn
tại của nó, nó không tồn tại biệt lập , tách rời cái riêng -> Muốn phát hiện cái chung
phải xuất phát từ cái riêng
Vd : muốn tìm ra thất thoát trong đầu tư vào lĩnh vực y tế cần phải đi vào từng bệnh viện , cơ sở y tế ….
Cái riêng chỉ tổn tại trong mối quan hệ với cái chung; không có cái riêng tồn tại
độc lập tuyệt đối tách rời cái chung -> để giải quyết cái riêng cũng phải gắn với cái chung .
Vd : để giải quyết vấn đề dạy thêm , học thêm , bệnh thành tích … ở từng trường phổ
thông -> phải quan tâm giải quyết những vấn đề chung của giáo dục của hệ thống ……
Cái riêng là cái toàn bộ , phong
phú , đa dạng hơn cái chung : còn cái chung là cái bộ phận
sâu sắc , bản chất nhưng hơn cái riêng
Vd công thức 1CR= nhiều cái chung + nhiều cái đơn nhất …. Cái chung và cái đơn nhất có
thể chuyển hoá lẫn nhau trong những điều kiện xác
định. Cái chung chuyển hoá thành cái đơn nhất khi nó là cái đã cũ , lỗi thời , lạc hậu
và không còn phù hợp . Cái đơn nhất chuyển hoá thành cái chung khi nó là cái tiến
bộ , cách mạng và ngày càng trở nên phù hợp với quy luật khách quan .
Ý nghĩa phương pháp luận
Vì cái chung chỉ tồn tại trong cái riêng ,thông qua cái riêng nên khi xây dựng cái
chung chúng ta phải xuất phát từ mỗi cái riêng đồng thời cũng không thể xuất phát từ
ý muốn chủ quan của con người . Tránh tuyệt đối hoá cái chung , xa rời cái riêng.
Vì cái riêng gắn bó chặt chẽ với cái chung , 0 tồn tại ở bên ngoài mối liên hệ dẫn đến
cái chung cho nên để giải quyết cái riêng cũng phải gắn với cái chung. Tránh tuyệt đối
hoá cái riêng coi thường cái chung , tránh chủ nghĩa cá nhân cực đoan , tư tưởng địa phương , cục bộ.
Vì cái đơn nhất có thể chuyển hoá thành cái chung và ngược lại nên cần phát hiện , tạo
điều kiện cho cái đơn nhất , cái mới , cái tiến bộ và tích cực phát triển , phổ biến thành
cái chung; đồng thời cần hạn chế , đấu tránh loại bỏ , thủ tiêu những cái chung đã cũ ,
lạc hậu , 0 còn phù hợp. Câu 6 :
Nội dung cặp phạm trù nguyên nhân và kết quả Định nghĩa -
Nguyên nhân là phạm trù dùng để chỉ sự tác động lẫn nhau giữa các mặt trong 1
sv, ht hoặc giữa các sự vật , ht với nhau gây ra sự biến đổi nhất định -
Kết quả là phạm trù dùng để chỉ những biến đổi xuất hiện do sự tác động lẫn nhau
giữa các mặt , các yếu tố trong 1 sv , ht hoặc giữa các sự vật , ht với nhau.
Vd : Ô nhiễm MT nặng hơn , lũ lụt nhiều hơn … ( kết quả ) nó do sự tác động của nhiều
yếu tố ( nguyên nhân ) …
Mối quan hệ biện chứng giữa nguyên nhân và kết quả
Nguyên nhân sản sinh ra kết quả nên nguyên nhân bao giờ cũng có trước kết quả ,
kết quả chỉ xuất hiện khi có nguyên nhân gây ra , kết quả bao giờ cũng có sau .
Vd : Do phá rừng , vứt rác bừa bãi …(NN) -> Ô nhiễm MT (KQ)…
MLH nhân – quả là mối liên hệ mang tính phức tạp , thể hiện là 1 NN có thể sinh
ra 1 hoặc nhiều KQ và 1 KQ có thể do 1 hoặc nhiều NN sinh ra . NN có nhiều loại : cơ
bản và 0 cơ bản ; bên trong và bên ngoài ; chủ yếu và thứ yếu … mỗi loại có vị trí , vai
trò khác nhau đối với việc hình thành KQ .
Vd : kết quả học tập kém cần phân tích NN…
NN và KQ chuyển hoá lẫn nhau , trong MLH này sv,ht đóng vai trò là NN but trong
MLH khác nó lại là kết quả . Do đó , MLH nhân quả là 1 chuỗi vô cùng , vô tận , sẽ 0
thể xđ đc đâu là NN đầu tiên và đâu là KQ cuối cùng .
KQ có thể tác động trở lại NN , KQ sau khi ra đời 0 phải là thụ động , trái lại nó có
thể tác động trở lại NN
Vd : Con ng tàn phá MT và đang nhận sự tác động tiêu cực từ MT ….
Ý nghĩa phương pháp luận -
Trong HĐ nhận thức và HĐ thực tiễn phải bắt đầu từ việc đi tìm những NN xuất hiện sv , ht . -
Cần phải phân loại các NN để có những biện pháp giải quyết đúng đắn -
Phải tận dụng các KQ đã đạt đc để tạo đk thúc đẩy NN phát huy tác dụng , nhằm
đạt mục đích đã đề ra.
Câu 8 : Vai trò của thực tiễn đối với nhận thức ( khái niệm, vai trò, nguyên tắc ) Khái niệm
- Thực tiễn là tất cả những hoạt động vật chất có mục đích, mang tính
lịch sử - xã hội của con người nhằm cải biến tự nhiên, xã hội vì lợi ích của con người.
- Nhận thức là quá trình phản ánh tích cực, tự giác và sáng tạo thế giới
khách quan vào bộ óc của con người trên cơ sở thực tiễn, để từ đó sáng
tạo ra những tri thức về thế giới khách quan đó.
Thực tiễn và nhận thức luôn phát triển không ngừng trong sự tác động lẫn
nhau của chúng. Trong đó thực tiễn đóng vai trò là cơ sở của nhận thức, là
động lực của nhận thức, là mục đích của nhận thức và là tiêu chuẩn để kiểm tra chân lý
Thực tiễn trong vai trò là cơ sở c a nh ủ ận thức
- Thực tiễn làm bộc lộ ra những thuộc tính, những mối liên hệ bản chất
bên trong của sự vật giúp con người phản ánh được bản chất quy luật
vận động phát triển của sự vật.
- Ví dụ, trong hoạt động sản xuất vật chất, con người sử dụng các công
cụ lao động và chính các công cụ lao động đó đã “nối dài” các giác
quan của con người, giúp con người đi xa hơn trong việc nhận thức thế
giới. Chẳng hạn, con người sử dụng công cụ lao động đi sâu vào lòng
đất và phát hiện ra trong lòng đất có nước, các mỏ quặng,...
Thực tiễn trong vai trò là m c ụ đích c a nh ủ ận thức
- Thực tiễn là mục đích của nhận thức bởi tất cả những tri thức hay lý
thuyết khoa học chỉ có giá trị khi được vận dụng vào thế giới khách
quan. Xét đến cùng thì mục đích của mọi nhận thức không phải chỉ để
nhận thức mà là vì thực tiễn, vì sự cải biến thế giới khách quan và xã
hội theo nhu cầu của con người.
- Ví dụ việc nghiên cứu phát hiện ra các quy luật khoa học thường được
khái quát thành những kinh nghiệm trong sản xuất. Con người ứng
dụng những quy luật này vào thực tiễn để hoạt động thực tiễn ngày
càng đạt hiệu quả và năng suất cao hơn. Chẳng hạn như con người biết
được lúa, gạo, ngô có giá trị sử dụng đó là để làm cơm, làm rượu,.. thì
con người đã tìm mọi cách để tạo ra nhiều giống lúa, giống ngô có chất
lượng cao hơn, năng suất cao hơn đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng cao
hơn cả về mặt số lượng lẫn chất lượng
Thực tiễn trong vai trò là động lực c a nh ủ ận thức
- Trong bản thân nhận thức có động lực trí tuệ nhưng xét đến cùng thì
động lực cơ bản và quyết định của nhận thức chính là thực tiễn. Trong
hoạt động thực tiễn con người đã vấp phải nhiều trở ngại, khó khăn
thậm chí thất bại. Những lần thất bại đó đã buộc con người phải giải
đáp những câu hỏi do thực tiễn đặt ra.
- Ăngghen đã từng nói rằng: “Sự thúc đẩy của công nghiệp và thực tiễn
đối với khoa học còn mạnh hơn hàng chục trường đại học. Chính thực
tiễn đã đặt hàng cho các nhà khoa học phải giải đáp những vấn đề bế
tắc của thực tiễn”. Chúng ta hiểu đây là thực tiễn đã đặt hàng cho các
nhà khoa học, cho nhận thức và đòi hỏi nhận thức của con người nói
chung các nhà khoa học nói riêng phải tìm cách giải đáp những vấn đề
bế tắc của thực tiễn.
Thực tiễn trong vai trò là tiêu chuẩn để kiểm tra chân lý
- Nhận thức của con người khi trở thành kinh nghiệm và lý luận thì tách
rời khỏi thực tiễn. Lúc này sẽ xảy ra hai khả năng: đúng hoặc sai. Tiêu
chuẩn cuối cùng để đánh giá nhận thức đó là đúng hay sai không nằm
trong lý luận hay trong nhận thức mà ở nằm trong thực tiễn. Khi nhận
thức được thực tiễn xác nhận là đúng thì nhận thức đó trở thành chân
lý, vì thế thực tiễn là tiêu chuẩn của chân lý.
- Tiêu chuẩn thực tiễn vừa có tính tuyệt đối lại vừa có tính tương đối.
Tuyệt đối vì thực tiễn là tiêu chuẩn khách quan để kiểm nghiệm chân
lý, tương đối vì thực tiễn không đứng nguyên một chỗ mà luôn luôn
vận động, biến đổi, phát triển.
- Thực tiễn là quá trình do con người thực hiện nên bản thân thực tiễn
luôn mang tính chủ quan. Trong quá trình phát triển không ngừng của
nhận thức và thực tiễn, những tri thức mà con người đạt được vẫn
thường xuyên được kiểm nghiệm và bổ sung, điều chỉnh, sửa chữa bởi
thực tiễn để phát triển hoàn thiện hơn.
Câu 13 : Quan điểm của triết học Mác – lênin về con người
Khái niệm con người và bản chất con người
Là thực thể sinh học – xã hội
Là sản phẩm của Lsu và của chính bản thân con người
Vừa là chủ thể của Lsuw , vừa là sản phẩm của Lsu
Bản chất con người là tổng hoà các quan hệ xh
Con người là 1 thực thể sinh học – xh , luôn giữ vai trò chủ thể trong mọi Hđ
Thực thể sinh học : chịu sự quy định của các quy luật sinh học để tồn tại và phát triển(con)
Thực thể xh : thông qua những sinh hoạt cộng đồng như lđ , giao tiếp , nhờ đó 1 hệ
thống các QHXH đc thiết lập (người) Bản chất con người
Không có con người trừu tượng , thoát ly hoàn cảnh lịch sử - xh . Con người luôn
xđ , sống trong 1 đk lsu cụ thể và con người bị những đk lsu xh đó chi phối.
“ Trong tính hiện thực của nó , bản chất con người là tổng hoà những quan hệ xã hội”
0 có con người trừu tượng…….
Tất cả các quan hệ xh đều góp phần hình thành bản chất con người – quyết định nhất là QHSX
Bản chất con người cụ thể là tổng thể các quan hệ xh “ vốn có” của con người và quy
định những đặc điểm cơ bản chi phối mọi hành vi của con người đó.
Con người là 1 thực thể sinh vật – xh….
Câu 2: Quan điểm của triết học Mác-Lênin về vật chất( định nghĩa, ý nghĩa)
Định nghĩa: vật chất là 1 phạm trù triết học dùng để chỉ thực tại khách
quan được đem lại cho con người trong cảm giác, được cảm giác của
chúng ta chép lại, chụp lại, phản ánh và tồn tại không lệ thuộc vào cảm giác.
Phân tích nội dung của định nghĩa
- Thứ nhất: Vật chất là một phạm trù triết học, điều này để phân biệt vật
chất với các vật thể khác. Những khái niệm, phạm trù của các khoa
học cụ thể chỉ phản ánh những thuộc tính chung của một loại đối
tượng thuộc phạm vi nghiên cứu của mỗi ngành khoa học, như trong
vật lý học có phạm trù năng lượng, khối lượng…, trong sinh vật học có
phạm trù động vật, thực vật, gen, biến dị, di truyền… nên các dạng vật
chất mà các khoa học cụ thể nghiên cứu đều có giới hạn, có sinh ra, có
mất đi, chuyển hóa thành cái khác. Còn vật chất là đối tượng nghiên
cứu của triết họcdùng để chỉ vật chất nói chung, vô hạn, vô tận, không sinh ra, không mất đi.
- Thứ hai (Thuộc tính khách quan): Vật chất là cái tồn tại khách quan ở
bên ngoài ý thức và không phụ thuộc vào ý thức, tất cả những gì tồn
tại ở bên ngoài không phụ thuộc vào ý thức đều nằm trong phạm trù
vật chất, chẳng hạn, mọi dạng vật chất như nguyên tử, điện tử, thế giới
vi mô và vĩ mô mà con người đã biết hoặc chưa biết đều là thực tại
khách quan (tồn tại, bên ngoài, độc lập và không phụ thuộc vào cảm
giác của con người, cho dù con người có nhận thức được hay không
nhận thức được nó -> Như vậy, thuộc tính tồn tại khách quan là thuộc
tính cơ bản nhất, chung nhất của vật chất, là điểm chủ yếu để phân biệt
được cái gì thuộc về vật chất và cái gì không thuộc vật chất -> Do vậy,
vật chất là cái có trước, ý thức có sau, vật chất là nguồn gốc, là nội
dung khách quan của ý thức -> Lênin đã đứng trên lập trường nhất nguyên duy vật.
- Thứ ba (Thuộc tính phản ánh): Vật chất - thực tại khách quan, dưới
những dạng tồn tại như nguyên tử, lửa, nước, động vật, các hành
tinh… là cái có thể gây nên cảm giác ở con người -> khi nó trực tiếp
hay gián tiếp tác động đến các giác quan của con người -> Do đó, vật
chất là cái có trước, cảm giác, ý thức của con người là có sau… Ý thức
là sự phản ánh vật chất, chịu sự quyết định của vật chất nên các hiện
tượng tinh thần (cảm giác, tư duy, ý thức...) luôn có nguồn gốc từ các
hiện tượng vật chất, nội dung của chúng cũng là phản ánh các sự vật,
hiện tượng đang tồn tại với tính cách là hiện thực khách quan. Điều
này khẳng định trong quan hệ với ý thức thì vật chất giữ vai trò quyết
định, nó là nguồn gốc khách quan của ý thức. Ý nghĩa:
+ Giải quyết 1 cách đúng đắn và triệt để cả hai mặt vấn đề cơ bản của triết học
+ Triệt để khắc phục hạn chế của CNDV cũ, bác bỏ CNDT bất khả tri
+ Khắc phục được khủng hoảng, đem lại niềm tin trong khoa học tự nhiên
+ Tạo tiền đề để xây dựng quan điểm duy vật về xã hội, và lịch sử loài người
+ Là cơ sở để xây dựng nền tảng vững chắc cho sự liên minh ngày càng
chặt chẽ giữa triết học duy vật biện chứng
Câu 3: Quan điểm triết học Mác- Leenin về ý thức ( nguồn gốc, bản chất ) Nguồn gốc ý thức:
* Nguồn gốc tự nhiên:
- Nguồn gốc TN của ý thức là bộ não con người và thế giới khách quan
vào trong bộ não con người
- Cấu tạo và chức năng của bộ não người: Bộ não người có cấu tạo tinh vi,
phức tạp, có liên hệ với các cơ quan cảm giác, thu nhận và xử lý các tác
động từ thế giới bên ngoài thông qua các phản xạ
- Sự tác động của thế giới khách quan lên bộ não con người chính là sự
phản ánh. Phản ánh là sự ghi lại, tái tạo lại đặc điểm của hệ thống VC này
lên hệ thống VC khác trong quá trình tac động qua lại của chúng * Nguồn gốc xã hội: - Lao động:
+ Lao động giúp giải phóng 2 chi trước của con người để thực hiện
những động tác tinh vi hơn, mặt khác cũng giúp con người có khả năng
tạo ra công cụ lao động và sử dụng công cụ ấy phục vụ mục đích sống của con người
+ Việc sử dụng công cụ trong LĐ giúp con người ngày càng tìm được
nhiều nguồn thức ăn hơn và có nhiều chất dinh dưỡng hơn. Mặt khác, con
người đã tìm ra lửa nấu chin thức ăn khiến cơ thể dễ hấp thu hơn. Điều đó
đã giúp bộ não con người ngày càng phát triển, hoàn thiện về mặt sinh học
+ Thông qua LĐ, con người ngày càng tương tác nhiều hơn với thế giới
khách quan, làm biến đổi TG đó và ngược lại làm biến đổi chính bản thân
mình, ngày càng làm sâu sắc và phong phú thêm ý thức của mình
+ LĐ ngay từ đầu đã mang tính XH, từ đó nảy sinh nhu cầu hình thành ngôn ngữ - Ngôn ngữ:
+ Ngôn ngữ 1 mặt là kết quả của LĐ, mặt khác lại là nhân tố tích cực tác
động đến quá trình lao động và phát triển ý thức của con người
+ Ngôn ngữ giúp con người phản ánh khái quát những đặc tính, những
thuộc tính của sự vật, hiện tượng trong thế giới
+ Ngôn ngữ là hệ thống tín hiệu VC mang nội dung ý thức, là công cụ
thể hiện ý thức, tư tưởng và tạo điều kiện để phát triển ý thức
+ Ngôn ngữ giúp con người trao đổi kinh nghiệm hoạt động sống Bản chất ý thức:
+ Ý thức là sự phản ánh năng động, sáng tạo TG khách quan vào trong
bộ óc con người. Là hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan
+ Ý thức có thể tạo ra tri thức mới về sự vật, tưởng tượng ra cái không có
thật, tiên đoán, dự báo tương lai
+ Ý thức phản ánh hiện thực khách quan vào bộ óc con người trong quá trình cải tạo TG
+ Ý thức là sự phản ánh và chính thực tiễn con người đã tạo ra sự phản
ánh phức tạp, năng động, sáng tạo của bộ óc
+ Ý thức bắt nguồn từ thực tiễn, lịch sử xã hội và phản ánh các quan hệ xã hội khách quan
Câu 7: Nội dung quy luật từ những thay đổi về lượng dẫn đến thay đổi về chất
và ngược lại( vị trí, khái niệm, mối quan hệ, ý nghĩa phương pháp luận)
Vị trí quy luật: là một trong 3 quy luật cơ bản của phép biện chứng duy vật nói lên
cách thức của quá trình vận động phát triển của sự vật hiện tượng. Khái niệm cơ bản:
- Chất: là phạm trù triết học dùng để chỉ tính quyết định khách quan vốn có của sự vật hiện tượng
là thống nhất hữu cơ các thuộc tính cấu thành có, phân biệt nó với các khác.
- Lượng: là phạm trù triết học dùng để chỉ tính quyết định khách quan vốn có của sự vật về các
phương diện, số lượng các yếu tố cấu thành, quy mô của sự tồn tại, tốc độ, nhịp điệu của các quá trình
vận động và phát triển của sự vật.
Mối quan hệ biện chứng giữa sự thay đổi về lượng và thay đổi về chất:
- Lượng biến đổi dần dần dẫn đến sự thay đổi về chất: lượng thay đổi dần dần => vượt qua giới hạn
quá độ => tại điểm nút dẫn đến làm chất cũ mất đi, chất mới ra đời, chất mới ra đời sẽ quyết định
1 lượng mới => Lượng mới tích lũy vượt mức giới hạn độ đến tại điểm nút đến chất mới… quá
trình này diễn ra liên tục, tạo thành phương thức cơ bản, phổ biến của các quá trình vận động, phát
triển trong tự nhiên,xã hội và tư duy
- Khi chất mới ra đời lại có sự tác động trở lại lượng của sự vật: chất mới ra đời sẽ quyết định 1
lượng mới biểu hiện trên phương diện làm thay đổi kết cấu, quy mô, trình độ, nhịp điệu vận động
và phát triển của sự vật, làm thay đổi giới hạn độ, điểm nút, tạo ra những biến đổi mới và lượng của sự vật.
Ý nghĩa phương pháp luận:
- Nhận thức: để có tri thức đầy đủ về sự vật, phải có nhận thức cả mặt lượng và mặt chất của
nó, khi đạt tới tri thức về sự thống nhất giữa lượng và chất ta sẽ có tri thức hoàn chỉnh về sự vật đó.
- Thực tiễn: cần chống hai chủ quan sai lầm là tuyệt đối hoá qúa trình thay đổi về chất hay
tuyệt đối hoá quá trình thay đổi về lượng.
Câu 12: Quan điểm triết học Mác-Leenin về nhà nước ( nguồn gốc, bản
chất, đặc trưng và chức năng của nhà nước) Nguồn gốc
Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin nhà nước và pháp luật không phải
là những hiện tượng vĩnh cữu, bất biến. Nhà nước và pháp luật chỉ xuất hiện khi
xã hội loài người đã phát triển đến một giai đoạn nhất định. Chúng luôn vận
động, phát triển và sẽ tiêu vong khi những điêù kiện khách quan cho sự tồn taị
và phát triển của chúng không còn nữa.
– Nhà nước xuất hiện một cách khách quan, nhưng không phải là hiện tượng xã
hội vĩnh cửu và bất biến. Nhà nước luôn vận động, phát triển và tiêu vong khi
những điều kiện khách quan cho sự tồn tại và phát triển của chúng không còn nữa.
– Nhà nước chỉ xuất hiện khi xã hội loài người đã phát triển đến một giai đoạn
nhất định. Nhà nước xuất hiện trực tiếp từ sự tan rã của chế độ cộng sản nguyên
thủy. Nhà nước chỉ xuất hiện ở nơi nào và thời gian nào khi đã xuất hiện sự phân
chia xã hội thành các giai cấp đối kháng. Bản chất
Bản chất là khái niệm diễn đạt những đặc tính bên trong của sự vật, cái cốt lõi
của sự vật gắn liền với quá trình hình thành và phát triển của sự vật đó. Theo
quan điểm của CN Mac-Lênin, thì bản chất nhà nước có 02 thuộc tính:
a) Bản chất giai cấp của nhà nước:
Nhà nước chỉ sinh ra và tồn tại trong xã hội có giai
cấp, và bao giờ cũng thể
hiện bản chất giai cấp sâu sắc, thể hiện ở chỗ nhà nước là một bộ máy cưỡng
chế đặc biệt, là công cụ sắc bén nhất để thực hịên sự thống trị giai cấp, thiết lập
và duy trì trật tự xã hội.
b) Bản chất xã hội của nhà nước:
Thể hiện qua vai trò quản lý xã hội của Nhà nước, Nhà nước phải giải quyết
tất cả các vấn đề nảy sinh trong xã hội, bảo vệ lợi ích chung của toàn xã hội,
phục vụ những nhu cầu mang tính chất công cho xã hội như: xây dựng trường
học, bệnh viện, đường xá, giải quyết các tệ nạn xã hội…..
=> Nhà nước là một hiện tượng phức tạp và đa dạng, nó vừa mang bản chất
giai cấp, vừa mang bản chất xã hội.
Đặc trưng của nhà nước -
Một là quản lý cư dân trên một vùng lãnh thổ nhất định, phân chia thần dân trong
quốc gia theo sự phân chia lãnh thổ
+ Cư dân trong cộng đồng nhà nước không chỉ tồn tại quan hệ huyết thống như
cộng đồng thị tộc, bộ lạc mà còn tồn tại trên cơ sở quan hệ huyết thống. Đó là
quan hệ kinh tế, quan hệ xã hội, quan hệ chính trị... giữa các thành phần cư dân
trong 1 phạm vi lãnh thổ nhất định
+ Trong cộng đồng nhà nước( quốc gia- dân tộc ) có thể tồn tại nhiều giai cấp,tầng
lớp, thành phần xã hội.
+ Về nguyên tắc, quyền lực nhà nước có hiệu lực với tất cả thành viên, tổ chức tồn
tại trong phạm vi biên giới quốc gia. Việc xuất nhập cảnh thì do nhà nước quản lý. -
Hai là có hệ thống các cơ quan quyền lực chuyên nghiệp mang tính cưỡng chế
+ Nhà nước quản lí xã hội dựa vào pháp luật là chủ yếu. Bằng hệ thống pháp luật
nhà nước sử dụng phương thức cưỡng bức mọi cá nhân, tổ chức trong xã hội phải
thực hiện các chính sách theo hướng có lợi cho giai cấp thống trị
+ Quyền lực nhà nước không thuộc về nhân dân mà thuộc về giai cấp thống trị,
ngày càng xa rời nhân dân, đối lập với nhân dân. -
Ba là có hệ thống thuế khóa
+ V.I Leenin cho rằng “ muốn duy trì quyền lực xã hội đặc biệt, đặt lên trên xã hội,
thì phải có thuế và quốc trái ”
+ Ph. Ăngghen viết: “ để duy trì quyền lực công cộng đó, cần phải có sự đóng góp
của công dân, đó là thuế má ”; “ nắm được quyền lực công cộng và quyền thu thuế, bọn quan
lại, với tư cách là những cơ quan của xã hội, được đặt lên trên xã hội ”
Để duy trì sự thống trị của mình, giai cấp thống trị phải đảm bảo hoạt động của bộ
máy nhà nước. Muốn bộ máy nhà nước hoạt động thì phải có tài chính. Tài chính được
nhà nước huy động chủ yếu là do thu thế, sau đó quốc trái thu được do sự cưỡng bức
hoặc do sự tự nguyện của công dân.
Chức năng của nhà nước -
Chức năng đối nội là sự thực hiện đường lối đối nội nhằm duy trì trật tự xã hội
thông qua các công cụ như: chính sách xã hội, văn hóa, giáo dục...Chức năng đối
nội thực hiện trong tất cả các lĩnh vực chính trị, kinh tế, y tế... của mỗi quốc gia,
dân tộc => Đáp ứng và giải quyết những nhu cầu chung của toàn xã hội
+ Chức năng đối nội được thực hiện một cách thường xuyên, liên tục thông qua
lăng kính giai cấp của giai cấp thống trị -
Chức năng đối ngoại là sự triển khai thực hiện chính sách đối ngoại của giai cấp
thống trị nhằm giải quyết mối quan hệ với các thể chế nhà nước khác dưới danh
nghĩa là quốc gia, dân tộc, nhằm bảo vệ lãnh thổ quốc gia , đáp ứng nhu cầu trao
đổi kinh tế, văn hóa, khoa học- kĩ thuật, y tế, giáo dục.. của mình. Trong xã hội
hiện đại, chính sách đối ngoại được các quốc gia xem đó là điều kiện cho sự phát triển của mình.
+ Không chỉ quan hệ các nhà nước với nhau mà còn quan hệ với các tổ chức quốc
tế, tổ chức phi chính phủ
Chức năng đối nội và đối ngoại là hai mặt của một thể thống nhất, hỗ trợ và tác động lẫn nhau
Chức năng đối nội giữ vai trò chủ yếu vì nhà nước nếu không muốn sụp đổ thì phải
duy trì được trật tự xã hội, phải giải quyết những công việc xã hội, để xã hội tồn tại
trong vòng trật tự nhất có thể, theo quan điểm của giai cấp thống trị.
Khi chức năng đối ngoại thực hiện tốt thì chức năng đối nội càng có điều kiện thực
hiện, vị thế và vai trò của thế chế nhà nước ngày càng cao, các vấn đề kinh tế xã hội
được đảm bảo, quốc phòng – an ninh được giữ vững, văn hóa, giáo dục, y tế phát triển.
Câu 10: Mối quan hệ biện chứng giữa cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng ( khái niệm, mối quan hệ, ý nghĩa ) Khái niệm
+ Cơ sở hạ tầng là toàn bộ những quan hệ sản xuất của một xã hội trong sự vận động
hiện thực của chúng hợp thành cơ cấu kinh tế của xã hội đó.
+ Kiến trúc thượng tầng là toàn bộ những quan điểm, tư tưởng xã hội với những thể
chế xã hội tương ứng cùng những quan hệ nội tại của thượng tầng hình thành trên một
cơ sở hạ tầng nhất định Mối quan hệ -
Cơ sở hạ tầng quyết định kiến trúc thượng tầng + CSHT nào sinh ra KTTT ấy
+ KTTT là sự phản ánh CSHT, CSHTnào cũng có sự phát triển KTTT tương ứng
tính chất của KTTT do tính chất của CSHT quy định
+ Khi CSHT cũ mất đi, CSHT mới ra đời thì sớm hay muộn KTTT cũ mất đi,
KTTT mới ra đời đảm bảo sự tương ứng của nó
+ Trong xã hội có giai cấp, giai cấp nào thống trị về kinh tế thì chiếm địa vị thống
trị tinh thần mâu thuẫn trong đời sống kinh tế quy định tính chất, mẫu thuẫn trong
lĩnh vực chính trị tư tưởng là biểu hiện của những đối kháng trong đời sống kinh tế -
Kiến trúc thượng tầng tác động trở lại cơ sở hạ tầng
+ Trong bất kì tình huống nào KTTT cũng ra sức bảo vệ và phát triển CSHT
đã sinh ra nó trong đó nhà nước là mạnh nhất gần CSHT nhất và bảo vệ CSHT trực tiếp nhất
+ Trong xã hội có giai cấp, KTTT có vai trò định hướng cho CSHT hoạt động
theo nhu cầu, mục đích của giai cấp thống trị trong đó KTTT chính trị giữ vai
trò định hướng cho sự phát triển kinh tế
+ Các bộ phận của KTTT cũng tác động qua lại lẫn nhau và đều tác động qua
lại đối với CSHT nhưng các bộ phận đó chỉ thực sự phát huy tác dụng hiệu
lực thông qua nhà nước, pháp luật và các thể chế tương ứng
+ Sự tác động trở lại của KTTT với CSHT theo 2 chiều hướng đó là sự tác
động phù hợp với quy luật kinh tế khách quan sẽ thúc đẩy kinh tế phát triển,
CSHT phát triển. Nếu không phù hợp thì sẽ cản trở kìm hãm sự phát triển
của kinh tế thậm chí đẩy nền kinh tế rơi vào trạng thái cải tạo khủng hoảng trầm trọng Ý nghĩa
- Khi vận dụng MQH giữa KTTT tức là quan hệ chính trị với kinh tế chúng ta phải
xuất phát từ kinh tế coi trọng chính trị nhưng không tuyệt đối hóa mặt kinh tế coi
nhẹ yếu tố chính trị sẽ dẫn đến sai lầm của chủ nghĩa duy vật tầm thường -
Không tuyệt đối hóa yếu tố chính trị coi nhẹ hoặc hạ thấp yếu tố kinh tế sẽ dẫn đến
sai lầm của chủ nghĩa chủ quan duy ý chí
Câu 9: Quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng
sản xuất ( vị trí, khái niệm, mối quan hệ, ý nghĩa phương pháp luận )
Vị trí: là quy luật cơ bản nhất của sự vận động và phát triển lịch sử xã hội Khái niệm: -
Quan hệ sản xuất là tổng hợp các quan hệ kinh tế-vật chất giữa người với người
trong quá trình sản xuất vật chất -
Lực lượng sản xuất là là sự kết hợp giữa người lao động với tư liệu sản xuất, tạo
ra sức sản xuất và năng lực thực tiễn làm biến đổi các đối tượng vật chất của giới
tự nhiên theo nhu cầu nhất định của con người và xã hội Mối quan hệ: -
Vai trò quyết định của lực lượng sản xuất đối với quan hệ sản xuất
+ Lực lượng sản xuất là nội dung của quá trình sản xuất có tính năng động, cách
mạng, thường xuyên vận động và phát triển
+ Biện chứng giữa sản xuất và nhu cầu con người
+ Tính năng động và cách mạng của sự phát triển công cụ lao động
+ Người lao động là chủ thể sáng tạo, là lực lượng sản xuất hàn đầu
+ Tính kế thừa khách quan của sự phát triển lực lượng sản xuất
+ Lực lượng sản xuất quyết định sự ra đời của một kiểu quan hệ sản xuất mới trong
lịch sử, quyết định nội dung và tính chất của quan hệ sản xuất -
Sự tác động trở lại của quan hệ sản xuất đối với lực lượng sản xuất
+ Quan hệ sản xuất là hình thức xã hội của quá trình sản xuất có tín độc lập tương đối
+ Quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ của lực lượng sản xuất Ý nghĩa -
Muốn phát triển kinh tế phải bắt đầu từ phát triển lực lượng sản xuất, trước hết là
phát triển lực lượng lao động và công cụ lao động -
Nhận thức đúng đắn quy luật này có ý nghĩa quan trọng trong quán triệt, vận dụng
quan điểm, đường lối, chính sách, là cơ sở khoa học để nhận thức sâu sắc sự đổi
mới tư duy kinh tế của Đảng Cộng sản Việt Nam