THI CUỐI KỲ
75p, 2 câu, In slide + tài liệu. Ưu tiên chép trong sách về các đường lối, còn phân tích, liên hệ thì tài
liệu
Câu 1: Chương 1 hoặc 2
Câu 2: Chương 2 hoặc 3
CHƯƠNG 1: Bao gồm 2 nội dung chính
1. Đảng ra đời
- Bối cảnh SGK trang 82
- Vai trò của NAQ SGK trang 85
sản
2. 15 năm giành chính quyền
Viết Nghệ Tĩnh, Luận cương chính trị 1930, Đại hội Đảng I) SGK từ trang 14
- (Đòi tự do, dân chủ, cơm áo, hòa bình) SGK từ Giai đoạn phong trào dân chủ 1936-1939
trang 19
- (Giải phóng dân tộc, Chớp thời Giai đoạn phong trào giải phóng dân tộc 1939-1945
đánh Pháp-Nhật, Cao trào kháng Nhật cứu nước, Tổng khởi nghĩa giành chính quyền)
SGK từ trang 22
- SGK từ trang 28 Tính chất, ý nghĩa bài học kinh nghiệm CMT8 1945
CHƯƠNG 2
- Giai đoạn 1945-1954: đánh Pháp
1945-1946: tình thế ngàn cân treo sợi tóc, chính quyền non trẻ SGK từ trang 32
1946-1954: đánh trường kỳ, dựa vào sức mình chính SGK từ trang 35
- Giai đoạn 1954-1975: đánh Mỹ
NQTW 15 (1959)
ĐH III (1960)
1965-1975
Hiệp định Paris (1968-1973)
CHƯƠNG 3: Đảng lãnh đạo CẢ NƯỚC quá độ lên CNXH (trước đó chỉ lãnh đạo miền Bắc
xây dựng CNXH)
- Giai đoạn 1975 - 1986 (thời kỳ trước đổi mới)
- Giai đoạn 1986 - 2021: 5 bài học lớn về sự lãnh đạo của Đảng tại Cương Lĩnh 2011
Hội nghị nào hoàn thành chủ trương chiến lược mới của Đảng —> HNTW 8 (SGK trang 25)
Hội nghị nào Đảng ta chủ trương thành lập mặt trận Việt Minh —> Hội nghị TW 8
Đại hội “kháng chiến kiến quốc” —> Đại Hội II (SGK trang 38)
Đại hội nào xác định cách mạng Việt Nam 2 nhiệm vụ chiến lược xây dựng thành công
CNXH bảo vệ vững chắc tổ quốc VN XHCN? —> ĐH V
Đại hội nào nước ta xác định những nội dung bản của tưởng HCM —> ĐH IX
Đảng lần đầu chỉ định hình kinh tế thị trường định hướng XHCN —> ĐH IX
bạn với các nước —> 2011 Việt Nam thành viên trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế
Việt Nam đã thiết lập quan hệ đối tác chiến lược toàn diện với TQ (2008), Nga (2012), Ấn
Độ (2016), Hàn, Australia, Hoa Kỳ (2023)
Chiến lược phát triển kinh tế hội 2011-2020 —> ĐH XI
CÂU HỎI
ý kiến cho rằng CMT8 thành công hoàn toàn do may mắn, bạn đồng ý với ý kiến này
không? sao? Từ vấn đề lịch sử này, bạn rút ra bài học cho mình?
ý kiến cho rằng Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công chỉ nhờ may mắn, khi Nhật đầu
hàng Đồng minh tạo ra khoảng trống quyền lực. Tuy nhiên, nhìn lại toàn bộ tiến trình lịch sử
tính quy luật của cách mạng Việt Nam, tôi cho rằng quan điểm ấy phiến diện thiếu nhận thức
về tính tất yếu của mối quan hệ giữa yếu tố dân tộc giai cấp, cũng như không thấy được sự lãnh
đạo liên tục, chủ động khoa học của Đảng trong suốt 15 năm vận động cách mạng. Thắng lợi của
Cách mạng Tháng Tám không phải sản phẩm ngẫu nhiên của thời cuộc, kết quả của quá
trình chuẩn bị bền bỉ, chiến lược sở thực tiễn vững chắc.
Trước hết, nền tảng cốt lõi dẫn dắt đường lối đúng đắn ngày càng hoàn thiện của Đảng
toàn bộ tiến trình cách mạng. Ba cao trào vận động lớn 1930-1935, 1936-1939, 1939-1945
chính ba bước “tổng dượt” quan trọng giúp Đảng rút ra kinh nghiệm, điều chỉnh chủ trương
dần hoàn thiện đường lối giải phóng dân tộc. Cao trào 1930–1931 với Viết Nghệ Tĩnh chứng
minh khả năng tổ chức lãnh đạo quần chúng; cao trào 1936–1939 thể hiện bản lĩnh chuyển
hướng chiến lược của Đảng khi biết mở rộng mặt trận dân chủ để tập hợp lực lượng rộng rãi; đặc
biệt, các nghị quyết 1939–1941 đã xác định đúng đắn nhiệm vụ giải phóng dân tộc tối cao, kịp
thời thành lập Mặt trận Việt Minh, chuẩn bị toàn diện cho khởi nghĩa trang. Chính sự chủ động,
tỉnh táo kiên định trong đường lối ấy mới tạo nền tảng để cách mạng nắm bắt thời lịch sử một
cách chắc chắn, chứ không phải trông chờ vào may mắn.
Thứ hai, . Khi Nhật đầu hàng Đảng đã chớp thời một cách khoa học, bản lĩnh quyết đoán
Đồng minh, một khoảng trống quyền lực hiếm xuất hiện: bộ máy cai trị tan rã, kẻ thù suy yếu,
còn quân Đồng minh chưa kịp đổ bộ. Nhưng thời chỉ trở thành “thời vàng” nếu chủ thể đủ
bản lĩnh nhìn thấy hành động kịp lúc. Đảng đã theo dõi sát sao mọi biến động quốc tế trong đó
diễn biến chiến tranh Thái Bình Dương, tệ hoang mang trong hàng ngũ Nhật, phản ứng của
chính quyền nhìn để đưa ra quyết định tổng khởi nghĩa đúng thời điểm duy nhất thể thắng
lợi. Nếu chậm trễ chỉ vài tuần, tương quan lực lượng sẽ thay đổi hoàn toàn.
Thứ ba, sự chuẩn bị lực lượng toàn diện về chính trị, trang, căn cứ địa, tổ chức sở cùng
sức mạnh toàn dân tộc yếu tố đảm bảo cho thắng lợi nhanh chóng trên phạm vi cả nước. Đảng
đã xây dựng lực lượng chính trị hùng hậu thông qua Mặt trận Việt Minh, các hội cứu quốc, các tổ
chức quần chúng rộng khắp. Song song đó, lực lượng trang được hình thành từ các đội du kích
Bắc Sơn, Cao–Bắc–Lạng, đặc biệt Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân (1944). Các căn
cứ địa cách mạng từ Bắc Sơn, Nhai đến trung tâm Cao Bằng được gây dựng lâu dài, trở
thành chỗ dựa cả về người, vật lực lẫn niềm tin cho phong trào toàn quốc. Không chỉ tổ chức, Đảng
còn chú trọng chuẩn bị về mặt kinh tế, lương thực, huấn luyện cán bộ quân sự chính trị. Toàn bộ
quá trình ấy đã biến sức mạnh tiềm tàng của nhân dân thành sức mạnh hiện thực, gắn kết từ công
nhân, nông dân đến trí thức, tiểu thương, thanh niên… tạo ra lực lượng quần chúng khổng lồ sẵn
sàng đứng lên khi thời tới. Thắng lợi của cách mạng vậy kết quả của sự chuẩn bị kỹ càng,
chứ không phải bùng phát ngẫu hứng.
Cuối cùng, vai trò của tổ chức cách mạng tiên phong nòng cốt Đảng cùng phương
pháp đấu tranh khoa học, linh hoạt bảo đảm mọi lực lượng được huy động phối hợp hiệu quả.
Đảng biết kết hợp đấu tranh chính trị với trang, kết hợp nổi dậy từng phần với tổng khởi nghĩa,
kết hợp vận động tuyên truyền với việc phát triển lực lượng trang nòng cốt. Một tổ chức kỷ
luật, tầm nhìn chiến lược khả năng điều hành trên quy cả nước chính yếu tố quyết
định biến phong trào cách mạng thành thắng lợi lịch sử.
Từ tất cả những điều trên thể khẳng định rằng Cách mạng Tháng Tám . không hề “ăn may”
sự kết tinh của đường lối đúng đắn, sự chuẩn bị công phu, việc nắm bắt thời chính xác
sức mạnh đại đoàn kết của toàn dân tộc dưới sự lãnh đạo của Đảng
BÀI HỌC:
Nhìn lại thành công của Cách mạng Tháng Tám, điều tôi nhận ra nhất không thành tựu
lớn nào chỉ dựa vào may mắn. May mắn thể xuất hiện, nhưng để nắm bắt được, con người phải
đủ nền tảng, đủ chuẩn bị đủ quyết tâm. Từ đó, tôi rút ra cho mình bốn bài học.
Thứ nhất, muốn làm được việc ý nghĩa, , giống như phải mục tiêu định hướng đúng
đường lối đúng đắn đã dẫn dắt cách mạng đến thắng lợi. Nếu không xác định mình muốn gì, mọi
nỗ lực đều dễ rơi vào hồ chệch hướng.
Thứ hai, tôi học được rằng . hội trong đời không đến thời chỉ dành cho người đã chuẩn bị
nhiều; khi đến, sự quyết đoán quan trọng không kém sự hiểu biết. Chần chừ đôi khi đồng
nghĩa với bỏ lỡ cả một bước ngoặt lớn.
Thứ ba, điều không thể thay thế. CMT8 sức mạnh của sự đồng lòng hỗ trợ từ người khác
thành công cuộc nổi dậy của toàn dân, trong cuộc sống, tôi cũng khó đạt được mục tiêu nếu
chỉ đi một mình. Biết hợp tác, biết lắng nghe, biết gây dựng niềm tin đó cách để bất kỳ kế
hoạch nào cũng sở vững chắc hơn.
Cuối cùng, thành công đòi hỏi . Không chỉ cần nỗ lực, phương pháp đúng sự tổ chức khoa học
còn cần hành động đúng cách, biết điều chỉnh theo hoàn cảnh, biết phối hợp các nguồn lực. Đây
lời nhắc nhở để tôi tránh hành động theo cảm tính, thay vào đó xây dựng phương pháp làm
việc ràng, hiệu quả.
Những bài học ấy khiến tôi hiểu rằng thành công không tự đến, kết quả của định hướng
ràng, sự chuẩn bị lâu bền, tinh thần hợp tác cách hành động đúng đắn. Đó cũng chính điều tôi
muốn áp dụng vào con đường của mình sau này.
Từ nội dung của cuộc kháng chiến kiến quốc rút ra bài học gì?
Nhìn lại nội dung của cuộc kháng chiến kiến quốc, tôi nhận thấy bài học quan trọng nhất biết xác
định đúng cái nhiệm vụ trọng tâm, cấp thiết nhất trong thời điểm khó khăn, từ đó dồn
toàn lực để giải quyết. Ngay sau ngày giành độc lập, đất nước đứng trước hàng loạt hiểm họa
“nghìn cân treo sợi tóc”: giặc đói, giặc dốt, tài chính kiệt quệ, thù trong giặc ngoài đe dọa tứ phía.
Nhưng thay rối loạn hay sa vào “chỗ nào cũng quan trọng”, Đảng Chính phủ đã xác định
thứ tự ưu tiên: trước tiên , củng cố khối đại đoàn kết dân tộc; tiếp giữ vững chính quyền non trẻ
đến cứu đói cho dân, chống nạn chữ, ổn giải quyết ngay những nguy cấp bách nhất
định kinh tế nhân dân phải được bảo vệ, được nuôi sống, được giác ngộ thì mới thể đứng
vững trước mọi thử thách. Đồng thời, Đảng rất linh hoạt trong đối ngoại: hòa để tiến, nhân
nhượng nguyên tắc, nhằm kéo dài thời gian hòa hoãn chuẩn bị lực lượng cho kháng chiến
lâu dài. Tất cả cho thấy một tầm nhìn rất tỉnh táo: xác định cái cốt lõi để tồn tại, cái cần làm
ngay, cái phải kiên trì.
Từ tinh thần ấy, tôi rút ra cho bản thân một bài học quan trọng: khi đứng trước nhiều áp lực, việc
đầu tiên không phải lao vào giải quyết tất cả, xác định đúng vấn đề trọng tâm điều
nếu không xử ngay thì mọi thứ khác đều nghĩa. Tôi cũng học được rằng phải biết tập
trung nguồn lực vào đúng chỗ, không dàn trải cảm xúc hay sức lực; đồng thời giữ sự linh hoạt,
biết lúc nào cần cứng rắn, lúc nào cần mềm dẻo để đạt mục tiêu lớn. Cuộc kháng chiến kiến quốc
dạy tôi rằng để đứng vững đi xa, con người cần một tầm nhìn rõ, một trái tim kiên định một
chiến lược xử vấn đề thứ tự chỉ như vậy mới thể vượt qua những thời điểm “ngàn khó
bủa vây” trong cuộc sống.
4 bài học từ ĐH VI, từ đó rút ra bài học cho bản thân?
SGK trang 60
Bài học:
Mở đầu, tưởng “lấy dân làm gốc” nhắc ta rằng mọi hành động đúng đắn đều phải xuất phát từ lợi
ích, nhu cầu tiếng nói của quần chúng. Khi chuyển vào đời sống nhân, điều này trở thành thói
quen đặt người khác vào trung tâm trong học tập, làm việc hợp tác. Tôi học cách lắng nghe thật
sự thay chỉ “nghe cho có”, coi trọng góp ý trái chiều dùng phản hồi như một công cụ để kiểm
chứng quyết định của mình. Nhờ đó, trước khi triển khai bất kỳ ý tưởng nào, tôi tự nhắc mình phải
hỏi ý kiến nhóm, khảo sát mức độ phù hợp hoặc thử nghiệm nhỏ để xem tác động của nó. Điều tôi
cần tránh nhất sự chủ quan, nghĩ rằng mình “biết người khác cần gì” loại bỏ ý kiến bất lợi. Bài
học này nhắc tôi phải khiêm tốn, tôn trọng người xung quanh biết rằng mọi thành công bền vững
đều bắt nguồn từ việc thấu hiểu nhu cầu của tập thể.
Bài học thứ hai, “xuất phát từ thực tế, tôn trọng quy luật khách quan”, gợi ý tinh thần thực chứng,
thích ứng với hoàn cảnh chống duy ý chí. Tôi nhận ra rằng muốn làm tốt bất kỳ việc gì, mình
phải nhìn vào dữ kiện, chứ không chỉ dựa trên cảm xúc hoặc mong muốn chủ quan. thế, tôi rèn
thói quen thu thập thông tin từ nhiều nguồn đáng tin, phân tích chúng trước khi kết luận, luôn thử
nghiệm quy nhỏ trước khi áp dụng rộng. Kế hoạch nào cũng thể sai, nên tôi học cách chuẩn
bị phương án dự phòng chấp nhận điều chỉnh khi thực tế thay đổi. Điều quan trọng không
ép thực tế theo ý mình, không cố bám vào những quyết định đã không còn phù hợp, không
tránh dữ liệu chỉ “sợ sai”. Bài học này giúp tôi trưởng thành hơn sự khách quan linh hoạt.
Bài học thứ ba về “kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại” nhấn mạnh vừa giữ gìn bản
sắc, vừa chủ động tiếp thu tri thức, công nghệ phương thức quản trị hiện đại. Với bản thân, điều
này thể hiện việc vừa trau dồi các giá trị văn hóa, đạo đức nghề nghiệp bản sắc Việt Nam, vừa
tích cực cập nhật những năng lực của thời đại như ngoại ngữ, duy số, kỹ năng công nghệ mới.
Tôi cố gắng duy trì việc đọc sách chuyên ngành hàng tuần, đăng các khóa học trực tuyến
tham gia hoạt động cộng đồng để gắn kết với truyền thống. Điều cần tránh cực đoan: hoặc quá
bảo thủ, khư khư giữ những thói quen cũ; hoặc mải chạy theo công nghệ, xu hướng đánh mất
những giá trị làm nên bản lĩnh của mình. Bài học này giúp tôi tìm được điểm cân bằng giữa “hội
nhập” “giữ bản sắc”.
Bài học thứ về “chăm lo xây dựng Đảng ngang tầm” khi chuyển sang cấp độ nhân bài học
về tự rèn luyện, nâng cao phẩm chất, năng lực tinh thần trách nhiệm. Tôi hiểu rằng để làm việc
hiệu quả uy tín, mình phải không ngừng tu dưỡng đạo đức, rèn sự liêm chính, trung thực
tinh thần nhận trách nhiệm. Đồng thời, tôi cần nâng cao năng lực chuyên môn, kỹ năng giao tiếp, kỹ
năng lãnh đạo quản bản thân. Tôi luyện thói quen tự đánh giá mỗi tháng, ghi lại những điều
làm tốt, những lần thất bại bài học rút ra. Tôi đặt ra bộ tiêu chuẩn nhân: đúng hạn, minh bạch,
nói được làm được, dám nhận lỗi. Điều tôi cố tránh rơi vào hình thức rèn luyện chỉ để “đẹp hồ
sơ” hoặc áp lực bên ngoài thay trách nhiệm thực chất với công việc.
Từ bốn bài học lớn của Đại hội VI, tôi rút ra rằng trưởng thành không phải điều quá xa vời;
bắt đầu từ việc biết đặt lợi ích chung lên trước, suy nghĩ bằng dữ liệu chứ không phải cảm tính, giữ
được gốc rễ khi mở rộng tri thức, liên tục rèn luyện bản thân đến mức mình thể tin cậy chính
mình. Nếu biến những điều này thành thói quen bằng những hành động nhỏ, thể đo lường
được nhìn lại thường xuyên, chúng sẽ trở thành nguồn lực thực sự giúp tôi phát triển bền vững
đóng góp tốt hơn cho cộng đồng xung quanh.
8 đặc trưng ĐH X thì đặc trưng nào bao trùm các đặc trưng còn lại? Tại sao? SGK trang
69
Trong tám đặc trưng của hội hội chủ nghĩa được nêu tại Đại hội X, đặc trưng “Xã hội
XHCN nhân dân ta xây dựng một hội dân giàu, nước mạnh, công bằng, dân chủ, văn
minh” đặc trưng các đặc trưng còn lại. Đặc trưng “Xã hội XHCN nhân dân ta xây bao trùm
dựng một hội dân giàu, nước mạnh, công bằng, dân chủ, văn minh” được xem đặc trưng bao
trùm đây mục tiêu tổng quát kết quả cuối cùng toàn bộ các đặc trưng còn lại hướng
tới. Trong khi bảy đặc trưng kia tả những phương diện cụ thể như kinh tế, chính trị, văn hóa,
con người, nhà nước hay quan hệ quốc tế, thì đặc trưng này khái quát toàn bộ bản chất, nội dung
tưởng của hội XHCN Việt Nam phấn đấu xây dựng. Một hội “dân giàu, nước mạnh,
công bằng, dân chủ, văn minh” chỉ thể hình thành khi nhân dân thật sự làm chủ, khi nền kinh tế
phát triển cao với lực lượng sản xuất hiện đại, khi văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc được phát
huy, khi con người được phát triển toàn diện, khi các dân tộc đoàn kết bình đẳng, khi nhà nước pháp
quyền vận hành hiệu quả nhân dân khi đất nước mở rộng quan hệ hữu nghị với thế giới. Nói
cách khác, mỗi đặc trưng còn lại một điều kiện, một trụ cột đóng góp vào việc hiện thực hóa bức
tranh hội tốt đẹp được tả trong đặc trưng bao trùm này. Đồng thời, đây cũng thước đo tổng
hợp để đánh giá mức độ thành công của quá trình xây dựng CNXH, bởi chỉ khi đạt được sự giàu
mạnh, dân chủ, công bằng văn minh thì hội XHCN mới thực sự hoàn thiện. Chính tính khái
quát, toàn diện tính định hướng đó, đặc trưng này bao trùm chi phối toàn bộ các đặc trưng còn
lại trong hệ thống đặc trưng về hội XHCN Việt Nam.
Tại sao nhiệm vụ đầu tiên khi đổi mới lại thống nhất nước nhà về mặt nhà nước?
Sau thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước đại thắng mùa Xuân năm 1975, đất
nước ta đã được thống nhất về mặt lãnh thổ, nhưng trên thực tế vẫn tồn tại hai hình tổ chức
quản nhà nước khác nhau hai miền. Điều này tạo nên sự phân tán về quyền lực, chế, hệ
thống pháp luật phương thức quản hội. HNTW24 (8-1975) chủ trương: Hoàn thành thống
nhất nước nhà, đưa cả nước tiến nhanh, tiến mạnh, tiến vững chắc lên CNXH. Hội nghị Hiệp
thương chính trị cũng khẳng định rằng: “Nước Việt Nam, dân tộc Việt Nam một, nước nhà cần
được sớm thống nhất về mặt nhà nước.”
Việc thống nhất nhà nước trước hết đáp ứng nguyện vọng thiêng liêng của nhân dân cả nước, đó
một chính quyền chung đại diện cho ý chí, quyền lực lợi ích của toàn dân tộc. Đây cũng
sở chính trị tinh thần quan trọng để củng cố khối đại đoàn kết toàn dân, xóa bỏ mọi ranh giới về
thể chế để nhân dân hai miền thật sự hòa nhập trong một quốc gia thống nhất. Khi một thể chế
nhà nước thống nhất, bộ máy quản mới thể ban hành thực thi các quyết sách chính trị, kinh
tế hội một cách đồng bộ, nhất quán điều công cuộc đổi mới rất cần đến.
Trong điều kiện đất nước vừa ra khỏi chiến tranh, các thế lực thù địch luôn tìm cách chống phá,
chia rẽ, nên việc hoàn thiện thống nhất nhà nước còn ý nghĩa quan trọng trong việc bảo đảm an
ninh chính trị trật tự hội. Một bộ máy nhà nước thống nhất, hoạt động theo một hệ thống pháp
luật chung sẽ hạn chế tối đa những khoảng trống quyền lực đối tượng xấu thể lợi dụng. Đồng
thời, thống nhất nhà nước cũng tạo tiền đề để hợp nhất hệ thống pháp luật, chính sách kinh tế bộ
máy hành chính những yếu tố tính quyết định đối với việc khôi phục sản xuất, phát triển kinh
tế tiến hành công cuộc đổi mới một cách hiệu quả.
Bên cạnh đó, việc một nhà nước thống nhất còn giúp Việt Nam thiết lập quan hệ đối ngoại thuận
lợi hơn, nâng cao vị thế quốc tế tạo điều kiện thu hút nguồn lực từ bên ngoài để phục vụ phát
triển. Đây yêu cầu đặc biệt quan trọng trong giai đoạn đất nước cần tranh thủ hỗ trợ quốc tế cho
công cuộc tái thiết đổi mới.
Như vậy, thống nhất nước nhà về mặt nhà nước được coi nhiệm vụ đầu tiên khi bắt đầu đổi mới
bởi tạo ra nền tảng pháp lý, chính trị tổ chức cho mọi bước đi tiếp theo. Chỉ khi một quốc
gia thống nhất cả về lãnh thổ lẫn thể chế, với một bộ máy nhà nước duy nhất, thì con đường xây
dựng chủ nghĩa hội tiến hành đổi mới mới thể được triển khai đồng bộ, hiệu quả bền
vững trên phạm vi toàn quốc.
Từ 5 bài học lớn về sự lãnh đạo của Đảng tại Cương Lĩnh 2011, rút ra bài học cho bản thân.
Nhìn lại những bài học lớn trong Cương lĩnh 2011, tôi nhận ra rằng đó không chỉ kim chỉ nam
cho sự nghiệp cách mạng của dân tộc, còn những nguyên tắc sâu sắc, thể vận dụng vào quá
trình học tập, làm việc trưởng thành của mỗi người trẻ.
Thứ nhất, nắm vững “ngọn cờ độc lập dân tộc chủ nghĩa hội” gợi cho tôi ý thức về việc
phải mục tiêu ràng tưởng đúng đắn. Trong lịch sử, Đảng thể dẫn dắt dân tộc đi đúng
hướng xác định chính xác lợi ích căn bản đích đến của dân tộc. Với một sinh viên, điều này
chuyển hóa thành thái độ sống định hướng: biết mình muốn trở thành ai, muốn theo đuổi điều
điều đó phù hợp với giá trị của bản thân hay không. Khi “ngọn cờ” của riêng mình, tôi
không bị chênh vênh trước lựa chọn, không bị cuốn theo trào lưu nhất thời, thể kiên trì đi đến
cùng mục tiêu đã chọn.
Thứ hai, bài học “cách mạng của nhân dân, do nhân dân nhân dân” nhắc tôi rằng bất
kỳ hành động hay thành tựu nào cũng cần đặt lợi ích của cộng đồng lên trước cái tôi nhân. Lịch
sử chứng minh sức mạnh của lòng dân chính yếu tố quyết định thắng lợi. Với người trẻ hôm nay,
điều đó trở thành bài học về tinh thần phục vụ, biết lắng nghe tôn trọng nhu cầu của người khác.
làm việc nhóm, hoạt động hội hay sau này bước vào môi trường nghề nghiệp, tôi hiểu rằng
muốn thành công phải biết tạo giá trị thực, biết hướng đến điều người xung quanh cần chứ không
chỉ làm điều mình thích.
Thứ ba, bài học về đoàn kết dạy tôi giá trị của sự kết nối hợp tác. Đoàn kết trong Đảng, trong
dân tộc trong quan hệ quốc tế đã giúp Việt Nam biến những thử thách tưởng chừng không thể
vượt qua thành sức mạnh tổng hợp. Với bản thân, tôi nhận ra rằng không ai thể thành công một
mình: muốn học tốt phải biết xây dựng “đội ngũ” bạn hỗ trợ nhau; muốn phát triển sự nghiệp
phải biết hợp tác, tôn trọng dung hòa khác biệt. Đoàn kết không chỉ gắn kết tình cảm, còn
khả năng phối hợp hiệu quả để tạo ra kết quả lớn hơn tổng nỗ lực nhân.
Thứ tư, bài học “kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại” cho tôi cái nhìn hiện đại hơn
về việc học tập làm việc trong bối cảnh toàn cầu hóa. Dân tộc ta truyền thống bản sắc
riêng, nhưng để phát triển, ta phải biết học hỏi tinh hoa thế giới, nắm bắt công nghệ mới, duy
mới, phương pháp mới. Điều này khuyến khích tôi không được tự mãn với kiến thức đang có, phải
luôn mở lòng với cái mới, biết tận dụng hội học từ những chương trình, khóa học quốc tế, sách
vở hiện đại, từ những chuẩn mực tiến bộ của thời đại.
Thứ năm, bài học về sự lãnh đạo đúng đắn khiến tôi suy ngẫm đến vai trò của duy, phương
pháp kỷ luật trong hành động. Lãnh đạo của Đảng đứng đắn dựa trên khoa học, thực tiễn
nguyên tắc. Với sinh viên, điều này trở thành bài học về khả năng tự “lãnh đạo bản thân”: biết lập
kế hoạch, biết tự chịu trách nhiệm, biết kiểm soát cảm xúc, biết đưa ra quyết định dựa trên trí
thay cảm tính. Một người trẻ muốn trưởng thành thì phải rèn khả năng dẫn dắt chính cuộc sống
của mình, chứ không chỉ phản ứng thụ động với hoàn cảnh.
- Trình bày bối cảnh (ngắn gọn) —> đường lối
- Khi đọc đề liên quan đến việc chọn đại hội nào thì xét kỹ từ khoá để chọn
- Liên hệ thực tế cần bám sát vào nội dung. VD: chớp thời (4 yếu tố)
- Phân biệt đại hội hội nghị
Đại hội tổ chức 5 năm 1 lần, một kỳ đại hội sẽ nhiều hội nghị được tổ chức. VD: Hội nghị TW 8
khoá V hội nghị TW lần 8 của đại hội V

Preview text:

THI CUỐI KỲ
75p, 2 câu, In slide + tài liệu. Ưu tiên chép trong sách về các đường lối, còn phân tích, liên hệ thì tài liệu Câu 1: Chương 1 hoặc 2 Câu 2: Chương 2 hoặc 3
CHƯƠNG 1: Bao gồm 2 nội dung chính 1. Đảng ra đời
- Bối cảnh → SGK trang 82
- Vai trò của NAQ → SGK trang 85
- Quá trình NAQ tìm đường giải phóng dân tộc / Tại sao lại chọn con đường cách mạng vô sản
2. 15 năm giành chính quyền
- Giai đoạn phong trào cách mạng 1930-1931 và khôi phục phong trào 1932-1935 (Cao trào
Xô Viết Nghệ Tĩnh, Luận cương chính trị 1930, Đại hội Đảng I) → SGK từ trang 14
- Giai đoạn phong trào dân chủ 1936-1939 (Đòi tự do, dân chủ, cơm áo, hòa bình) → SGK từ trang 19 - Giai đoạn phong
trào giải phóng dân tộc
1939-1945 (Giải phóng dân tộc, Chớp thời cơ
đánh Pháp-Nhật, Cao trào kháng Nhật cứu nước, Tổng khởi nghĩa giành chính quyền) → SGK từ trang 22
- Tính chất, ý nghĩa và bài học kinh nghiệm CMT8 1945 → SGK từ trang 28 CHƯƠNG 2
- Giai đoạn 1945-1954: đánh Pháp
● 1945-1946: tình thế ngàn cân treo sợi tóc, chính quyền non trẻ → SGK từ trang 32
● 1946-1954: đánh trường kỳ, dựa vào sức mình là chính → SGK từ trang 35
- Giai đoạn 1954-1975: đánh Mỹ ● NQTW 15 (1959) ● ĐH III (1960) ● 1965-1975
● Hiệp định Paris (1968-1973)
CHƯƠNG 3: Đảng lãnh đạo CẢ NƯỚC quá độ lên CNXH (trước đó là chỉ lãnh đạo miền Bắc xây dựng CNXH)
- Giai đoạn 1975 - 1986 (thời kỳ trước đổi mới)
- Giai đoạn 1986 - 2021: 5 bài học lớn về sự lãnh đạo của Đảng tại Cương Lĩnh 2011
● Hội nghị nào hoàn thành chủ trương chiến lược mới của Đảng —> HNTW 8 (SGK trang 25)
● Hội nghị nào Đảng ta chủ trương thành lập mặt trận Việt Minh —> Hội nghị TW 8
● Đại hội “kháng chiến kiến quốc” —> Đại Hội II (SGK trang 38)
● Đại hội nào xác định cách mạng Việt Nam có 2 nhiệm vụ chiến lược là xây dựng thành công
CNXH và bảo vệ vững chắc tổ quốc VN XHCN? —> ĐH V
● Đại hội nào nước ta xác định rõ những nội dung cơ bản của tư tưởng HCM —> ĐH IX
● Đảng lần đầu chỉ định mô hình kinh tế thị trường định hướng XHCN —> ĐH IX
● ĐH VII Việt Nam MUỐN là bạn với các nước —> đến ĐH IX thì Việt Nam SẴN SÀNG là
bạn với các nước —> 2011 Việt Nam là thành viên có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế
● Việt Nam đã thiết lập quan hệ đối tác chiến lược toàn diện với TQ (2008), Nga (2012), Ấn
Độ (2016), Hàn, Australia, Hoa Kỳ (2023)
● Chiến lược phát triển kinh tế xã hội 2011-2020 —> ĐH XI CÂU HỎI
Có ý kiến cho rằng CMT8 thành công là hoàn toàn do may mắn, bạn có đồng ý với ý kiến này
không? Vì sao? Từ vấn đề lịch sử này, bạn rút ra bài học gì cho mình?
Có ý kiến cho rằng Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công chỉ là nhờ may mắn, khi Nhật đầu
hàng Đồng minh và tạo ra khoảng trống quyền lực. Tuy nhiên, nhìn lại toàn bộ tiến trình lịch sử và
tính quy luật của cách mạng Việt Nam, tôi cho rằng quan điểm ấy là phiến diện và thiếu nhận thức
về tính tất yếu của mối quan hệ giữa yếu tố dân tộc và giai cấp, cũng như không thấy được sự lãnh
đạo liên tục, chủ động và khoa học của Đảng trong suốt 15 năm vận động cách mạng. Thắng lợi của
Cách mạng Tháng Tám không phải là sản phẩm ngẫu nhiên của thời cuộc, mà là kết quả của quá
trình chuẩn bị bền bỉ, chiến lược và có cơ sở thực tiễn vững chắc.
Trước hết, đường lối đúng đắn và ngày càng hoàn thiện của Đảng là nền tảng cốt lõi dẫn dắt
toàn bộ tiến trình cách mạng. Ba cao trào vận động lớn – 1930-1935, 1936-1939, 1939-1945 –
chính là ba bước “tổng dượt” quan trọng giúp Đảng rút ra kinh nghiệm, điều chỉnh chủ trương và
dần hoàn thiện đường lối giải phóng dân tộc. Cao trào 1930–1931 với Xô Viết Nghệ Tĩnh chứng minh khả năng tổ chức và
lãnh đạo quần chúng; cao trào 1936–1939 thể hiện bản lĩnh chuyển
hướng chiến lược của Đảng khi biết mở rộng mặt trận dân chủ để tập hợp lực lượng rộng rãi; và đặc
biệt, các nghị quyết 1939–1941 đã xác định đúng đắn nhiệm vụ giải phóng dân tộc là tối cao, kịp
thời thành lập Mặt trận Việt Minh, chuẩn bị toàn diện cho khởi nghĩa vũ trang. Chính sự chủ động,
tỉnh táo và kiên định trong đường lối ấy mới tạo nền tảng để cách mạng nắm bắt thời cơ lịch sử một
cách chắc chắn, chứ không phải trông chờ vào may mắn.
Thứ hai, Đảng đã chớp thời cơ một cách khoa học, bản lĩnh và quyết đoán. Khi Nhật đầu hàng
Đồng minh, một khoảng trống quyền lực hiếm có xuất hiện: bộ máy cai trị tan rã, kẻ thù suy yếu,
còn quân Đồng minh chưa kịp đổ bộ. Nhưng thời cơ chỉ trở thành “thời cơ vàng” nếu có chủ thể đủ
bản lĩnh nhìn thấy và hành động kịp lúc. Đảng đã theo dõi sát sao mọi biến động quốc tế – trong đó có diễn
biến chiến tranh Thái Bình Dương, tệ hoang mang trong hàng ngũ Nhật, phản ứng của
chính quyền bù nhìn – để đưa ra quyết định tổng khởi nghĩa đúng thời điểm duy nhất có thể thắng
lợi. Nếu chậm trễ chỉ vài tuần, tương quan lực lượng sẽ thay đổi hoàn toàn.
Thứ ba, sự chuẩn bị lực lượng toàn diện về chính trị, vũ trang, căn cứ địa, tổ chức cơ sở cùng
sức mạnh toàn dân tộc là yếu tố đảm bảo cho thắng lợi nhanh chóng trên phạm vi cả nước. Đảng
đã xây dựng lực lượng chính trị hùng hậu thông qua Mặt trận Việt Minh, các hội cứu quốc, các tổ
chức quần chúng rộng khắp. Song song đó, lực lượng vũ trang được hình thành từ các đội du kích
Bắc Sơn, Cao–Bắc–Lạng, và đặc biệt là Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân (1944). Các căn
cứ địa cách mạng – từ Bắc Sơn, Võ Nhai đến trung tâm Cao Bằng – được gây dựng lâu dài, trở
thành chỗ dựa cả về người, vật lực lẫn niềm tin cho phong trào toàn quốc. Không chỉ tổ chức, Đảng
còn chú trọng chuẩn bị về mặt kinh tế, lương thực, huấn luyện cán bộ quân sự – chính trị. Toàn bộ
quá trình ấy đã biến sức mạnh tiềm tàng của nhân dân thành sức mạnh hiện thực, gắn kết từ công
nhân, nông dân đến trí thức, tiểu thương, thanh niên… tạo ra lực lượng quần chúng khổng lồ sẵn
sàng đứng lên khi thời cơ tới. Thắng lợi của cách mạng vì vậy là kết quả của sự chuẩn bị kỹ càng,
chứ không phải bùng phát ngẫu hứng.
Cuối cùng, vai trò của tổ chức cách mạng tiên phong – mà nòng cốt là Đảng – cùng phương
pháp đấu tranh khoa học, linh hoạt bảo đảm mọi lực lượng được huy động và phối hợp hiệu quả.
Đảng biết kết hợp đấu tranh chính trị với vũ trang, kết hợp nổi dậy từng phần với tổng khởi nghĩa,
kết hợp vận động tuyên truyền với việc phát triển lực lượng vũ trang nòng cốt. Một tổ chức có kỷ
luật, có tầm nhìn chiến lược và có khả năng điều hành trên quy mô cả nước chính là yếu tố quyết
định biến phong trào cách mạng thành thắng lợi lịch sử.
Từ tất cả những điều trên có thể khẳng định rằng Cách mạng Tháng Tám không hề là “ăn may”.
Nó là sự kết tinh của đường lối đúng đắn, sự chuẩn bị công phu, việc nắm bắt thời cơ chính xác và
sức mạnh đại đoàn kết của toàn dân tộc dưới sự lãnh đạo của Đảng BÀI HỌC:
Nhìn lại thành công của Cách mạng Tháng Tám, điều tôi nhận ra rõ nhất là không có thành tựu
lớn nào chỉ dựa vào may mắn. May mắn có thể xuất hiện, nhưng để nắm bắt được, con người phải
có đủ nền tảng, đủ chuẩn bị và đủ quyết tâm. Từ đó, tôi rút ra cho mình bốn bài học.
Thứ nhất, muốn làm được việc gì có ý nghĩa, phải có mục tiêu và định hướng đúng, giống như
đường lối đúng đắn đã dẫn dắt cách mạng đến thắng lợi. Nếu không xác định rõ mình muốn gì, mọi
nỗ lực đều dễ rơi vào mơ hồ và chệch hướng.
Thứ hai, tôi học được rằng thời cơ chỉ dành cho người đã chuẩn bị. Cơ hội trong đời không đến
nhiều; và khi nó đến, sự quyết đoán quan trọng không kém sự hiểu biết. Chần chừ đôi khi đồng
nghĩa với bỏ lỡ cả một bước ngoặt lớn.
Thứ ba, sức mạnh của sự đồng lòng và hỗ trợ từ người khác là điều không thể thay thế. CMT8
thành công vì là cuộc nổi dậy của toàn dân, và trong cuộc sống, tôi cũng khó đạt được mục tiêu nếu
chỉ đi một mình. Biết hợp tác, biết lắng nghe, biết gây dựng niềm tin — đó là cách để bất kỳ kế
hoạch nào cũng có cơ sở vững chắc hơn.
Cuối cùng, thành công đòi hỏi phương pháp đúng và sự tổ chức khoa học. Không chỉ cần nỗ lực,
mà còn cần hành động đúng cách, biết điều chỉnh theo hoàn cảnh, biết phối hợp các nguồn lực. Đây
là lời nhắc nhở để tôi tránh hành động theo cảm tính, và thay vào đó xây dựng phương pháp làm
việc rõ ràng, hiệu quả.
Những bài học ấy khiến tôi hiểu rằng thành công không tự đến, mà là kết quả của định hướng rõ
ràng, sự chuẩn bị lâu bền, tinh thần hợp tác và cách hành động đúng đắn. Đó cũng chính là điều tôi
muốn áp dụng vào con đường của mình sau này.
Từ nội dung của cuộc kháng chiến kiến quốc rút ra bài học gì?
Nhìn lại nội dung của cuộc kháng chiến kiến quốc, tôi nhận thấy bài học quan trọng nhất là biết xác
định đúng cái gì là nhiệm vụ trọng tâm, cấp thiết nhất trong thời điểm khó khăn, từ đó dồn toàn lực để giải quyết. Ngay
sau ngày giành độc lập, đất nước đứng trước hàng loạt hiểm họa
“nghìn cân treo sợi tóc”: giặc đói, giặc dốt, tài chính kiệt quệ, thù trong giặc ngoài đe dọa tứ phía.
Nhưng thay vì rối loạn hay sa vào “chỗ nào cũng quan trọng”, Đảng và Chính phủ đã xác định rõ
thứ tự ưu tiên: trước tiên là giữ vững chính quyền non trẻ, củng cố khối đại đoàn kết dân tộc; tiếp
đến là giải quyết ngay những nguy cơ cấp bách nhất – cứu đói cho dân, chống nạn mù chữ, ổn
định kinh tế – vì nhân dân phải được bảo vệ, được nuôi sống, được giác ngộ thì mới có thể đứng vững trước
mọi thử thách. Đồng thời, Đảng rất linh
hoạt trong đối ngoại: hòa để tiến, nhân
nhượng có nguyên tắc, nhằm kéo dài thời gian hòa hoãn và chuẩn bị lực lượng cho kháng chiến
lâu dài. Tất cả cho thấy một tầm nhìn rất tỉnh táo: xác định cái gì cốt lõi để tồn tại, cái gì cần làm
ngay, cái gì phải kiên trì.
Từ tinh thần ấy, tôi rút ra cho bản thân một bài học quan trọng: khi đứng trước nhiều áp lực, việc
đầu tiên không phải là lao vào giải quyết tất cả, mà là xác định đúng vấn đề trọng tâm — điều
gì mà nếu không xử lý ngay thì mọi thứ khác đều vô nghĩa. Tôi cũng học được rằng phải biết tập
trung nguồn lực vào đúng chỗ, không dàn trải cảm xúc hay sức lực; đồng thời giữ sự linh hoạt,
biết lúc nào cần cứng rắn, lúc nào cần mềm dẻo để đạt mục tiêu lớn. Cuộc kháng chiến kiến quốc
dạy tôi rằng để đứng vững và đi xa, con người cần một tầm nhìn rõ, một trái tim kiên định và một
chiến lược xử lý vấn đề có thứ tự – chỉ như vậy mới có thể vượt qua những thời điểm “ngàn khó
bủa vây” trong cuộc sống.
4 bài học từ ĐH VI, từ đó rút ra bài học cho bản thân? SGK trang 60 Bài học:
Mở đầu, tư tưởng “lấy dân làm gốc” nhắc ta rằng mọi hành động đúng đắn đều phải xuất phát từ lợi
ích, nhu cầu và tiếng nói của quần chúng. Khi chuyển vào đời sống cá nhân, điều này trở thành thói
quen đặt người khác vào trung tâm trong học tập, làm việc và hợp tác. Tôi học cách lắng nghe thật
sự thay vì chỉ “nghe cho có”, coi trọng góp ý trái chiều và dùng phản hồi như một công cụ để kiểm
chứng quyết định của mình. Nhờ đó, trước khi triển khai bất kỳ ý tưởng nào, tôi tự nhắc mình phải
hỏi ý kiến nhóm, khảo sát mức độ phù hợp hoặc thử nghiệm nhỏ để xem tác động của nó. Điều tôi
cần tránh nhất là sự chủ quan, nghĩ rằng mình “biết người khác cần gì” và loại bỏ ý kiến bất lợi. Bài
học này nhắc tôi phải khiêm tốn, tôn trọng người xung quanh và biết rằng mọi thành công bền vững
đều bắt nguồn từ việc thấu hiểu nhu cầu của tập thể.
Bài học thứ hai, “xuất phát từ thực tế, tôn trọng quy luật khách quan”, gợi ý tinh thần thực chứng,
thích ứng với hoàn cảnh và chống duy ý chí. Tôi nhận ra rằng muốn làm tốt bất kỳ việc gì, mình
phải nhìn vào dữ kiện, chứ không chỉ dựa trên cảm xúc hoặc mong muốn chủ quan. Vì thế, tôi rèn
thói quen thu thập thông tin từ nhiều nguồn đáng tin, phân tích chúng trước khi kết luận, và luôn thử
nghiệm ở quy mô nhỏ trước khi áp dụng rộng. Kế hoạch nào cũng có thể sai, nên tôi học cách chuẩn
bị phương án dự phòng và chấp nhận điều chỉnh khi thực tế thay đổi. Điều quan trọng là không gò
ép thực tế theo ý mình, không cố bám vào những quyết định đã không còn phù hợp, và không né
tránh dữ liệu chỉ vì “sợ sai”. Bài học này giúp tôi trưởng thành hơn ở sự khách quan và linh hoạt.
Bài học thứ ba về “kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại” nhấn mạnh vừa giữ gìn bản
sắc, vừa chủ động tiếp thu tri thức, công nghệ và phương thức quản trị hiện đại. Với bản thân, điều
này thể hiện ở việc vừa trau dồi các giá trị văn hóa, đạo đức nghề nghiệp và bản sắc Việt Nam, vừa
tích cực cập nhật những năng lực của thời đại như ngoại ngữ, tư duy số, kỹ năng công nghệ mới.
Tôi cố gắng duy trì việc đọc sách chuyên ngành hàng tuần, đăng ký các khóa học trực tuyến và
tham gia hoạt động cộng đồng để gắn kết với truyền thống. Điều cần tránh là cực đoan: hoặc quá
bảo thủ, khư khư giữ những thói quen cũ; hoặc mải chạy theo công nghệ, xu hướng mà đánh mất
những giá trị làm nên bản lĩnh của mình. Bài học này giúp tôi tìm được điểm cân bằng giữa “hội
nhập” và “giữ bản sắc”.
Bài học thứ tư về “chăm lo xây dựng Đảng ngang tầm” khi chuyển sang cấp độ cá nhân là bài học
về tự rèn luyện, nâng cao phẩm chất, năng lực và tinh thần trách nhiệm. Tôi hiểu rằng để làm việc
hiệu quả và có uy tín, mình phải không ngừng tu dưỡng đạo đức, rèn sự liêm chính, trung thực và
tinh thần nhận trách nhiệm. Đồng thời, tôi cần nâng cao năng lực chuyên môn, kỹ năng giao tiếp, kỹ
năng lãnh đạo và quản lý bản thân. Tôi luyện thói quen tự đánh giá mỗi tháng, ghi lại những điều
làm tốt, những lần thất bại và bài học rút ra. Tôi đặt ra bộ tiêu chuẩn cá nhân: đúng hạn, minh bạch,
nói được làm được, và dám nhận lỗi. Điều tôi cố tránh là rơi vào hình thức rèn luyện chỉ để “đẹp hồ
sơ” hoặc vì áp lực bên ngoài thay vì trách nhiệm thực chất với công việc.
Từ bốn bài học lớn của Đại hội VI, tôi rút ra rằng trưởng thành không phải là điều gì quá xa vời; nó
bắt đầu từ việc biết đặt lợi ích chung lên trước, suy nghĩ bằng dữ liệu chứ không phải cảm tính, giữ
được gốc rễ khi mở rộng tri thức, và liên tục rèn luyện bản thân đến mức mình có thể tin cậy chính
mình. Nếu biến những điều này thành thói quen bằng những hành động nhỏ, có thể đo lường và
được nhìn lại thường xuyên, chúng sẽ trở thành nguồn lực thực sự giúp tôi phát triển bền vững và
đóng góp tốt hơn cho cộng đồng xung quanh.
8 đặc trưng ở ĐH X thì đặc trưng nào bao trùm các đặc trưng còn lại? Tại sao? → SGK trang 69 Trong tám
đặc trưng của xã hội xã hội chủ nghĩa được nêu tại Đại hội X, đặc trưng “Xã hội
XHCN mà nhân dân ta xây dựng là một xã hội dân giàu, nước mạnh, công bằng, dân chủ, văn
minh” là đặc trưng bao trùm các đặc trưng còn lại. Đặc trưng “Xã hội XHCN mà nhân dân ta xây
dựng là một xã hội dân giàu, nước mạnh, công bằng, dân chủ, văn minh” được xem là đặc trưng bao
trùm vì đây là mục tiêu tổng quát và là kết quả cuối cùng mà toàn bộ các đặc trưng còn lại hướng
tới. Trong khi bảy đặc trưng kia mô tả những phương diện cụ thể như kinh tế, chính trị, văn hóa,
con người, nhà nước hay quan hệ quốc tế, thì đặc trưng này khái quát toàn bộ bản chất, nội dung và
lý tưởng của xã hội XHCN mà Việt Nam phấn đấu xây dựng. Một xã hội “dân giàu, nước mạnh,
công bằng, dân chủ, văn minh” chỉ có thể hình thành khi nhân dân thật sự làm chủ, khi nền kinh tế
phát triển cao với lực lượng sản xuất hiện đại, khi văn hóa tiên tiến và đậm đà bản sắc được phát
huy, khi con người được phát triển toàn diện, khi các dân tộc đoàn kết bình đẳng, khi nhà nước pháp
quyền vận hành hiệu quả vì nhân dân và khi đất nước mở rộng quan hệ hữu nghị với thế giới. Nói
cách khác, mỗi đặc trưng còn lại là một điều kiện, một trụ cột đóng góp vào việc hiện thực hóa bức
tranh xã hội tốt đẹp được mô tả trong đặc trưng bao trùm này. Đồng thời, đây cũng là thước đo tổng
hợp để đánh giá mức độ thành công của quá trình xây dựng CNXH, bởi chỉ khi đạt được sự giàu
mạnh, dân chủ, công bằng và văn minh thì xã hội XHCN mới thực sự hoàn thiện. Chính vì tính khái
quát, toàn diện và tính định hướng đó, đặc trưng này bao trùm và chi phối toàn bộ các đặc trưng còn
lại trong hệ thống đặc trưng về xã hội XHCN ở Việt Nam.
Tại sao nhiệm vụ đầu tiên khi đổi mới lại là thống nhất nước nhà về mặt nhà nước?
Sau thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước và đại thắng mùa Xuân năm 1975, đất
nước ta đã được thống nhất về mặt lãnh thổ, nhưng trên thực tế vẫn tồn tại hai mô hình tổ chức và
quản lý nhà nước khác nhau ở hai miền. Điều này tạo nên sự phân tán về quyền lực, cơ chế, hệ
thống pháp luật và phương thức quản lý xã hội. HNTW24 (8-1975) chủ trương: Hoàn thành thống nhất nước nhà, đưa cả
nước tiến nhanh, tiến mạnh, tiến vững chắc lên CNXH. Hội nghị Hiệp
thương chính trị cũng khẳng định rằng: “Nước Việt Nam, dân tộc Việt Nam là một, nước nhà cần
được sớm thống nhất về mặt nhà nước.”
Việc thống nhất nhà nước trước hết đáp ứng nguyện vọng thiêng liêng của nhân dân cả nước, đó là
có một chính quyền chung đại diện cho ý chí, quyền lực và lợi ích của toàn dân tộc. Đây cũng là cơ
sở chính trị – tinh thần quan trọng để củng cố khối đại đoàn kết toàn dân, xóa bỏ mọi ranh giới về
thể chế để nhân dân hai miền thật sự hòa nhập trong một quốc gia thống nhất. Khi có một thể chế
nhà nước thống nhất, bộ máy quản lý mới có thể ban hành và thực thi các quyết sách chính trị, kinh
tế và xã hội một cách đồng bộ, nhất quán – điều mà công cuộc đổi mới rất cần đến.
Trong điều kiện đất nước vừa ra khỏi chiến tranh, các thế lực thù địch luôn tìm cách chống phá,
chia rẽ, nên việc hoàn thiện thống nhất nhà nước còn có ý nghĩa quan trọng trong việc bảo đảm an
ninh chính trị và trật tự xã hội. Một bộ máy nhà nước thống nhất, hoạt động theo một hệ thống pháp
luật chung sẽ hạn chế tối đa những khoảng trống quyền lực mà đối tượng xấu có thể lợi dụng. Đồng
thời, thống nhất nhà nước cũng tạo tiền đề để hợp nhất hệ thống pháp luật, chính sách kinh tế và bộ
máy hành chính – những yếu tố có tính quyết định đối với việc khôi phục sản xuất, phát triển kinh
tế và tiến hành công cuộc đổi mới một cách có hiệu quả.
Bên cạnh đó, việc có một nhà nước thống nhất còn giúp Việt Nam thiết lập quan hệ đối ngoại thuận
lợi hơn, nâng cao vị thế quốc tế và tạo điều kiện thu hút nguồn lực từ bên ngoài để phục vụ phát
triển. Đây là yêu cầu đặc biệt quan trọng trong giai đoạn đất nước cần tranh thủ hỗ trợ quốc tế cho
công cuộc tái thiết và đổi mới.
Như vậy, thống nhất nước nhà về mặt nhà nước được coi là nhiệm vụ đầu tiên khi bắt đầu đổi mới
bởi nó tạo ra nền tảng pháp lý, chính trị và tổ chức cho mọi bước đi tiếp theo. Chỉ khi có một quốc
gia thống nhất cả về lãnh thổ lẫn thể chế, với một bộ máy nhà nước duy nhất, thì con đường xây
dựng chủ nghĩa xã hội và tiến hành đổi mới mới có thể được triển khai đồng bộ, hiệu quả và bền
vững trên phạm vi toàn quốc.
Từ 5 bài học lớn về sự lãnh đạo của Đảng tại Cương Lĩnh 2011, rút ra bài học cho bản thân.
Nhìn lại những bài học lớn trong Cương lĩnh 2011, tôi nhận ra rằng đó không chỉ là kim chỉ nam
cho sự nghiệp cách mạng của dân tộc, mà còn là những nguyên tắc sâu sắc, có thể vận dụng vào quá
trình học tập, làm việc và trưởng thành của mỗi người trẻ.
Thứ nhất, nắm vững “ngọn cờ độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội” gợi cho tôi ý thức về việc
phải có mục tiêu rõ ràng và lý tưởng đúng đắn. Trong lịch sử, Đảng có thể dẫn dắt dân tộc đi đúng
hướng vì xác định chính xác lợi ích căn bản và đích đến của dân tộc. Với một sinh viên, điều này
chuyển hóa thành thái độ sống có định hướng: biết mình muốn trở thành ai, muốn theo đuổi điều gì
và điều đó có phù hợp với giá trị của bản thân hay không. Khi có “ngọn cờ” của riêng mình, tôi
không bị chênh vênh trước lựa chọn, không bị cuốn theo trào lưu nhất thời, và có thể kiên trì đi đến
cùng mục tiêu đã chọn.
Thứ hai, bài học “cách mạng là của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân” nhắc tôi rằng bất
kỳ hành động hay thành tựu nào cũng cần đặt lợi ích của cộng đồng lên trước cái tôi cá nhân. Lịch
sử chứng minh sức mạnh của lòng dân chính là yếu tố quyết định thắng lợi. Với người trẻ hôm nay,
điều đó trở thành bài học về tinh thần phục vụ, biết lắng nghe và tôn trọng nhu cầu của người khác.
Dù làm việc nhóm, hoạt động xã hội hay sau này bước vào môi trường nghề nghiệp, tôi hiểu rằng
muốn thành công phải biết tạo giá trị thực, biết hướng đến điều người xung quanh cần chứ không
chỉ làm điều mình thích.
Thứ ba, bài học về đoàn kết dạy tôi giá trị của sự kết nối và hợp tác. Đoàn kết trong Đảng, trong
dân tộc và trong quan hệ quốc tế đã giúp Việt Nam biến những thử thách tưởng chừng không thể
vượt qua thành sức mạnh tổng hợp. Với bản thân, tôi nhận ra rằng không ai có thể thành công một
mình: muốn học tốt phải biết xây dựng “đội ngũ” bạn bè hỗ trợ nhau; muốn phát triển sự nghiệp
phải biết hợp tác, tôn trọng và dung hòa khác biệt. Đoàn kết không chỉ là gắn kết tình cảm, mà còn
là khả năng phối hợp hiệu quả để tạo ra kết quả lớn hơn tổng nỗ lực cá nhân.
Thứ tư, bài học “kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại” cho tôi cái nhìn hiện đại hơn
về việc học tập và làm việc trong bối cảnh toàn cầu hóa. Dân tộc ta có truyền thống và bản sắc
riêng, nhưng để phát triển, ta phải biết học hỏi tinh hoa thế giới, nắm bắt công nghệ mới, tư duy
mới, phương pháp mới. Điều này khuyến khích tôi không được tự mãn với kiến thức đang có, phải
luôn mở lòng với cái mới, biết tận dụng cơ hội học từ những chương trình, khóa học quốc tế, sách
vở hiện đại, và từ những chuẩn mực tiến bộ của thời đại.
Thứ năm, bài học về sự lãnh đạo đúng đắn khiến tôi suy ngẫm đến vai trò của tư duy, phương
pháp và kỷ luật trong hành động. Lãnh đạo của Đảng đứng đắn vì dựa trên khoa học, thực tiễn và
nguyên tắc. Với sinh viên, điều này trở thành bài học về khả năng tự “lãnh đạo bản thân”: biết lập
kế hoạch, biết tự chịu trách nhiệm, biết kiểm soát cảm xúc, biết đưa ra quyết định dựa trên lý trí
thay vì cảm tính. Một người trẻ muốn trưởng thành thì phải rèn khả năng dẫn dắt chính cuộc sống
của mình, chứ không chỉ phản ứng thụ động với hoàn cảnh.
- Trình bày bối cảnh (ngắn gọn) —> đường lối
- Khi đọc đề liên quan đến việc chọn đại hội nào thì xét kỹ từ khoá để chọn
- Liên hệ thực tế cần bám sát vào nội dung. VD: chớp thời cơ (4 yếu tố)
- Phân biệt đại hội và hội nghị
Đại hội tổ chức 5 năm 1 lần, một kỳ đại hội sẽ có nhiều hội nghị được tổ chức. VD: Hội nghị TW 8
khoá V là hội nghị TW lần 8 của đại hội V