









Preview text:
LEC3.S2.10. Hệ tiết niệu: Thận và niệu quản
Giảng viên:TS. Trần Quốc Hòa
Bộ môn Giải phẫu
Thời lượng: 2 tiết Mục tiêu:
1. Mô tả được vị trí, kích thước, hình thể-liên quan và cấu tạo của thận và niệu quản; sự
cung cấp mạch và thần kinh cho những cơ quan này.
2. Nêu được các liên hệ chức năng và lâm sàng thích hợp. Nội dung
Hệ tiết niệu (H.1) bao gồm hai thận là những cơ quan tạo ra nước tiểu, các niệu quản dẫn
nước tiểu từ thận xuống bàng quang, nơi nước tiểu được giữa lại tạm thời, và niệu đạo là
đường dẫn nước tiểu ra ngoài. Thận và phần trên niệu quản nằm ở bụng, sau phúc mạc;
phần dưới niệu quản và bàng quang nằm trong chậu hông, dưới phúc mạc; niệu đạo nữ
nằm ở sàn chậu hông nhưng phần lớn chiều dài niệu đạo nam nằm trong dương vật để
đảm nhiệm cả các chức năng tiết niệu và sinh dục. Tm chủ dưới Đm chủ bụng
Tuyến thượng thận Tm thận Niệu quản Đm chậu ngoài Trực tràng Lỗ niệu quản Bàng quang Tam giác bàng quang Niệu đạo Tuyến tiền liệt Hoành niệu dục Hành dương vật Cơ hành xốp 1
Sỏi thận,sỏi niệu quản là một trong những nguyên nhân gây tăng HA 1. Thận (kidney)
Hình 1. Sơ đồ hệ tiết niệu
Hai thận là những cơ quan có nhiệm vụ bài tiết những sản phẩm cuối cùng của hoạt động
chuyển hoá và nước thừa, thông qua đó kiểm soát nồng độ của những chất khác nhau
trong các dịch cơ thể, giữ cho nước và điện giải trong các dịch mô ở trạng thái tương đối
hằng định. Thận còn sản xuất hormon ảnh hưởng đến sự tạo hồng cầu.
Vừa nội tiết, vừa ngoại tiết
1.1. Hình thể ngoài, kích thước và vị trí
1.1.1. Hình thể ngoài 2 cực, 2 bờ, 2 mặt -> mặt trước ngoài, mặt sau trong
Thận có màu nâu đỏ, hình hạt đậu dẹt nên có các mặt trước và sau, các bờ trong và
ngoài và các cực trên và dưới. Bờ trong lõm ở giữa tại rốn thận (hilum of kidney), nơi
có các các mạch thận đi vào và đi ra khỏi thận, và là nơi bể thận thoát ra ngoài để liên tiếp với niệu quản.
Ở thai, trẻ sơ sinh: thận có 12 thùy, hòa nhập lại ở người trưởng thành 1.1.2. Kích thước
Mỗi thận có kích thước khoảng 11 cm chiều dài, 6 cm chiều rộng và 3 cm chiều dày
(chiều trước-sau). Trọng lượng trung bình là 150 g ở nam và 135 g ở nữ.
Lâm sàng: thận ứ nước do sỏi -> bể thận lớn lên, nhu mô thận mỏng đi. Trong viêm -> tăng kthuoc cả hai
1.1.3. Vị trí và đối chiếu (H.2)
Xg sườn XII (ngắn)
Xg sườn XII (ngắn) Xg sườn XI D/c sườn - thắt lưng ngoài Xg sườn XII (dài) Cơ thắt lưng lớn Cơ thắt lưng lớn
Hình 2. Đối chiếu thận lên thành lưng
Các thận nằm sau phúc mạc, ở hai bên cột sống thắt lưng. Đầu trên của thận ngang mức
bờ trên đốt sống ngực 12, đầu dưới ngang mức đốt sống thắt lưng 3. Thận phải ở hơi thấp
hơn thận trái, khoảng 1,25 cm. Đầu trên của thận phải chỉ ở ngang mức xương sườn 12,
đầu trên thận trái ở ngang mức xương sườn 11. Trục dọc của thận hướng về phía dưới-bên
- Sau PM, hai bên cột sống TL -> Hố thắt lưng
Chấn thương thận: nước tiểu tràn ra sau phúc mạc
- Bao quanh bởi mô mỡ: quanh thận và cạnh thận
2 -> Chèn ép vào phúc mạc -> PƯ kích thích PM: các triệu
- Thận phải thấp hơn thận trái
chứng của kích thích PM (bụng chướng, liệt ruột,...)
- Thận trái dài hẹp hơn thận phải
- Chấn thương thận kín: đau thắt lưng, đái máu
và trục ngang hướng về phía sau-trong, vì thế mặt trước của thận còn được gọi là mặt
trước-ngoài, mặt sau là mặt sau-trong. Ở tư thế nằm và chiếu lên mặt trước cơ thể, trung
tâm rốn thận ở sấp xỉ mặt phẳng ngang qua môn vị, cách đường giữa khoảng 5 cm. Cực
trên của thận cách đường giữa 2,5 cm, cực dưới cách 7,5 cm. Chiếu lên mặt sau cơ thể,
trung tâm của rốn thận ở ngang mức bờ dưới của mỏm gai đốt sống thắt lưng 1, cực dưới
của thận ở cách mào chậu 2,5 cm. Thận xuống thấp hơn khoảng 2,5 cm ở tư thế đứng;
chúng dịch chuyển lên và xuống một chút trong lúc thở.
1.2. Liên quan (Các H.3; H.4 và H.5)
1.2.1. Mặt trước
Thận phải. Mặt trước thận phải có những diện không được phúc mạc phủ mà tiếp xúc
trực tiếp với các tạng khác: Với tuyến thượng thận phải ở cực trên, góc đại tràng phải ở
dưới và phần xuống tá tràng ở trong. Phần còn lại có phúc mạc phủ và áp vào ấn thận trên mặt tạng của gan.
Thận viêm mủ lâu ngày -> dính vào tá tràng, khi phẫu thuật có thể lm rách tá tràng
-> tràn dịch mật, dịch tụy vào khoang bụng -> NGUY HIỂM Phổi Mạc dưới hoành Gan Cơ hoành Ngách gan - thận
Ngách sườn - hoành Xg sườn XII
Lá trước mạc thận Cơ vuông thắt lưng Đại tràng Tk dưới sườn
Cân cơ vuông thắt lưng
Lớp mỡ quanh thận Cân cơ ngang bụng Cơ chéo bụng trong Lá sau mạc thận Mạc chậu Cơ chậu
Hình 3. Thiết đồ đứng dọc qua thận phải
Thận trái. Mặt trước thận trái liên quan với tỳ, tuỵ, dạ dày, tuyến thượng thận trái, góc
đại tràng trái, đại tràng xuống và hỗng tràng. Ở trung tâm mặt trước là một diện hình tứ
giác tiếp xúc với thân tuỵ và các mạch tỳ. Ở trên diện này là một diện nhỏ tiếp xúc với
tuyến thượng thận trái ở cực trên và một diện liên quan với tỳ chạy dọc phần trên bờ
ngoài; giữa hai diện này là một diện hình tam giác liên quan với dạ dày. Ở dưới các diện
Cực trên: tuyến thượng thận
Cực dưới: cách mào chậu 2.5cm 3
tuỵ và tỳ, vùng hẹp phía ngoài liên quan với góc đại tràng trái và nơi bắt đầu của đại tràng
xuống, vùng rộng bên trong liên quan với các quai hỗng tràng. Các diện liên quan với dạ
dày, tỳ và hỗng tràng được phúc mạc phủ; các diện còn lại là vùng dính.
1.2.2. Mặt sau
Xương sườn XII chia mặt sau thận thành hai phần liên quan: Phần ngực ở trên xương
sườn XII và phần thắt lưng ở dưới xương sườn XII.
Phần ngực. Liên quan qua với cơ hoành; cơ hoành ngăn cách thận với ngách sườn-hoành
của màng phổi và các xương sườn (xương sườn 12 với thận phải, xương sườn 11 và 12 với thận trái).
Phần thắt lưng. Thận liên quan qua thể mỡ cạnh thận với cơ thắt lưng, cơ vuông thắt
lưng và cân cơ ngang bụng.
1.2.3. Các bờ của thận
Bờ ngoài (lateral border) của thận phải liên quan với gan, của thận trái liên quan với tỳ và đại tràng xuống. ổ phúc mạc Phúc mạc thành
Góc tá - hỗng tràng Tuỵ Tá tràng
Lớp mỡ cạnh thận
Lớp mỡ quanh thận Thân giao cảm Thận trái
Hình 4. Thiết đồ nằm ngang qua thận
Bờ trong (medial border) lồi ở phía các cực thận nhưng lõm ở giữa thành một khe gọi là
rốn thận. Vị trí của các thành phần chính của rốn thận là: Bể thận ở sau, động mạch thận
ở giữa, và tĩnh mạch thận ở trước. Bờ trong liên quan với tuyến thượng thận ở trên rốn
thận và với đoạn đầu của niệu quản ở dưới rốn thận. Rốn thận dẫn đến một khoang nằm ở
Phẫu thuật thận: cần kẹp động mạch thận, kẹp hoàn toàn khi thấy TM thận xẹp lại 4
trung tâm thận gọi là xoang thận. Xoang thận là nơi chứa các đài và bể thận cùng các
mạch máu, thành xoang được lót bởi phần quặt vào của bao thận. Vùng trần của gan
Tuyến thượng thận Dạ dày Tỳ Tuỵ và mạc treo
Thuỳ phải của gan đại tràng ngang Tá tràng
Góc đại tràng trái
Góc đại tràng phải Ruột non Niệu quản
Hình 5. Các vùng liên quan của thận, nhìn từ trước
1.3. Các lớp mô quanh thận (H.4)
Thận và tuyến thượng thận được vùi trong một bao mỡ, gọi là bao mỡ quanh thận
(perirenal fat capsule). Mô liên kết sợi bao quanh bao mỡ này dày đặc lại thành mạc thận
(renal fascia). Mạc thận có một chẽ ngang ngăn cách thận với tuyến thượng thận.
Mạc thận. Mạc thận gồm hai lá trước và sau. Tại bờ ngoài thận, các lá trước và sau của
mạc thận dính với nhau. Về phía trong, lá trước đi trước các mạch máu của thận để hoà
nhập vào mô liên kết bao quanh động mạch chủ bụng và tĩnh mạch chủ dưới, lá sau bám
vào mạc của cơ thắt lưng lớn và vào cột sống. Một lớp mạc sâu nối lá trước với lá sau tại
bờ trong của thận và các mạch thận phải xuyên qua chẽ mạc nối này; điều này giải thích
cho việc vì sao nhiễm trùng ở một ổ thận không lan được qua đường giữa để tới ổ thận
bên kia. Ở trên tuyến thượng thận, hai lá mạc thận dính với nhau và hoà lẫn với mạc dưới
cơ hoành. ở phía dưới, hai lá không dính nhau, lá trước mỏng đi tới mức không thể phân
biệt được với mô ngoài phúc mạc của hố chậu, lá sau hoà lẫn với mạc chậu. Giữa lá sau
của mạc thận và thành lưng có một khối mỡ nữa gọi là thể mỡ cạnh thận (pararenal fat
body); trong thể mỡ này có chứa các thần kinh dưới sườn, chậu hạ vị và chậu bẹn.
1.4. Hình thể trong (H.6)
Cắt đứng ngang qua thận, ta thấy thận có hai phần: Phần đặc ở xung quanh là nhu mô
thận, phần giữa rỗng là xoang thận (renal sinus). Ngoài cùng, bọc lấy thận là một bao xơ (fibrous capsule).
- Ngăn máu, nc tiểu lan vào ổ bụng
- Trong phẫu thuật, bao xơ giúp sợi chỉ khâu
1.4.1. Nhu mô thận vào đươc
Nhu mô thận gồm có hai vùng là vùng tủy và vùng vỏ. 5
Tuỷ thận (renal medulla). Tuỷ bao gồm các khối hình nón nhợt màu gọi là các tháp thận
(renal pyramyds). Nền của các tháp hướng ra phía bao xơ, đỉnh của chúng tập trung về
xoang thận và nhô vào các đài nhỏ như những nhú thận (renal papilla), mỗi đài nhỏ chứa
từ 1 tới 3 nhú. Mỗi tháp thận cùng với mô vỏ thận bao quanh tạo nên một thuỳ thận (renal
lobe). Số lượng nhú thận biến đổi từ 5-11, thường gặp nhất là 8. Trên nhú thận có một
diện, gọi là diện sàng, chứa các lỗ đổ của các ống nhú.
Đài thận nhỏ: 7 đôi đài thận bụng - đài thận lưng -> 2-3 đài thận lớn -> Bể thận
Vỏ thận (renal cortex). Vỏ thận gồm vùng mô thận nằm giữa bao xơ và nền của các tháp
thận và vùng mô thận nằm giữa các tháp thận như là các cột thận (renal columns). Từ các
nền của các tháp thận có các tia tuỷ (medullary rays) chạy về phía bao xơ và thuôn nhọn
dần khi tiến gần tới bao xơ. Vùng mô sẫm màu hơn uốn lượn quanh các tia tuỷ và ngăn
cách các tia tuỷ với nhau được gọi là mê đạo vỏ (cortical labyrinth). Phần mê đạo vỏ nằm
ở vùng vỏ ngoài, sát bao xơ, được gọi là vỏ của vỏ (cortex corticis).
Vỏ tuyến thượng thận
Tuỷ tuyến thượng thận Cột thận Vùng tuỷ Đài thận lớn Rốn thận Nhú thận Bể thận Mô mỡ quanh xoang thận Niệu quản Đài thận bé Tháp thận Bao xơ Vùng vỏ
Hình 6. Thiết đồ đứng ngang qua thận 6 ống lượn gần ống lượn xa Cuộn mạch Lòng bao ống góp Vỏ thận Đm cung Tuỷ thận
Hình 7. Cấu trúc vi thể của thận Quai Henlé
Về vi thể (H.7), nhu mô thận được cấu tạo bởi các đơn vị tạo ra nước tiểu gọi là các
nephron. Mỗi nephron bao gồm một cấu trúc lọc huyết tương gọi là tiểu thể thận và một
ống thận đảm nhiệm việc tái hấp thu chọn lọc các chất từ dịch lọc để tạo nước tiểu. Nước
tiểu từ một số ống thận được tập trung về một ống góp, nhiều ống góp hợp thành một ống
nhú mở vào một đài thận nhỏ tại đỉnh của một nhú thận. Tiểu thể thận gồm một cuộn
mạch (glomerulus) và một bao cuộn mạch. Cuộn mạch nằm giữa một tiểu động mạch tới
(afferent arteriole) và một tiểu động mạch đi (efferent arteriole); bao cuộn mạch là đầu tịt
phình to của ống thận và cuộn mạch lồng sâu vào đầu phình tịt này.
1.4.2. Các đài thận và bể thận
Các đài thận nhỏ, đài thận lớn và bể thận nằm trong xoang thận. Có 7-13 đài thận nhỏ
(minor calices), mỗi đài là một cấu trúc hình loa kèn mà miệng loa gắn vào quanh nền của
một (hiếm khi 2 hoặc 3) nhú thận. Các đài thận nhỏ hợp lại với nhau tạo nên 2-3 đài thận
lớn (major calices). Các đài lớn hợp lại thành một khoang đơn hình phễu gọi là bể thận
(renal pelvis). Bể thận thu nhỏ dần khi nó chạy về phía dưới-trong qua rốn thận để liên
tiếp với niệu quản. Cũng có khi bể thận hoàn toàn nằm trong xoang thận và khi đó vùng
tiếp nối bể thận-niệu quản nằm hoàn toàn trong xoang thận hoặc ở gần rốn thận.
1.5. Mạch và thần kinh của thận
1.5.1. Động mạch thận (renal artery)
Chuyển tới 20% cung lượng tim
Mỗi thận thường nhận được một động mạch thận tách thẳng góc từ mặt bên động mạch
chủ bụng, ở ngay dưới nguyên ủy của động mạch mạc treo tràng trên và ngang mức đốt
sống thắt lưng I. Trên đường tới rốn thận, động mạc thận phải đi sau tĩnh mạch chủ dưới, 7
tĩnh mạch thận phải, đầu tuỵ và phần xuống tá tràng; động mạch thận trái đi sau tĩnh mạch
thận trái, thân tuỵ và tĩnh mạch tỳ. Khi tới gần rốn thận, động mạch thận thường tận cùng
bằng hai ngành là ngành trước (anterior branch) và ngành sau (posterior branch). Ngành
trước thường tách 4 ra động mạch phân thuỳ đi vào thận ở trước bể thận, đó là các động
mạch phân thuỳ trên, trước-trên, trước-dưới và dưới. Ngành sau chạy vòng ở mép sau rốn
thận và trở thành động mạch phân thuỳ sau. Các vùng thận được cấp máu bởi các động
mạch phân thuỳ được gọi là các phân thuỳ thận: Phân thuỳ trên chiếm phần trong của cực
trên; phân thuỳ dưới chiếm toàn bộ cực dưới; phân thuỳ trước-trên nằm ở mặt trước, ngay
dưới phân thuỳ trên; phân thuỳ trước-dưới nằm ở mặt trước, ngay trên thuỳ dưới; phân
thuỳ sau bao gồm toàn bộ vùng sau thận mà ở giữa các phân thuỳ trên và dưới.
ĐM phân thùy -> gian thùy -> cung -> vỏ hình tia -> tiểu ĐM đến/động mạch xuyên hình tia -> tiểu ĐM đi -> tiểu ĐM thẳng
Các động mạch phân thuỳ chia nhánh nhỏ dần ở trong thận và toàn bộ các nhánh phân
chia của chúng được gọi chung là các động mạch nội thận. Các động mạch nội thận lớn
nhất là các động mạch gian thùy (interlobar arteries) đi về phía vỏ ở quanh các tháp thận.
Mỗi động mạch gian thuỳ chia đôi ở chỗ tiếp nối vỏ và tuỷ thận thành các động mạch
cung (arcuate arteries) chạy trên mặt đáy của các tháp thận. Mỗi động mạch cung tách ra
các động mạch vỏ hình tia (cortical radiate arteries) hay các động mạch gian tiểu thùy
(interlobular arteries) chạy về phía vỏ thận, một số động mạch vỏ hình tia xuyên qua bề
mặt thận và được gọi là các động mạch xuyên hình tia (perforating radiate arteries). Mỗi
động mạch vỏ hình tia chia thành các tiểu động mạch đến cuộn mạch. Các tiểu động
mạch đi của cuộn mạch đi vào tuỷ thận và mỗi động mạch chia thành các tiểu động mạch
thẳng (straight arterioles).
Trước khi chia nhánh vào thận, động mạch thận cho một số nhánh cấp máu cho tuyến
thượng thận và niệu quản.
1.5.2. Tĩnh mạch thận TM trái: có TM sinh dục đùi đổ vào -> Dễ giãn TM sinh dục bên trái hơn
Các tĩnh mạch vỏ hình tia và các tiểu tĩnh mạch thẳng đổ về các tĩnh mạch cung; các tĩnh
mạch cung đổ về các tĩnh mạch gian thuỳ. Các tĩnh mạch nội thận nói trên cùng các tĩnh
mạch bao thận đổ về tĩnh mạch thận. Đổ về tĩnh mạch thận trái còn có tĩnh mạch thượng
thận trái và tĩnh mạch tinh hoàn hoặc buồng trứng trái. Các tĩnh mạch thận nằm trước các
động mạch thận và đổ gần như thẳng góc vào tĩnh mạch chủ dưới. Tĩnh mạch thận trái dài
gấp ba tĩnh mạch thận phải (7,5 cm và 2,5 cm); nó đi sau tĩnh mạch tỳ và thân tuỵ, khi sắp
tận cùng thì nằm trước động mạch chủ bụng.
TM vỏ hình tia/tiểu TM thẳng -> TM cung -> TM gian thùy, TM nội thận, TM bao thận -> TM thận 1.5.3. Bạch mạch
Bạch mạch của thận đổ vào các hạch cạnh động mạch chủ bụng gần nơi phát nguyên của
động mạch và tĩnh mạch thận. 1.5.4. Thần kinh
Đám rối thận (renal plexus) chạy vào thận và cho các nhánh nhỏ quây xung quanh động mạch thận.
2. Niệu quản (ureter) (H.1) 8
Các niệu quản là những ống cơ đẩy nước tiểu từ bể thận tới bàng quang bằng các co thắt
nhu động của chúng. Mỗi niệu quản dài 25 - 28 cm, đi từ chỗ nối với bể thận tới lỗ niệu
quản của bàng quang và đường đi của nó được chia thành hai đoạn dài gần bằng nhau:
Đoạn bụng và đoạn chậu hông. Đường kính của niệu quản khoảng 3 mm nhưng hơi hẹp
hơn tại ba nơi: Chỗ nối với bể thận, chỗ bắt chéo trước các động mạch chậu và đoạn
xuyên qua thành bàng quang (hẹp nhất). Sỏi từ thận rơi xuống niệu quản có thể bị kẹt lại ở các chỗ hẹp này. 3 - 5 mm
2.1. Đoạn bụng (abdominal part) sau PM
Đoạn bụng đi từ bể thận tới đường cung xương chậu. ở đoạn này, niệu quản đi xuống ở
sau phúc mạc và trên mặt trước cơ thắt lưng lớn, được cơ này ngăn cách với đỉnh mỏm
ngang các đốt sống thắt lưng cuối. Ở trước cơ thắt lưng lớn, nó bắt chéo trước thần kinh
sinh dục đùi và bắt chéo sau các mạch tuyến sinh dục (tinh hoàn hoặc buồng trứng). Ngay
trước khi đi vào chậu hông bé, nó bắt chéo trước động mạch chậu ngoài ở bên phải và động mạch chậu trong
chung ở bên trái. Chỗ niệu quản bắt chéo các động mạch chậu ở cách
đường giữa khoảng 4 – 5 cm. Đối chiếu lên thành bụng điểm, đau niệu quản (do sỏi kẹt
lại ở chỗ bắt chéo này) nằm ở chỗ nối các đoạn 1/3 ngoài và 1/3 giữa của đường nối hai
gai chậu trước trên. Phía trong, niệu quản phải liên quan với tĩnh mạch chủ dưới, niệu
quản trái liên quan với động mạch chủ bụng.
Niệu quản phải còn bị phần xuống tá tràng trùm lên và bị bắt chéo trước bởi các mạch đại
tràng phải và hồi đại tràng. Niệu quản trái đi sau mạc treo đại tràng sigma và bị bắt chéo
trước bởi các mạch đại tràng trái.
2.2. Đoạn chậu hông (pelvic part)
Đoạn này đi từ đường cung xương chậu tới lỗ niệu quản của bàng quang trong mô ngoài
phúc mạc. Lúc đầu, nó đi xuống về phía sau-ngoài trên thành bên của chậu hông. Khi tới
ngang mức gai ngồi, nó chạy vòng về phía trước-trong qua sàn chậu hông để tới đáy bàng
quang. Ở thành bên chậu hông, nó đi trước các mạch chậu trong và sau các mạch này là
thân thắt lưng cùng và khớp cùng chậu. Ở phía ngoài, nó tiếp xúc với mạc cơ bịt trong và
bắt chéo các mạch và thần kinh bịt. Đoạn thành chậu hông của niệu quản nữ nằm ngay
sau buồng trứng và tạo nên giới hạn sau của hố buồng trứng. ở đoạn sàn chậu hông, niệu
quản nam bắt chéo sau-dưới ống đẫn tinh rồi chạy giữa bàng quang và cực trên tuyến tinh
trước khi xuyên vào bàng quang; Ở nữ, niệu quản đi qua nền dây chằng rộng, lướt ra
trước ở bên ngoài phần trên âm đạo của cổ tử cung, ngay trên phần bên vòm âm đạo (nơi
ta có thể sờ thấy sỏi niệu quản qua âm đạo), và bắt chéo phía sau-dưới động mạch tử cung
ở nơi cách cổ tử cung khoảng 1,5 cm.
Khi tới bàng quang, niệu quản chạy xuyên trong thành bàng quang từ trên xuống dưới, từ
ngoài vào trong. Đoạn nội thành bàng quang (intramural part) dài 2,2 cm và đổ vào bàng
quang tại lỗ niệu quản (ureteric orifice). Hai lỗ niệu quản cách nhau khoảng 2,5 cm khi bàng quang rỗng.
2.3. Mạch và thần kinh 9
Niệu quản được cấp máu bởi các nhánh niệu quản của động mạch thận; động mạch sinh
dục; động mạch bàng quang dưới hoặc động mạch tử cung. Máu tĩnh mạch từ niệu quản
đổ về các tĩnh mạch đi kèm động mạch. Các nhánh thần kinh của niệu quản xuất phát từ
đám rối hạ vị và đám rối thận 10