





Preview text:
1. Anh, chị hãy trình bày những thành tựu, ý nghĩa lịch sử và kinh nghiệm lãnh đạo
của Đảng Cộng sản Việt Nam trong sự nghiệp đổi mới đất nước (từ năm 1986 - nay). a)
Thành tựu trong sự nghiệp đổi mới đất nước:
1- Đẩy nhanh nhịp độ phát triển kinh tế, hoàn thành vượt mức nhiều mục
tiêu chủ yếu của kế hoạch 5 năm.
Trong 5 năm 1991-1995, nhịp độ tăng bình quân hăng năm về tổng sản phẩm
trong nước (GDP) đạt 8,2% (kế hoạch là 5,5 – 6,5%), về sản xuất công nghiệp là
13,3%, sản xuất nông nghiệp 4,5%, kim ngạch xuất khẩu 20%. Cơ cấu kinh tế có
bước chuyển đổi: tỉ trọng công nghiệp và xây dựng trong GDP từ 22,6% năm 1990
đến 29,1% năm 1995; dịch vụ từ 39,6% lên 41,9%. Bắt đầu có tích lũy từ nội bộ
nền kinh tế. Vốn đầu tư cơ bản toàn xã hội năm 1990 chiếm 15,8% GDP; năm
1995 là 27,4% (trong đó nguồn đầu tư trong nước chiếm 16,7% GDP). Đến cuối
năm 1995, tổng vốn đăng ký của các dự án đầu tư trực tiếp của nước ngoài đạt trên
19 tỉ USD, gần 1/3 đã được thực hiện. Lạm phát từ mức 67,1% năm 1991 giảm xuống còn 12,7% năm 1995.
Hoạt động khoa học và công nghệ gắn bó hơn với nhu cầu phát triển kinh tế - xã
hội, thích nghi dần với cơ chế thị trường.
Quan hệ sản xuất được điều chỉnh phù hợp hơn với yêu cầu phát triển của lực
lượng sản xuất. Nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần vận hành theo cơ chế thị
trường có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa tiếp tục được xây dựng.
2- Tạo được một số chuyển biến tích cực về mặt xã hội.
Đời sống vật chất của phần lớn nhân dân được cải thiện. Số hộ có thu nhập trung
bình và số hộ giàu tăng lên, số hộ nghèo giảm. Mỗi năm thêm hơn 1 triệu lao động
có việc làm. Nhiều nhà ở và đường giao thông được nâng cấp và xây dựng mới ở
cả nông thôn và thành thị.
Trình độ dân trí và mức hưởng thụ văn hóa của nhân dân được nâng lên. Sự
nghiệp giáo dục, đào tạo, chăm sóc sức khỏe, các hoạt động văn hóa, nghệ thuật,
thể dục thể thao, thông tin đại chúng, công tác kế hoạch hóa gia đình và nhiều hoạt
động xã hội khác có những mặt phát triển và tiến bộ.
Người lao động được giải phóng khỏi ràng buộc của nhiều cơ chế không hợp lý,
phát huy được quyền làm chủ và tính năng động sáng tạo, chủ động hơn trong tìm
việc làm, tăng thu nhập, tham gia các sinh hoạt chung của cộng đồng xã hội.
Chủ trương đền ơn đáp nghĩa đối với người có công với nước được toàn dân
hưởng ứng, phong trào xóa đói, giảm nghèo và các hoạt động từ thiện ngày càng
mở rộng, đang trở thành một nét đẹp mới trong xã hội ta.
Lòng tin của nhân dân vào chế độ và tiền đồ của đát nước, vào Đảng và Nhà nước được nâng lên.
3- Giữ vững ổn định chính trị, củng cố quốc phòng, an ninh.
Chúng ta đã giữ vững ổn định chính trị, độc lập chủ quyền và môi trường hòa bình
của đất nước, tạo điều kiện thuận lợi cơ bản cho công cuộc đổi mới.
Đảng đã định rõ phương hướng, nhiệm vụ và quan điểm chỉ đạo sự nghiệp bảo vệ
Tổ quốc trong tình hình mới, tiếp tục thực hiện có kết quả việc điều chỉnh chiến
lược quốc phòng, an ninh. Các nhu cầu củng cố quốc phòng, an ninh, cải thiện đời
sống lực lượng vũ trang được đáp ứng tốt hơn. Chất lượng và sức chiến đấu của
quân đội và công an được nâng lên. Thế trận quốc phòng toàn dân và an ninh nhân
dân được củng cố. Công tác bảo vệ an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội được tăng cường.
4- Thực hiện có kết quả một số đổi mới quan trọng về hệ thống chính trị.
Trên cơ sở Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã
hội, chúng ta đã từng bước cụ thể hóa đường lối đổi mới trên các lĩnh vực, củng cố
Đảng và chính trị, tư tưởng, tổ chức, tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng trong
xã hội; đã ban hành Hiến pháp mới năm 1992, sửa đổi, bổ sung và ban hành mới
nhiều văn bản pháp luật quan trọng, tiến hành cải cách một bước nền hành chính
Nhà những, tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền Cộng hòa xã
hội chủ nghĩa Việt Nam. Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể chính trị, xã hội từng
bước đổi mới nội dung và phương thức hoạt động, đạt hiệu quả thiết thực hơn.
Quyền làm chủ của nhân dân trên các lĩnh vực kinh tế, xã hội, chính trị, tư tưởng,
văn hóa được phát huy. Các tầng lớp nhân dân, đồng bào các dân tộc đoàn kết, gắn
bó trong sự nghiệp dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, văn minh. Đồng bào ta
ở nước ngoài cũng ngày càng hướng về quê hương vì đại nghĩa ấy.
5- Phát triển mạnh mẽ quan hệ đối ngoại, phá thế bị bao vây cấm vận, tham
gia tích cực vào đời sống cộng đồng quốc tế.
Chúng ta đã triển khai tích cực và năng động đường lối đối ngoại độc lập tự chủ,
đa phương hóa, đa dạng hóa. Khôi phục và mở rộng quan hệ hữu nghị, hợp tác
nhiều mặt với Trung Quốc; tăng cường quan hệ hữu nghị, đoàn kết đặc biệt với
Lào; xây dựng quan hệ tốt với Campuchia; phát triển quan hệ với các nước trong
khu vực, trở thành thành viên đầy đủ của tổ chức ASEAN; củng cố quan hệ hữu
nghị truyền thống với nhiều nước, từng bước đổi mới quan hệ với Liên bang Nga,
các nước trong Cộng đồng các quốc gia độc lập và các nước Đông Âu; mở rộng
quan hệ với các nước công nghiệp phát triển; bình thường hóa quan hệ với Mỹ;
thiết lập và mở rộng quan hệ với nhiều nước Nam Á, Nam Thái Bình dương,
Trung Đông, châu Phi và Mỹ latinh; mở rộng quan hệ với Phong trào không liên
kết, các tổ chức quốc tế và khu vực.
Đảng ta tiếp tục phát triển quan hệ đoàn kết, hữu nghị với các đảng cộng sản và
công nhân, các phong trào độc lập dân tộc, các tổ chức và phong trào tiến bộ trên
thế giới; thiết lập quan hệ với các đảng cầm quyền ở một số nước. Mở rộng hoạt
động đối ngoại của các đoàn thể nhân dân, tổ chức xã hội. Phát triển quan hệ với
các tổ chức phi chính phủ trên thế giới.
Đến nay nước ta đã có quan hệ ngoại giao với hơn 160 nước, có quan hệ buôn bán
với trên 100 nước. Các công ty của hơn 50 nước và vùng lãnh thổ đã đầu tư trực
tiếp vào nước ta. Nhiều chính phủ và tổ chức quốc tế dành cho ta viện trợ không
hoàn lại hoặc cho vay để phát triển.
Thành tựu trên lĩnh vực đối ngoại là một nhân tố quan trọng góp phần giữ vững
hòa bình, phá thế bị bao vây, cấm vận, cải thiện và nâng cao vị thế của nước ta trên
thế giới, tạo môi trường thuận lợi cho công cuộc xây dựng và bảo vệ đất nước. Đó
cũng là sự đóng góp tích cực của nhân ta vào sự nghiệp chung của nhân dân thế
giới vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội.
b) Ý nghĩa lịch sử trong sự nghiệp đổi mới đất nước:
- Đưa Việt Nam thoát khỏi khủng hoảng kinh tế - xã hội: Đặt ra nền tảng cho việc
tìm ra con đường thích hợp đi lên Chủ nghĩa xã hội và Cách mạng.
- Đường lối đổi mới là kết tinh của trí tuệ và tư duy khoa học của toàn Đảng, toàn
dân, toàn quân và thể hiện quyết tâm đổi mới của Đảng. Đường lối đổi mới của
Đảng là sự kế thừa, vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác Lê-nin vào điều kiện hoàn
cảnh cụ thể của Việt Nam chúng ta
- Đạt được thành tựu to lớn có ý nghĩa lịch sử cả về chính trị, kinh tế, văn hoá, tư tưởng xã hội
c) Kinh nghiệm lãnh đạo của Đảng trong sự nghiệp đổi mới đất nước:
Một là, công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng phải được triển khai quyết liệt, toàn diện,
đồng bộ, thường xuyên, hiệu quả cả về chính trị, tư tưởng, đạo đức, tổ chức và cán bộ.
Kiên định, vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí
Minh; nâng cao năng lực lãnh đạo, cầm quyền và sức chiến đấu của Đảng; thường
xuyên củng cố, tăng cường đoàn kết trong Đảng và hệ thống chính trị; thực hiện
nghiêm các nguyên tắc xây dựng Đảng, thường xuyên đổi mới phương thức lãnh đạo
của Đảng. Xây dựng Nhà nước và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh toàn diện;
hoàn thiện cơ chế kiểm soát chặt chẽ quyền lực; kiên quyết, kiên trì đấu tranh phòng
chống suy thoái, "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" trong nội bộ; đẩy mạnh đấu tranh
phòng chống tham nhũng, lãng phí.
Hai là, trong mọi công việc của Đảng và Nhà nước phải luôn quán triệt sâu sắc quan
điểm "dân là gốc"; thật sự tin tưởng, tôn trọng và phát huy quyền làm chủ của nhân
dân, kiên trì thực hiện phương châm "dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân
giám sát, dân thụ hưởng".
Nhân dân là trung tâm, là chủ thể của công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ
quốc; mọi chủ trương, chính sách phải thực sự xuất phát từ cuộc sống, nguyện vọng,
quyền và lợi ích chính đáng của nhân dân, lấy hạnh phúc, ấm no của nhân dân làm
mục tiêu phấn đấu. Thắt chặt mối quan hệ mật thiết giữa Đảng với nhân dân, dựa vào
nhân dân để xây dựng Đảng; củng cố và tăng cường niềm tin của nhân dân đối với
Đảng, Nhà nước, chế độ xã hội chủ nghĩa.
Ba là, trong lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành, tổ chức thực hiện, phải có quyết tâm cao, nỗ
lực lớn, hành động quyết liệt, năng động, sáng tạo, tích cực; có bước đi phù hợp, phát
huy mọi nguồn lực, động lực và tính ưu việt của chế độ xã hội chủ nghĩa; kịp thời
tháo gỡ các điểm nghẽn, vướng mắc; đề cao trách nhiệm của người đứng đầu gắn liền
với phát huy sức mạnh đồng bộ của cả hệ thống chính trị; phát huy dân chủ đi đôi với
giữ vững kỷ cương; coi trọng tổng kết thực tiễn, nghiên cứu lý luận; thực hiện tốt sự
phối hợp trong lãnh đạo, quản lý, điều hành; coi trọng chất lượng và hiệu quả thực tế;
tạo đột phá để phát triển.
Bốn là, tập trung ưu tiên xây dựng đồng bộ thể chế phát triển, bảo đảm hài hòa giữa
kiên định và đổi mới, kế thừa và phát triển; giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị,
văn hóa, xã hội; giữa tuân theo các quy luật thị trường và bảo đảm định hướng xã hội
chủ nghĩa; giữa tăng trưởng kinh tế với phát triển văn hóa, con người, giải quyết các
vấn đề xã hội, bảo vệ tài nguyên, môi trường; giữa phát triển kinh tế, xã hội với bảo
đảm quốc phòng, an ninh; giữa độc lập, tự chủ với hội nhập quốc tế; thực sự coi trọng,
phát huy hiệu quả vai trò động lực của con người, văn hoá, của giáo dục và đào tạo,
khoa học và công nghệ trong phát triển đất nước.
Năm là, chủ động nghiên cứu, nắm bắt, dự báo đúng tình hình, tuyệt đối không được
để bị động, bất ngờ. Kiên quyết, kiên trì bảo vệ độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn
vẹn lãnh thổ của Tổ quốc đi đôi với giữ vững môi trường hòa bình, ổn định an ninh,
an toàn để phát triển đất nước. Chủ động, tích cực hội nhập quốc tế toàn diện và sâu
rộng trên cơ sở giữ vững độc lập, tự chủ, tự lực, tự cường.
2. Phân tích nhân tố quyết định đưa đến thắng lợi của công cuộc đổi mới (1986 -
nay). Từ vấn đề lịch sử trên, bạn có thể rút ra bài học gì cho cuộc sống của bản thân?
Công cuộc đổi mới đất nước là một quá trình lâu dài với đầy sự cam go và thử
thách đến từ tình hình trong nước lẫn quốc tế. Đường lối Đổi mới toàn diện đất nước
của Đảng được đề ra từ Đại hội lần thứ VI của Đảng (1986) và được phát triển dần
qua các kì đại hội. Theo đó, kể từ khi đường lối Đổi mới được bắt đầu thực hiện từ
năm 1986, trong 4 năm đầu thực hiện, mặc dù đất nước chưa thoát ra khủng hoảng,
nhưng về cơ bản, vẫn có những thành tựu bước đầu, tạo tiền đề cho sự phát triển sau
này. Cho đến các kỳ Đại hội tiếp theo, Đảng lần lượt đưa ra các chủ trương, đường lối
sáng tạo, đúng đắn và phù hợp với tình hình của đất nước và thế giới.
Qua đó, ta có thể nhận thấy được, yếu tố quyết định đến sự thắng lợi của công
cuộc Đổi mới toàn diện đất nước (1986 - nay) đó chính là đến từ sự lãnh đạo sáng
suốt và tài tình của Đảng Cộng sản Việt Nam với những nhà lãnh đạo tài ba cũng
những chủ trương, đường lối đúng đắn. Có thể khẳng định được điều đó bởi vì:
Đầu tiên, Đảng đã đề ra những chủ trương, đường lối đúng đắn, phù hợp đối
với tình hình đất nước lúc và thế giới. Lúc bấy giờ, trong bối cảnh tình hình
chính trị - xã hội - kinh tế ở các nước Liên xô và Xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu
không ổn định đã tác động mạnh mẽ đến tình hình trong nước, bên cạnh việc bị
bao vây, cấm vận về kinh tế. Đồng thời, sau thời gian thực hiện nền kinh tế
quan liêu, bao cấp, nền kinh tế nước ta lâm vào khủng hoảng trầm trọng, từ đó
dẫn đến những bất ổn về chính trị - xã hội. Trước tình hình đó, Đảng ta đã đề ra
đường lối nhằm vừa giữ vững sự ổn định về chính trị, vừa vực dậy nền kinh tế.
Trong đó, khẳng định sự kiên định đối với mục tiêu xã hội chủ nghĩa, duy trì sự
lãnh đạo của tuyệt đối của Đảng Cộng sản để ổn định về tình hình chính trị.
Đồng thời xây dựng nền dân chủ pháp quyền xã hội chủ nghĩa, xây dựng Nhà
nước của dân, do dân và vì dân, để ổn định tình hình xã hội. Đặc biệt, trong
lĩnh vực kinh tế, cơ chế quan liêu, bao cấp bị bãi bỏ, thiếp lập nền kinh tế thị
trường định hướng xã hội chủ nghĩa, từng bước ổn định tình hình về kinh tế.
Qua đó, ta có thể thấy, từ việc thoát khỏi cuộc khủng hoảng trầm trọng cho đến
những thành tựu to lớn về sau đã chứng minh được vai trò lãnh đạo quyết định
của Đảng đối với công cuộc đổi mới.
Tiếp theo, với những đường lối chỉ đạo của Đảng, Đảng đã tận dụng và phát
huy tối đa các yếu tố đóng góp vào sự thắng lợi của công cuộc đổi mới. Bên
cạnh việc giữ vững được vai trò lãnh đạo của mình, Đảng còn phát huy được
sức mạnh của toàn dân bằng các chính sách vì chính trị và kinh tế nhằm đáp
ứng nuyện vọng cấp thiết của người dân. Với những yếu tố đó, bước đầu tiên
trong công cuộc đổi mới đó là ổn định về các vấn đề xã hội như lương thực, và
các vấn đề về kinh tế. Bằng việc giải quyết từng bước như thế, đất nước ta đi từ
chỗ khủng hoảng toàn diện, đến ổn định từng bước, rồi phát triển toàn diện như
ngày nay. Đây là một quá trình dài và có nhiều thử thách, đặc biệt trong thời
đại mới, tuy nhiên, với những thành tựu như hiện tại và kỳ vọng xán lạn trong
tương lai, ta có thể thấy sự lãnh đạo của Đảng là yếu tố đầu tiên và quyết định đối với tất cả.
Đặc biệt, việc khẳng định nhiệm vụ chiến lược của nước ta trong thời kỳ đổi
mới đất nước của Đảng đã chứng minh được tầm nhìn và sự tài tình của Đảng,
đó là: xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc. Đây là 2 nhiệm vụ không
thể tách rời dù ở trong bất kỳ thời kỳ lịch sử nào của đất nước. Đảng đã nhận
thấy được tầm quan trọng và mối liên hệ chặt chẽ của 2 nhiệm vụ chiến lược
này: xây dựng chủ nghĩa xã hội là bước tạo ra những điều kiện vật chất và tinh
thần để thực hiện mục tiêu bảo vệ Tổ quốc, ngược lại, bảo vệ Tổ quốc chính là
tạo nên những cơ sở, tiền đề và điều kiện quan trọng cho việc xây dựng xã hội chủ nghĩa.
Chưa ngừng lại ở đó, Đảng cũng đã thành công trong việc duy trì vai trò lãnh
đạo duy nhất của Đảng Cộng sản. Trước bối cảnh khủng hoảng về chính trị
trầm trọng ở các nước Đông Âu, Đảng đã khẳng định sự lãnh đạo của chỉ một
Đảng, đó là Đảng Cộng sản Việt Nam, đây là một cơ sở quan trọng đưa đến sự
ổn định về chính trị và nhất quán trong các đường lối chỉ đạo, từng bước đưa
đến sự ổn định và phát triển về kinh tế - xã hội.
Từ những vấn đề lịch sử trong thời kỳ đổi mới đất nước, bài học quan trọng mà
mỗi sinh viên ngày nay có thể rút ra được đó chính là phải biết đặt ra mục tiêu chiến lược
cho bản thân mình cũng như là phải có sự kiên định, nhất quán và những bước đi đúng
đắn để thực hiện được mục tiêu đó. Với một hay nhiều mục tiêu cụ thể, ta có thể hình
dung rõ ràng những gì mà bản thân mình đang hướng đến, từ đó, ta mới có thể rút ra
được những điều mà mình cần thực hiện để có thể đạt được mục tiêu đó. Nếu không có
mục tiêu và những kế hoạch cụ thể, rõ ràng, ta sẽ khó để chạm đến những mơ ước của
bản thân, thậm chí sẽ ngày càng thụt lùi về không hiểu rõ được bản thân mình cần phải
làm gì.Tương tự với nhiệm vụ xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc, đây là hai
mục tiêu quan trọng và chiến lược của toàn Đảng, toàn dân, vì vậy, Đảng phải có những
quyết sách phù hợp để đi đến thắng lợi với nhiệm vụ đó. Cũng như vậy, với những mục
tiêu cụ thể, ta có thể đặt ra những nhiệm vụ cho riêng mình và kiên trì trong việc thực
hiện chúng, đồng thời, ta phải xem xét và rút kinh nghiệm trước những sai lầm để có thể
đi đến mục tiêu của mình một cách tốt hơn. Mỗi bước đi và hành động của Đảng đều là
những bài học quý giá cho mỗi người trong xã hội nói chung và của thế hệ sinh viên nói
riêng. Điều quan trọng là ta phải nhận ra những bài học đó và áp dựng cho chính bản thân
mình để đạt được những thành tựu trước hết cho bản thân mình, sau mới có thể đóng góp
cho sự phát triển chung của đất nước.