















Preview text:
Thời kỳ 1920-1930: Hình thành những nội dung cơ bản tư tưởng về cách mạng Việt Nam
Đây là thời kỳ mục tiêu, phương hướng cách mạng giải phóng dân tộc
Việt Nam từng bước được cụ thể hóa, thể hiện rõ trong Cương lĩnh chính trị
đầu tiên của Đảng Cộng sản Việt Nam
* HCM tích cực sử dụng báo chí Pháp lên chủ nghĩa thực dân Pháp, thức
tỉnh lương tri nhân dân Pháp và nhân loại tiến bô, khơi dậy lòng yêu nước
của nhân dân và các dân tộc thuộc địa và của toàn dân dân tộc Việt Nam.
Những năm bôn ba, lăn lộn trong phong trào yêu nước, phong trào công
nhân “chính quốc” và các nước thuộc địa, Hồ Chí Minh đã mở rộng quan hệ xã
hội và tri thức của mình. Nhờ thông hiểu nhiều ngoại ngữ và giao tiếp rộng với
nhiều bạn bè quốc tế mà Người tiếp thu được kiến thức cổ, kim, đông, tây, nắm
được cốt lõi của chủ nghĩa Mác - Lênin. Do tích cực tham gia các hoạt động
quốc tế và các buổi sinh hoạt lý luận bàn về chiến lược sách lược cách mạng thế
giới, qua thực tiễn công tác, tổng kết kinh nghiệm nhiều cuộc cách mạng, Hồ
Chí Minh đã tích lũy được nhiều tri thức cách mạng, dần dần trong tư duy của
Người hình thành nên một luận điểm đúng đắn: Giải phóng dân tộc gắn liền với
giải phóng giai cấp vô sản và các dân tộc thuộc địa, giải phóng nhân loại. Cũng
từ đó, lý luận, chiến lược cách mạng vô sản ở một nước thuộc địa nửa phong
kiến, đã từng bước hình thành trong tư duy Hồ Chí Minh.
Từ khi trở thành người cộng sản, cùng với việc thực hiện những nhiệm vụ
của Đảng Cộng sản Pháp và Quốc tế Cộng sản, Quốc tế Nông dân…, Hồ Chí
Minh đã truyền bá chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng của mình về nước chuẩn
bị cho việc thành lập một Đảng cộng sản ở Việt Nam.
- Đầu thời kỳ này, Hồ Chí Minh có một số bài báo đáng chú ý như: Vấn
đề dân bản xứ đăng báo l'Humanité tháng 8/1919, Ở Đông Dương đăng báo
L'Humanité ngày 4/11/1920, v.v.. Năm 1921, Hồ Chí Minh tham gia sáng lập
Hội Liên hiệp thuộc địa. Năm 1922, Người được bầu là Trưởng Tiểu ban
Nghiên cứu vấn đề dân tộc thuộc địa của Đảng Cộng sản Pháp, sáng lập báo Le
Paria bằng tiếng Pháp. Người vừa làm chủ bút, tổng biên tập và kiêm cả việc tổ
chức phát hành báo đó trong nước Pháp và gửi đến các thuộc địa của Pháp,
trong đó có Đông Dương, để thức tỉnh tỉnh thần giải phóng dân tộc của nhân
dân các nước thuộc địa. Các bài viết trên báo Người cùng khổ (1922), báo
Thanh niên (1925), báo Nhân đạo, Tạp chí Cộng sản, Đời sống thợ thuyền,
Thông tin quốc tế, các tác phẩm Bản án chế độ thực dân Pháp (1925), Đường
Cách mệnh (1927),… của Hồ Chí Minh là những công cụ quan trọng trong việc
giáo dục những người Việt Nam yêu nước từng bước chuyển từ yêu nước
truyền thống thành yêu nước theo lập trường cách mạng vô sản. Cụ thể:
+ Tờ báo "Le Paria": Đây là tờ báo mà Hồ Chí Minh, là chủ nhiệm, kiêm
chủ bút, Nguyễn Ái Quốc chỉ đạo biên tập và quyết định việc đưa bài viết lên
mặt báo cũng như trình bày các trang báo. Tờ báo cách mạng Le Paria thực hiện
sứ mệnh giải phóng con người, do Nguyễn Ái Quốc và các đồng chí của Người
sáng lập và phát hành được 38 số trong thời gian từ tháng 4/1922 đến tháng
4/1926. Le Paria tố cáo những sự lạm quyền về chính trị, lối cai trị độc đoán,
tình trạng bị bóc lột về kinh tế mà nhân dân các vùng lãnh thổ rộng lớn ở hải
ngoại đang là nạn nhân. Báo kêu gọi họ đoàn kết lại, đấu tranh cho tiến bộ về
vật chất và tinh thần của chính họ.
+ Báo "L'Humanité":Trên báo L'Humanité’ ngày 4-11-1920, Người vạch
trần bản chất bảo hộ của chủ nghĩa thực dân Pháp: “Ở Đông Dương, chúng ta
đang sống dưới sự "bảo hộ" của nước Pháp. Bảo hộ có nghĩa là che chở. Nước
Pháp đang để cho hàng triệu anh em chúng ta chết đói, trong khi đó hàng nghìn
người khác bị đưa sang Tiểu Á làm bia đỡ đạn.
Người ta che chở cho chúng ta như vậy đó”
+ Thư gửi Quốc hội Pháp vào 5-3-1947: Trong sáu điểm cụ thể của nội
dung bức thư, Người nêu rõ thái độ thiện chí của nhân dân Việt Nam đối với
nước Pháp và nhân dân Pháp, lên án sự bội tín bất nhân của những người đại
diện nước Pháp ở Đông Dương và một lần nữa, Người nhắc lại với Quốc hội và
nhân dân Pháp lập trường và nguyện vọng của nhân dân Việt Nam mà trước đây
Người đã nhiều lần nêu lên
+ Tuyên truyền thông qua các tổ chức quốc tế: Năm 1925, Nguyễn Ái
Quốc về Quảng Châu (Trung Quốc) chuẩn bị về tư tưởng, tổ chức cho việc
thành lập Đảng. Người nỗ lực đưa các thông tin về tình cảnh của nhân dân Đông
Dương và sự đàn áp ngày càng dã man của thực dân Pháp trên các bài báo:
Lênin và Phương Đông (Báo Tiếng còi, Liên Xô, ngày 21/1/1926); Phong trào
cách mạng ở Đông Dương (Tập
san Inprekorr, tiếng Pháp, số 91, ngày
14/8/1926); Văn Minh Pháp ở Đông Dương (Tập san Inprekorr, tiếng Đức, số 17, năm 1927)
* Hồ Chí Minh đẩy mạnh hoạt động lý luận chính trị, tổ chức, chuẩn bị cho
việc thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam để lãnh đạo cách mạng Việt Nam.
Thông qua báo chí và các hoạt động thực tiễn, Người tích cực truyền bá chủ
nghĩa Mác - Lênin vào phong trào công nhân và phong trào yêu nước Việt Nam.
Phương hướng của cách mạng giải phóng dân tộc trong các nước thuộc
địa, trong đó có Việt Nam được Hồ Chí Minh cụ thể hóa một bước trên cơ sở
phân tích sâu sắc bản chất, thủ đoạn của chủ nghĩa thực dân Pháp. Những nội
dung đó được thể hiện rõ trong nhiều bài báo của Người đăng trên các báo của
Đảng Cộng sản Pháp, Đảng Cộng sản Liên Xô, của Quốc tế Cộng sản và trong
tác phẩm Bản án chế độ thực dân Pháp viết bằng tiếng Pháp, được xuất bản lần
đầu tiên ở Pari năm 1925.
- Về chính trị: Xuất phát từ thực tiễn cách mạng thế giới và đặc điểm của
phong trào giải phóng dân tộc ở các nước thuộc địa, kế thừa và phát triển quan
điểm của V.I. Lênin về cách mạng giải phóng dân tộc, Nguyễn Ái Quốc đưa ra
những luận điểm quan trọng về cách mạng giải phóng dân tộc. Người khẳng
định: con đường cách mạng của các dân tộc bị áp bức là giải phóng giai cấp,
giải phóng dân tộc, cả hai cuộc giải phóng này chỉ có thể nghiệp của chủ nghĩa
cộng sản. Đường lối chính trị của Đảng cách mạng phải hướng tới giành độc lập
cho dân tự do, hạnh phúc cho đồng bào, hướng tới xây dựng nhà nước mang lại
quyền và lợi ích cho nhân dân.
+ Nguyễn Ái Quốc xác định, cách mạng giải phóng dân tộc ở các nước
thuộc địa là một bộ phận của cách mạng sản thế giới; giữa cách mạng giải
phóng dân tộc ở các nước thuộc địa với cách mạng vô sản ở “chính quốc” có
mối quan hệ chặt chẽ với nhau, hỗ trợ cho nhau, nhưng cách mạng giải phóng
dân tộc ở nước thuộc địa không phụ thuộc vào cách mạng vô sản ở “chính
quốc” mà có thể thành công trước cách mạng vô sản ở “chính quốc”, góp phần
tích cực thúc đẩy cách mạng vô sản ở “chính quốc".
+ Đối với các dân tộc thuộc địa, Nguyễn Ái Quốc chỉ rõ: ở nước nông
nghiệp lạc hậu, nông dân là lực lượng đông đảo nhất, bị đế quốc, phong kiến áp
bức, bóc lột nặng nề, vì vậy phải thu phục và lôi cuốn được nông dân, phải xây
dựng khối liên minh công - nông làm động lực cách mạng: “công nông là gốc
cách mệnh; còn học trò, nhà buôn nhỏ, điền chủ nhỏ... là bầu bạn cách mệnh
của công nông”. Do vậy, Người xác định rằng, cách mạng “là việc chung của cả
dân chúng chứ không phải là việc của một hai người”.
+ Về vấn đề Đảng Cộng sản, Nguyễn Ái Quốc khẳng định: “Trước hết
phải có Đảng cách mệnh, để trong thì vận động và tổ chức dân chúng, ngoài thì
liên lạc với dân tộc bị áp bức và vô sản giai cấp mọi nơi. Đảng có vững cách
mệnh mới thành công, cũng như người cầm lái có vững thuyền mới chạy”
- Về tổ chức: Sau khi lựa chọn con đường cứu nước - con đường cách
mạng vô sản - cho dân tộc Việt Nam, Nguyễn Ái Quốc khẳng định phải “đi vào
quần chúng, thức tỉnh họ, tổ chức họ, đoàn kết họ, huấn luyện họ, đưa họ ra đấu
tranh giành tự do độc lập”. Vì vậy, sau một thời gian hoạt động ở Liên Xô để
tìm hiểu, khảo sát thực tế về cách mạng vô sản, tháng 11/1924, Người đến
Quảng Châu (Trung Quốc), nơi có đông người Việt Nam yêu nước hoạt động,
để xúc tiến các công việc tổ chức thành lập Đảng Cộng sản. Tháng 2/1925,
Người lựa chọn một số thanh niên tích cực trong Tâm tâm xã, lập ra nhóm Cộng sản đoàn.
+ Sau sự biến chính trị ở Quảng Châu (4/1927), Nguyễn Ái Quốc trở lại
Mátxcơva và sau đó được Quốc tế Cộng sản cử đi công tác ở nhiều nước châu
Âu. Năm 1928, Người trở về châu Á và hoạt động ở Xiêm (tức Thái Lan).
* Hồ Chí Minh sáng lập tổ chức tiền thân của Đảng Cộng sản: Hội
Việt Nam Thanh niên Cách mạng (tháng 6 -1925), ra báo Thanh niên bằng
tiếng Việt, từng bước truyền bá chủ nghĩa Mác- Lênin và lý luận cách mạng
trong những người yêu nước và công nhân
a, Hồ Chí Minh sáng lập tổ chức tiền thân của Đảng Cộng sản: Hội Việt
Nam Thanh niên Cách mạng (tháng 6 -1925)
- Tháng 6/1924 Đại hội V của Quốc tế Cộng sản, đồng chí Nguyễn Ái
Quốc (Chủ tịch Hồ Chí Minh) được Quốc tế Cộng sản chỉ định vào Ban Chấp
hành những người Cộng sản Châu Á phụ trách Bộ phương Đông và đặc trách
Cục phương Nam. Khi tham gia Đại hội Quốc tế thanh niên cộng sản lần thứ IV
tại Mátxcơva (Liên Xô) vào tháng 7/1924, Người đã chủ trì soạn thảo và trình
bày tại Đại hội “Luận cương về thanh niên thuộc địa”, trong đó nêu lên yêu cầu
cấp bách phải tổ chức, tập hợp lực lượng thanh niên cách mạng và hình thành
các đoàn thể thanh niên, xây dựng các tổ chức thanh niên cộng sản ở thuộc địa.
- Ngay sau đó, Quốc tế Cộng sản đã cử đồng chí Nguyễn Ái Quốc tới
Quảng Châu (Trung Quốc) công tác, nhằm xúc tiến mọi điều kiện để xây dựng
một tổ chức cộng sản ở Đông Dương và giúp đỡ các đại biểu cách mạng ở các nước Đông Nam Á.
- Tháng 2/1925, Người mở lớp học chính trị đầu tiên tại Trung Quốc và
chọn những thanh niên tích cực nhất để lập ra nhóm bí mật là Cộng sản Đoàn
làm hạt nhân cho việc truyền bá chủ nghĩa Mác-Lênin về Việt Nam.
- Tháng 6/1925, Chủ tịch Hồ Chí Minh lập ra tổ chức Hội Việt Nam Cách
mạng Thanh niên tại Quảng Châu (Trung Quốc) với nòng cốt là Cộng sản Đoàn.
Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên đã công bố Chương trình và Điều lệ, nói
rõ mục đích làm cách mạng dân tộc để giành lấy độc lập dân tộc:
+ Về mục đích của sự thành lập (chuẩn bị về tư tưởng)
oTháng 6/1925, Nguyễn Ái Quốc thành lập Hội Việt Nam Cách mạng
thanh niên trong đó có Cộng sản Đoàn làm nòng cốt để đào tạo những
người yêu nước Việt Nam thành những cán bộ tuyên truyền chủ nghĩa
Mác – Lênin, bồi dưỡng rèn luyện những người yêu nước Việt Nam
thành những chiến sĩ cộng sản, chuẩn bị điều kiện cho sự thành lập chính
đảng của giai cấp công nhân Việt Nam.
+ Về đường lối chính trị (chuẩn bị về đường lối chính trị)
oMục đích tôn chỉ của Hội: làm cách mạng dân tộc (đánh đuổi thực dân
Pháp và giành độc lập cho xứ sở, rồi sau làm cách mạng thế giới (lật đổ
chủ nghĩa đế quốc và thực hiện chủ nghĩa cộng sản).
oLực lượng cách mạng: Cách mạng là sự nghiệp của quần chúng nhưng do công nông làm nòng cốt.
oCách mạng phải có Đảng của chủ nghĩa Mác-Lênin lãnh đạo.
oCách mạng trong nước cần phải đoàn kết với giai cấp vô sản thế giới và
là một bộ phận của cách mạng thế giới.
+Về hệ thống tổ chức (chuẩn bị về tổ chức)
oGồm năm cấp đồng thời xây dựng các tổ chức quần chúng như công hội,
nông hội, hội học sinh, hội phụ nữ.
oTrên cơ sở hoạt động đến 1929 đã làm cho giai cấp công nhân ngày càng
giác ngộ, phong trào công nhân ngày càng phát triển theo hướng vươn lên
một phong trào tự giác; làm cho khuynh hướng vô sản ngày càng chiếm
ưu thế trong phong trào dân tộc Việt Nam góp phần dẫn tới sự phân hóa
về tổ chức của Hội Việt Nam Cách mạng thanh niên hình thành nên ba tổ chức cộng sản.
=> Như vậy, có thể khẳng định Hội Việt Nam Cách mạng thanh niên chính
là tổ chức tiền thân của Đảng Cộng sản Việt Nam vì đã chuẩn bị về chính trị,
tư tưởng và tổ chức cho việc thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam
b, Hồ Chí Minh ra báo Thanh niên
- Đồng chí Nguyễn Ái Quốc còn ra báo Thanh niên làm cơ quan ngôn luận
của Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên để truyền bá chủ nghĩa Mác - Lênin ở Việt Nam.
+ Hội đã xuất bản tờ báo Thanh niên (do Nguyễn Ái Quốc sáng lập và trực
tiếp chỉ đạo), tuyên truyền tôn chỉ mục đích của Hội, tuyên truyền chủ nghĩa
Mác - Lênin và phương hướng phát triển của cuộc vận động giải phóng dân tộc
Việt Nam. Báo in bằng tiếng Việt và ra hằng tuần, mỗi số in khoảng 100 bản.
Ngày 21/6/1925 ra số đầu tiên, đến tháng 4/1927, báo ra được 88 số. Sau khi
Nguyễn Ái Quốc rời Quảng Châu (4/1927) đi Liên Xô, những đồng chí khác
trong Tổng bộ vẫn tiếp tục việc xuất bản và hoạt động cho đến tháng 2/1930 với
202 số (từ số 89 trở đi, trụ sở báo chuyển về Thượng Hải). Một số lượng lớn
báo Thanh niên được bí mật đưa về nước và tới các trung tâm phong trào yêu
nước của người Việt Nam ở nước ngoài. Báo Thanh niên đánh dấu sự ra đời của
báo chí cách mạng Việt Nam.
+ Sau khi thành lập, Hội tổ chức các lớp huấn luyện chính trị do Nguyễn
Ái Quốc trực tiếp phụ trách, phái người về nước vận động, lựa chọn và đưa một
số thanh niên tích cực sang Quảng Châu để đào tạo, bồi dưỡng về lý luận chính
trị. Từ giữa năm 1925 đến tháng 4/1927, Hội đã tổ chức được trên 10 lớp huấn
luyện tại nhà số 13A và 135 đường Văn Minh, Quảng Châu. Sau khi được đào
tạo, các hội viên được cử về nước xây dựng và phát triển phong trào cách mạng
theo khuynh hướng vô sản. Trong số học viên được đào tạo ở Quảng Châu, có
nhiều đồng chí được cử đi học trường Đại học Phương Đông (Liên Xô) và
trường Quân sự Hoàng Phố (Trung Quốc).
* Tổng kết kinh nghiệm cách mạng tư sản Anh, Pháp, Mỹ, nhất là kinh
nghiệm Cách mạng Tháng Mười Nga; vạch rõ những nội dung cốt lõi trong
đường lối, phương pháp cách mạng Việt Nam được thể hiện qua tác phẩm
“Đường cách mệnh” (1927)
Trong quá trình hoạt động cách mạng Hồ Chí Minh đã nghiên cứu về các
cuộc cách mạng lớn trên thế giới như Cách mạng Tư sản Anh, Pháp, Mỹ và Cách mạng Tháng 10 Nga
a, Cách mạng Tư sản Anh (1642-1651)
- Nội dung: Cách mạng Tư sản Anh xảy ra trong bối cảnh mâu thuẫn sâu
sắc giữa chế độ quân chủ chuyên chế của vua Charles I và các lực lượng tư sản,
quý tộc mới, cùng với nông dân và các tầng lớp lao động khác. Cuộc cách mạng
này đã kết thúc bằng việc xử tử vua Charles I và thiết lập nền cộng hòa (Commonwealth). - Bài học rút ra:
+ Vai trò của tầng lớp trung gian: Hồ Chí Minh nhận thấy vai trò quan
trọng của tầng lớp tư sản và quý tộc mới trong việc dẫn dắt cuộc cách mạng.
Tuy nhiên, ông cũng nhận thức rõ rằng cách mạng này chủ yếu phục vụ lợi ích
của tầng lớp tư sản, không phải là cuộc cách mạng của toàn bộ nhân dân.
+ Sự liên minh giữa các giai cấp: Một bài học quan trọng khác là sự cần
thiết của việc liên minh giữa các giai cấp để đối phó với kẻ thù chung. Trong
cuộc cách mạng này, sự liên minh giữa tư sản và tầng lớp quý tộc mới là yếu tố
quyết định thành công ban đầu. Tuy nhiên, Hồ Chí Minh cũng nhận thức được
rằng sau khi đạt được mục tiêu chung, sự liên minh này có thể tan rã khi các lợi
ích giai cấp khác nhau trở nên xung đột.
b, Cách mạng Tư sản Pháp (1789-1799)
- Nội dung: Cách mạng Tư sản Pháp là một cuộc cách mạng mang tính
toàn diện, không chỉ lật đổ chế độ quân chủ chuyên chế của vua Louis XVI mà
còn ảnh hưởng sâu rộng đến mọi mặt của đời sống xã hội Pháp. Nó đề cao các
giá trị dân chủ, bình đẳng và tự do, đồng thời thúc đẩy sự hình thành của một xã
hội mới dựa trên các nguyên tắc của tư sản. - Bài học rút ra:
+ Sự quyết liệt trong cách mạng: Hồ Chí Minh học được từ cuộc cách
mạng này về sự quyết liệt cần thiết trong việc đấu tranh để lật đổ chế độ cũ.
Cuộc cách mạng Pháp đã trải qua nhiều giai đoạn, từ việc cải cách ôn hòa đến
việc xử tử vua Louis XVI và thiết lập nền cộng hòa. Hồ Chí Minh nhận ra rằng
cách mạng không thể nửa vời; để thành công, nó cần có sự kiên quyết và sẵn
sàng đấu tranh đến cùng.
+ Vai trò của quần chúng nhân dân: Cách mạng Pháp đã chứng tỏ sức
mạnh của quần chúng, đặc biệt là tầng lớp lao động thành thị và nông dân. Hồ
Chí Minh rút ra bài học rằng để cách mạng thành công, cần phải huy động và
dựa vào sức mạnh của toàn dân. Điều này ảnh hưởng sâu sắc đến quan điểm của
ông về vai trò của nhân dân trong cuộc cách mạng ở Việt Nam.
+ Bài học về dân chủ và công bằng xã hội: Cách mạng Pháp đã đặt nền
tảng cho các nguyên tắc dân chủ và nhân quyền, nhưng cũng bộc lộ những hạn
chế của chế độ tư sản khi quyền lợi chủ yếu vẫn thuộc về tầng lớp tư sản. Hồ
Chí Minh nhận ra rằng cách mạng tư sản tuy mang lại những tiến bộ nhất định
nhưng không thể giải phóng triệt để các tầng lớp nhân dân lao động. Điều này
thúc đẩy ông tìm kiếm một con đường khác, đó là con đường cách mạng vô sản.
c, Cách mạng Tư sản Mỹ (1775-1783)
- Nội dung: Cách mạng Tư sản Mỹ là cuộc chiến tranh giành độc lập của
13 thuộc địa ở Bắc Mỹ chống lại sự thống trị của Đế quốc Anh. Kết quả của
cuộc cách mạng này là sự ra đời của Hợp chủng quốc Hoa Kỳ với Hiến pháp đề
cao các quyền tự do cá nhân và quyền bình đẳng trước pháp luật. - Bài học rút ra:
+ Khát vọng độc lập và tự do: Cuộc cách mạng Mỹ đã khẳng định quyền
tự quyết và khát vọng độc lập của các dân tộc. Hồ Chí Minh rút ra rằng độc lập
dân tộc là điều kiện tiên quyết cho mọi sự phát triển xã hội. Đây là tư tưởng chủ
đạo trong cuộc đấu tranh giành độc lập của Việt Nam.
+ Tư tưởng dân chủ và pháp quyền: Hồ Chí Minh cũng học được từ cuộc
cách mạng Mỹ về việc xây dựng một nhà nước pháp quyền, trong đó quyền lực
thuộc về nhân dân. Ông thấy rõ giá trị của việc xây dựng một hệ thống chính trị
dựa trên các nguyên tắc dân chủ và pháp quyền, nhưng cũng nhận thức được
rằng hệ thống này phải được xây dựng trên nền tảng quyền lợi của nhân dân lao
động, chứ không chỉ phục vụ lợi ích của một nhóm nhỏ tư sản.
d. Cách mạng Tháng Mười Nga (1917)
- Nội dung: Cách mạng Tháng Mười Nga là cuộc cách mạng vô sản đầu
tiên trên thế giới, dẫn đến sự sụp đổ của chế độ Sa hoàng và sự ra đời của nhà
nước Xô viết, nhà nước đầu tiên do giai cấp công nhân và nông dân lãnh đạo
dưới sự chỉ đạo của Đảng Bolshevik do Lênin đứng đầu. - Bài học rút ra:
+ Vai trò của Đảng Cộng sản và lãnh tụ cách mạng: Từ Cách mạng Tháng
Mười Nga, Hồ Chí Minh nhận thức rõ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản trong
sự nghiệp cách mạng. Ông nhận ra rằng một cuộc cách mạng thành công cần có
sự lãnh đạo của một đảng tiền phong, có lý luận chính trị vững chắc và được
dẫn dắt bởi những lãnh tụ cách mạng có tầm nhìn xa trông rộng như Lenin.
+ Chính quyền của giai cấp công nhân và nhân dân lao động: Hồ Chí
Minh nhận thấy rằng cuộc cách mạng phải đi đôi với việc thiết lập một chính
quyền thực sự của nhân dân lao động, chứ không chỉ dừng lại ở việc lật đổ chế
độ cũ. Chính quyền này phải đại diện cho quyền lợi của đa số nhân dân, đặc biệt
là giai cấp công nhân và nông dân.
+Tính quốc tế của cách mạng vô sản: Cách mạng Tháng Mười Nga cho
Hồ Chí Minh thấy rằng cách mạng vô sản không chỉ là cuộc đấu tranh của một
quốc gia, mà là phong trào chung của các dân tộc bị áp bức trên toàn thế giới.
Điều này thúc đẩy ông xây dựng tư tưởng đoàn kết quốc tế và phát triển mối
quan hệ với các phong trào cách mạng khác, đặc biệt là trong khuôn khổ Quốc tế Cộng sản.
=>Thông qua các cuộc cách mạng tư sản Hồ Chí Minh đã vận dụng linh
hoạt, sáng tạo, phù hợp với điều kiện cụ thể của Việt Nam, đúc kết những bài
học quý báu, vạch rõ cách mạng Việt Nam phải có Đảng Cộng sản với chủ
nghĩa Mác - Lênin làm cốt để lãnh đạo; lực lượng cách mạng giải phóng dân tộc
là toàn thể nhân dân Việt Nam, trong đó nòng cốt là liên minh công nông.
Những nội dung cốt lõi đó và nhiều vấn đề trong đường lối, phương pháp
cách mạng Việt Nam được thể hiện trong tác phẩm “Đường cách mệnh” của
Người xuất bản năm 1927 ở Quảng Châu, Trung Quốc. Tác phẩm là sự chuẩn bị
mọi mặt về chính trị, tư tưởng, tổ chức cho sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam như:
-Tư cách một người cách mệnh: Tác phẩm đã nêu lên những vấn đề cơ
bản của đạo đức mới - đạo đức của người cộng sản. Đó là phải có đức và tài, trí
và dũng, tư cách và năng lực theo kiểu người cộng sản. Đó là con người một
lòng một dạ. Đó là con người có tổ chức, gắn bó với tổ chức, với đoàn thể.
Đồng thời biết phát huy năng lực cá nhân. “Tư cách người cách mệnh” có giá trị
khoa học và giáo dục lớn đặt cơ sở cho đạo đức học ở Việt Nam. -Con đường cách mệnh:
+ Hồ Chí Minh khẳng định trong "Đường Kách Mệnh" rằng con đường
cách mạng mà Việt Nam phải đi là con đường cách mạng vô sản. Cụ thể: Cách
mạng giải phóng dân tộc gắn với cách mạng xã hội: Không chỉ đơn thuần là
cuộc đấu tranh giành độc lập dân tộc khỏi ách thống trị của thực dân, cách mạng
còn phải lật đổ chế độ phong kiến, tư sản để xây dựng xã hội công bằng, dân chủ
+ Học theo cách mạng thế giới, đặc biệt là Cách mạng tháng Mười Nga:
Hồ Chí Minh nhấn mạnh rằng Việt Nam cần học hỏi từ thành công của các cuộc
cách mạng vô sản trên thế giới, nhất là cuộc Cách mạng tháng Mười ở Nga, coi
đó là hình mẫu lý tưởng để đi theo. Xây dựng và củng cố Đảng Cộng sản để
lãnh đạo cách mạng: Đảng Cộng sản là hạt nhân lãnh đạo của cách mạng Việt
Nam, chỉ có Đảng mới đủ sức lãnh đạo và định hướng cho cách mạng thành công.
- Về lực lượng cách mạng: Trong "Đường Kách Mệnh", Hồ Chí Minh
đặc biệt nhấn mạnh đến lực lượng nòng cốt của cách mạng là: Công nhân và
nông dân: Đây là hai tầng lớp đông đảo nhất và bị áp bức, bóc lột nặng nề nhất
trong xã hội. Họ có động lực mạnh mẽ và quyết tâm lớn trong việc tham gia
cách mạng. Công nhân được coi là lực lượng lãnh đạo, còn nông dân là đồng
minh chủ yếu. Thanh niên và trí thức yêu nước: Thanh niên là những người trẻ,
có chí khí và nhiệt huyết, họ sẽ là những người tiên phong trong các phong trào
cách mạng. Trí thức yêu nước, với kiến thức và lòng yêu nước, cũng đóng vai
trò quan trọng trong việc lan tỏa ý thức cách mạng. Toàn thể quần chúng nhân
dân: Cách mạng phải được tiến hành với sự tham gia của đông đảo nhân dân, vì
nhân dân chính là lực lượng chủ đạo trong việc thay đổi xã hội.
- Về đoàn kết quốc tế:
Hồ Chí Minh coi trọng tinh thần đoàn kết quốc
tế. Người nhấn mạnh rằng: Đoàn kết với các dân tộc bị áp bức trên thế giới: Để
cách mạng thành công, Việt Nam không thể đơn độc. Hồ Chí Minh kêu gọi sự
đoàn kết giữa các dân tộc thuộc địa bị áp bức để chống lại thực dân, đế quốc.
Cách mạng không chỉ là sự nghiệp của dân tộc Việt Nam mà còn là của phong
trào đấu tranh toàn cầu. Kết hợp với phong trào cách mạng thế giới: Cách mạng
Việt Nam cần được liên kết với các phong trào cách mạng trên thế giới, đặc biệt
là phong trào công nhân quốc tế, để cùng nhau tạo nên sức mạnh đấu tranh.
- Về phương pháp cách mạng: Hồ Chí Minh đề xuất phương pháp cách
mạng linh hoạt và thực tế: Phải dựa vào thực tiễn: Cách mạng không thể chỉ dựa
trên lý luận suông mà phải phù hợp với thực tế xã hội Việt Nam. Cần áp dụng
các phương pháp cách mạng phù hợp với hoàn cảnh từng giai đoạn. Sử dụng cả
đấu tranh chính trị và đấu tranh vũ trang: Hồ Chí Minh cho rằng cách mạng
không chỉ đơn thuần là đấu tranh về lý luận hay chính trị mà cần kết hợp với
đấu tranh vũ trang để giành lại độc lập. Phải có tổ chức và kỷ luật: Mọi hoạt
động cách mạng cần được tổ chức chặt chẽ, có kỷ luật, đồng bộ từ trên xuống
dưới, không thể hành động tự phát hay rời rạc.
- Về Đảng Cộng sản: Trong tác phẩm, Hồ Chí Minh đã đặt nền móng lý
luận về vai trò của Đảng Cộng sản: Đảng là lực lượng lãnh đạo duy nhất của
cách mạng: Hồ Chí Minh khẳng định rằng, chỉ có Đảng Cộng sản mới có thể
lãnh đạo cách mạng đến thắng lợi, vì Đảng là tổ chức đại diện cho giai cấp công
nhân và nhân dân lao động. Phải xây dựng Đảng mạnh mẽ về lý luận và tổ
chức: Đảng Cộng sản cần có đường lối đúng đắn, dựa trên chủ nghĩa Mác -
Lênin, và phải xây dựng tổ chức vững mạnh, đoàn kết để lãnh đạo cách mạng
hiệu quả. Đảng phải gần gũi với quần chúng: Đảng không thể hoạt động riêng rẽ
mà phải luôn gần gũi với quần chúng nhân dân, hiểu rõ tâm tư, nguyện vọng của
họ và đặt lợi ích của nhân dân lên trên hết.
* Chủ trì Hội nghị hợp nhất các tổ chức cộng sản Việt Nam thành Đảng
Cộng sản Việt Nam, thông qua Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng Cộng
sản Việt Nam, khẳng định những quan điểm cơ bản về đường lối, phương
pháp cách mạng Việt Nam, việc tổ chức, xây dựng Đảng Cộng sản Việt Nam
thành một tổ chức lãnh đạo cách mạng Việt Nam.
a, Hội nghị thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam
- Bối cảnh: Chỉ trong một thời gian ngắn ở Việt Nam đã có ba tổ chức
cộng sản được tuyên bố thành lập, đó là: Đông Dương Cộng sản Đảng, An Nam
Cộng sản Đảng, Đông Dương Cộng sản liên đoàn. Điều đó phản ánh xu thế tất
yếu của phong trào đấu tranh cách mạng ở Việt Nam. Song sự tồn tại của ba tổ
chức cộng sản hoạt động biệt lập trong một quốc gia có nguy cơ dẫn đến chia rẽ
lớn. Yêu cầu bức thiết của cách mạng là cần có một Đảng thống nhất lãnh đạo.
- Thời gian, địa điểm, thành phần tham gia :
+ Từ ngày 3 đến 7-2-1930, Hội nghị hợp nhất ba tổ chức Cộng sản họp
tại Cửu Long (Hương Cảng, Trung Quốc) dưới sự chủ trì của đồng chí Nguyễn Ái Quốc.
+ Tham gia Hội nghị có các đồng chí Trịnh Đình Cửu, Nguyễn Đức Cảnh
(đại biểu Đông Dương Cộng sản Đảng); Nguyễn Thiệu, Châu Văn Liêm (đại
biểu An Nam Cộng sản Đảng). Đại biểu Đông Dương Cộng sản Liên đoàn không đến kịp. - Nội dung hội nghị
+ Hội nghị nhất trí thành lập đảng thống nhất, lấy tên là Đảng Cộng sản
Việt Nam, thông qua Chánh cương vắn tắt, Sách lược vắn tắt, Chương trình tóm
tắt và Điều lệ vắn tắt của Đảng. Ngày 3 tháng 2 năm 1930 trở thành Ngày thành
lập Đảng Cộng sản Việt Nam.
+ Xác định tôn chỉ mục đích của Đảng “Đảng Cộng sản Việt Nam tổ
chức ra để lãnh đạo quần chúng lao khổ làm giai cấp tranh đấu để tiêu trừ tư bản
đế quốc chủ nghĩa, làm cho thực hiện xã hội cộng sản”
+ Chủ trương tổ chức một Trung ương lâm thời để lãnh đạo cách mạng Việt Nam
+ Chủ trương xây dựng các tổ chức công hội, nông hội, tổ chức phản đế
và xuất bản một tạp chí lý luận và ba tờ báo tuyên truyền về Đảng
=>Hội nghị chính thức khẳng định rõ những quan điểm cơ bản về đường
lối, phương pháp cách mạng Việt Nam, việc tổ chức xây dựng Đảng Cộng sản
Việt Nam thành một tổ chức lãnh đạo cách mạng Việt Nam
b, Nội dung bản Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng
- Mục tiêu chiến lược: chủ trương làm tư sản dân quyền cách mạng và thổ
địa cách mạng để đi tới cộng sản. Cách mạng tư sản dân quyền sau còn gọi là
cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, nghĩa là phải giành cho được độc lập dân
tộc, đánh đổ đế quốc xâm lược, giải quyết mâu thuẫn dân tộc. Nghĩa là nhiệm
vụ giải phóng dân tộc mới là cái cốt yếu của cách mạng tư sản dân quyền. - Nhiệm vụ cách mạng
+ Nhiệm vụ chủ yếu trước mắt: “đánh đổ đế quốc chủ nghĩa Pháp và bọn
phong kiến, làm cho nước Nam được hoàn toàn độc lập”. Chống đế quốc và
chống phong kiến là nhiệm vụ cơ bản để giành độc lập cho dân tộc và ruộng đất
cho dân cày, trong đó chống đế quốc, giành độc lập dân tộc được đặt lên hàng đầu.
+ Về phương diện kinh tế xã hội:
oVề kinh tế: thủ tiêu hết các thứ quốc trái; tịch thu toàn bộ sản
nghiệp lớn (như công nghiệp, vận tải, ngân hàng, v.v) của tư bản đế quốc chủ
nghĩa Pháp để giao cho Chính phủ công nông binh quản lý; tịch thu toàn bộ
ruộng đất của bọn đế quốc chủ nghĩa làm của công chia cho dân cày nghèo; bỏ
sưu thuế cho dân cày nghèo; mở mang công nghiệp và nông nghiệp; thi hành luật ngày làm tám giờ.
oVề văn hóa - xã hội: dân chúng được tự do tổ chức; nam nữ bình
quyền, phổ thông giáo dục theo công nông hóa.
+ Lực lượng cách mạng: Giai cấp công nhân, nông dân là lực lượng cơ
bản, trong đó giai cấp công nhân lãnh đạo. Chủ trương đoàn kết tất cả các giai
cấp, tầng lớp, lực lượng tiến bộ, yêu nước.
+ Phương pháp cách mạng: Con đường bạo lực cách mạng quần chúng ,
trong bất kì hoàn cảnh nào cũng không được thỏa hiệp “ không khi nào nhượng
một chút lợi ích gì của công nông mà đi vào đường thỏa hiệp”
+ Đoàn kết quốc tế: Cách mạng Việt Nam là bộ phận của cách mạng vô
sản thế giới. Sách lược vắn tắt viết: “Trong khi tuyên truyền cái khẩu hiệu nước
An Nam độc lập, phải đồng tuyên truyền và thực hành liên lạc với bị áp bức
dân tộc và vô sản giai cấp thế giới, nhất là vô sản giai cấp Pháp. Nội dung này
thể hiện kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, kết hợp cuộc đấu
tranh giải phóng của dân tộc Việt Nam với phong trào công nhân quốc tế, với
phong trào đấu tranh của các dân tộc bị áp bức và với nhân loại tiến bộ là một vấn đề khách quan
+Vai trò lãnh đạo của Đảng: Đảng là đội tiên phong của giai cấp vô
sản.Đảng lấy chủ nghĩa Mác - Lênin làm nền tảng tư tưởng. Nội dung này vừa
khẳng định vai trò và bản chất giai cấp của Đảng, vừa là sự định hướng quan
trọng cho công tác xây dựng Đảng. Chính vì vậy, trong suốt quá trình lãnh đạo
cách mạng, Đảng luôn khẳng định và quan tâm bồi đắp bản chất giai cấp công
nhân của Đảng; khẳng định chủ nghĩa Mác – Lênin là nền tảng tư tưởng, kim
chỉ nam cho hành động của Đảng.
c, Ý nghĩa lịch sử của việc thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam và Cương lĩnh chính trị đầu tiên :
- Cương lĩnh đầu tiên của Đảng ra đời, đã xác định được những nội dung
cơ bản nhất của con đường cách mạng Việt Nam; đáp ứng được những nhu cầu
bức thiết của lịch sử và trở thành ngọn cờ tập hợp, đoàn kết thống nhất các tổ
chức cộng sản, các lực lượng cách mạng và toàn thể dân tộc. Thể hiện bản lĩnh
chính trị độc lập, tự chủ, sáng tạo của Đảng
- Lần đầu tiên cách mạng Việt Nam có bản cương lĩnh chính trị phản ánh
được quy luật khách quan của xã hội Việt Nam, đáp ứng những nhu cầu cơ bản
và cấp bách của xã hội Việt Nam, phù hợp với xu thế của thời đại, định hướng
chiến lược đúng đắn cho tiến trình phát triển cách mạng Việt Nam
- Thể hiện rõ sự vận dụng sáng tạo và phát triển chủ nghĩa Mác Lênin
trong việc giải quyết mối quan hệ giai cấp- dân tộc- quốc tế trong đường lối cách mạng Việt Nam
- Đảng Cộng sản Việt Nam là sản phẩm của sự kết hợp giữa chủ nghĩa
Mác Lênin với phong trào công nhân và phong trào yêu nước. Chủ tịch Hồ Chí
Minh đã khẳng định : Chủ nghĩa Mác Lê-nin kết hợp với phong trào công nhân
và phong trào yêu nước đã dẫn đến việc thành lập Đảng. Việc thành lập Đảng là
một bước ngoặt vô cùng quan trọng trong lịch sử Cách mạng Việt Nam ta
- Khẳng định sự lựa chọn con đường để giải phóng dân tộc Việt Nam là
con đường cách mạng vô sản. Đây là con đường duy nhất đúng đắn giải phóng
dân tộc, giải phóng giai cấp và giải phóng con người.
- Đảng Cộng sản Việt Nam là nhân tố hàng đầu quyết định đưa cách
mạng Việt Nam đi từ thắng lợi này tới thắng lợi khác.
KẾT LUẬN: Hồ Chí Minh thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam với
Cương lĩnh chính trị đúng đắn và sáng tạo đã chấm dứt sự khủng hoảng về
đường lối cứu nước và tổ chức lãnh đạo cách mạng Việt Nam kéo dài suốt từ
thế kỉ XIX sang đầu năm 1930; đưa cách mạng Việt Nam sang bước ngoặt lịch
sử vĩ đại: cách mạng Việt Nam trở thành bộ phận khăng khít của cách mạng vô sản thế giới