









Preview text:
THỜI KỲ TIỀN SỬ ( GIAI ĐOẠN ĐỒ ĐÁ )
Ngay từ thời đại đồ đá cũ cách đây hàng trăm nghìn năm, vùng đất Việt Nam đã có người sinh
sống. Các nhà khảo cổ học đã tìm thấy những dấu tích về sự có mặt của con người tiền sử tại
các hang động, núi đá như núi Đọ ở Thanh Hóa,...
Thời tiền sử Việt Nam được chia thành các thời đại chính: Đồ đá cũ, Đồ đá mới, Đồ đá đồng,
Đồ đồng và Đồ sắt, đánh dấu sự phát triển từ các công cụ bằng đá thô sơ, biết sử dụng lửa,
đến việc chế tác đồ kim loại và hình thành các trung tâm văn hóa lớn. Giai đoạn này còn ghi
nhận sự xuất hiện của các nền văn hóa quan trọng như Sơn Vi, Hòa Bình, Bắc Sơn,....
Thời kỳ đá cũ (khoảng 30 - 40 vạn năm trước)
oVăn hóa Núi Đọ: khoảng 30 vạn năm.
oVăn hóa Sơn Vi: Khoảng 16.000 - 9.000 năm trước.
Thời kỳ đá mới (khoảng 12.000 đến 7.000 năm trước)
Sơ kỳ đá mới
oVăn hóa Hòa Bình: cách đây 20.000 năm – 10.000 năm trước.
Hậu kỳ đá mới
oVăn hóa Bắc Sơn: cách đây 7000 năm trước.
oVăn hóa Quỳnh Văn: cách đây 6000 năm trước.
oVăn hóa Hoa Lộc: cách đây 5000 năm trước.
1.1 THỜI KỲ ĐÁ CŨ
A. NÚI ĐỌ (Thanh Hóa)
Văn hóa Núi Đọ ( thuộc xã Thiệu Tân, huyện Thiệu Hóa, tỉnh Thanh Hóa ) là nền văn
hóa sơ kỳ đồ đá cũ (cách đây khoảng 30-40 vạn năm), được phát hiện vào năm 1960
do các nhà khảo cổ học Việt Nam.
Với đặc trưng là cư dân sử dụng đá bazan tại chỗ
để chế tác công cụ ghè đẽo thô sơ, với các công
cụ hình gần giống rìu tay, mảnh tước, nạo, công
cụ chặt bằng đá cuội. các công cụ thời này được
nghè 2 mặt, là minh chứng cho trình độ chế tác
cao hơn nhiều nơi cùng thời. Con người cổ thời kì
này đã sinh sống, săn bắt và hái lượm tai vùng đồng bằng ven sông Mã.
Công cụ đá cũ sơ kỳ Núi Đọ ( ảnh 1 )
B. SƠN VI (Phú Thọ)
Văn hóa Sơn Vi là một nền văn hóa hậu kỳ đồ đá cũ (cách đây khoảng 16.000 đến
9.000 năm), Văn hoá Sơn Vi trên 140 địa điểm. Các di tích văn hoá Sơn Vi phân bố
rộng và không đều ở các tỉnh miền núi và trung du Bắc Bộ, xa nhất về phía Nam là
Quảng Trị. Các địa điểm Sơn Vi tập trung cao nhất ở vùng trung du Phú Thọ. Các di
tích văn hoá Sơn Vi phân bố trên 2 loại địa hình: đồi gò - thềm sông và hang động -
mái đá. Loại hang động - mái đá có số lượng ít.
Công cụ đá văn hoá Sơn Vi chủ yếu làm từ cuội sông, suối, kỹ thuật chế tác công cụ
đá chủ đạo là ghè đẽo, không có kỹ thuật mài. Công cụ cuội ghè (công cụ dạng hạch)
có số lượng nhiều và phong phú: công cụ rìa lưỡi ngang, dọc, mũi nhọn, công cụ hình
nửa viên cuội , hình ¼ viên cuội (múi bưởi). Cư dân Sơn Vi săn bắt và thu lượm là
chính và sinh sống trên các đồi gò trung du, ven sông. Cư dân văn hoá Sơn Vi là tiền
thân của văn hoá Hoà Bình, có vị trí quan trọng trong tiền sử Việt Nam và Đông Nam Á.
Công cụ đá Sơn Vi ( ảnh 2 )
C. SO SÁNH GIỮA NÓI ĐỌ VÀ SƠN VI Điểm khác biệt chính:
Thời gian: Núi Đọ thuộc sơ kỳ, Sơn Vi thuộc hậu kỳ đồ đá cũ.
Công cụ: Núi Đọ dùng đá bazan ghè đẽo để làm
công cụ, còn Sơn Vi chủ yếu dùng cuội sông để
ghè đẽo công cụ dạng hạch, mảnh tước.
Kỹ thuật: Núi Đọ là di chỉ - xưởng chế tác công
cụ, còn Sơn Vi dùng kỹ thuật ghè đẽo thô sơ.
Ý nghĩa của 2 di chỉ:
-Núi Đọ: là minh chứng người nguyên thủy đã xuất
hiện rất sớm ở Việt Nam từ khoảng 30-40 vạn năm trước.
-Sơn Vi: là bước tiến phát triển cao hơn trong kỹ thuật chế tác và đời sống.
Nhờ 2 di chỉ trên đã là 1 minh chứng đanh thép chứng minh rằng Việt Nam nằm
trong khu vực có nền văn hóa thời đồ đá cổ phát triển, là cái nôi sớm của loài người Đông Nam Á.
Các đồ đá ở Núi Đọ và Sơn Vi Không chỉ giúp con người sinh tồn mà còn thúc
đẩy sự phát triển trí tuệ, kĩ năng lao động và đời sống xã hội, vì thế người
nguyên thủy dần tách khỏi các dộng vật bậc thấp và tiến bước đến hành trình
tiến hóa trở thành động vật bậc cao là con người hiện đại chúng ta ngày nay.
1.2. THỜI KỲ SƠ KỲ ĐÁ MỚI ( VĂN HÓA HÒA BÌNH ) Sơ bộ
Văn hóa Hòa Bình là nền văn hóa đặc trưng của thời kỳ sơ kỳ đá mới ở Việt Nam và
Đông Nam Á, có niên đại từ khoảng 15.000 năm trước Công Nguyên đến 2.000 năm
trước Công Nguyên. đặc trưng bởi kỹ thuật ghè đẽo cuội và săn bắt - hái lượm chủ
yếu. Nền văn hóa này là tiền thân của nhiều nền văn hóa khác ở Việt Nam và có ảnh
hưởng rộng khắp Đông Nam Á, đánh dấu sự phát triển vượt bậc của xã hội loài người
với các kỹ thuật chế tác đá mới (mài lưỡi) và bước chuyển từ săn bắt hái lượm sang nông nghiệp sơ khai. Con người
Địa bàn: Cư dân Sơ kỳ Đá phân bố chủ yếu ở các vùng núi, hang động đá vôi hoặc
các nơi trú ẩn tự nhiên khác đặc biệt là vùng phía Tây châu thổ sông Hồng, có dấu ấn
ở Nam Trung Quốc và Đông Nam Á hải đảo.
Kinh tế: Hoạt động kinh tế chủ yếu vẫn là săn bắt và hái lượm, nhưng nông nghiệp sơ
khai bắt đầu xuất hiện vào cuối giai đoạn này. Di vật
1. Công cụ lao động
Các công cụ nổi bật gồm: rìu ngắn, rìu hạnh nhân, nạo hình đĩa và rìu mài lưỡi.
Ngoài rìu mài lưỡi, còn có các công cụ hình đĩa, nạo, và các loại công cụ được chế tác
từ đá gốc hoặc đá cuội.
Kỹ thuật chế tác: Đặc điểm chính của thời kỳ Sơ kỳ Đá mới là kỹ thuật chế tác đá:
các dụng cụ bằng đá cuội ghè đẽo một mặt, hoặc chỉ phần lưỡi. Bên cạnh kỹ thuật ghè
đẽo đá từ thời Đá cũ, người Sơ kỳ Đá mới đã phát triển kỹ thuật mài lưỡi đá, tạo ra
những công cụ sắc bén và tinh xảo hơn như rìu ngắn, rìu hạnh nhân, rìu mài lưỡi. 2. Đồ gốm
Kỹ thuật chế tác: Kỹ thuật làm đồ gốm cũng bắt đầu hình thành, với những sản
phẩm thô sơ chủ yếu dùng để đun nấu. Chủ yếu là đất sét được nung ở nhiệt độ thấp.
nhưng chúng đã thể hiện sự tiến bộ đáng kể trong việc chế tác dụng cụ. Đặc trưng là
các mảnh gốm có hình dáng đơn giản, men gốm chưa phát triển, nhưng chúng đã mở
ra kỷ nguyên mới cho việc sử dụng đồ dùng bằng đất nung.
Hình dáng: Rất thô sơ, thường chỉ là những mảnh vỡ, không có hình dạng nhất định.
Ý nghĩa của Văn hoá Hoà Bình
Nền văn hóa Hòa Bình là một trong những nền văn hoá đá mới sớm nhất thế giới,
đồng thời là cầu nối từ thời đại đồ đá cũ sang đồ đá mới. Cung cấp cứ liệu quan trọng
về quá trình tiến hóa từ người vượn tiền sử lên người hiện đại. Đóng góp vào sự phát
triển của kỹ thuật chế tác đá, tạo tiền đề cho các nền văn hóa đá mới tiếp theo ở Việt Nam.
Đánh dấu bước ngoặt quan trọng: con người từ hái lượm – săn bắn sang trồng trọt –
chăn nuôi sơ khai. Là nền tảng cho sự hình thành các nền văn hoá sau như Bắc Sơn, Quỳnh Văn…
1.3. THỜI KỲ HẬU KỲ ĐÁ MỚI
A. VĂN HÓA BẮC SƠN Sơ bộ
Văn hóa Bắc Sơn là một nền văn hóa cổ đại Việt Nam ở sơ kỳ thời đại đồ đá mới có
niên đại sau nền văn hóa Hòa Bình, Bắc Sơn là đặt theo tên huyện Bắc Sơn (tỉnh Lạng
Sơn), nơi đầu tiên phát hiện những di vật của nền văn hóa này. VHBS Phân bố chủ yếu
ở vùng Trung du và miền núi Bắc Bộ, trong các hang động ở vùng núi Bắc Sơn. Có niên
đại từ khoảng 11.000 đến 7.000 năm trước. Giai đoạn này là tiền thân của các nền
văn hóa Đá mới sau này như Đa Bút, Cái Bèo và Quỳnh Văn. Sự phát triển kỹ thuật
chế tác đá, làm gốm và bắt đầu hình thành nông nghiệp sơ khai đã tạo nền tảng cho
sự phát triển của xã hội loài người trong các giai đoạn tiếp theo. Con người
chủ nhân Bắc Sơn sinh sống chính yếu là săn bắt, hái lượm.
Vũ khí dùng săn bắt bằng tre gỗ, các công cụ đá thì dùng để chặt để chế tác đồ tre
gỗ. Những mầm móng nông nghiệp phát sinh trong thời đại văn hóa Hoà Bình trước
đó đã được phát triển thêm một bước. Đã tìm thấy rìu mài lưỡi chắc, để phát rừng làm
rẫy. Con người thời văn hoá Bắc Sơn sống trong các hang động và mái đá. Những nơi
này để che mưa nắng và tránh thú dữ. Họ làm các đồ nạo, dũa vỏ trai dùng trong việc
chế tác da thú. Chưa tìm thấy được những mũi kim có lỗ khoan, nhưng đã thấy những
mũi dùi nhỏ bằng xương, khá tinh tế.
Có thể con người thời này chế tác áo quần bằng da thú. Họ cũng dùng vỏ cây để làm
quần áo che thân. Đồ đan đã thấy phát triển, tuy nhiên chưa có dấu vết chứng tỏ nghề dệt đã phát sinh. Di vật
1. Công cụ đồ đá:
Những công cụ tiêu biểu: là chiếc rìu chỉ mài ở lưỡi. Loại rìu này thường thấy ở mọi
di chỉ của văn hoá này, khác hẳn với loại rìu ngắn của văn hoá Hoà Bình. Rìu có chiều
ngang hẹp hơn và chiều dài dài hơn loại rìu ngắn của văn hoá Hoà Bình, NGOÀI RA
CÒN CÓ công cụ ghè đẽo định hình hình bầu dục, hình chữ nhật, hình hạnh nhân, hình
quạt, hình mu rùa. Trong đó, rìu mài lưỡi và “ dấu Bắc Sơn ” được coi là những di vật
có tính chất chỉ thị cho niên đại của văn hóa này.
Rìu Bắc Sơn thường có lưỡi mài cân ở giữa, chứ không mài vẹt một bên. Những lưỡi rìu
này chạy dọc song song với cán như kiểu rìu chặt hiện nay. Đốc rìu được để đẽo và tu
sửa cho thon, tra cán dễ dàng. Những công cụ ghè đẽo thường được chế tác bằng loại
đá Riolit ; còn công cụ mài lưỡi thường làm bằng loại đá Flanit hay đá xanh thường
thấy hiện nay. Những loại đá này rất dẻo và rắn chắc. Đây là bước tiến quan trọng
trong cách chế tác dụng cụ, so với các văn hoá trước đó.
Kỹ thuật chế tác: Trong văn hóa Bắc Sơn, kỹ thuật mài đã khá phổ biến. Tuy nhiên
bên cạnh những công cụ mài, trong một số địa điểm của văn hoá Bắc Sơn vẫn còn
thấy những công cụ đẽo theo kiểu văn hóa Hoà Bình trước đó. Đó là những công cụ
bằng đá cuội được ghè đẽo trên 1 mặt, còn mặt kia thì để nguyên. Đa phần đều có
hình dáng bầu dục, hạnh nhân hay hình đĩa. Ngoài ra còn có những công cụ bằng cuội
đẽo, có hình bán viên, lưỡi tròn đốc dày và thẳng ngang, dùng làm lao hay nạo.
Công dụng: Người nguyên thủy đã dùng những công cụ này để chặt. 2. Đồ gốm
Đặc điểm: Đồ gốm Bắc Sơn thường có miệng loe và đáy hình tròn. Một số hòn đá
trong hang động có dấu vết khói đen, đó là những hòn đá kê lên để nấu những thức ăn.
Kỹ thuật: Trong hang động Bắc Sơn đã tìm thấy những mảnh gốm. Một số mảnh còn
dấu vết đan. Căn cứ vào dấu đan trên gốm, cho thấy kỹ thuật đan trong giai đoạn này
đã khá phát triển. Người nguyên thủy thời Bắc Sơn đã có thể đan những đồ đựng dày
và đều. Họ cũng đã biết cách nặn những đồ gốm mà không cần đến khuôn đan. Hoa
văn trên những đồ gốm này thường đơn giản, như vạch chéo, răng lược, văn sóng nước.
Xem xét những hoa văn này cho biết người nguyên thủy tạo hoa văn khi đồ gốm còn
ướt. Một số hoa văn khác cho thấy người nguyên thủy đã dùng đến bàn dập để in hoa
văn lên bề mặt gốm. Một số hoa văn khác thì do người nguyên thủy đã dùng que nhọn
để điểm xuyết thêm trên gốm ướt.
Về kỹ thuật nung của những loại gốm này vẫn chưa cao. Người nguyên thủy đã biết
cách nhào đất sét lẫn với cát và tro để khi nung thì đồ vật không vỡ hay bị rạn nứt.
Ý nghĩa: đồ gốm trong văn hóa Bắc Sơn đã đánh dấu một bước tiến lớn trong đời
sống của cư dân nguyên thủy. Tuy nhiên số lượng những mảnh gốm tìm thấy vẫn còn
ít ỏi, điều này chứng tỏ việc chế tác đồ gốm chưa phát triển mạnh trong giai đoạn văn hóa Bắc Sơn. 3. Đồ trang sức
Trong các di tích Bắc Sơn, đã tìm thấy những đồ trang sức. Trong mái đá Bình Gia, đã
tìm thấy được nhiều loại vỏ ốc biển Cypraea ( ốc sứ) . Họ khoét một lỗ lớn trên lưng vỏ
ốc, xâu một sợi dây qua miệng ốc để làm đồ trang sức. Những vỏ ốc khoét lỗ nằm gần
nhau trong tầng văn hoá này có thể đoán định là một xâu chuỗi dùng làm vật trang
sức đeo ở cổ. Trong một số địa điểm khác, đã tìm thấy được đồ trang sức bằng phiến
thạch mỏng, có lỗ đeo và những hạt chuỗi bằng đất nung, hình trụ hay hình thoi, có khoen lỗ ở chính giữa.
Qua những đồ trang sức đó cho thấy khả năng mỹ thuật của con người thời này đã
phát triển hơn các giai đoạn trước.
B. VĂN HÓA QUỲNH VĂN Sơ bộ
Với niên đại khoảng từ 6000 đến 4000 năm cách đây, văn hoá khảo cổ mang tên địa
điểm Quỳnh Văn ở huyện Quỳnh Lưu (Nghệ An), được phát hiện và khai quật từ những
năm 1930 bởi các học giả người Pháp ( Madeleine Colani ), Cho đến nay đã có hơn 70
năm nghiên cứu với 21 di tích, phân bố ở ven biển Nghệ An và Hà Tĩnh, chủ yếu tập
trung xung quanh vịnh biển cổ Quỳnh Lưu.
Một đồi vỏ sò điệp lớn nằm ven biển quốc lộ I, cách thành phố Vinh 57km về phía Bắc
và coi đây là dấu tích của biển xưa.
Xưa kia, khi các bộ lạc văn hóa Quỳnh Văn còn sinh sống ở đây, vùng ruộng nước và
đồng lầy này còn là một cái vịnh biển nông, nửa kín mà bờ phía đông là dải cát sát bờ
biển hiện nay. Cái vịnh biển lặng gió, ít sóng này là môi trường sống thích hợp của
điệp (Placuna placenta), một loài nhuyễn thể nước mặn.
Khi ấy Quỳnh Văn được gọi là di tích "đống rác bếp" (Kjökkenmodding), thành phần
chủ yếu là các loại điệp. sở dở được gọi như vậy vì chủ nhân văn hóa Quỳnh Văn lấy
điệp về ăn và vứt vỏ ngay nơi cư trú của họ. Lâu dần, vỏ tích lại thành đồi lớn.
Trong các lớp điệp còn có xương cốt động vật, di vật đá, gốm và bếp lửa. Di vật 3. Đồ đá 1.1 mảnh tước:
hình dáng không ổn định, đa số kích thước vừa và lớ, chủ yếu là mảnh tước thử, diện
ghè phẳng không tu sửa diện ghe, ghè trực tiếp, ghè góc xiên, liên tiếp. Có 1 số phiến
tước mỏng, dài, hai rìa gần song song. Đa số mảnh tước được tách ra trong qua trình chế tác công cụ đá. 1.2 công cụ: chia ra 4 nhóm:
-công cụ ghè đẽo: gồm 11 loại hình, không định hình, hình đĩa, hình bầu
dục ,hình khối tam giác, phần tư cuội, hình mai rùa, hình quả trám, hình bàn là,
hình múi bưởi, hình rìu dài, hình rìu ngắn.
-công cụ mảnh tước tu chỉnh: gồm 2 loại hình, hình gần tam giác và hình tứ giác.
-Công cụ mài: gồm 3 tiêu bản, 1 làm từ cuội mài lưỡi gặp ở lớp trên di chỉ QV, 2
chiếc là rìu có vai làm từ đá gốc, mài toàn thân gặp ở Phái nam và gò Lạp Bắc.
-Công cụ không gia công: gồm 5 loại hình: chày, hòn kẽ, hòn ghè, bàn nghiền và bàn mai. 1.3 đặc trưng:
nguyên, chất liệu: đá cuội và đá gốc, thành phần thạch học công cụ đá có các
loại đá silic cacbonat, bô nát sét, đá vôi, sạn kết, kêratophia và thạch anh.
kỹ thuật : ghè đẽo và mài là 2 kỹ thuật chủ đạo. trong đó, ghè đẽo là chính,
mài rất ít. Sử dụng kỹ thuật bố đá, tu chỉnh rìa lưỡi công cụ. Các loại công cụ
bằng đá được chế tác bằng đá là nhóm công cụ khá phổ biến phản ánh trình độ
mài nhẵn, chế tác tinh tế của con người Quỳnh Văn.
loại hình công cụ: khá đa dạng về ngoại hình, ngoài công cụ mài còn có 1 số
công cụ chặp đập hình mai rùa, hình tam giác, bàn là và công cụ gia công từ
mảnh tước. Công cuội cụ không gia công khá nhiều và có vị trí quan trọng trong
hoạt động kinh tế ở đây.
2. Đồ xương và mảnh nhuyễn thể
Do đời sống của người dân tập trung ở phía ven biển, nên có những di vật dùng để
đánh, săn bắt cá, hay các đồ trang sức bằng vỏ sò, ốc,...
Công cụ xương: có 13 tư bản gồm các loại hình: mũi nhọn 9 tiêu bản, đục 3 và dao 1
chúng được làm từ 1 đoạn xương ống, răng hoặc sừng có ghè đẽo.
Đồ trang sức bằng vỏ ốc: 5 tiêu bản là vỏ ốc biển có vết mài tạo lỗ xỏ để sâu dây đeo. 3. Đồ gốm
Tình hình vốn trong các địa điểm: gốm tìm thấy ở hầu hết các địa điểm ở văn hóa
Quỳnh Văn với số lượng khác nhau: Quỳnh Văn 193 mảnh vải Nam 5.512 mảnh có lẽ
tắc 6.013 và côn đất 5.139.
Gốm trong văn hóa Quỳnh Văn là loại gốm thô, có những đặc điểm kỹ thuật và hình
dáng riêng biệt phản ánh trình độ sản xuất thủ công của cư dân thời kỳ đồ đá mới,
được làm bằng tay, chưa sử dụng bàn xoay. Đất sét được trộn với nhiều hạt cát to.
Bề ngoài thường phủ một lớp đất mịn hơn.
Đồ gốm có bốn loại chủ yếu:
-gốm văn in đập nan rá đáy tròn: loại đồ đựng lớn, xương thô bờ, miệng lọc, cổ
thắt , đáy tròn, văn in kiểu nan rá.
-Gốm văn chải 2 mặt đáy nhọn: loại nồi đun nấu kích thước lớn, xương cứng
chắc. Thành dày, thân hình nón, đáy nhọn, văn chải mặt trong và ngoài.
-Gốm văn thừng mặt ngoài, van chải mặt trong đáy tròn: Nồi gồm thành mỏng,
chất liệu thô, đáy tròn, văn chải mặt trong, thừng mặt ngoài. Có thể xem đây là
gốm trung gian giữa gốm văn chải 2 mặt đáy nhọn và gốm văn thừng đáy tròn.
-Gốm văn thừng đáy tròn: loại đun nấu, miệng lọc, cổ thắt, bụng phình, đáy tròn,
trang trí văn thừng mặt ngoài từ vai trở xuống.
Loại phổ biến nhất là nồi hoặc bình đáy nhọn nó kích thước lớn, thành dày, thân hình nón.
Gốm văn chải 2 mặt đáy nhọn là đặc trung điển hình nhất cho gốm văn hóa QV, tiêu
biểu là gốm đáy nhọn sớm nhất VN và ĐNÁ.
Các gốm trình bày trên đều làm bằng kỹ thuật giải cuộn, kết hợp với kẻ, đập, chải,
miết nhãn, Hoa văn mang tính kỹ thuật. Xương gốm thô, thành gốm mỏng hơn, kích
thước nhỏ hơn gốm văn hóa thời Đa Bút, đa số là nồi đun, nấu.
-> Gốm được nặn bằng tay, chưa biết dùng bàn xoay, nhưng đã có độ dày khá đều.
Các nhà khảo cổ học xếp di chỉ Quỳnh Văn là loại tiêu biểu nhất của văn hóa đồ đá
mới có gốm ở ven biển Nghệ Tĩnh.
D.VĂN HÓA HOA LỘC Sơ bộ
Văn hóa Hoa Lộc được biết đến đầu tiên là những di tích của các bộ lạc sinh tụ trên
miền ven biển Bắc bộ tỉnh Thanh Hóa trong khoảng nửa đầu thiên niên kỷ thứ II trước
công nguyên (4.000 – 3.000 năm cách ngày nay).
Di chỉ tiêu biểu là Hoa Lộc ( thuộc Hậu Lộc, Thanh Hóa ) đã được khai quật. Nền văn
hóa khảo cổ ở đây được đặt tên là văn hóa Hoa Lộc (còn có tên gọi là Cồn Sau Chợ). Con người
Người Hoa Lộc sống trong giai đoạn Hậu kỳ đồ đá mới và Sơ kỳ Kim khí. Những di tích
được phát hiện cho thấy cư dân Hoa Lộc là những người làm nông nghiệp, khai thác
thủy sản và săn bắn, nhưng chủ yếu và quan trọng nhất trong nền kinh tế của họ là nông nghiệp.
Các bộ lạc Hoa Lộc sống gần bờ biển. Xương cá biển cùng với chì lưới tìm thấy nhiều
trong di chỉ Hoa Lộc chứng tỏ đánh cá là một hoạt động kinh tế quan trọng ở các
bộ lạc này. Qua các xương răng thú rừng còn lại trong di chỉ, chúng ta biết rằng chủ
nhân của văn hóa này còn là những người săn bắn. Ngoài ra, họ cũng đã nuôi
chó, bò, lợn.
Người Hoa Lộc đã có khả năng khái quát cao và thể hiện bằng những quy luật nhất
định. Bằng con đường phát triển này, có nhiều giả thiết cho rằng người Hoa Lộc đã
tiến sang bước phát triển quan trọng là tạo nên tiền đề cho một sự sáng tạo mới, đó là
một hệ thống tín hiệu thứ 2, hay nói lên một cách khác là họ đã sáng tạo ra một thứ
“chữ viết” đơn giản nhất và thô sơ nhất.
Trong trình độ bán khai của người Hoa Lộc, ở buổi đầu sơ khởi của quá trình hình
thành dân tộc và quốc gia sơ kỳ của người Việt, cộng với tục xăm mình tất yếu nhưng
đã thất truyền của tổ tiên ta thì khả năng in và lăn con dấu hoa văn lên cơ thể cách
đây 4000 năm là khả dĩ nhất. Họ chắc chắn có mê tín, viện đến tâm linh như một tất
yếu thuở văn minh sơ khai, cũng là cách làm đẹp thời nguyên thủy khi mà vải vóc còn
chật vật mới sản xuất ra được một cách ít ỏi. Cũng rất có thể đó là tiền đề của tục
xăm mình của người Việt mà sử sách còn ghi lại rằng đến cả các vua nhà Trần cũng
bắt buộc phải xăm cho đến tận vua Trần Anh Tông (trị vì 1293-1314) mới chấm dứt. Di vật 1. Đồ Gốm
Chất liệu: là loại đất sét tốt pha cát được nung ở nhiệt độ cao.
Số lượng: gốm phân bố trong các di chỉ lớn, phong phú về loại hình.
Kỹ thuật: Gốm Hoa Lộc được làm bằng bàn xoay, nung nhiệt độ khá cao nên cứng
chắc. Cư dân Hoa Lộc đã sáng tạo ra những loại bát miệng vuông, những loại bình
hình mai rùa, bình có miệng nhiều cạnh và hàng loạt những bình với hình dáng phức
tạp khác mà hiện nay nhiều tiêu bản còn chưa định danh được. HOA VĂN
Kết cấu các đường nét, vạch và chấm phóng khoáng, khá nhiều biến thể, hấp dẫn.
Nếu hoa văn gốm Phùng Nguyên có kết cấu hình học chặt chẽ thì hoa văn Hoa Lộc
thoáng hơn, nhiều đường cong lượn hơn, nhất là rất phong phú các nét phẩy- được
một số nhà khảo cổ coi là dạng giọt nước- gợi ra âm hưởng của nước và biển.
Những nét khắc hình học thể hiện cái đẹp của thiên nhiên đời sống xung quanh, biểu
hiện tâm lý tình cảm và những kiến thức khoa học. Đó là những dạng hoa văn kỷ hà
Hoa văn trang trí trên gốm được vẽ nét lõm theo các motif hình bọ gậy, giọt nước,
sóng nước, khuông nhạc, chữ S, răng sói, cánh chim…
-> Nghề làm gốm của người Hoa Lộc đã phát triển với trình độ kỹ thuật cao, có phần
trội hơn các nhóm di tích cùng thời và thực sự là những tác phẩm nghệ thuật có giá trị. 2. Con dấu
Cư dân Hoa Lộc đã chế tạo ra những con dấu để dập hoa văn bằng đất nung. Những
dấu in này thường có mặt phẳng hoặc hơi cong lồi, có núm để cầm, bề mặt có khắc
sâu các loại hình hoa văn. Chúng mang những yếu tố trang trí khác nhau. Theo một số
nhà nghiên cứu, những con dấu này có thể dùng để in màu trên vải hoặc trên người
(tiền thân của tục xăm mình). Những họa tiết không phải chỉ để làm đẹp mà còn mang
những ý nghĩa nhất định với nhiều nội dung đầy bí ẩn. 3. Ý nghĩa
Từ sự phong phú và độc đáo của đồ gốm Hoa Lộc, chúng ta có thể hình dung phần
nào về cuộc sống tinh thần của người Hoa Lộc. Trong lịch sử phát triển của người Việt
cổ, đồ gốm không chỉ là vật dụng trong cuộc sống thường nhật mà chúng còn được sử
dụng trong tế lễ và cả trong việc đưa tiễn người chết sang thế giới bên kia.
Những bàn dập hoa văn gốm của văn hóa Hoa Lộc đã phản ánh tư duy thẩm mỹ, sự
tinh tế, sáng tạo của cư dân văn hóa Hoa Lộc, góp phần làm phong phú thêm kho tàng gốm cổ Việt Nam.
Theo thống kê của tiến sĩ Phạm Văn Đấu (Luận án Phó tiến sĩ Khoa học lịch sử, chuyên
ngành Khảo cổ học “Văn hóa Hoa Lộc và vị trí của nó trong thời đại đồng thau Bắc Việt
Nam”, 1995, Thư viện Quốc gia Việt Nam) thì sau 4 lần khai quật vào các năm 1974,
1975, 1976 và 1983, các nhà khảo cổ đã đào được 3296 di vật đá, 7 di vật xương,
1.996.903 mảnh gốm, 3 di vật đồng, 90 đồ gốm gần như nguyên vẹn – đặc biệt trong
đó có 53 con dấu gốm đúc hoa văn hình học. Ý nghĩa
Thời kỳ đá mới có ý nghĩa là bước ngoặt lịch sử của nhân loại với "Cuộc cách mạng đồ
đá mới". Nghệ thuật thời kỳ đồ đá mới có ý nghĩa sâu sắc về chức năng, tôn giáo,
và thẩm mỹ, thể hiện sự chuyển đổi của con người từ lối sống du mục sang định cư,
từ săn bắt hái lượm sang nông nghiệp. Nghệ thuật thời kỳ này đã phát triển đa dạng
hơn, bao gồm đồ gốm trang trí, các công cụ bằng đá, con dấu, thể hiện đời sống
thường nhật và tín ngưỡng.
Điều này đã tạo nền tảng cho sự hình thành các xã hội phức tạp, phát triển kỹ thuật
chế tạo công cụ, làm đồ gốm, dệt vải và Sự tiến
bộ trong khả năng chế tác hơn và
gu thẩm mỹ tiến bộ của người thời kỳ đá mới mở đường cho các nền văn minh sơ khai sau này.
. Thời đại Đá mới Việt Nam có một vị trí bản lề trong quá trình hình thành và phát triển
văn hóa, văn minh Việt Nam.