
















Preview text:
1.tìm hiểu về thực trạng hoạt động của các ngân hàng thương mại Việt Nam trong 5 năm gần đây.
Năm 2017 là năm thứ hai trong giai đoạn II (từ năm 2016 tới năm 2020), của quá
trình tái cơ cấu hệ thống ngân hàng, nhằm hướng đến các mục tiêu bền vững trong
hệ thống ngân hàng và các tổ chức tín dụng thông qua giảm tỷ lệ nợ xấu
Đến cuối 2017 đã xuất hiện những quan ngại trong cộng đồng các nhà đầu tư về ổn
định kinh tế vĩ mô nếu tín dụng tiếp tục tăng cao và liệu lịch sử chu kỳ bất ổn có
lặp lại. Điểm rất tích cực là chính sách tiền tệ được điều hành thận trọng hơn trong
năm 2018 và kết quả là tín dụng chỉ tăng xấp xỉ 14%. Trong khi đó, tăng trưởng
GDP lại đạt tốc độ 7,08%, cao nhất trong vòng 10 năm và lạm phát tiếp tục được
duy trì dưới mục tiêu 4%. Trong năm 2019, xu thế là tín dụng sẽ tiếp tục tăng thấp
Năm 2019, báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh của nhiều ngân hàng thương mại
cho thấy đã có sự bứt phá lớn trong tăng trưởng lợi nhuận của mỗi ngân hàng.
Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam (Vietcombank) tiếp tục bảo vệ thành
công “ngôi quán quân” khi lợi nhuận tiếp tục đạt được mức cao. Tỷ lệ nợ xấu của
ngân hàng năm 2019 giảm mạnh từ mức 0,97% hồi đầu năm xuống còn 0,77%
cuối năm 2019. Cùng với Vietcombank, năm 2019 cũng là năm Ngân hàng Nông
nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam (Agribank) cũng hoàn thành vượt mức kế
hoạch về chỉ tiêu lợi nhuận. Theo đó, tổng lợi nhuận kinh doanh năm 2019 của
Agribank vượt 1.000 tỷ đồng so kế hoạch năm. Ngân hàng TMCP Công thương
Việt Nam (VietinBank) cũng tăng 83% so với năm 2018 và vượt 26% kế hoạch
năm; Tỷ lệ nợ xấu cuối năm; chỉ còn mức 1,2%, giảm đáng kể so với cuối năm 2018 (1,59%)
Ngay từ đầu năm 2020, thế giới trong đó có Việt Nam đã chứng kiến những biến
động lớn chưa từng có trong nhiều thập kỷ do tác động của đại dịch Covid-19. Nền
kinh tế bị ảnh hưởng nặng nề do sản xuất, kinh doanh bị đình trệ, nhiều hoạt động
văn hóa - xã hội cũng bị ảnh hưởng nghiêm trọng. Các doanh nghiệp đối mặt với
vấn đề suy giảm các hoạt động và giảm dòng tiền, nhất là trong các lĩnh vực, như:
du lịch, giải trí, ô tô, bán lẻ... Hàng triệu lao động thiếu, mất việc làm, giảm sâu thu
nhập... Những vấn đề về thanh khoản của hộ gia đình và doanh nghiệp, cùng với sự
bất ổn ngày càng tăng cao đã tác động tiêu cực đến hoạt động của thị trường tài
chính và điều này cũng làm tăng nguy cơ nợ quá hạn đối với các khoản vay vốn
ngân hàng. Vì vậy, hoạt động của hệ thống ngân hàng cũng không tránh khỏi
những ảnh hưởng tiêu cực, đồng thời cũng gánh trọng trách nặng nề hơn trong thực thi chính sách tiền tệ.
Trước khó khăn chung của nền kinh tế, năm 2020, NHNN đã 3 lần hạ lãi suất điều
hành và ban hành Thông tư số 01/2020/TT-NHNN, ngày 13/3/2020 quy định về
việc tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài cơ cấu lại thời hạn trả nợ,
miễn, giảm lãi, phí, giữ nguyên nhóm nợ nhằm hỗ trợ cho khách hàng chịu ảnh
hưởng do dịch Covid -19 làm cơ sở pháp lý cho các tổ chức tín dụng cơ cấu lại thời
hạn trả nợ, miễn, giảm lãi, phí, giữ nguyên nhóm nợ nhằm hỗ trợ khách hàng chịu
ảnh hưởng do dịch Covid-19. Theo đó, các NHTM đã 3 lần đồng thuận hạ lãi suất
cho vay từ 1,5%-2%/năm để hỗ trợ khách hàng bị ảnh hưởng bởi đại dịch Covid-
19. Nhờ đó, lãi suất cho vay giảm bình quân khoảng 1%/năm so với cuối năm
2019; lãi suất cho vay ngắn hạn tối đa bằng VND đối với một số ngành, lĩnh vực
ưu tiên ở mức 4,5%/năm. Tính đến cuối tháng 12/2020, các tổ chức tín dụng đã cơ
cấu thời hạn trả nợ cho khoảng 270 nghìn khách hàng với dư nợ gần 355 nghìn tỷ
đồng; miễn, giảm, hạ lãi suất cho khoảng 590 nghìn khách hàng với dư nợ trên 1
triệu tỷ đồng; cho vay mới lãi suất ưu đãi với doanh số lũy kế từ ngày 23/01/2020
đến cuối tháng 12/2020 đạt gần 2,3 triệu tỷ đồng cho hơn 390 nghìn khách hàng.
Ước tính tổng số tiền phí dịch vụ thanh toán mà các ngân hàng miễn, giảm cho
khách hàng đến hết năm 2020 sau 02 đợt giảm phí là khoảng 1.004 tỷ đồng
Năm 2021 do dịch bệnh tàn phá nên tăng trưởng kinh tế thấp kỷ lục. Trong bối
cảnh đó, NHNN đã hoàn thành xuất sắc mục tiêu của mình là kiểm soát lạm phát ở
mức thấp, góp phần ổn định kinh tế vĩ mô. Mặc dù dịch Covid-19 khiến nợ xấu có
xu hướng tăng mạnh, song tất cả các ngân hàng đều có thanh khoản tốt. Nhiều
ngân hàng còn phải giảm lãi vay hỗ trợ doanh nghiệp từ nguồn lợi nhuận của mình.
Nhiều người cho rằng, các ngân hàng lãi lớn, việc hỗ trợ doanh nghiệp là đương
nhiên. Tuy nhiên, thực tế lợi nhuận ngân hàng năm 2021 là lợi nhuận “ảo”.
Nếu thời gian tới, NHNN dừng chính sách giãn hoãn, cơ cấu nợ, hàng loạt khoản
vay biến thành nợ xấu, buộc mạnh tay trích lập dự phòng, khi đó lợi nhuận ngân
hàng có thể sẽ giảm mạnh. Do đó, năm 2022, NHNN cần tập trung hoàn thiện các
công cụ điều hành chính sách tiền tệ theo hướng thị trường hơn. Đồng thời, phải
giảm dần các gói giãn, hoãn và yêu cầu các ngân hàng tăng trích lập dự phòng,
nhận diện nợ xấu. Các gói hỗ trợ trực tiếp thời gian tới chỉ nên ưu tiên hỗ trợ cho
người lao động. Riêng với doanh nghiệp, ngoài gói hỗ trợ lãi suất, cần có nguồn
lực tài chính trực tiếp từ ngân sách để bảo lãnh cho doanh nghiệp nhỏ và vừa vay
chứ không chỉ chăm chăm vào ngành ngân hàng.
2.thực trạng hoạt động huy động vốn tiền gửi, cho vay của các ngân hàng thương mại Việt Nam
*Ảnh hưởng của dịch Covid-19 đến hoạt động của các NHTM Việt Nam
a,Tình hình huy động vốn
Số liệu của Tổng cục Thống kê cho biết, tính đến ngày 20/3/2020, huy động vốn
của các tổ chức tín dụng tăng 0,51% (giảm hơn nhiều so với cùng kỳ năm 2019
tăng 1,72%). Nguyên nhân là do các DN đang gặp nhiều khó khăn, phải thu hẹp
hoạt động sản xuất, kinh doanh. Nhiều DN phải rút tiền gửi ngân hàng để trang trải
các chi phí vận hành, trả lương nhân viên…
Bên cạnh đó, việc huy động vốn của ngân hàng có chiều hướng giảm do các ngân
hàng gặp khó khăn trong việc cho vay khi cầu tín dụng giảm. Vì thế, lãi suất huy
động vốn cũng giảm theo do không còn áp lực cạnh tranh khi thanh khoản dồi dào.
Mặt khác, trong giai đoạn dịch Covid-19, giá vàng trong nước và quốc tế biến động
lớn. Điều này đã ảnh hưởng đến tâm lý đầu tư của nhiều người. Tại một số ngân
hàng đã xảy ra tình trạng khách hàng rút tiền tiết kiệm, chuyển sang đầu tư vàng
hoặc bất động sản vì lãi suất tại thời điểm này đã giảm, không còn hấp dẫn khách hàng.
b,Tình hình tăng trưởng tín dụng
Tăng trưởng tín dụng bị ảnh hưởng rõ rệt khi nhu cầu vay vốn của nhiều nhóm DN
sụt giảm. Bên cạnh đó, nhu cầu vay vốn của khách hàng cá nhân cũng giảm mạnh
do thu nhập không ổn định. Theo Ella Zoe Doan (2020), Covid-19 sẽ làm chi tiêu
hộ gia đình giảm bình quân 15% với các lĩnh vực như giáo dục, nhà cửa, ăn uống,
giải trí,… Khi tổng chi tiêu của người dân sụt giảm thì nhu cầu vay tiêu dùng cũng sẽ giảm tương ứng.
Theo số liệu của Ngân hàng Nhà nước, tính đến quý II/2020, dư nợ tín dụng của hệ
thống ngân hàng đối với nền kinh tế chỉ tăng 1,96% so với cuối năm 2019, thấp
nhất trong khoảng 15 năm gần đây. Nguyên nhân chính là do nhu cầu vay vốn của
các doanh nghiệp và người dân, hộ gia đình quá thấp (mặc dù các NHTM đã đồng
loạt hạ lãi suất, đồng thời tung ra các gói tín dụng ưu đãi, đẩy mạnh khâu kết nối
ngân hàng - doanh nghiệp). Mức tăng được ghi nhận là đã cải thiện so với nửa đầu
tháng 5/2020 nhưng vẫn thấp hơn khá nhiều so với con số 7,33% của nửa đầu năm
2019. Thực tế này phản ánh hoạt động kinh doanh của DN, hộ kinh doanh gặp
nhiều khó khăn, không có nhu cầu vay vốn. Vốn tín dụng của các NHTM cho vay
chưa được như kỳ vọng. (Bảng 1)
Bảng 1. Tăng trưởng tín dụng giai đoạn 2016-2020 Năm
Tăng trưởng tín dụng năm (%/năm ) Chỉ tiêu Thực hiện 2015 18 17,17 2016 18-20 18,71 2017 18-20 18,17 2018 17 14 2019 14 13,15 2020 14 X
Nguồn: Ngân hàng Nhà nước Việt Nam
Mặc dù đã có nhiều ưu đãi về lãi suất, theo Tổng cục Thống kê (2020), tăng trưởng
tín dụng toàn ngành 3 tháng đầu năm vẫn ở mức khá thấp, chỉ khoảng 0,68%, trong
khi cùng kỳ năm trước tăng 1,9%. Số liệu này cho thấy cầu tín dụng yếu đi một
phần đáng kể do các DN đang gặp nhiều khó khăn, phải thu hẹp hoạt động sản
xuất, kinh doanh, làm giảm vòng quay của vốn. c, Tình hình nợ xấu
Đại dịch Covid-19 ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động sản xuất, kinh doanh của các
DN, đặc biệt là các DN kinh doanh trong lĩnh vực vận tải, kho bãi, lưu trú, du lịch,
nhà hàng,... do đó, nguy cơ các NHTM bị tăng tỉ lệ nợ xấu là không thể tránh khỏi.
Theo thống kê của Forbes Việt Nam, 19 ngân hàng giao dịch trên 3 sàn đang chiếm
hơn 63% dư nợ toàn hệ thống. Báo cáo tài chính bán niên 2020 của các ngân hàng
cho thấy, tại thời điểm 30/6/2020, tổng nợ xấu của 19 ngân hàng là 92.615 tỉ đồng,
tăng hơn 38,6% so với thời điểm đầu năm.
Tỷ lệ nợ xấu trên tổng dư nợ cho vay cũng tăng lên 1,72% so với mức 1,28% thời
điểm đầu năm. Ngoại trừ Techcombank, VPBank có nợ xấu trên dư nợ giảm, các
ngân hàng còn lại đều ghi nhận nợ xấu tăng so với đầu kỳ. (Biểu đồ 1)
Nợ xấu tăng kéo theo các khoản trích lập dự phòng của các ngân hàng cũng tăng.
Theo dữ liệu từ báo cáo ngành Ngân hàng của Công ty Chứng khoán BSC, chi phí
trích lập dự phòng các ngân hàng ước tăng 10% trong nửa đầu năm. Tỷ lệ dự
phòng trên dư nợ cho vay được cải thiện lên mức xấp xỉ 1,4%.
Cùng với giá trị tài sản đảm bảo cao hơn khoảng 2 lần so với các khoản vay cũng
giúp các ngân hàng tăng sức chống chịu với các khoản nợ xấu có thể phát sinh
trong các quý tới. Theo dữ liệu của Fiingroup, tính đến đầu tháng 6/2020, các ngân
hàng đã cơ cấu lại thời hạn trả nợ cho các khách hàng với dư nợ 172.365 tỉ đồng,
chiếm khoảng 7% tổng dư nợ chịu ảnh hưởng bởi đại dịch Covid-19 là 2,5 triệu tỉ
đồng, theo Ngân hàng Nhà nước.
d, Tình hình lợi nhuận của các ngân hàng
Tác động đến lợi nhuận sau thuế:
Phân tích dữ liệu tài chính trong Báo cáo tài chính quý I/2020 của 18 NHTM đang
niêm yết đã công bố công khai cho thấy, lợi nhuận sau thuế giảm 11,5% so với quý
IV/2019. Đây là mức giảm lớn nhất kể từ quý II/2018, nhưng không trên nền tăng
trưởng cao của các quý trước như quý II/2018 và chỉ tăng 3,4% so với cùng kỳ,
trong khi quý II/2018 tăng trưởng 49,6% so với cùng kỳ. Số liệu về lợi nhận sau
thuế của các NHTM công bố nói trên thực tế vẫn chưa phản ánh đầy đủ chi phí dự
phòng có thể gia tăng do ảnh hưởng của dịch Covid-19 ở mức độ lớn.
Tác động đến lãi cận biên các NHTM:
Lãi cận biên (NIM), là khoảng cách chênh lệnh chi phí đầu vào nguồn vốn và lãi
suất cho vay của các NHTM. Đây là chỉ tiêu tài chính quan trọng phản ánh hiệu
quả hoạt động tín dụng của các NHTM. Phân tích từ Báo cáo tài chính quý I/2020
cho thấy, NIM của 18 NHTM đang niêm yết giảm 1,1 điểm cơ bản so với quý IV/2019 xuống còn 0,87%.
Tác động đến thu nhập lãi thuần:
Trong quý I/2020, thu nhập lãi thuần chiếm 78% tổng thu nhập hoạt động của 18
NHTM đang niêm yết cổ phiếu trên thị trường chứng khoán, trong khi lãi thuần từ
hoạt động dịch vụ và lãi từ các hoạt động còn lại chiếm lần lượt 9,8% và 12,2%,
giảm đáng kể so với mức 11,8% và 15,2% trong quý IV/2019.
Theo báo cáo tài chính quý I/2020 tính đến ngày 22/4, với gần chục NHTM công
bố thì trong đó có tới hơn một nửa có lợi nhuận giảm âm so với cùng kỳ năm 2019.
Cụ thể là Saigonbank (-31%), Bac A Bank (-27%), Kienlongbank (-23%),
Vietcombank (-11%), Sacombank (-7%). (Biểu đổ 2).
*Diễn biến trái chiều về huy động vốn
Theo số liệu của Ngân hàng Nhà nước (NHNN) Việt Nam, tính đến đến cuối tháng
9/2020, tổng phương tiện thanh toán nền kinh tế đạt hơn 11,48 triệu tỷ đồng, tăng
8,63% so với đầu năm. Tổng tiền gửi của khách hàng tại hệ thống tổ chức tín dụng
(TCTD) trong cả nướac tại thời điểm ngày 30/9/2020 là hơn 9,48 triệu tỷ đồng,
tăng 7,85% so với đầu năm và tăng 1,66% so với cuối tháng 8.
Cụ thể, tính đến hết tháng 9/2020, tiền gửi của dân cư tại các TCTD là hơn 5,1
triệu tỷ đồng, tăng 5,77% so với đầu năm và tăng 0,27% so với cuối tháng 8. Tiền
gửi của dân cư tăng khá mạnh những tháng đầu năm nhưng bắt đầu có dấu hiệu
tăng chậm lại kể từ tháng 6/2020 đến tháng 9/2020.
Trong khi đó, tiền gửi của các doanh nghiệp tăng khá mạnh trở lại trong những
tháng gần đây. Tại thời điểm ngày 30/9/2020, tiền gửi của các tổ chức kinh tế
(TCKT) tại các TCTD trong toàn quốc là hơn 4,37 triệu tỷ đồng, tăng 10,39% so
với đầu năm và tăng 15% so với thời điểm cuối tháng 5/2020.
Đặc biệt là, tiền gửi của các TCKT có xu hướng thường tăng trưởng mạnh hơn so
với tiền gửi dân cư tại các TCTD trong những năm gần đây. Cụ thể, trong năm
2019, tiền gửi của các TCKT tại các TCTD tăng 18,59% so với cuối năm 2018;
trong khi của dân cư chỉ tăng 10,36%. Tương tự trong năm 2018, tiền gửi của các
TCKT tăng 16,06% so với cuối năm 2017; trong khi tiền gửi của dân cư tăng 10,47%.
Số liệu thống kê cho thấy, từ tháng 2/2020, tiền gửi của các TCKT tại các TCTD
đã giảm rõ rệt nhưng bắt đầu từ tháng 5/2020 đã tăng cao so với tháng trước. Mức
tăng trưởng tiền gửi của các TCKT vẫn duy trì ở mức cao trong các tháng 6, 8 và
9/2020. Nguyên nhân chính là nhiều doanh nghiệp có nguồn tiền mặt lớn, không
những không có nhu cầu vay ngân hàng, mà ngược lại có nguồn tiền đem gửi ngân
hàng. Điều này có thể lý giải bởi ảnh hưởng của đại dịch Covid-19, khả năng tiêu
thụ hàng hóa trong nước và xuất khẩu, khả năng cung ứng dịch vụ cho khách hàng
sụt giảm. Cơ hội đầu tư, mở rộng sản xuất kinh doanh không có, nền kinh tế có
nhiều rủi ro nên nhiều doanh nghiệp tạm thời gửi tiền vào ngân hàng thương mại (NHTM).
Về diễn biến tiền gửi của dân cư tại NHTM, cũng do ảnh hưởng của đại dịch
Covid-19, cơ hội đầu tư và kinh doanh thu hẹp, rủi ro ở mức độ lớn, tăng trưởng
tín dụng đối với nền kinh tế của các NHTM khó khăn nên các NHTM lần lượt
giảm mạnh lãi suất huy động vốn.
Nếu như cách đây hơn 1 năm, lãi suất tiền gửi nội tệ cao nhất của các NHTM như
VietAbank lên tới 9%/năm, SCB lên tới 8,6%/năm… thì từ tháng 6/2020 bắt đầu
giảm và đến cuối tháng 11/2020 giảm về mức cao nhất chỉ còn 7,1%- 7,3%/năm.
Do lãi suất giảm mạnh nên nhiều người chuyển sang kênh đầu tư mua trái phiếu
doanh nghiệp, đầu tư cổ phiếu, đầu tư bất động sản, mua vàng… Điều này khiến
tiền gửi dân cư tại NHTM giảm mạnh và có tốc độ tăng chậm hơn tốc độ tăng tiền gửi TCKT.
Tăng trưởng tín dụng đối với nền kinh tế còn nhiều khó khăn
Về cung ứng vốn cho tăng trưởng kinh tế, theo số liệu của NHNN, tính đến ngày
17/11/2020, dư nợ tín dụng toàn nền kinh tế của các TCTD đã đạt hơn 8,79 triệu tỷ
đồng, tăng 7,26% so với cuối năm 2019; thấp chỉ bằng 2/3 so với mức tăng cùng
kỳ năm 2019 (tăng 10,28%); trong đó, tín dụng bằng VND tăng 7,76%, tín dụng ngoại tệ giảm 0,69%.
Chi tiết về vốn tín dụng đầu tư cho một số lĩnh vực cụ thể của nền kinh tế tính đến
thời điểm 30/10/2020 như sau: Dư nợ tín dụng của các TCTD đối với ngành nông,
lâm, thủy sản tăng 5,22% so với cuối năm 2019; dư nợ tín dụng đối với ngành
công nghiệp và xây dựng tăng 5,81%; dư nợ tín dụng ngành thương mại dịch vụ tăng khoảng 8,2%.
Đối với 5 lĩnh vực ưu tiên: Tín dụng phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn,
tính đến ngày 30/10/2020, tăng 6,5% so với cuối năm 2019; lĩnh vực xuất khẩu
tăng khoảng 10%; dư nợ cho vay các doanh nghiệp nhỏ và vừa tăng 7,21%; lĩnh
vực công nghiệp hỗ trợ giảm 3,83%; lĩnh vực doanh nghiệp ứng dụng công nghệ cao giảm 0,81%.
Như vậy, do ảnh hưởng của đại dịch Covid-19, sản xuất công nghiệp hỗ trợ, sản
xuất ứng dụng công nghệ cao đang gặp rất nhiều khó khăn, quy mô bị thu hẹp,
người lao động thiếu việc làm. Nhiều doanh nghiệp trong lĩnh vực này không có tiền trả nợ NHTM.
Cơ cấu lại tín dụng cho khách hàng do khó khăn của nền kinh tế
Trong năm 2020, nền kinh tế gặp phải 2 khó khăn đột xuất lớn nhất, đó là đại dịch
Covid-19 và lũ lụt lịch sử tại khu vực miền Trung và Tây Nguyên, do đó, bên cạnh
việc giảm lãi suất cho vay, thì các TCTD còn phải cơ cấu lại nợ cho khách hàng.
Triển khai thực hiện Thông tư số 01/2020/TT-NHNN quy định về việc tổ chức tín
dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài cơ cấu lại thời hạn trả nợ, miễn, giảm lãi,
phí, giữ nguyên nhóm nợ nhằm hỗ trợ khách hàng chịu ảnh hưởng bởi dịch viêm
đường hô hấp cấp do chủng mới của Covid - 19 nhằm tháo gỡ khó khăn cho khách
hàng bị ảnh hưởng của đại dịch Covid-19, các Tính TCTD đã tiến hành đồng bộ
các nội dung hỗ trợ theo quy định.
đến ngày 9/11/2020, các TCTD đã cơ cấu lại thời hạn trả nợ cho 272.183 khách
hàng, với dư nợ 341.855 tỷ đồng. Bên cạnh đó, các TCTD trong cả nước cũng đã
miễn, giảm, hạ lãi suất cho 552.725 khách hàng với dư nợ 931.018 tỷ đồng. Đồng
thời, cho vay mới lãi suất ưu đãi với doanh số lũy kế từ ngày 23/1/2020 đến ngày
9/11/2020 đạt 2.017.761 tỷ đồng cho 356.385 khách hàng.
Thực hiện Chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ, các TCTD đã chủ động triển khai
nhiều biện pháp hỗ trợ khách hàng bị ảnh hưởng bởi thiên tai, lũ lụt. Trong gần 2
tháng qua, các TCTD nhanh chóng rà soát khách hàng bị ảnh hưởng bão lũ miền
Trung và Tây Nguyên đợt tháng 10-11/2020. Theo đó, các TCTD đã khẩn trương
hỗ trợ, tháo gỡ khó khăn vốn vay cho khách hàng bằng nhiều hình thức sát thực
tiễn. Tính đến ngày 15/11/2020, các TCTD đã cơ cấu lại thời hạn trả nợ cho 1.360
khách hàng, với dư nợ gần 109 tỷ đồng, đồng thời, miễn giảm lãi vay cho 13.458
khách hàng, với dư nợ được miễn, giảm lãi là 6.941 tỷ đồng. Bên cạnh đó, cho vay
mới để khôi phục sản xuất đối với 2.545 khách hàng với doanh số cho vay đạt 774 tỷ đồng.
Mặc dù kết quả kinh doanh không mấy tốt đẹp tại nhiều ngân hàng, nhưng vẫn còn
những ngân hàng tăng trưởng mạnh lợi nhuận. Tiêu biểu như tại Ngân hàng
Vietbank, ngân hàng SeABank, Ngân hàng MSB…
Nhìn chung, dịch Covid-19 đã ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động của các NHTM ở
hầu hết các khía cạnh: Hoạt động tác nghiệp hàng ngày, tốc độ tăng trưởng huy
động vốn, tín dụng, nợ xấu và cuối cùng là lợi nhuận ngân hàng. Các NHTM cần
kiểm soát để tránh tiềm ẩn rủi ro lâu dài, ảnh hưởng đến chất lượng tăng trưởng
nền kinh tế, đảm bảo tăng trưởng bền vững, ổn định xã hội trong tương lai. Tuy
nhiên, ở mỗi khía cạnh chịu ảnh hưởng từ dịch Covid-19 đều có một số cơ hội
riêng mà các ngân hàng cần phải nắm bắt.
3. Tìm hiểu về thực trạng an toàn vốn của các ngân hàng thương mại Việt Nam trong 5 năm gần đây
Trong những năm gần đây hệ thống NHTM Việt Nam đã quan tâm đến việc quản
trị rủi ro bên cạnh việc tăng trưởng lợi nhuận. Tính đến cuối năm 2019 đã có 18
NHTM đã được chấp thuận áp dụng Thông tư số 41/2016/TT-NHNN - Thông tư
quy định về tỷ lệ an toàn vốn đối với ngân hàng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài.
Về mặt định hướng của Ngân hàng Nhà nước, việc ban hành Thông tư số
41/2016/TT-NHNN, Thông tư số 13/2018/TT-NHNN là những văn bản quy phạm
pháp luật được xây dựng dựa trên nền tảng quản trị rủi ro theo Hiệp ước Basel II.
Các NHTM Việt Nam đang trong lộ trình xây dựng hệ thống quản trị rủi ro đáp
ứng các nguyên tắc, chuẩn mực của Hiệp ước Basel II. Để đáp ứng được các tiêu
chuẩn theo Basel II, hệ thống ngân hàng cần phải đáp ứng được cả 3 trụ cột: trụ cột
1 là an toàn vốn, trụ cột 2 là quy trình kiểm tra của cơ quan giám sát và trụ cột 3 là
nguyên tắc thị trường. Trụ cột 1 tập trung việc xác định tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu
mà ngân hàng cần phải duy trì để đối phó với các biến cố có thể xảy ra trong quá
trình hoạt động. Theo khuyến nghị của Ủy ban Basel thì các ngân hàng cần duy trì
tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu ở mức 8%. Tại Việt Nam, việc quy định tỷ lệ an toàn vốn
tối thiểu chưa có sự đồng nhất. Các ngân hàng áp dụng tính tỷ lệ an toàn vốn theo
Thông tư số 41/2016/TT-NHNN thì tỷ lệ an toàn vốn phải duy trì ở mức tối thiểu 8%.
Các ngân hàng áp dụng việc tính toán tỷ lệ an toàn vốn theo Thông tư số
22/2019/TT-NHNN thì tỷ lệ an toàn vốn phải duy trì ở mức tối thiểu 9%. Qua số
liệu tổng hợp về tỷ lệ an toàn vốn của các NHTM Việt Nam giai đoạn 2008 - 2019
cho thấy: có nhiều NHTM duy trì tỷ lệ an toàn vốn ở mức cao trên 15% như An
Binh Bank, Sai Gon Bank, Kien Long Bank, Eximbank, Vietcapital Bank. Mặt
khác, một số NHTM lại duy trì tỷ lệ an toàn vốn cao hơn mức quy định một vài
điểm phần trăm như Vietcombank, Vietinbank, BIDV, Agribank. Việc duy trì tỷ lệ
an toàn vốn ở mức quá cao cũng không tốt đối với hoạt động của ngân hàng. Khi tỷ
lệ an toàn vốn ở mức quá cao đồng nghĩa ngân hàng phải dự trữ nhiều vốn hơn
hoặc đầu tư vào những tài sản có mức độ rủi ro thấp hơn, dẫn đến hiệu quả sử dụng
vốn không cao, lợi nhuận cũng sụt giảm.
Nghiên cứu này nhằm xác định các yếu tố nội tại của ngân hàng và yếu tố vĩ mô
của nền kinh tế ảnh hưởng đến tỷ lệ an toàn vốn của các NHTM Việt Nam. Do đó,
nghiên cứu sử dụng dữ liệu của 28 NHTM Việt Nam, thu thập trong khoảng thời
gian từ năm 2008 đến năm 2019, dữ liệu được cung cấp từ Công ty cổ phần Dữ
liệu Kinh tế Việt Nam (Vietdata). Dữ liệu các yếu tố vĩ mô được thu thập từ cơ sở
dữ liệu của WorldBank. Theo số liệu từ Ngân hàng Nhà nước, tính đến tháng
12/2019 thì tổng tài sản của nhóm NHTM Việt Nam (gồm NHTM nhà nước và
NHTM cổ phần) đạt 10.652.207 tỷ đồng, chiếm tỷ trọng khoảng 84% tổng tài sản
của hệ thống các Tổ chức tín dụng tại Việt Nam, đảm bảo tính đại diện cho mẫu
nghiên cứu. Dữ liệu thống kê mô tả bao gồm số quan sát, trung bình, độ lệch
chuẩn, giá trị nhỏ nhất và giá trị lớn nhất được trình bày ở Bảng 1.
4. Tìm hiểu về những cơ hội, thách thức của các ngân hàng thương mại Việt
Nam trong bối cảnh cách mạng công nghiệp 4.0 cùng với sự phát triển của công nghệ thông tin. Cơ hội
Về phát triển sản phẩm, dịch vụ tài chính
Những dịch vụ của ngân hàng tiến hành qua internet, điện thoại di động sẽ nhận
được lợi ích từ CMCN 4.0. Với lợi thế người dân Việt Nam sử dụng smartphone tỷ
lệ cao và cơ cấu dân số đa phần là giới trẻ nên rất thuận tiện để ngân hàng thiết kế
và triển khai nhiều sản phẩm, dịch vụ hiện đại, trực tuyến đến đông đảo khách hàng.
Nhờ ứng dụng công nghệ kỹ thuật số, các sản phẩm của ngân hàng có thể tích hợp
được với nhiều dịch vụ hình thành nên các sản phẩm công nghệ cao sẽ gia tăng tiện
ích cung cấp cho khách hàng hơn.
Việc ứng dụng trí tuệ nhân tạo cùng với nguồn dữ liệu khổng lồ của CMCN 4.0 rất
phù hợp để ngân hàng quản lý danh mục khách hàng, phân tích hành vi khách hàng
để hiểu biết về nhu cầu của khách hàng và phục vụ tốt những nhu cầu đó. Một khi
sản phẩm dịch vụ của ngân hàng thiết kế có lợi cho khách hàng với nhiều tiện ích,
giao dịch thuận lợi cùng với chính sách chăm sóc khách hàng tốt thì ngân hàng sẽ
nhận được sự ủng hộ của đông đảo khách hàng và sẽ dễ dàng chiếm được thị phần
trong bối cảnh cạnh tranh mạnh mẽ như hiện nay.
Về phạm vi, phương thức giao dịch
Với việc kết nối internet vạn vật thì phạm vi giao dịch không còn phân biệt ranh
giới địa lý, mạng máy tính của ngân hàng đã kết nối các thị trường tài chính trên
toàn cầu thành một thị trường thống nhất và hoạt động liên tục. Từ đó tạo điều kiện
cho các giao dịch ngân hàng quốc tế được tiến hành thuận lợi, nhanh chóng hơn.
Ngân hàng ứng dụng các công nghệ hiện đại nên giao dịch được xử lý sẽ nhanh
chóng. Các tương tác giao dịch giữa khách hàng với ngân hàng cũng thay đổi,
"người máy" thay thế cho con người trong tư vấn, giải đáp những truy vấn của
khách hàng và xử lý được một số nghiệp vụ giao dịch tự động như khách hàng nộp
tiền mặt, đăng ký tài khoản, mở thẻ ghi nợ, gửi tiền có kỳ hạn,... Ngoài ra với công
nghệ số hiện nay, cho phép khách hàng thực hiện giao dịch ngân hàng dễ dàng và
nhanh chóng ngay trên máy tính mà không cần phải đến quầy giao dịch của ngân
hàng truyền thống. Từ đó, ngân hàng cần thiết cắt giảm nhân sự và cắt giảm bớt
một số chi nhánh hiện hữu thay thế bởi các kênh phân phối hiện đại. Như vậy, dựa
trên nền tảng công nghệ, mạng internet với các thiết bị số thì phương thức giao
dịch của ngân hàng sẽ thay đổi so với truyền thống. Về nguồn dữ liệu
Nguồn dữ liệu lớn là một trong 3 yếu tố cốt lõi của CMCN 4.0 sẽ tạo thuận lợi cho
ngân hàng trong việc thu thập, quản lý, phân tích và xử lý dữ liệu để đưa ra quyết
định chính xác, kịp thời, phục vụ tốt cho công tác quản trị ngân hàng. Nguồn dữ
liệu lớn này thể hiện tính quy mô, đa dạng, tốc độ và chân thật mà ngân hàng có
thể sử dụng để quản lý danh mục rủi ro để đảm bảo hoạt động ngân hàng diễn ra an
toàn, hiệu quả đáp ứng yêu cầu cạnh tranh và phát triển của ngân hàng. Bên cạnh
đó sẽ tạo điều kiện thuận lợi để ngân hàng thực hiện công tác thống kê và dự báo
nhằm nhanh chóng đưa ra các chính sách phù hợp. Như vậy, với công cụ này sẽ
giúp ngân hàng hoàn thiện mô hình kinh doanh và quản trị hướng đến xây dựng mô hình ngân hàng số. Về việc cạnh tranh
Hiện nay, Việt Nam và cả thế giới đều tiếp cận những tiến bộ của CMCN 4.0 cùng
điểm xuất phát nên việc nắm bắt và kịp thời thay đổi để thích ứng với xu thế công
nghệ mới của các ngân hàng là như nhau. Điều đó sẽ giúp các ngân hàng trong
nước có khả năng phát triển mạnh mẽ và đủ sức cạnh tranh với các ngân hàng
trong khu vực và trên thế giới, khi đó vị thế của các ngân hàng Việt Nam trên thị
trường quốc tế sẽ thay đổi. Cách thu thập và khai thác dữ liệu lớn sẽ tạo ra điểm
khác biệt giữa các ngân hàng khi triển khai công nghệ. Thách thức
Về định hình mô hình kinh doanh: CMCN 4.0 ảnh hưởng lớn đến mô hình kinh
doanh của ngân hàng buộc các ngân hàng phải xem xét định hình lại sao cho phù
hợp với xu thế của thời đại công nghệ cao. Chiến lược kinh doanh, quản lý rủi ro,
quản trị ngân hàng cũng cần thay đổi thích ứng nhanh với tốc độ phát triển của
công nghệ. Như vậy, tốc độ đổi mới công nghệ gia tăng đòi hỏi ngân hàng phải
nhanh chóng nghiên cứu để có định hướng, chiến lược cho riêng mình nếu muốn
tiếp tục phát triển và tồn tại trong bối cảnh CMCN 4.0.
Về phát triển sản phẩm, dịch vụ
Thách thức không nhỏ cho ngân hàng là nắm bắt xu thế công nghệ mới để không
ngừng cải tiến và cho ra đời các sản phẩm dịch vụ tối đa hóa các tiện ích nhằm
phục vụ tốt nhu cầu ngày càng cao của khách hàng nếu muốn khách hàng tiếp tục
sử dụng và gắn bó lâu dài với ngân hàng. Bên cạnh đó, với thói quen sử dụng tiền
mặt trong thanh toán của người dân vẫn còn cao tâm lý e ngại việc bảo mật thông
tin cá nhân, khách hàng lo sợ bị mất cắp thông tin tài khoản khi sử dụng dịch vụ
trực tuyến sẽ là điều khó khăn khi ngân hàng muốn đầu tư triển khai và gia tăng
hơn nữa các sản phẩm dịch vụ kết hợp với kỹ thuật số dựa trên nền tảng công nghệ mới.
Về hệ thống công nghệ ngân hàng
Thời gian qua hệ thống ngân hàng đã đầu tư hệ thống lõi ngân hàng là Core
banking, tuy nhiên với sự phát triển nhanh chóng của công nghệ mới đòi hỏi ngân
hàng phải có sự xây dựng mới cũng như cải tiến hệ thống Core banking hiện tại.
Ngân hàng phải đầu tư nền tảng công nghệ hiện đại đủ để để bắt kịp với công nghệ
mới trong việc tạo các sản phẩm dịch vụ kịp thời đáp ứng nhu cầu không ngừng
thay đổi của khách hàng theo hướng gia tăng tiện ích. Hệ thống lõi ngân hàng hiện
đại cho phép triển khai các kênh giao dịch tự động đa chức năng với giao diện bắt
mắt, thân thiện cho khách hàng sử dụng. Ngoài ra, cần nhìn nhận rằng ngân hàng
phải có cơ sở hạ tầng công nghệ mạnh mới đủ để thiết kế xử lý những hệ thống vận
hành thông minh được, xử lý được tất cả các hoạt động của ngân hàng theo thời đại
mới dựa trên các yếu tố cốt lõi lõi của CMCN 4.0. Do đó, để ngân hàng triển khai
và nâng cấp hệ thống công nghệ thông tin lên tầm cao mới đòi hỏi phải có nguồn
vốn đầu tư tương thích, điều này đã gây nên áp lực cho ngân hàng là phải đủ tiềm
lực tài chính đầu tư lớn cho việc đổi mới công nghệ.
Về rủi ro an ninh mạng và bảo mật thông tin
Với sự phát triển của công nghệ đám mây nên hầu như tất cả các thông tin dữ liệu
của ngân hàng đều được lưu lại trên những đám mây dữ liệu, do đó tính an toàn
thông tin dữ liệu thường không được đảm bảo. Ngoài ra, phạm vi và phương thức
giao dịch cùng với sản phẩm và dịch vụ của ngân hàng hiện đại thay đổi rất lớn so
với ngân hàng truyền thống trước đây nên tất yếu sẽ gia tăng các loại rủi ro. Và đặc
biệt với sự phát triển mạnh của kênh giao dịch số dẫn đến rủi ro về tính bảo mật
thông tin khách hàng, thông tin về cơ sở dữ liệu khi các loại tội phạm công nghệ
cao tấn công ngày càng nhiều hơn với những thủ đoạn tinh vi hơn. Về nguồn nhân lực
Để vận hành được các thiết bị công nghệ hiện đại đáp ứng nhu cầu thực tiễn theo
cuộc cách mạng số đòi hỏi đội ngũ nhân sự phải thực sự giỏi về chuyên môn
nghiệp vụ ngân hàng và cả công nghệ thông tin. Đây là áp lực cho ngân hàng trong
việc tìm kiếm cũng như đào tạo nâng cao chất lượng đội ngũ nhân lực có khả năng
bắt kịp và luôn cập nhật được với công nghệ mới. Ngoài ra để đối phó với các loại
tội phạm tấn công vào hệ thống công nghệ của ngân hàng cũng cần phải có đội ngũ
công nghệ thông tin có trình độ, năng lực để hạn chế rủi ro về an ninh mạng. Về yếu tố cạnh tranh
CMCN 4.0 đã tạo điều kiện cho xu hướng thâm nhập giữa các công ty Fintech vào
lĩnh vực ngân hàng. Sự lớn mạnh về quy mô hoạt động của chúng trong khi hành
lang pháp lý để quản lý hoạt động của loại hình này chưa hoàn chỉnh nên các công
ty này đang có một lợi thế lớn trong cuộc đua giành thị phần với các ngân hàng.
Như vậy, các ngân hàng đang đối mặt với nguy cơ thu hẹp quy mô trong việc cung
cấp dịch vụ tài chính thông minh. Ngoài ra, các ngân hàng cũng đang đối mặt với
môi trường cạnh tranh gay gắt giữa các ngân hàng với nhau. Mặt dù đều tiếp cận
những tiến bộ của CMCN 4.0 cùng điểm xuất phát nhưng với sự phát triển không
ngừng của công nghệ hiện đại, ngân hàng nào nắm bắt công nghệ trước và phát
triển phù hợp theo xu thế sẽ tiến lên trước.