BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI
MÔN: NHẬP MÔN TÀI CHÍNH TIỀN TỆ
_____________________
ĐỀ TÀI:
THỰC TRẠNG TRỐN THUẾ CỦA CÁC DOANH NGHIỆP
TẠI VIỆT NAMNGHIÊN CỨU TRƯỜNG HỢP TẬP ĐOÀN VẠN
THỊNH PHÁT VÀ ĐỀ XUẤT CÁC GIẢI PHÁP
Nhóm thực hiện: 08
Giảng viên hướng dẫn: Nguyễn Thùy Linh
Mã lớp học phần: 242_EFIN2811_13
Hà Nội – 2025
2
DANH SÁCH THÀNH VIÊN NHÓM 8
STT Họ và tên Nhiệm vụ Đánh giá
71 Trần Ngọc Ly Nội dung
72 Lê Thị Ngọc Mai Soạn thảo
73 Nguyễn Thị Ngọc Mai Nội dung
74 Nguyễn Thị Tú Mai Nội dung
75 Lê Đức Mạnh Nội dung
76 Mai Ngọc Minh Nhóm trưởng
77 Nguyễn Đức Hải Minh Nội dung
78 Nguyễn Đức Quang Minh Nội dung
79 Trần Đình Minh Nội dung
80 Dương Thị Trà My Thiết kế PPT
3
MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU...........................................................................................................4
CHƯƠNG I: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN.................................................5
1.1. Một số khái niệm về thuế.............................................................................................5
1.1.1. Khái niệm về thuế......................................................................................5
1.1.2. Hệ thống thuế tại Việt Nam........................................................................5
1.1.3. Phân loại thuế................................................................................................................5
1.2. Hành vi trốn thuế và gian lận thuế của doanh nghiệp..............................................6
1.2.1. Khái niệm trốn thuế...................................................................................6
1.2.2. Các hành vi trốn thuế.................................................................................7
1.2.3. Nguyên nhân chủ yếu dẫn đến hành vi trốn thuế của doanh nghiệp..........8
1.3. Thực trạng trốn thuế của các doanh nghiệp tại Việt Nam tác động của hành vi
này tới nền kinh tế quốc gia....................................................................................................9
1.3.1. Thực trạng trốn thuế của các doanh nghiệp tại Việt Nam..........................9
1.3.2. Tác động của hành vi này đến nền kinh tế quốc gia.................................11
CHƯƠNG II: VẬN DỤNG VÀO DOANH NGHIỆP TẠI VIỆT NAM – TẬP ĐOÀN
VẠN THỊNH PHÁT....................................................................................................13
2.1. Tổng quan về Tập đoàn Vạn Thịnh Phát............................................................13
2.2. Hành vi trốn thuế của Tập đoàn Vạn Thịnh Phát...............................................13
2.3. Những hệ lụy của hành vi trốn thuế của Tập đoàn Vạn Thịnh Phát...................13
CHƯƠNG III: GIẢI PHÁP VÀ ĐỊNH HƯỚNG NHẰM HẠN CHẾ TÌNH TRẠNG
TRỐN THUẾ CỦA DOANH NGHIỆP TẠI VIỆT NAM............................................14
3.1. Những hạn chế còn tồn đọng.....................................................................................14
3.2. Đề xuất phương hướng kiểm soát hành vi gian lận thuế của doanh nghiệp........15
3.2.1. Hoàn thiện khuôn khổ pháp lý.................................................................15
3.2.2. Áp dụng công nghệ trong phát triển và ngăn chặn gian luận...................16
3.2.3. Nâng cao năng lực thanh tra và kiểm tra thuế..........................................17
3.2.4. Thúc đẩy tuân thủ tự nguyện....................................................................17
PHẦN KẾT LUẬN......................................................................................................19
Tài liệu tham khảo.......................................................................................................20
4
5
PHẦN MỞ ĐẦU
Thuế đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển của nền kinh tế, nguồn thu
chính để nhà nước thực hiện các chức năng điều tiết mô, đầu sở hạ tầng, phát
triển an sinh hội duy trì hoạt động bộ máy công quyền. Một hệ thống thuế công
bằng, minh bạch hiệu quả không chỉ đảm bảo nguồn thu ngân sách còn góp
phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế bền vững, nâng cao niềm tin của doanh nghiệp
người dân vào chính sách tài chính quốc gia. Tuy nhiên, tình trạng trốn thuế của các
doanh nghiệp tại Việt Nam vẫn là vấn đề nhức nhối, gây ra nhiều hệ lụy nghiêm trọng.
Các hình thức trốn thuế ngày càng tinh vi đa dạng, từ việc khai gian doanh thu, lập
công ty ma để hợp thức hóa các giao dịch giả mạo, lợi dụng các chính sách ưu đãi thuế
đến việc chuyển lợi nhuận ra nước ngoài để né tránh nghĩa vụ tài chính. Không chỉ làm
thất thoát nguồn thu nhà nước, trốn thuế còn tạo ra sự cạnh tranh không lành mạnh
giữa các doanh nghiệp, khiến những doanh nghiệp tuân thủ pháp luật gặp bất lợi so với
những doanh nghiệp cố tình vi phạm. Nguyên nhân của tình trạng này đến từ nhiều
yếu tố khác nhau. Một phần do hệ thống pháp lý về thuế vẫn còn tồn tại kẽ hở, các quy
định chưa theo kịp thực tiễn kinh doanh, đặc biệt trong bối cảnh nền kinh tế số hội
nhập quốc tế ngày càng sâu rộng. Bên cạnh đó, công tác quản lý thuế của cơ quan chức
năng còn gặp nhiều thách thức, từ nguồn nhân lực hạn chế, công nghệ giám sát chưa
đủ hiện đại cho đến các vấn đề về đạo đức công vụ trong quá trình kiểm tra, thanh tra
thuế. Xuất phát từ thực tế này, đề tài nghiên cứu nhằm làm các phương thức trốn
thuế phổ biến của doanh nghiệp tại Việt Nam, đánh giá mức độ ảnh hưởng của chúng
đối với nền kinh tế ngân sách nhà nước. Đồng thời, đề tài cũng tập trung phân tích
những hạn chế trong chế kiểm soát thuế hiện nay đề xuất các giải pháp nhằm
nâng cao hiệu quả quản lý, từ việc hoàn thiện chính sách pháp luật, ứng dụng công
nghệ hiện đại đến việc nâng cao trách nhiệm và đạo đức kinh doanh của doanh nghiệp.
Hy vọng rằng những đóng góp từ nghiên cứu này sẽ góp phần giúp các quan chức
năng doanh nghiệp cái nhìn toàn diện hơn về vấn đề trốn thuế, từ đó thúc đẩy
môi trường kinh doanh minh bạch, công bằng và bền vững hơn.
6
CHƯƠNG I: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN
1.1. Một số khái niệm về thuế
1.1.1. Khái niệm về thuế
Thuế là một khoản tiền bắt buộc phải trả cho một tổ chức chính phủ để tài trợ cho
các khoản chi tiêu công khác nhau. Thuế thể được áp dụng trực tiếp hoặc gián tiếp
và có thể được trả bằng tiền hoặc tương đương với giá trị lao động của nó.
Thuế được hình thành từ thời cổ đại vai trò quan trọng trong việc duy trì
quyền lực chính trị và thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước. Thuế cũng
công cụ để điều chỉnh các mục tiêu kinh tế vĩ mô và phân phối lại thu nhập xã hội.
1.1.2. Hệ thống thuế tại Việt Nam
Hệ thống thuế Việt Nam có 14 loại thuế và tương đương thuế:
i) Thuế thu nhập doanh nghiệp
ii) Thuế thu nhập doanh nghiệp trong giao dịch liên kết
iii) Thuế nhà thầu nước ngoài
iv) Thuế chuyển nhượng vốn
v) Thuế giá trị gi tăng
vi) Thuế tiêu thụ đặc biệt
vii) Thuế tài nguyên
viii) Thuế bất động sản
ix) Thuế bảo vệ môi trường
x) Thuế thu nhập cá nhân
xi) Thuế môn bài
xii) Thuế xuất nhập khẩu
xiii) Các loại lệ phí xem như thuế là: phí trước bạ, phí đăng kiểm, phí xăng dầu, tiền
sử dụng đất.
xiv) Các khoản nộp bảo hiểm bắt buộc của doanh nghiệp. Nội dung này thì trong kế
toán nội bộ cũng xem tương đương nộp thuế.
1.1.3. Phân loại thuế
Hệ thống thuế của mỗi nước thường bao gồm nhiều loại thuế khácnhau, song
thể phân loại thuế theo các tiêu thức cơ bản sau:
-Căn cứ vào tính chất điều tiết và chuyển giao của thuế, hệ thốngthuế được chia
thành hai loại:
+ Thuế trực thu: loại thuế đánh trực tiếp vào thu nhập của người chịu thuế.
Trong sắc thuế này người nộp thuế cũng đồng thời người chịu thuế.dụ như thuế
7
thu nhập doanh nghiệp, thuế thu nhập cá nhân.Ở đây, không có hiện tượng chuyển giao
số tiền thuế cho người khác chịu
+Thuế gián thu: loại thuế đánh vào người tiêu dùng thông qua giá cả hàng
hoá và dịch vụ. Đối với thuế gián thu người nộp thuế và người chịu thuế là hai chủ thể
khác nhau. Đặc điểm bản của thuế gián thu thường bộ phận cấu thành hay
gắn liền với giá cả hàng hóa dịch vụ bán ra, cho nên số thuế người bán nộp cho
Nhà nước được chuyển giao sang người mua hay người tiêu dùng phải chịu thông qua
cơ chế giá cả. Ví dụ như thuế giá trị gia tăng, thuế tiêu thụ đặc biệt,...
-Căn cứ vào đối tượng đánh thuế, các loại thuế bao gồm:
+Thuế tiêu dùng: loại thuế đánh vào hàng hóa, dịch vụ lưu thông trên thị
trường như thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu, thuế giá trị gia tăng,...
+Thuế thu nhập: thuế đánh vào thu nhập của các chủ thể như thuế thu nhập
doanh nghiệp, thuế thu nhập cá nhân.
+Thuế tài sản: thuế đánh vào việc khai thác, sử dụng hay chuyển nhượng tài
sản như thuế tài nguyên, thuế sử dụng đất nông nghiệp, thuế chuyển giao quyền sử
dụng đất,...
1.2. Hành vi trốn thuế và gian lận thuế của doanh nghiệp
1.2.1. Khái niệm trốn thuế
Trốn thuế hành vi của cá nhân hoặc tổ chức thực hiện các phương thức trái
pháp luật nhằm giảm số tiền thuế phải nộp theo quy định hoặc trốn tránh nghĩa vụ
đóng thuế. Theo khoản 1 Điều 200 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017),
các hành vi trốn thuế phổ biến bao gồm: không nộp hồ đăng thuế hoặc hồ
khai thuế; nộp hồchậm hơn 90 ngày kể từ ngày hết hạn; không ghi chép các khoản
thu trong sổ kế toán; không xuất hóa đơn khi bán hàng hoặc ghi thấp hơn giá trị thực
tế; sử dụng hóa đơn, chứng từ không hợp pháp để hạch toán chi phí đầu vào nhằm
giảm số thuế phải nộp hoặc làm tăng số thuế được hoàn, miễn, giảm; khai sai thông tin
về hàng hóa xuất nhập khẩu không khai bổ sung hồ khai thuế; cố ý không khai
hoặc khai sai về thuế, và sử dụng hàng hóa thuộc diện miễn thuế không đúng mục đích
không khai báo lại với quan thuế. Những hành vi này không chỉ gây thiệt hại
cho ngân sách nhà nước mà còn tạo ra sự bất công trong môi trường kinh doanh. Trốn
thuế thể bắt nguồn từ nhiều nguyên nhân như: mức thuế suất cao gây áp lực cho
doanh nghiệp, hệ thống pháp luật còn tồn tại kẽ hở, năng lực giám sát của cơ quan thuế
còn hạn chế, ý thức tuân thủ pháp luật về thuế của một bộ phận doanh nghiệp còn thấp,
sự cạnh tranh thiếu lành mạnh trên thị trường. Việc nhận diện các hành vi trốn
thuế và nguyên nhân phát sinh là bước quan trọng giúp cơ quan nhà nước có giải pháp
kiểm soát hiệu quả và xây dựng môi trường kinh doanh minh bạch, công bằng.
8
Phân biệt giữa hành vi trốn thuế tránh thuế: Trốn thuế tránh thuế hai
khái niệm thường xuyên được nhắc đến trong lĩnh vực thuế, nhưng mang bản chất
pháp hoàn toàn khác nhau. Trốn thuế hành vi cố tình vi phạm pháp luật thuế
nhằm giảm hoặc tránh nghĩa vụ nộp thuế cho Nhà nước. Các doanh nghiệp trốn
thuế thường thực hiện các hành vi như không khai hoặc khai không trung thực
các khoản thu nhập, sử dụng hóa đơn chứng từ giả, khai khống chi phí hoặc không
xuất hóa đơn khi bán hàng hóa, cung cấp dịch vụ. Đây hành vi bị cấm sẽ bị xử
phạt hành chính, thậm chí thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự nếu stiền trốn thuế
lớn hoặc tái phạm. Trong khi đó, tránh thuế việc doanh nghiệp tận dụng một cách
hợp pháp các quy định của pháp luật thuế để giảm số thuế phải nộp. Việc này thể
được thực hiện thông qua các hình thức như lựa chọn địa điểm đầu tư để được hưởng
ưu đãi thuế, áp dụng các khoản miễn giảm đúng quy định, hoặc tổ chức hoạt động kinh
doanh theo phương thức hiệu quả về thuế. Tránh thuế không vi phạm pháp luật
hành vi được chấp nhận trong khuôn khổ pháp lý.
1.2.2. Các hành vi trốn thuế
Theo Điều 143 Luật Quản thuế 2019 quy định những hành vi trốn thuế như
sau:
- Không nộp hồ sơ đăng ký thuế; không nộp hồ sơ khai thuế; nộp hồ sơ khai thuế
sau 90 ngày kể từ ngày hết thời hạn nộp hồ sơ khai thuế hoặc ngày hết thời hạn gia hạn
nộp hồ sơ khai thuế theo quy định của Luật Quản lý thuế 2019.
- Không ghi chép trong sổ kế toán các khoản thu liên quan đến việc xác định số
tiền thuế phải nộp.
- Không xuất hóa đơn khi bán hàng hóa, dịch vụ theo quy định của pháp luật
hoặc ghi giá trị trên hóa đơn bán hàng thấp hơn giá trị thanh toán thực tế của hàng hóa,
dịch vụ đã bán.
- Sử dụng hóa đơn, chứng từ không hợp pháp, sử dụng không hợp pháp hóa đơn
để hạch toán hàng hóa, nguyên liệu đầu vào trong hoạt động phát sinh nghĩa vụ thuế
làm giảm số tiền thuế phải nộp hoặc làm tăng số tiền thuế được miễn, số tiền thuế
được giảm hoặc tăng số tiền thuế được khấu trừ, số tiền thuế được hoàn, số tiền thuế
không phải nộp.
- Sử dụng chứng từ, tài liệu không phản ánh đúng bản chất giao dịch hoặc giá trị
giao dịch thực tế để xác định sai số tiền thuế phải nộp, số tiền thuế được miễn, số tiền
thuế được giảm, số tiền thuế được hoàn, số tiền thuế không phải nộp.
- Khai sai với thực tế hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu không khai bổ sung hồ
sơ khai thuế sau khi hàng hóa đã được thông quan.
- Cố ý không khai hoặc khai sai về thuế đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập
khẩu.
9
- Cấu kết với người gửi hàng để nhập khẩu hàng hóa nhằm mục đích trốn thuế.
- Sử dụng hàng hóa thuộc đối tượng không chịu thuế, miễn thuế, xét miễn thuế
không đúng mục đích quy định không khai báo việc chuyển đổi mục đích sử dụng
với cơ quan quản lý thuế.
- Người nộp thuế hoạt động kinh doanh trong thời gian ngừng, tạm ngừng
hoạt động kinh doanh nhưng không thông báo với cơ quan quản lý thuế.
- Người nộp thuế không bị xử phạt về hành vi trốn thuếbị xử phạt hành vi vi
phạm thủ tục thuế đối với trường hợp sau đây:
+ Không nộp hồ sơ đăng ký thuế, không nộp hồ sơ khai thuế, nộp hồ sơ khai thuế
sau 90 ngày nhưng không phát sinh số tiền thuế phải nộp;
+ Nộp hồ khai thuế sau 90 ngày phát sinh số tiền thuế phải nộp người
nộp thuế đã nộp đủ số tiền thuế, tiền chậm nộp vào ngân sách nhà nước trước
thời điểm quan thuế công bố quyết định kiểm tra thuế, thanh tra thuế hoặc
trước thời điểm cơ quan thuế lập biên bản về hành vi chậm nộp hồ sơ khai thuế.
1.2.3. Nguyên nhân chủ yếu dẫn đến hành vi trốn thuế của doanh nghiệp
Hành vi trốn thuế của doanh nghiệp không đơn thuần chỉ bắt nguồn từ ý đồ vi
phạm pháp luật mà còn chịu ảnh hưởng từ nhiều nguyên nhân khách quan và chủ quan
trong thực tế. Những nguyên nhân chính có thể được phân tích như sau:
Thứ nhất, mức thuế suất cao và hệ thống thuế còn phức tạp là một trong những lý
do hàng đầu khiến doanh nghiệp tìm cách lách luật để giảm gánh nặng tài chính. Khi
thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế giá trị gia tăng hay các loại thuế khác được áp dụng
với tỷ lệ cao trong khi lợi nhuận kinh doanh không ổn định, nhiều doanh nghiệp, đặc
biệt doanh nghiệp vừa nhỏ, xu hướng tìm cách khai giảm doanh thu, tăng chi
phí hoặc sử dụng hóa đơn khống để giảm số thuế phải nộp.
Thứ hai, hệ thống pháp luật về thuế còn tồn tại những kẽ hở và chưa thật sự đồng
bộ. Một số quy định còn hồ, dễ bị lợi dụng hoặc chưa theo kịp thực tiễn phát sinh
từ hoạt động kinh doanh đa dạng hiện nay, đặc biệt trong lĩnh vực thương mại điện
tử, dịch vụ xuyên biên giới. Điều này tạo điều kiện cho một số doanh nghiệp lợi dụng
để thực hiện các hành vi gian lận mà vẫn chưa bị phát hiện hoặc khó xử lý.
Thứ ba, công tác quản thuế của cơ quan nhà nước còn nhiều bất cập, bao gồm
cả năng lực chuyên môn của cán bộ thuế, khả năng phối hợp giữa các đơn vị, hệ
thống công nghệ thông tin hỗ trợ quản chưa hoàn thiện. Việc thanh tra, kiểm tra
thuế phần lớn vẫn mang tính thủ công, không thường xuyên chủ yếu tập trung vào
các doanh nghiệp lớn, trong khi hàng trăm nghìn doanh nghiệp nhỏ lẻ vẫn hoạt động
thiếu kiểm soát hiệu quả.
Thứ tư, ý thức chấp hành pháp luật thuế của một bộ phận doanh nghiệp còn thấp.
Một số chủ doanh nghiệp vẫn cho rằng trốn thuế hành vi "bình thường", thậm chí
10
"khôn ngoan" trong kinh doanh, miễn là chưa bị phát hiện. Việc chế tài xử phạt đôi khi
chưa đủ sức răn đe, dẫn đến tâm chủ quan, sẵn sàng đánh đổi giữa lợi ích rủi ro
vi phạm pháp luật.
Thứ năm, áp lực cạnh tranh gay gắt trên thị trường cũng yếu tố thúc đẩynh
vi trốn thuế. Trong môi trườngnhiều đối thủ kinh doanh đã đang tìm cách giảm
thiểu nghĩa vụ thuế một cách bất hợp pháp để giảm giá thành, thì một doanh nghiệp
tuân thủ nghiêm túc lại nguy bị thua thiệt về giá, dẫn đến mất thị phần. Đây
nguyên nhân khiến nhiều doanh nghiệp chọn cách “làm liều” để duy trì lợi thế cạnh
tranh.
Cuối cùng, hạn chế trong hệ thống thanh toán kiểm soát dòng tiền, đặc biệt
việc sử dụng tiền mặt trong giao dịch, khiến việc quản doanh thu thực tế của doanh
nghiệp gặp khó khăn. Các giao dịch không thông qua ngân hàng tạo điều kiện để
doanh nghiệp giấu doanh thu, không xuất hóa đơn và không kê khai thuế trung thực.
Các nguyên nhân trên cho thấy rằng việc trốn thuế của doanh nghiệp không chỉ là
vấn đề đạo đức kinh doanh, còn hệ quả của những lỗ hổng trong quản nhà
nước, sự yếu kém trong hệ thống pháp luật, áp lực từ chính môi trường cạnh tranh.
Do đó, việc khắc phục tình trạng này đòi hỏi phải có các giải pháp tổng thể và đồng bộ
từ cả phía doanh nghiệp và Nhà nước.
1.3. Thực trạng trốn thuế của các doanh nghiệp tại Việt Nam tác động của
hành vi này tới nền kinh tế quốc gia.
1.3.1. Thực trạng trốn thuế của các doanh nghiệp tại Việt Nam
Bất kỳ nơi nào thuế, nơi ấy hiện tượng trốn tránh thuế. Đặc biệt, xu thế
toàn cầu hóa hiện đại hóa đang tạo hội cho các doanh nghiệp mở rộng hội
nhập nhanh hơn vào thị trường khu vực quốc tế, khiến cho hiện tượng trốn tránh
thuế trở thành một vấn nạn cùng phức tạp mang tính toàn cầu. Việt Nam
trong những năm gần đây, các quan kiểm toán đã phát hiện hàng loạt các sai phạm
thường gặp các sắc thuế như thuế giá trị gia tăng (GTGT), thuế TNDN, thuế thu
nhập nhân (TNCN) các sắc thuế khác dẫn tới thất thu thuế lớn. thể nói, hành
vi gian lận thuế ngày càng diễn biến phức tạp, phạm vi ngày càng rộng,quy ngày
càng lớn và thủ đoạn ngày càng tinh vi.
Đối với thuế TNDN chủ yếu vi phạm những khản chi không được phép hạch
toán như quà biếu, tham quan,... Nếu như trước kia, hành vi gian lận về thuế qua giá
chỉ xuất hiện ở hàng nhập khẩu thì thời gian gần đây đã phát hiện hành vi gian lận thuế
qua giá đối với cả hàng xuất khẩu. Có những trường hợp doanh nghiệp “ẩn lậu” lên tới
cả trăm tỷ đồng. Việc thành lập doanh nghiệp để mua bán, sử dụng hóa đơn giá trị gia
tăng bất hợp pháp đang là chiêu bài làm giàu bất chính. Loại tội phạm này thường hoạt
động dưới phương thức thủ đoạn thành lập doanh nghiệp với rất nhiều ngành
11
nghề kinh doanh, thuê nhà với hợp đồng ngắn hạn làm trụ sở công ty để điều kiện
mua hóa đơn GTGT. Sau khi mua được hóa đơn, các đối tượng bỏ trốn khỏi địa chỉ
kinh doanh.
Đối với thuế GTGT, người nộp thuế thường khai sai hoặc khai thiếu thuếGTGT
đầu ra thông qua việc:
+ Không hạch toán đầy đủ, kịp thời các khoản doanh thu
+ Ghi giá bán trên hóa đơn thấp hơn giá bán thực tế
+ Không xuất hóa đơn GTGT đối với hàng hóa dùng để biếu tặng.
Những hành vi này thường xảy ra các doanh nghiệp hoạt động trong các lĩnh
vực bán lẻ thường sử dụng tiền mặt như dịch vụ ăn uống, kinh doanh nhà hàng, khách
sạn, xăng dầu, xây dựng, trang trí nội thất, kinh doanh xe gắn máy, xe điện, ô tô, xe
phục vụ công trình,…
Đồng thời, người nộp thuế thường khai tăng thuế GTGT đầu vào thông qua
việc lập chứng từ khống để hoàn thuế GTGT, mua khống hóa đơn thuế GTGT đầu vào
từ các doanh nghiệp “ma”. Hiện tượng chiếm đoạt tiền thuế này thường gặp các
doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực xuất nhập khẩu nông lâm sản.
Theo Tổng cục Thuế, nếu không tính số tiền thuế nợ đang xử (đang trình các
cấp thẩm quyền xử xóa nợ, miễn giảm, gia hạn, nộp dần tiền thuế) tiền thuế
nợ đang khiếu nại, khiếu kiện thì tổng số tiền thuế nợ tính đến thời điểm ngày
31/8/2021 là 103.446 tỷ đồng, giảm 7,1% so với cùng kỳ năm 2020, tăng 25,4% so với
thời điểm ngày 31/12/2020. Theo phân tích của Tổng cục Thuế, số nợ tiền thuế có khả
năng thu 57.917 tỷ đồng, bằng 50,8% trên tổng số tiền nợ thuế,tăng 31,5% so với
cùng kỳ năm 2020. Trong đó, các khoản nợ thuế, phí chiếm tỷtrọng 31,1%; các khoản
nợ về tiền sử dụng đất, tiền thuê đất chiếm tỷ trọng 19,7%.Số tiền phạt tiền chậm
nộp phát sinh của số nợ tiền thuế khả năng thu (tính 0,03%/ngày trên số thuế chậm
nộp) 20.716 tỷ đồng, tăng 12,9% so với cùng kỳ năm 2020, chiếm tỷ trọng 18,1%
trên tổng số tiền nợ thuế. Bên cạnh đó, số tiền thuế nợ không còn khả năng thu hồi
24.813 tỷ đồng, giảm 49,3% so với cùng kỳ năm 2020, chiếm tỷ trọng 21,7% trên tổng
số tiền nợ thuế. Số nợ thuế không còn khả năng thu giảm mạnh so với cùng kỳ 2020 là
do quan thuế các cấp thực hiện xử khoanh nợ tiền thuế, xóa nợ tiền chậm nộp
theo Nghị quyết số 94/2019/QH14 củaQuốc hội. Cũng theo Tổng cục Thuế, tính đến
ngày 31/8/2021, số tiền thuế nợ đang xử (đang trình các cấp thẩm quyền xử
xóa nợ, miễn giảm, gia hạn, nộp dần tiền thuế) 9.304 tỷ đồng, tăng 18,8% so với
cùng kỳ năm 2020, chiếm tỷ trọng 8,1% trên tổng số tiền nợ thuế. Tổng số tiền thuế nợ
đang khiếu nại, khiếu kiện 1.438 tỷ đồng, giảm 11,3% so với cùng kỳ năm 2020,
chiếm tỷ trọng 1,3% trên tổng số tiền nợ thuế.
12
Tổng cục Thuế cho biết, năm 2021 chỉ tiêu thu nợ ngành Thuế được giao thu tối
thiểu 80% nợ thuế khả năng thu tại thời điểm 31/12/2020 (tương đương 30.100 tỷ
đồng). Lũy kế tính đến thời điểm ngày 31/8/2021, ngành Thuế đã thực hiện thu nợ
thuế ước đạt 20.900 tỷ đồng, đạt 69,4% chỉ tiêu thu nợ giao; trong đó, thu bằng biện
pháp quản lý nợ14.520 tỷ đồng, thu bằng biện pháp cưỡng chế nợ là 6.380 tỷ đồng.
Trong 4 tháng cuối năm 2021, tình hình dịch bệnh dự báo vẫn diễn biến phức tạp,
vậy để phấn đấu hoàn thành nhiệm vụ được Quốc hội, Chính phủ giao, quan thuế
các cấp sẽ tập trung tiếp tục xử lý, giải quyết, thẩm định các hồ xóa nợ tiền phạt
chậm nộp, tiền chậm nộp; hướng dẫn, giải đáp và xử lý các vướng mắc về việc khoanh
nợ, xóa nợ,gia hạn, miễn tiền chậm nộp cưỡng chế nợ thuế theo quy định của Luật
Quản lý thuế số 38/2019/QH14 và Nghị quyết số 94/2019/QH14 của Quốc hội. Cụ thể,
quan Thuế các cấp sẽ tổng hợp, phân tích, đánh giá, phân loại các khoản nợ thuế,
giám sát các quan thuế thực hiện công tác quản nợ cưỡng chế nợ thuế. Báo
cáo tình hình nợ thuế, thu hồi nợ đọng thuế phục vụ họp thường kỳ Chính phủ tháng
09/2021. Tổng cục Thuế chỉ đạo cục Thuế các tỉnh, thành phố phấn đầu thu hồi nợ
đọng thuế, đặc biệt tập trung thu các khoản nợ thuế mới phát sinh dưới 90 ngày, không
để kéo dài. Đối với nợ không khả năng thu hồi, sẽ khẩn trương soát xử theo
đúng quy định tại Nghị quyết số 94/2019/QH14 của Quốc hội để xác định s khoanh
nợ, số giảm tiền phạt chậm nộp nhằm giải quyết dứt điểm, làm giảm số nợ thuế ảo;
phối hợp cùng các đơn vị liên quan đánh giá tác động từ việc triển khai các gói chính
sách giảm thuế đang trình Ủy ban Thường vụ Quốc hội...
1.3.2. Tác động của hành vi này đến nền kinh tế quốc gia
Thất thu ngân sách nhà nước: Hành vi trốn thuế gây thất thu lớn cho ngân sách
nhà nước, ảnh hưởng trực tiếp đến các nguồn lực tài chính cho phát triển kinh tế -
hội. Thuế nguồn thu chủ yếu của nhà nước để chi tiêu cho các lĩnh vực quan trọng
như giáo dục, y tế, quốc phòng,… Vậy nên, khi doanh nghiệp không thực hiện đúng
nghĩa vụ thuế, số tiền đáng lẽ phải được nộp vào ngân sách nhà nước lại bị mất đi,
khiến nhà nước có thể thiếu hụt tài chính để duy trì và phát triển các dịch vụ công. Bên
cạnh đó, hành vi trốn thuế khiến quan chức năng phải tốn thêm chi phí nguồn
lực để thanh tra, kiểm tra giám sát các doanh nghiệp, từ đó làm tăng gánh nặng quản lí.
Môi trường kinh doanh thiếu công bằng: Trốn thuế tạo ra sự cạnh tranh không
lành mạnh, gây bất bình đẳng giữa các doanh nghiệp tuân thủ không tuân thủ pháp
luật về thuế. Những đơn vị trốn thuế có thể giảm đáng kể chi phí hoạt động, từ đó tăng
lợi nhuận hoặc hạ giá bán sản phẩm, dịch vụ để thu hút khách hàng. Trong khi đó, các
doanh nghiệp chấp hành nghiêm túc nghĩa vụ thuế lại phải gánh chịu mức chi phí cao
hơn, dẫn đến khó cạnh tranh trên thị trường. Sự chênh lệch này tạo ra bất bình đẳng
13
giữa các chủ thể kinh doanh, làm giảm động lực tuân thủ pháp luật thể dẫn đến
hiện tượng doanh nghiệp "chạy theo" hành vi sai trái để tồn tại. Điều này gây ra sự bất
bình đẳng nghiêm trọng, khiến các doanh nghiệp làm ăn chân chính gặp khó khăn
trong việc cạnh tranh, nhiều công ty nhỏ rơi vào tình trạng phá sản hoặc phải cắt giảm
nhân sự.
Ảnh hưởng đến uy tín quốc gia: Tình trạng trốn thuế làm giảm niềm tin của các
nhà đầu nước ngoài, ảnh hưởng đến môi trường đầu tư và uy tín của Việt Nam trên
trường quốc tế. Việc trốn thuế không chỉ gây thiệt hại về mặt kinh tế còn ảnh
hưởng nghiêm trọng đến uy tín của quốc gia trên trường quốc tế. Một quốc gia có tỷ lệ
trốn thuế cao thường bị đánh giá hệ thống pháp luật chưa nghiêm minh, chế
quản lỏng lẻo môi trường kinh doanh thiếu minh bạch. Điều này khiến các nhà
đầu tư nước ngoài e ngại khi cân nhắc rót vốn, do lo ngại rủi ro pháp lý và tính ổn định
của thị trường. Bên cạnh đó, trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế sâu rộng,
các tổ chức quốc tế như Ngân hàng Thế giới (WB), Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) hay Tổ
chức Hợp tác Phát triển Kinh tế (OECD) thường căn cứ vào tính minh bạch tài
chính ng lực quản thuế để đánh giá năng lực quản trị quốc gia. Nếu không
kiểm soát tốt tình trạng trốn thuế, quốc gia đó thể mất điểm trong mắt cộng đồng
quốc tế, ảnh hưởng đến khả năng hợp tác, vay vốn thu hút nguồn lực phát triển
trong tương lai.
Như vậy, hành vi trốn thuế này không chỉ gây thất thu lớn cho ngân sách Nhà
nước còn ảnh hưởng đến môi trường kinh doanh, tạo ra sự bất bình đẳng giữa các
doanh nghiệp, tác động tiêu cực đến uy tín quốc gia trong mắt các nhà đầu quốc
tế. Việc thiếu minh bạch trong công tác thuế có thể làm giảm khả năng thu hút vốn đầu
tư lâu dài và ảnh hưởng đến sự phát triển bền vững của nền kinh tế Việt Nam.
14
CHƯƠNG II: VẬN DỤNG VÀO DOANH NGHIỆP TẠI VIỆT NAM – TẬP
ĐOÀN VẠN THỊNH PHÁT
2.1. Tổng quan về Tập đoàn Vạn Thịnh Phát
2.2. Hành vi trốn thuế của Tập đoàn Vạn Thịnh Phát
2.3. Những hệ lụy của hành vi trốn thuế của Tập đoàn Vạn Thịnh Phát
15
CHƯƠNG III: GIẢI PHÁP VÀ ĐỊNH HƯỚNG NHẰM HẠN CHẾ TÌNH
TRẠNG TRỐN THUẾ CỦA DOANH NGHIỆP TẠI VIỆT NAM
3.1. Những hạn chế còn tồn đọng
Trong những năm gần đây, hệ thống thuế tại Việt Nam đã nhiều bước cải tiến
đáng kể, đặc biệt là trong việc áp dụng công nghệ số vào quản lý và khai báo thuế. Tuy
nhiên, bên cạnh những điểm sáng, vẫn còn tồn tại không ít hạn chế nghiêm trọng, đặc
biệt trong công tác giám sát, xử hành vi gian lận thuế tính ổn định của chính
sách thuế. Những bất cập này không chỉ ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả thu ngân
sách nhà nước mà còn tạo ra sự bất công giữa các doanh nghiệp trong cùng môi trường
kinh doanh.
Một là, hệ thống quản thuế thiếu đồng bộ, thay đổi liên tục. Mặc Tổng
cục Thuế đã triển khai nhiều hệ thống như eTax, eInvoice để hiện đại hóa việc quản lý,
nhưng hệ thống vẫn thiếu đồng bộ giữa các cấp (trung ương địa phương), gây ra sự
chồng chéo rối rắm. Đặc biệt, chính sách thuế thường xuyên thay đổi trong thời
gian ngắn khiến doanh nghiệp khó theo kịp.
Ví dụ: Chỉ trong vòng 2 năm (2022–2023), hàng loạt quy định liên quan đến thuế
giá trị gia tăng (GTGT) đã thay đổi. Chính sách giảm thuế GTGT từ 10% xuống còn
8% theo Nghị quyết 43/2022/QH15 sau đó tiếp tục được gia hạn trong năm 2023
theo Nghị quyết 101/2023/QH15. Việc này khiến doanh nghiệp phải liên tục điều
chỉnh hệ thống kế toán phần mềm hóa đơn điện tử, dẫn đến rủi ro sai sót mất
thời gian xử lý.
Hai là, khung pháp lý chưa rõ ràng, dễ bị lợi dụng. Một vấn đề lớn khác là tính
thiếu ràng, chưa nhất quán của hệ thống pháp luật thuế. Nhiều văn bản hướng dẫn
chồng chéo, mâu thuẫn hoặc không đủ chi tiết khiến doanh nghiệp dễ hiểu sai hoặc cố
tình diễn giải theo hướng có lợi để tránh thuế.
dụ: Theo khảo sát của VCCI năm 2023, đến 42% doanh nghiệp phản ánh
rằng họ gặp khó khăn trong việc hiểu áp dụng các quy định pháp luật thuế do văn
bản không rõ ràng hoặc thiếu hướng dẫn chi tiết từ cơ quan chức năng.
Ba là, công tác giám sát, kiểm tra còn yếu. công nghệ đã được ứng dụng
trong một số khâu quản lý, nhưng lực lượng kiểm tra thuế vẫn còn mỏng phương
pháp giám sát chưa hiệu quả. Đặc biệt đối với các doanh nghiệpgiao dịch xuyên
16
biên giới nơi các hành vi chuyển giá, lợi dụng công ty “ma” nước ngoài để trốn
thuế vẫn diễn ra phức tạp.
Ví dụ: Theo báo cáo kiểm toán năm 2023, có tới 17/50 doanh nghiệp FDI tại Việt
Nam được kiểm tra có dấu hiệu chuyển giá, tổng số thuế bị truy thu hơn 1.200 tỷ đồng.
Tuy nhiên, đây chỉ là phần nhỏ vì phần lớn các hành vi gian lận phức tạp hơn vẫn chưa
được phát hiện.
Bốn là, nhận thức đào tạo về thuế còn yếu. Nhiều doanh nghiệp, đặc biệt
doanh nghiệp nhỏ siêu nhỏ, chưa đủ kiến thức về thuế để thực hiện đúng đầy
đủ nghĩa vụ. Đồng thời, đội ngũ cán bộ thuế cũng chưa được đào tạo bài bản, dẫn đến
việc giải thích và xử lý các tình huống thực tế còn thiếu nhất quán.
dụ: Theo thống của Tổng cục Thuế, gần 60% doanh nghiệp nhỏ vừa tại
Việt Nam không nhân sự chuyên trách về thuế, dẫn đến việc nộp sai hồ sơ, khai
chậm hoặc không hiểu hết các quyền lợi được miễn giảm.
Năm là, tác động từ tình hình kinh tế thay đổi chính sách thuế. Bối cảnh
kinh tế khó khăn sau đại dịch Covid-19 khiến nhiều doanh nghiệp lâm vào cảnh thiếu
hụt dòng tiền, trong khi vẫn phải gánh thêm nghĩa vụ thuế với các chính sách thay đổi
bất ngờ. Điều này buộc một số doanh nghiệp tìm cách trì hoãn hoặc lách thuế để tồn
tại.
dụ: Việc gia hạn nộp thuế tiền thuê đất theo Nghị định 12/2023/NĐ-CP đã
giúp nhiều doanh nghiệp vượt qua giai đoạn khó khăn, nhưng đồng thời cũng cho thấy
sự cần thiết của việc xây dựng chính sách ổn định dự báo trước. Tuy nhiên,
chính sách này lại chỉ áp dụng cho một số ngành nghề cụ thể, gây ra cảm giác bất công
với các doanh nghiệp không thuộc diện được hỗ trợ.
3.2. Đề xuất phương hướng kiểm soát hành vi gian lận thuế của doanh nghiệp
3.2.1. Hoàn thiện khuôn khổ pháp lý
Một trong những yếu tố then chốt để kiểm soát hiệu quả hành vi gian lận thuế
của doanh nghiệp việc xây dựng một khuôn khổ pháp vững chắc, toàn diện
không chứa các kẽ hở có thể bị lợi dụng. Việc rà soát và sửa đổi hệ thống luật thuế cần
được tiến hành thường xuyên để đảm bảo tính cập nhật phù hợp với bối cảnh kinh
tế đang thay đổi nhanh chóng. Các cơ quan chức năng cần tập trung vào việc xác định
đóng lại những lỗ hổng pháp thường bị doanh nghiệp lợi dụng để thực hiện hành
17
vi gian lận. Đặc biệt, cần những quy định ràng về giao dịch liên kết chuyển
giá - những lĩnh vực phức tạp và dễ bị lợi dụng để chuyển lợi nhuận và trốn thuế.
Bên cạnh đó, việc ban hành các quy định chống lạm dụng hiệp định thuế một
biện pháp quan trọng để ngăn chặn các doanh nghiệp lợi dụng các hiệp định tránh
đánh thuế hai lần nhằm mục đích trốn tránh nghĩa vụ thuế. Khuôn khổ pháp hoàn
thiện cũng phải đi kèm với các chế tài xử phạt đủ mạnh để tạo tính răn đe. Cần nâng
cao mức phạt đối với các vi phạm tính chất nghiêm trọng áp dụng trách nhiệm
hình sự đối với những trường hợp gian lận thuế quy lớn, tổ chức. Việc công
khai danh tính doanh nghiệp vi phạm trên các phương tiện thông tin đại chúng cũng
một biện pháp hiệu quả, không chỉ gây áp lực về hình ảnh uy tín đối với doanh
nghiệp mà còn có tác dụng răn đe đối với các doanh nghiệp khác.
Một hướng tiếp cận mới trong việc phát hiện gian lận thuế xây dựng chính
sách khuyến khích tố giác. Thiết lập cơ chế bảo vệ người tố giác (whistleblower) sẽ tạo
điều kiện cho người lao động trong doanh nghiệp cung cấp thông tin về hành vi gian
lận thuế không lo ngại về các hậu quả tiêu cực thể xảy ra với bản thân. Các quy
định về thưởng cho người cung cấp thông tin về gian lận thuế cũng một động lực
khuyến khích sự tham gia của cộng đồng vào công tác phòng chống gian lận. Đồng
thời, cần xây dựng các kênh tiếp nhận thông tin an toàn bảo mật để đảm bảo người
tố giác không bị lộ danh tính.
3.2.2. Áp dụng công nghệ trong phát triển và ngăn chặn gian luận
Trong bối cảnh chuyển đổi s cách mạng công nghiệp 4.0, việc ứng dụng
công nghệ tiên tiến trong công tác quản thuế nói chung kiểm soát gian lận thuế
nói riêng đang trở thành xu hướng tất yếu. Phát triển hệ thống phân tích dữ liệu lớn
(Big Data) một trong những giải pháp mang tính đột phá. quan thuế cần xây
dựng một hệ thống dữ liệu tập trung, tích hợp thông tin từ nhiều nguồn khác nhau như
ngân hàng, hải quan, đăng kinh doanh, bảo hiểm hội... nhằm cái nhìn toàn
diện về hoạt động kinh tế của doanh nghiệp. Dựa trên kho dữ liệu này, các thuật toán
học máy (Machine Learning) và trí tuệ nhân tạo (AI) có thể được áp dụng để phát hiện
các mẫu gian lận, nhận diện những bất thường trong khai thuế hoặc trong chuỗi
giao dịch của doanh nghiệp.
Việc triển khai toàn diện hệ thống hóa đơn điện tử một biện pháp then chốt
để ngăn chặn gian lận thuế, đặc biệt là gian lận thuế giá trị gia tăng. Hệ thống hóa đơn
điện tử không chỉ giúp giảm chi phí tuân thủ cho doanh nghiệp còn tạo ra một
sở dữ liệu quý giá cho quan thuế. Thông qua việc mở rộng phạm vi áp dụng hóa
đơn điện tử đến mọi loại hình doanh nghiệp tích hợp hệ thống này với hệ thống
18
khai thuế, quan quản thể thực hiện việc đối chiếu tự động giữa hóa đơn đầu
vào đầu ra, từ đó phát hiện nhanh chóng các trường hợp sử dụng hóa đơn bất hợp
pháp hoặc kê khai sai lệch.
Công nghệ blockchain cũng đang được xem xét như một giải pháp đầy tiềm
năng trong quản thuế. Với đặc tính bất biến minh bạch, blockchain thể được
ứng dụng để xây dựng một hệ thống theo dõi giao dịch an toàn, không thể sửa đổi. Cơ
sở dữ liệu về giao dịch kinh tế dựa trên blockchain sẽ giúp đảm bảo tính xác thực của
thông tin và khó thể bị can thiệp hoặc giả mạo. Hơn nữa, các hợp đồng thông minh
(smart contracts) trên nền tảng blockchain thể tự động hóa quá trình đối chiếu
xác minh thông tin, giảm thiểu sự can thiệp của con người và nguy cơ sai sót.
3.2.3. Nâng cao năng lực thanh tra và kiểm tra thuế
Mặc công nghệ đóng vai trò quan trọng, nhưng yếu tố con người vẫn
trung tâm trong công tác kiểm soát gian lận thuế. Việc nâng cao năng lực của đội ngũ
thanh tra thuế một nhiệm vụ trọng tâm lâu dài. Trước hết, cần đổi mới phương
pháp lựa chọn đối tượng thanh tra theo hướng dựa trên phân tích rủi ro. Thay thực
hiện thanh tra theo chu kỳ hoặc chọn ngẫu nhiên, quan thuế nên áp dụng các
hình đánh giá rủi ro dựa trên dữ liệu để xác định những doanh nghiệp có khả năng gian
lận cao. Việc tập trung nguồn lực thanh tra o các ngành doanh nghiệp rủi ro
cao sẽ giúp tăng hiệu quả phát hiện vi phạm và tiết kiệm nguồn lực.
Bên cạnh đó, cần thúc đẩy phối hợp thanh tra đa ngành giữa các quan như
thuế, hải quan, ngân hàng để có cái nhìn tổng thể về hoạt động của doanh nghiệp
phát hiện các hành vi gian lận phức tạp. Đội ngũ thanh tra thuế cần được đào tạo
chuyên sâu về các kỹ thuật gian lận mới xuất hiện, đặc biệt trong môi trường kinh
doanh số. Họ cần được trang bị kiến thức toàn diện về tài chính, kế toán quốc tế
chuyển giá để có thể xử lý hiệu quả các trường hợp gian lận xuyên biên giới. Ngoài ra,
việc xây dựng đội ngũ chuyên gia phân tích dữ liệu trong quan thuế cần thiết để
khai thác hiệu quả lượng thông tin lớn từ các hệ thống công nghệ.
Trong bối cảnh toàn cầu hóa, việc tăng cường hợp tác quốc tế trong lĩnh vực
thuế một xu hướng tất yếu. Các quốc gia cần tham gia tích cực vào các hiệp định
trao đổi thông tin thuế quốc tế thúc đẩy hợp tác với các quan thuế nước ngoài
trong điều tra gian lận xuyên biên giới. Việc áp dụng các chuẩn mực báo cáo tài chính
quốc tế cũng góp phần tạo ra một sân chơi bình đẳng và minh bạch, giúp giảm thiểu cơ
hội gian lận thuế của các tập đoàn đa quốc gia.
3.2.4. Thúc đẩy tuân thủ tự nguyện
Bên cạnh các biện pháp mang tính răn đe kiểm soát, việc thúc đẩy tuân thủ
tự nguyện từ phía doanh nghiệp một chiến lược dài hạn bền vững. Cải cách thủ
tục hành chính thuế theo hướng đơn giản hóa, minh bạch bước đi đầu tiên quan
19
trọng. quan thuế cần đơn giản hóa quy trình khai nộp thuế, giảm thiểu thời
gian và chi phí tuân thủ cho doanh nghiệp. Hướng dẫn về thuế cần được cung cấp một
cách ràng, dễ hiểu dễ tiếp cận thông qua nhiều nh khác nhau. Đặc biệt, việc
thiết lập các dịch vụ vấn thuế miễn phí cho doanh nghiệp nhỏ vừa sẽ giúp họ
tuân thủ đúng quy định mà không phải chịu gánh nặng chi phí tư vấn.
Xây dựng các chương trình tuân thủ hợp tác giữa cơ quan thuế và doanh nghiệp
một hướng tiếp cận hiệu quả. Thông qua các chế tuân thủ tự nguyện ưu đãi,
doanh nghiệp được khuyến khích chủ động khai đầy đủchính xác nghĩa vụ thuế
của mình để đổi lấy những lợi ích như giảm tần suất thanh tra hoặc được ưu tiên trong
các thủ tục hành chính. Các chương trình hòa giải tranh chấp thuế cũng cần được áp
dụng rộng rãi để giải quyết nhanh chóng hiệu quả các bất đồng giữa quan thuế
người nộp thuế, tránh việc kéo dài tranh chấp gây tốn kém thời gian nguồn lực
cho cả hai bên.
Đồng thời, cần xây dựng các kênh đối thoại thường xuyên giữa cơ quan thuế và
cộng đồng doanh nghiệp để lắng nghe phản hồi, giải đáp thắc mắc thu thập ý kiến
đóng góp cho việc hoàn thiện chính sách thuế. Nâng cao nhận thức về tuân thủ thuế
trong cộng đồng doanh nghiệp xã hội nói chung một nhiệm vụ quan trọng lâu
dài. Các chiến dịch truyền thông về vai trò đóng góp của thuế đối với sự phát triển
của đất nước cần được tổ chức thường xuyên. Việc giáo dục về đạo đức kinh doanh và
trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp nên được đưa vào chương trình đào tạo trong các
trường đại học và các khóa bồi dưỡng doanh nhân.
Cuối cùng, sự công khai minh bạch trong việc sử dụng nguồn thu thuế là yếu tố
then chốt để xây dựng niềm tin của người dân và doanh nghiệp vào hệ thống thuế. Khi
người nộp thuế thấy được đóng góp của họ được sử dụng hiệu quả cho các mục tiêu
phát triển kinh tế - xã hội, họ sẽ có động lực mạnh mẽ hơn để tuân thủ đầy đủ nghĩa vụ
thuế của mình.
20

Preview text:

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI
MÔN: NHẬP MÔN TÀI CHÍNH TIỀN TỆ _____________________ ĐỀ TÀI:
THỰC TRẠNG TRỐN THUẾ CỦA CÁC DOANH NGHIỆP
TẠI VIỆT NAM – NGHIÊN CỨU TRƯỜNG HỢP TẬP ĐOÀN VẠN
THỊNH PHÁT VÀ ĐỀ XUẤT CÁC GIẢI PHÁP Nhóm thực hiện: 08
Giảng viên hướng dẫn: Nguyễn Thùy Linh
Mã lớp học phần: 242_EFIN2811_13 Hà Nội – 2025 2
DANH SÁCH THÀNH VIÊN NHÓM 8 STT Họ và tên Nhiệm vụ Đánh giá 71 Trần Ngọc Ly Nội dung 72 Lê Thị Ngọc Mai Soạn thảo 73 Nguyễn Thị Ngọc Mai Nội dung 74 Nguyễn Thị Tú Mai Nội dung 75 Lê Đức Mạnh Nội dung 76 Mai Ngọc Minh Nhóm trưởng 77 Nguyễn Đức Hải Minh Nội dung 78 Nguyễn Đức Quang Minh Nội dung 79 Trần Đình Minh Nội dung 80 Dương Thị Trà My Thiết kế PPT 3 MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU...........................................................................................................4
CHƯƠNG I: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN.................................................5 1.1.
Một số khái niệm về thuế.............................................................................................5
1.1.1. Khái niệm về thuế......................................................................................5
1.1.2. Hệ thống thuế tại Việt Nam........................................................................5
1.1.3. Phân loại thuế................................................................................................................5 1.2.
Hành vi trốn thuế và gian lận thuế của doanh nghiệp..............................................6
1.2.1. Khái niệm trốn thuế...................................................................................6
1.2.2. Các hành vi trốn thuế.................................................................................7
1.2.3. Nguyên nhân chủ yếu dẫn đến hành vi trốn thuế của doanh nghiệp..........8
1.3. Thực trạng trốn thuế của các doanh nghiệp tại Việt Nam và tác động của hành vi
này tới nền kinh tế quốc gia....................................................................................................9
1.3.1. Thực trạng trốn thuế của các doanh nghiệp tại Việt Nam..........................9
1.3.2. Tác động của hành vi này đến nền kinh tế quốc gia.................................11
CHƯƠNG II: VẬN DỤNG VÀO DOANH NGHIỆP TẠI VIỆT NAM – TẬP ĐOÀN
VẠN THỊNH PHÁT....................................................................................................13
2.1. Tổng quan về Tập đoàn Vạn Thịnh Phát............................................................13
2.2. Hành vi trốn thuế của Tập đoàn Vạn Thịnh Phát...............................................13
2.3. Những hệ lụy của hành vi trốn thuế của Tập đoàn Vạn Thịnh Phát...................13
CHƯƠNG III: GIẢI PHÁP VÀ ĐỊNH HƯỚNG NHẰM HẠN CHẾ TÌNH TRẠNG
TRỐN THUẾ CỦA DOANH NGHIỆP TẠI VIỆT NAM............................................14 3.1.
Những hạn chế còn tồn đọng.....................................................................................14 3.2.
Đề xuất phương hướng kiểm soát hành vi gian lận thuế của doanh nghiệp........15
3.2.1. Hoàn thiện khuôn khổ pháp lý.................................................................15
3.2.2. Áp dụng công nghệ trong phát triển và ngăn chặn gian luận...................16
3.2.3. Nâng cao năng lực thanh tra và kiểm tra thuế..........................................17
3.2.4. Thúc đẩy tuân thủ tự nguyện....................................................................17
PHẦN KẾT LUẬN......................................................................................................19
Tài liệu tham khảo.......................................................................................................20 4 5 PHẦN MỞ ĐẦU
Thuế đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển của nền kinh tế, là nguồn thu
chính để nhà nước thực hiện các chức năng điều tiết vĩ mô, đầu tư cơ sở hạ tầng, phát
triển an sinh xã hội và duy trì hoạt động bộ máy công quyền. Một hệ thống thuế công
bằng, minh bạch và hiệu quả không chỉ đảm bảo nguồn thu ngân sách mà còn góp
phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế bền vững, nâng cao niềm tin của doanh nghiệp và
người dân vào chính sách tài chính quốc gia. Tuy nhiên, tình trạng trốn thuế của các
doanh nghiệp tại Việt Nam vẫn là vấn đề nhức nhối, gây ra nhiều hệ lụy nghiêm trọng.
Các hình thức trốn thuế ngày càng tinh vi và đa dạng, từ việc khai gian doanh thu, lập
công ty ma để hợp thức hóa các giao dịch giả mạo, lợi dụng các chính sách ưu đãi thuế
đến việc chuyển lợi nhuận ra nước ngoài để né tránh nghĩa vụ tài chính. Không chỉ làm
thất thoát nguồn thu nhà nước, trốn thuế còn tạo ra sự cạnh tranh không lành mạnh
giữa các doanh nghiệp, khiến những doanh nghiệp tuân thủ pháp luật gặp bất lợi so với
những doanh nghiệp cố tình vi phạm. Nguyên nhân của tình trạng này đến từ nhiều
yếu tố khác nhau. Một phần do hệ thống pháp lý về thuế vẫn còn tồn tại kẽ hở, các quy
định chưa theo kịp thực tiễn kinh doanh, đặc biệt trong bối cảnh nền kinh tế số và hội
nhập quốc tế ngày càng sâu rộng. Bên cạnh đó, công tác quản lý thuế của cơ quan chức
năng còn gặp nhiều thách thức, từ nguồn nhân lực hạn chế, công nghệ giám sát chưa
đủ hiện đại cho đến các vấn đề về đạo đức công vụ trong quá trình kiểm tra, thanh tra
thuế. Xuất phát từ thực tế này, đề tài nghiên cứu nhằm làm rõ các phương thức trốn
thuế phổ biến của doanh nghiệp tại Việt Nam, đánh giá mức độ ảnh hưởng của chúng
đối với nền kinh tế và ngân sách nhà nước. Đồng thời, đề tài cũng tập trung phân tích
những hạn chế trong cơ chế kiểm soát thuế hiện nay và đề xuất các giải pháp nhằm
nâng cao hiệu quả quản lý, từ việc hoàn thiện chính sách pháp luật, ứng dụng công
nghệ hiện đại đến việc nâng cao trách nhiệm và đạo đức kinh doanh của doanh nghiệp.
Hy vọng rằng những đóng góp từ nghiên cứu này sẽ góp phần giúp các cơ quan chức
năng và doanh nghiệp có cái nhìn toàn diện hơn về vấn đề trốn thuế, từ đó thúc đẩy
môi trường kinh doanh minh bạch, công bằng và bền vững hơn. 6
CHƯƠNG I: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN
1.1. Một số khái niệm về thuế
1.1.1. Khái niệm về thuế

Thuế là một khoản tiền bắt buộc phải trả cho một tổ chức chính phủ để tài trợ cho
các khoản chi tiêu công khác nhau. Thuế có thể được áp dụng trực tiếp hoặc gián tiếp
và có thể được trả bằng tiền hoặc tương đương với giá trị lao động của nó.
Thuế được hình thành từ thời cổ đại và có vai trò quan trọng trong việc duy trì
quyền lực chính trị và thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước. Thuế cũng là
công cụ để điều chỉnh các mục tiêu kinh tế vĩ mô và phân phối lại thu nhập xã hội.
1.1.2. Hệ thống thuế tại Việt Nam
Hệ thống thuế Việt Nam có 14 loại thuế và tương đương thuế:
i) Thuế thu nhập doanh nghiệp
ii) Thuế thu nhập doanh nghiệp trong giao dịch liên kết
iii) Thuế nhà thầu nước ngoài
iv) Thuế chuyển nhượng vốn v) Thuế giá trị gi tăng
vi) Thuế tiêu thụ đặc biệt vii) Thuế tài nguyên
viii) Thuế bất động sản
ix) Thuế bảo vệ môi trường x) Thuế thu nhập cá nhân xi) Thuế môn bài
xii) Thuế xuất nhập khẩu
xiii) Các loại lệ phí xem như thuế là: phí trước bạ, phí đăng kiểm, phí xăng dầu, tiền sử dụng đất.
xiv) Các khoản nộp bảo hiểm bắt buộc của doanh nghiệp. Nội dung này thì trong kế
toán nội bộ cũng xem tương đương nộp thuế.
1.1.3. Phân loại thuế
Hệ thống thuế của mỗi nước thường bao gồm nhiều loại thuế khácnhau, song có
thể phân loại thuế theo các tiêu thức cơ bản sau:
-Căn cứ vào tính chất điều tiết và chuyển giao của thuế, hệ thốngthuế được chia thành hai loại:
+ Thuế trực thu: Là loại thuế đánh trực tiếp vào thu nhập của người chịu thuế.
Trong sắc thuế này người nộp thuế cũng đồng thời là người chịu thuế. Ví dụ như thuế 7
thu nhập doanh nghiệp, thuế thu nhập cá nhân.Ở đây, không có hiện tượng chuyển giao
số tiền thuế cho người khác chịu
+Thuế gián thu: Là loại thuế đánh vào người tiêu dùng thông qua giá cả hàng
hoá và dịch vụ. Đối với thuế gián thu người nộp thuế và người chịu thuế là hai chủ thể
khác nhau. Đặc điểm cơ bản của thuế gián thu là nó thường là bộ phận cấu thành hay
gắn liền với giá cả hàng hóa dịch vụ bán ra, cho nên số thuế mà người bán nộp cho
Nhà nước được chuyển giao sang người mua hay người tiêu dùng phải chịu thông qua
cơ chế giá cả. Ví dụ như thuế giá trị gia tăng, thuế tiêu thụ đặc biệt,...
-Căn cứ vào đối tượng đánh thuế, các loại thuế bao gồm:
+Thuế tiêu dùng
: Là loại thuế đánh vào hàng hóa, dịch vụ lưu thông trên thị
trường như thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu, thuế giá trị gia tăng,...
+Thuế thu nhập: Là thuế đánh vào thu nhập của các chủ thể như thuế thu nhập
doanh nghiệp, thuế thu nhập cá nhân.
+Thuế tài sản: Là thuế đánh vào việc khai thác, sử dụng hay chuyển nhượng tài
sản như thuế tài nguyên, thuế sử dụng đất nông nghiệp, thuế chuyển giao quyền sử dụng đất,...
1.2. Hành vi trốn thuế và gian lận thuế của doanh nghiệp
1.2.1. Khái niệm trốn thuế

Trốn thuế là hành vi của cá nhân hoặc tổ chức thực hiện các phương thức trái
pháp luật nhằm giảm số tiền thuế phải nộp theo quy định hoặc trốn tránh nghĩa vụ
đóng thuế. Theo khoản 1 Điều 200 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017),
các hành vi trốn thuế phổ biến bao gồm: không nộp hồ sơ đăng ký thuế hoặc hồ sơ
khai thuế; nộp hồ sơ chậm hơn 90 ngày kể từ ngày hết hạn; không ghi chép các khoản
thu trong sổ kế toán; không xuất hóa đơn khi bán hàng hoặc ghi thấp hơn giá trị thực
tế; sử dụng hóa đơn, chứng từ không hợp pháp để hạch toán chi phí đầu vào nhằm
giảm số thuế phải nộp hoặc làm tăng số thuế được hoàn, miễn, giảm; khai sai thông tin
về hàng hóa xuất nhập khẩu mà không khai bổ sung hồ sơ khai thuế; cố ý không khai
hoặc khai sai về thuế, và sử dụng hàng hóa thuộc diện miễn thuế không đúng mục đích
mà không khai báo lại với cơ quan thuế. Những hành vi này không chỉ gây thiệt hại
cho ngân sách nhà nước mà còn tạo ra sự bất công trong môi trường kinh doanh. Trốn
thuế có thể bắt nguồn từ nhiều nguyên nhân như: mức thuế suất cao gây áp lực cho
doanh nghiệp, hệ thống pháp luật còn tồn tại kẽ hở, năng lực giám sát của cơ quan thuế
còn hạn chế, ý thức tuân thủ pháp luật về thuế của một bộ phận doanh nghiệp còn thấp,
và sự cạnh tranh thiếu lành mạnh trên thị trường. Việc nhận diện rõ các hành vi trốn
thuế và nguyên nhân phát sinh là bước quan trọng giúp cơ quan nhà nước có giải pháp
kiểm soát hiệu quả và xây dựng môi trường kinh doanh minh bạch, công bằng. 8
Phân biệt giữa hành vi trốn thuế và tránh thuế: Trốn thuế và tránh thuế là hai
khái niệm thường xuyên được nhắc đến trong lĩnh vực thuế, nhưng mang bản chất
pháp lý hoàn toàn khác nhau. Trốn thuế là hành vi cố tình vi phạm pháp luật thuế
nhằm giảm hoặc né tránh nghĩa vụ nộp thuế cho Nhà nước. Các doanh nghiệp trốn
thuế thường thực hiện các hành vi như không kê khai hoặc kê khai không trung thực
các khoản thu nhập, sử dụng hóa đơn chứng từ giả, khai khống chi phí hoặc không
xuất hóa đơn khi bán hàng hóa, cung cấp dịch vụ. Đây là hành vi bị cấm và sẽ bị xử
phạt hành chính, thậm chí có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự nếu số tiền trốn thuế
lớn hoặc tái phạm. Trong khi đó, tránh thuế là việc doanh nghiệp tận dụng một cách
hợp pháp các quy định của pháp luật thuế để giảm số thuế phải nộp. Việc này có thể
được thực hiện thông qua các hình thức như lựa chọn địa điểm đầu tư để được hưởng
ưu đãi thuế, áp dụng các khoản miễn giảm đúng quy định, hoặc tổ chức hoạt động kinh
doanh theo phương thức hiệu quả về thuế. Tránh thuế không vi phạm pháp luật và là
hành vi được chấp nhận trong khuôn khổ pháp lý.
1.2.2. Các hành vi trốn thuế
Theo Điều 143 Luật Quản lý thuế 2019 quy định những hành vi trốn thuế như sau:
- Không nộp hồ sơ đăng ký thuế; không nộp hồ sơ khai thuế; nộp hồ sơ khai thuế
sau 90 ngày kể từ ngày hết thời hạn nộp hồ sơ khai thuế hoặc ngày hết thời hạn gia hạn
nộp hồ sơ khai thuế theo quy định của Luật Quản lý thuế 2019.
- Không ghi chép trong sổ kế toán các khoản thu liên quan đến việc xác định số tiền thuế phải nộp.
- Không xuất hóa đơn khi bán hàng hóa, dịch vụ theo quy định của pháp luật
hoặc ghi giá trị trên hóa đơn bán hàng thấp hơn giá trị thanh toán thực tế của hàng hóa, dịch vụ đã bán.
- Sử dụng hóa đơn, chứng từ không hợp pháp, sử dụng không hợp pháp hóa đơn
để hạch toán hàng hóa, nguyên liệu đầu vào trong hoạt động phát sinh nghĩa vụ thuế
làm giảm số tiền thuế phải nộp hoặc làm tăng số tiền thuế được miễn, số tiền thuế
được giảm hoặc tăng số tiền thuế được khấu trừ, số tiền thuế được hoàn, số tiền thuế không phải nộp.
- Sử dụng chứng từ, tài liệu không phản ánh đúng bản chất giao dịch hoặc giá trị
giao dịch thực tế để xác định sai số tiền thuế phải nộp, số tiền thuế được miễn, số tiền
thuế được giảm, số tiền thuế được hoàn, số tiền thuế không phải nộp.
- Khai sai với thực tế hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu mà không khai bổ sung hồ
sơ khai thuế sau khi hàng hóa đã được thông quan.
- Cố ý không kê khai hoặc khai sai về thuế đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu. 9
- Cấu kết với người gửi hàng để nhập khẩu hàng hóa nhằm mục đích trốn thuế.
- Sử dụng hàng hóa thuộc đối tượng không chịu thuế, miễn thuế, xét miễn thuế
không đúng mục đích quy định mà không khai báo việc chuyển đổi mục đích sử dụng
với cơ quan quản lý thuế.
- Người nộp thuế có hoạt động kinh doanh trong thời gian ngừng, tạm ngừng
hoạt động kinh doanh nhưng không thông báo với cơ quan quản lý thuế.
- Người nộp thuế không bị xử phạt về hành vi trốn thuế mà bị xử phạt hành vi vi
phạm thủ tục thuế đối với trường hợp sau đây:
+ Không nộp hồ sơ đăng ký thuế, không nộp hồ sơ khai thuế, nộp hồ sơ khai thuế
sau 90 ngày nhưng không phát sinh số tiền thuế phải nộp;
+ Nộp hồ sơ khai thuế sau 90 ngày có phát sinh số tiền thuế phải nộp và người
nộp thuế đã nộp đủ số tiền thuế, tiền chậm nộp vào ngân sách nhà nước trước
thời điểm cơ quan thuế công bố quyết định kiểm tra thuế, thanh tra thuế hoặc
trước thời điểm cơ quan thuế lập biên bản về hành vi chậm nộp hồ sơ khai thuế.
1.2.3. Nguyên nhân chủ yếu dẫn đến hành vi trốn thuế của doanh nghiệp
Hành vi trốn thuế của doanh nghiệp không đơn thuần chỉ bắt nguồn từ ý đồ vi
phạm pháp luật mà còn chịu ảnh hưởng từ nhiều nguyên nhân khách quan và chủ quan
trong thực tế. Những nguyên nhân chính có thể được phân tích như sau:
Thứ nhất, mức thuế suất cao và hệ thống thuế còn phức tạp là một trong những lý
do hàng đầu khiến doanh nghiệp tìm cách lách luật để giảm gánh nặng tài chính. Khi
thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế giá trị gia tăng hay các loại thuế khác được áp dụng
với tỷ lệ cao trong khi lợi nhuận kinh doanh không ổn định, nhiều doanh nghiệp, đặc
biệt là doanh nghiệp vừa và nhỏ, có xu hướng tìm cách khai giảm doanh thu, tăng chi
phí hoặc sử dụng hóa đơn khống để giảm số thuế phải nộp.
Thứ hai, hệ thống pháp luật về thuế còn tồn tại những kẽ hở và chưa thật sự đồng
bộ. Một số quy định còn mơ hồ, dễ bị lợi dụng hoặc chưa theo kịp thực tiễn phát sinh
từ hoạt động kinh doanh đa dạng hiện nay, đặc biệt là trong lĩnh vực thương mại điện
tử, dịch vụ xuyên biên giới. Điều này tạo điều kiện cho một số doanh nghiệp lợi dụng
để thực hiện các hành vi gian lận mà vẫn chưa bị phát hiện hoặc khó xử lý.
Thứ ba, công tác quản lý thuế của cơ quan nhà nước còn nhiều bất cập, bao gồm
cả năng lực chuyên môn của cán bộ thuế, khả năng phối hợp giữa các đơn vị, và hệ
thống công nghệ thông tin hỗ trợ quản lý chưa hoàn thiện. Việc thanh tra, kiểm tra
thuế phần lớn vẫn mang tính thủ công, không thường xuyên và chủ yếu tập trung vào
các doanh nghiệp lớn, trong khi hàng trăm nghìn doanh nghiệp nhỏ lẻ vẫn hoạt động
thiếu kiểm soát hiệu quả.
Thứ tư, ý thức chấp hành pháp luật thuế của một bộ phận doanh nghiệp còn thấp.
Một số chủ doanh nghiệp vẫn cho rằng trốn thuế là hành vi "bình thường", thậm chí là 10
"khôn ngoan" trong kinh doanh, miễn là chưa bị phát hiện. Việc chế tài xử phạt đôi khi
chưa đủ sức răn đe, dẫn đến tâm lý chủ quan, sẵn sàng đánh đổi giữa lợi ích và rủi ro vi phạm pháp luật.
Thứ năm, áp lực cạnh tranh gay gắt trên thị trường cũng là yếu tố thúc đẩy hành
vi trốn thuế. Trong môi trường mà nhiều đối thủ kinh doanh đã và đang tìm cách giảm
thiểu nghĩa vụ thuế một cách bất hợp pháp để giảm giá thành, thì một doanh nghiệp
tuân thủ nghiêm túc lại có nguy cơ bị thua thiệt về giá, dẫn đến mất thị phần. Đây là
nguyên nhân khiến nhiều doanh nghiệp chọn cách “làm liều” để duy trì lợi thế cạnh tranh.
Cuối cùng, hạn chế trong hệ thống thanh toán và kiểm soát dòng tiền, đặc biệt là
việc sử dụng tiền mặt trong giao dịch, khiến việc quản lý doanh thu thực tế của doanh
nghiệp gặp khó khăn. Các giao dịch không thông qua ngân hàng tạo điều kiện để
doanh nghiệp giấu doanh thu, không xuất hóa đơn và không kê khai thuế trung thực.
Các nguyên nhân trên cho thấy rằng việc trốn thuế của doanh nghiệp không chỉ là
vấn đề đạo đức kinh doanh, mà còn là hệ quả của những lỗ hổng trong quản lý nhà
nước, sự yếu kém trong hệ thống pháp luật, và áp lực từ chính môi trường cạnh tranh.
Do đó, việc khắc phục tình trạng này đòi hỏi phải có các giải pháp tổng thể và đồng bộ
từ cả phía doanh nghiệp và Nhà nước.
1.3. Thực trạng trốn thuế của các doanh nghiệp tại Việt Nam và tác động của
hành vi này tới nền kinh tế quốc gia.
1.3.1. Thực trạng trốn thuế của các doanh nghiệp tại Việt Nam

Bất kỳ nơi nào có thuế, nơi ấy có hiện tượng trốn và tránh thuế. Đặc biệt, xu thế
toàn cầu hóa và hiện đại hóa đang tạo cơ hội cho các doanh nghiệp mở rộng và hội
nhập nhanh hơn vào thị trường khu vực và quốc tế, khiến cho hiện tượng trốn tránh
thuế trở thành một vấn nạn vô cùng phức tạp và mang tính toàn cầu. Ở Việt Nam
trong những năm gần đây, các cơ quan kiểm toán đã phát hiện hàng loạt các sai phạm
thường gặp ở các sắc thuế như thuế giá trị gia tăng (GTGT), thuế TNDN, thuế thu
nhập cá nhân (TNCN) và các sắc thuế khác dẫn tới thất thu thuế lớn. Có thể nói, hành
vi gian lận thuế ngày càng diễn biến phức tạp, phạm vi ngày càng rộng,quy mô ngày
càng lớn và thủ đoạn ngày càng tinh vi.
Đối với thuế TNDN chủ yếu vi phạm ở những khản chi không được phép hạch
toán như quà biếu, tham quan,... Nếu như trước kia, hành vi gian lận về thuế qua giá
chỉ xuất hiện ở hàng nhập khẩu thì thời gian gần đây đã phát hiện hành vi gian lận thuế
qua giá đối với cả hàng xuất khẩu. Có những trường hợp doanh nghiệp “ẩn lậu” lên tới
cả trăm tỷ đồng. Việc thành lập doanh nghiệp để mua bán, sử dụng hóa đơn giá trị gia
tăng bất hợp pháp đang là chiêu bài làm giàu bất chính. Loại tội phạm này thường hoạt
động dưới phương thức và thủ đoạn là thành lập doanh nghiệp với rất nhiều ngành 11
nghề kinh doanh, thuê nhà với hợp đồng ngắn hạn làm trụ sở công ty để có điều kiện
mua hóa đơn GTGT. Sau khi mua được hóa đơn, các đối tượng bỏ trốn khỏi địa chỉ kinh doanh.
Đối với thuế GTGT, người nộp thuế thường khai sai hoặc khai thiếu thuếGTGT đầu ra thông qua việc:
+ Không hạch toán đầy đủ, kịp thời các khoản doanh thu
+ Ghi giá bán trên hóa đơn thấp hơn giá bán thực tế
+ Không xuất hóa đơn GTGT đối với hàng hóa dùng để biếu tặng.
Những hành vi này thường xảy ra ở các doanh nghiệp hoạt động trong các lĩnh
vực bán lẻ thường sử dụng tiền mặt như dịch vụ ăn uống, kinh doanh nhà hàng, khách
sạn, xăng dầu, xây dựng, trang trí nội thất, kinh doanh xe gắn máy, xe điện, ô – tô, xe phục vụ công trình,…
Đồng thời, người nộp thuế thường kê khai tăng thuế GTGT đầu vào thông qua
việc lập chứng từ khống để hoàn thuế GTGT, mua khống hóa đơn thuế GTGT đầu vào
từ các doanh nghiệp “ma”. Hiện tượng chiếm đoạt tiền thuế này thường gặp ở các
doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực xuất nhập khẩu nông lâm sản.
Theo Tổng cục Thuế, nếu không tính số tiền thuế nợ đang xử lý (đang trình các
cấp có thẩm quyền xử lý xóa nợ, miễn giảm, gia hạn, nộp dần tiền thuế) và tiền thuế
nợ đang khiếu nại, khiếu kiện thì tổng số tiền thuế nợ tính đến thời điểm ngày
31/8/2021 là 103.446 tỷ đồng, giảm 7,1% so với cùng kỳ năm 2020, tăng 25,4% so với
thời điểm ngày 31/12/2020. Theo phân tích của Tổng cục Thuế, số nợ tiền thuế có khả
năng thu là 57.917 tỷ đồng, bằng 50,8% trên tổng số tiền nợ thuế,tăng 31,5% so với
cùng kỳ năm 2020. Trong đó, các khoản nợ thuế, phí chiếm tỷtrọng 31,1%; các khoản
nợ về tiền sử dụng đất, tiền thuê đất chiếm tỷ trọng 19,7%.Số tiền phạt và tiền chậm
nộp phát sinh của số nợ tiền thuế có khả năng thu (tính 0,03%/ngày trên số thuế chậm
nộp) là 20.716 tỷ đồng, tăng 12,9% so với cùng kỳ năm 2020, chiếm tỷ trọng 18,1%
trên tổng số tiền nợ thuế. Bên cạnh đó, số tiền thuế nợ không còn khả năng thu hồi là
24.813 tỷ đồng, giảm 49,3% so với cùng kỳ năm 2020, chiếm tỷ trọng 21,7% trên tổng
số tiền nợ thuế. Số nợ thuế không còn khả năng thu giảm mạnh so với cùng kỳ 2020 là
do cơ quan thuế các cấp thực hiện xử lý khoanh nợ tiền thuế, xóa nợ tiền chậm nộp
theo Nghị quyết số 94/2019/QH14 củaQuốc hội. Cũng theo Tổng cục Thuế, tính đến
ngày 31/8/2021, số tiền thuế nợ đang xử lý (đang trình các cấp có thẩm quyền xử lý
xóa nợ, miễn giảm, gia hạn, nộp dần tiền thuế) là 9.304 tỷ đồng, tăng 18,8% so với
cùng kỳ năm 2020, chiếm tỷ trọng 8,1% trên tổng số tiền nợ thuế. Tổng số tiền thuế nợ
đang khiếu nại, khiếu kiện là 1.438 tỷ đồng, giảm 11,3% so với cùng kỳ năm 2020,
chiếm tỷ trọng 1,3% trên tổng số tiền nợ thuế. 12
Tổng cục Thuế cho biết, năm 2021 chỉ tiêu thu nợ ngành Thuế được giao thu tối
thiểu 80% nợ thuế có khả năng thu tại thời điểm 31/12/2020 (tương đương 30.100 tỷ
đồng). Lũy kế tính đến thời điểm ngày 31/8/2021, ngành Thuế đã thực hiện thu nợ
thuế ước đạt 20.900 tỷ đồng, đạt 69,4% chỉ tiêu thu nợ giao; trong đó, thu bằng biện
pháp quản lý nợ là 14.520 tỷ đồng, thu bằng biện pháp cưỡng chế nợ là 6.380 tỷ đồng.
Trong 4 tháng cuối năm 2021, tình hình dịch bệnh dự báo vẫn diễn biến phức tạp, vì
vậy để phấn đấu hoàn thành nhiệm vụ được Quốc hội, Chính phủ giao, cơ quan thuế
các cấp sẽ tập trung tiếp tục xử lý, giải quyết, thẩm định các hồ sơ xóa nợ tiền phạt
chậm nộp, tiền chậm nộp; hướng dẫn, giải đáp và xử lý các vướng mắc về việc khoanh
nợ, xóa nợ,gia hạn, miễn tiền chậm nộp và cưỡng chế nợ thuế theo quy định của Luật
Quản lý thuế số 38/2019/QH14 và Nghị quyết số 94/2019/QH14 của Quốc hội. Cụ thể,
cơ quan Thuế các cấp sẽ tổng hợp, phân tích, đánh giá, phân loại các khoản nợ thuế,
giám sát các cơ quan thuế thực hiện công tác quản lý nợ và cưỡng chế nợ thuế. Báo
cáo tình hình nợ thuế, thu hồi nợ đọng thuế phục vụ họp thường kỳ Chính phủ tháng
09/2021. Tổng cục Thuế chỉ đạo cục Thuế các tỉnh, thành phố phấn đầu thu hồi nợ
đọng thuế, đặc biệt tập trung thu các khoản nợ thuế mới phát sinh dưới 90 ngày, không
để kéo dài. Đối với nợ không có khả năng thu hồi, sẽ khẩn trương rà soát xử lý theo
đúng quy định tại Nghị quyết số 94/2019/QH14 của Quốc hội để xác định số khoanh
nợ, số giảm tiền phạt và chậm nộp nhằm giải quyết dứt điểm, làm giảm số nợ thuế ảo;
phối hợp cùng các đơn vị liên quan đánh giá tác động từ việc triển khai các gói chính
sách giảm thuế đang trình Ủy ban Thường vụ Quốc hội...
1.3.2. Tác động của hành vi này đến nền kinh tế quốc gia
Thất thu ngân sách nhà nước: Hành vi trốn thuế gây thất thu lớn cho ngân sách
nhà nước, ảnh hưởng trực tiếp đến các nguồn lực tài chính cho phát triển kinh tế - xã
hội. Thuế là nguồn thu chủ yếu của nhà nước để chi tiêu cho các lĩnh vực quan trọng
như giáo dục, y tế, quốc phòng,… Vậy nên, khi doanh nghiệp không thực hiện đúng
nghĩa vụ thuế, số tiền đáng lẽ phải được nộp vào ngân sách nhà nước lại bị mất đi,
khiến nhà nước có thể thiếu hụt tài chính để duy trì và phát triển các dịch vụ công. Bên
cạnh đó, hành vi trốn thuế khiến cơ quan chức năng phải tốn thêm chi phí và nguồn
lực để thanh tra, kiểm tra giám sát các doanh nghiệp, từ đó làm tăng gánh nặng quản lí.
Môi trường kinh doanh thiếu công bằng: Trốn thuế tạo ra sự cạnh tranh không
lành mạnh, gây bất bình đẳng giữa các doanh nghiệp tuân thủ và không tuân thủ pháp
luật về thuế. Những đơn vị trốn thuế có thể giảm đáng kể chi phí hoạt động, từ đó tăng
lợi nhuận hoặc hạ giá bán sản phẩm, dịch vụ để thu hút khách hàng. Trong khi đó, các
doanh nghiệp chấp hành nghiêm túc nghĩa vụ thuế lại phải gánh chịu mức chi phí cao
hơn, dẫn đến khó cạnh tranh trên thị trường. Sự chênh lệch này tạo ra bất bình đẳng 13
giữa các chủ thể kinh doanh, làm giảm động lực tuân thủ pháp luật và có thể dẫn đến
hiện tượng doanh nghiệp "chạy theo" hành vi sai trái để tồn tại. Điều này gây ra sự bất
bình đẳng nghiêm trọng, khiến các doanh nghiệp làm ăn chân chính gặp khó khăn
trong việc cạnh tranh, nhiều công ty nhỏ rơi vào tình trạng phá sản hoặc phải cắt giảm nhân sự.
Ảnh hưởng đến uy tín quốc gia: Tình trạng trốn thuế làm giảm niềm tin của các
nhà đầu tư nước ngoài, ảnh hưởng đến môi trường đầu tư và uy tín của Việt Nam trên
trường quốc tế. Việc trốn thuế không chỉ gây thiệt hại về mặt kinh tế mà còn ảnh
hưởng nghiêm trọng đến uy tín của quốc gia trên trường quốc tế. Một quốc gia có tỷ lệ
trốn thuế cao thường bị đánh giá là có hệ thống pháp luật chưa nghiêm minh, cơ chế
quản lý lỏng lẻo và môi trường kinh doanh thiếu minh bạch. Điều này khiến các nhà
đầu tư nước ngoài e ngại khi cân nhắc rót vốn, do lo ngại rủi ro pháp lý và tính ổn định
của thị trường. Bên cạnh đó, trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế sâu rộng,
các tổ chức quốc tế như Ngân hàng Thế giới (WB), Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) hay Tổ
chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD) thường căn cứ vào tính minh bạch tài
chính và năng lực quản lý thuế để đánh giá năng lực quản trị quốc gia. Nếu không
kiểm soát tốt tình trạng trốn thuế, quốc gia đó có thể mất điểm trong mắt cộng đồng
quốc tế, ảnh hưởng đến khả năng hợp tác, vay vốn và thu hút nguồn lực phát triển trong tương lai.
Như vậy, hành vi trốn thuế này không chỉ gây thất thu lớn cho ngân sách Nhà
nước mà còn ảnh hưởng đến môi trường kinh doanh, tạo ra sự bất bình đẳng giữa các
doanh nghiệp, và tác động tiêu cực đến uy tín quốc gia trong mắt các nhà đầu tư quốc
tế. Việc thiếu minh bạch trong công tác thuế có thể làm giảm khả năng thu hút vốn đầu
tư lâu dài và ảnh hưởng đến sự phát triển bền vững của nền kinh tế Việt Nam. 14
CHƯƠNG II: VẬN DỤNG VÀO DOANH NGHIỆP TẠI VIỆT NAM – TẬP
ĐOÀN VẠN THỊNH PHÁT
2.1. Tổng quan về Tập đoàn Vạn Thịnh Phát
2.2. Hành vi trốn thuế của Tập đoàn Vạn Thịnh Phát
2.3. Những hệ lụy của hành vi trốn thuế của Tập đoàn Vạn Thịnh Phát
15
CHƯƠNG III: GIẢI PHÁP VÀ ĐỊNH HƯỚNG NHẰM HẠN CHẾ TÌNH
TRẠNG TRỐN THUẾ CỦA DOANH NGHIỆP TẠI VIỆT NAM
3.1. Những hạn chế còn tồn đọng
Trong những năm gần đây, hệ thống thuế tại Việt Nam đã có nhiều bước cải tiến
đáng kể, đặc biệt là trong việc áp dụng công nghệ số vào quản lý và khai báo thuế. Tuy
nhiên, bên cạnh những điểm sáng, vẫn còn tồn tại không ít hạn chế nghiêm trọng, đặc
biệt là trong công tác giám sát, xử lý hành vi gian lận thuế và tính ổn định của chính
sách thuế. Những bất cập này không chỉ ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả thu ngân
sách nhà nước mà còn tạo ra sự bất công giữa các doanh nghiệp trong cùng môi trường kinh doanh.
Một là, hệ thống quản lý thuế thiếu đồng bộ, thay đổi liên tục. Mặc dù Tổng
cục Thuế đã triển khai nhiều hệ thống như eTax, eInvoice để hiện đại hóa việc quản lý,
nhưng hệ thống vẫn thiếu đồng bộ giữa các cấp (trung ương và địa phương), gây ra sự
chồng chéo và rối rắm. Đặc biệt, chính sách thuế thường xuyên thay đổi trong thời
gian ngắn khiến doanh nghiệp khó theo kịp.
Ví dụ: Chỉ trong vòng 2 năm (2022–2023), hàng loạt quy định liên quan đến thuế
giá trị gia tăng (GTGT) đã thay đổi. Chính sách giảm thuế GTGT từ 10% xuống còn
8% theo Nghị quyết 43/2022/QH15 và sau đó tiếp tục được gia hạn trong năm 2023
theo Nghị quyết 101/2023/QH15. Việc này khiến doanh nghiệp phải liên tục điều
chỉnh hệ thống kế toán và phần mềm hóa đơn điện tử, dẫn đến rủi ro sai sót và mất thời gian xử lý.
Hai là, khung pháp lý chưa rõ ràng, dễ bị lợi dụng. Một vấn đề lớn khác là tính
thiếu rõ ràng, chưa nhất quán của hệ thống pháp luật thuế. Nhiều văn bản hướng dẫn
chồng chéo, mâu thuẫn hoặc không đủ chi tiết khiến doanh nghiệp dễ hiểu sai hoặc cố
tình diễn giải theo hướng có lợi để tránh thuế.
Ví dụ: Theo khảo sát của VCCI năm 2023, có đến 42% doanh nghiệp phản ánh
rằng họ gặp khó khăn trong việc hiểu và áp dụng các quy định pháp luật thuế do văn
bản không rõ ràng hoặc thiếu hướng dẫn chi tiết từ cơ quan chức năng.
Ba là, công tác giám sát, kiểm tra còn yếu. Dù công nghệ đã được ứng dụng
trong một số khâu quản lý, nhưng lực lượng kiểm tra thuế vẫn còn mỏng và phương
pháp giám sát chưa hiệu quả. Đặc biệt là đối với các doanh nghiệp có giao dịch xuyên 16
biên giới – nơi các hành vi chuyển giá, lợi dụng công ty “ma” ở nước ngoài để trốn
thuế vẫn diễn ra phức tạp.
Ví dụ: Theo báo cáo kiểm toán năm 2023, có tới 17/50 doanh nghiệp FDI tại Việt
Nam được kiểm tra có dấu hiệu chuyển giá, tổng số thuế bị truy thu hơn 1.200 tỷ đồng.
Tuy nhiên, đây chỉ là phần nhỏ vì phần lớn các hành vi gian lận phức tạp hơn vẫn chưa được phát hiện.
Bốn là, nhận thức và đào tạo về thuế còn yếu. Nhiều doanh nghiệp, đặc biệt là
doanh nghiệp nhỏ và siêu nhỏ, chưa có đủ kiến thức về thuế để thực hiện đúng và đầy
đủ nghĩa vụ. Đồng thời, đội ngũ cán bộ thuế cũng chưa được đào tạo bài bản, dẫn đến
việc giải thích và xử lý các tình huống thực tế còn thiếu nhất quán.
Ví dụ: Theo thống kê của Tổng cục Thuế, gần 60% doanh nghiệp nhỏ và vừa tại
Việt Nam không có nhân sự chuyên trách về thuế, dẫn đến việc nộp sai hồ sơ, kê khai
chậm hoặc không hiểu hết các quyền lợi được miễn giảm.
Năm là, tác động từ tình hình kinh tế và thay đổi chính sách thuế. Bối cảnh
kinh tế khó khăn sau đại dịch Covid-19 khiến nhiều doanh nghiệp lâm vào cảnh thiếu
hụt dòng tiền, trong khi vẫn phải gánh thêm nghĩa vụ thuế với các chính sách thay đổi
bất ngờ. Điều này buộc một số doanh nghiệp tìm cách trì hoãn hoặc lách thuế để tồn tại.
Ví dụ: Việc gia hạn nộp thuế và tiền thuê đất theo Nghị định 12/2023/NĐ-CP đã
giúp nhiều doanh nghiệp vượt qua giai đoạn khó khăn, nhưng đồng thời cũng cho thấy
sự cần thiết của việc xây dựng chính sách ổn định và có dự báo trước. Tuy nhiên,
chính sách này lại chỉ áp dụng cho một số ngành nghề cụ thể, gây ra cảm giác bất công
với các doanh nghiệp không thuộc diện được hỗ trợ.
3.2. Đề xuất phương hướng kiểm soát hành vi gian lận thuế của doanh nghiệp
3.2.1. Hoàn thiện khuôn khổ pháp lý

Một trong những yếu tố then chốt để kiểm soát hiệu quả hành vi gian lận thuế
của doanh nghiệp là việc xây dựng một khuôn khổ pháp lý vững chắc, toàn diện và
không chứa các kẽ hở có thể bị lợi dụng. Việc rà soát và sửa đổi hệ thống luật thuế cần
được tiến hành thường xuyên để đảm bảo tính cập nhật và phù hợp với bối cảnh kinh
tế đang thay đổi nhanh chóng. Các cơ quan chức năng cần tập trung vào việc xác định
và đóng lại những lỗ hổng pháp lý thường bị doanh nghiệp lợi dụng để thực hiện hành 17
vi gian lận. Đặc biệt, cần có những quy định rõ ràng về giao dịch liên kết và chuyển
giá - những lĩnh vực phức tạp và dễ bị lợi dụng để chuyển lợi nhuận và trốn thuế.
Bên cạnh đó, việc ban hành các quy định chống lạm dụng hiệp định thuế là một
biện pháp quan trọng để ngăn chặn các doanh nghiệp lợi dụng các hiệp định tránh
đánh thuế hai lần nhằm mục đích trốn tránh nghĩa vụ thuế. Khuôn khổ pháp lý hoàn
thiện cũng phải đi kèm với các chế tài xử phạt đủ mạnh để tạo tính răn đe. Cần nâng
cao mức phạt đối với các vi phạm có tính chất nghiêm trọng và áp dụng trách nhiệm
hình sự đối với những trường hợp gian lận thuế quy mô lớn, có tổ chức. Việc công
khai danh tính doanh nghiệp vi phạm trên các phương tiện thông tin đại chúng cũng là
một biện pháp hiệu quả, không chỉ gây áp lực về hình ảnh và uy tín đối với doanh
nghiệp mà còn có tác dụng răn đe đối với các doanh nghiệp khác.
Một hướng tiếp cận mới trong việc phát hiện gian lận thuế là xây dựng chính
sách khuyến khích tố giác. Thiết lập cơ chế bảo vệ người tố giác (whistleblower) sẽ tạo
điều kiện cho người lao động trong doanh nghiệp cung cấp thông tin về hành vi gian
lận thuế mà không lo ngại về các hậu quả tiêu cực có thể xảy ra với bản thân. Các quy
định về thưởng cho người cung cấp thông tin về gian lận thuế cũng là một động lực
khuyến khích sự tham gia của cộng đồng vào công tác phòng chống gian lận. Đồng
thời, cần xây dựng các kênh tiếp nhận thông tin an toàn và bảo mật để đảm bảo người
tố giác không bị lộ danh tính.
3.2.2. Áp dụng công nghệ trong phát triển và ngăn chặn gian luận
Trong bối cảnh chuyển đổi số và cách mạng công nghiệp 4.0, việc ứng dụng
công nghệ tiên tiến trong công tác quản lý thuế nói chung và kiểm soát gian lận thuế
nói riêng đang trở thành xu hướng tất yếu. Phát triển hệ thống phân tích dữ liệu lớn
(Big Data) là một trong những giải pháp mang tính đột phá. Cơ quan thuế cần xây
dựng một hệ thống dữ liệu tập trung, tích hợp thông tin từ nhiều nguồn khác nhau như
ngân hàng, hải quan, đăng ký kinh doanh, bảo hiểm xã hội... nhằm có cái nhìn toàn
diện về hoạt động kinh tế của doanh nghiệp. Dựa trên kho dữ liệu này, các thuật toán
học máy (Machine Learning) và trí tuệ nhân tạo (AI) có thể được áp dụng để phát hiện
các mẫu gian lận, nhận diện những bất thường trong kê khai thuế hoặc trong chuỗi
giao dịch của doanh nghiệp.
Việc triển khai toàn diện hệ thống hóa đơn điện tử là một biện pháp then chốt
để ngăn chặn gian lận thuế, đặc biệt là gian lận thuế giá trị gia tăng. Hệ thống hóa đơn
điện tử không chỉ giúp giảm chi phí tuân thủ cho doanh nghiệp mà còn tạo ra một cơ
sở dữ liệu quý giá cho cơ quan thuế. Thông qua việc mở rộng phạm vi áp dụng hóa
đơn điện tử đến mọi loại hình doanh nghiệp và tích hợp hệ thống này với hệ thống kê 18
khai thuế, cơ quan quản lý có thể thực hiện việc đối chiếu tự động giữa hóa đơn đầu
vào và đầu ra, từ đó phát hiện nhanh chóng các trường hợp sử dụng hóa đơn bất hợp
pháp hoặc kê khai sai lệch.
Công nghệ blockchain cũng đang được xem xét như một giải pháp đầy tiềm
năng trong quản lý thuế. Với đặc tính bất biến và minh bạch, blockchain có thể được
ứng dụng để xây dựng một hệ thống theo dõi giao dịch an toàn, không thể sửa đổi. Cơ
sở dữ liệu về giao dịch kinh tế dựa trên blockchain sẽ giúp đảm bảo tính xác thực của
thông tin và khó có thể bị can thiệp hoặc giả mạo. Hơn nữa, các hợp đồng thông minh
(smart contracts) trên nền tảng blockchain có thể tự động hóa quá trình đối chiếu và
xác minh thông tin, giảm thiểu sự can thiệp của con người và nguy cơ sai sót.
3.2.3. Nâng cao năng lực thanh tra và kiểm tra thuế
Mặc dù công nghệ đóng vai trò quan trọng, nhưng yếu tố con người vẫn là
trung tâm trong công tác kiểm soát gian lận thuế. Việc nâng cao năng lực của đội ngũ
thanh tra thuế là một nhiệm vụ trọng tâm và lâu dài. Trước hết, cần đổi mới phương
pháp lựa chọn đối tượng thanh tra theo hướng dựa trên phân tích rủi ro. Thay vì thực
hiện thanh tra theo chu kỳ hoặc chọn ngẫu nhiên, cơ quan thuế nên áp dụng các mô
hình đánh giá rủi ro dựa trên dữ liệu để xác định những doanh nghiệp có khả năng gian
lận cao. Việc tập trung nguồn lực thanh tra vào các ngành và doanh nghiệp có rủi ro
cao sẽ giúp tăng hiệu quả phát hiện vi phạm và tiết kiệm nguồn lực.
Bên cạnh đó, cần thúc đẩy phối hợp thanh tra đa ngành giữa các cơ quan như
thuế, hải quan, ngân hàng để có cái nhìn tổng thể về hoạt động của doanh nghiệp và
phát hiện các hành vi gian lận phức tạp. Đội ngũ thanh tra thuế cần được đào tạo
chuyên sâu về các kỹ thuật gian lận mới xuất hiện, đặc biệt là trong môi trường kinh
doanh số. Họ cần được trang bị kiến thức toàn diện về tài chính, kế toán quốc tế và
chuyển giá để có thể xử lý hiệu quả các trường hợp gian lận xuyên biên giới. Ngoài ra,
việc xây dựng đội ngũ chuyên gia phân tích dữ liệu trong cơ quan thuế là cần thiết để
khai thác hiệu quả lượng thông tin lớn từ các hệ thống công nghệ.
Trong bối cảnh toàn cầu hóa, việc tăng cường hợp tác quốc tế trong lĩnh vực
thuế là một xu hướng tất yếu. Các quốc gia cần tham gia tích cực vào các hiệp định
trao đổi thông tin thuế quốc tế và thúc đẩy hợp tác với các cơ quan thuế nước ngoài
trong điều tra gian lận xuyên biên giới. Việc áp dụng các chuẩn mực báo cáo tài chính
quốc tế cũng góp phần tạo ra một sân chơi bình đẳng và minh bạch, giúp giảm thiểu cơ
hội gian lận thuế của các tập đoàn đa quốc gia.
3.2.4. Thúc đẩy tuân thủ tự nguyện
Bên cạnh các biện pháp mang tính răn đe và kiểm soát, việc thúc đẩy tuân thủ
tự nguyện từ phía doanh nghiệp là một chiến lược dài hạn và bền vững. Cải cách thủ
tục hành chính thuế theo hướng đơn giản hóa, minh bạch là bước đi đầu tiên và quan 19
trọng. Cơ quan thuế cần đơn giản hóa quy trình kê khai và nộp thuế, giảm thiểu thời
gian và chi phí tuân thủ cho doanh nghiệp. Hướng dẫn về thuế cần được cung cấp một
cách rõ ràng, dễ hiểu và dễ tiếp cận thông qua nhiều kênh khác nhau. Đặc biệt, việc
thiết lập các dịch vụ tư vấn thuế miễn phí cho doanh nghiệp nhỏ và vừa sẽ giúp họ
tuân thủ đúng quy định mà không phải chịu gánh nặng chi phí tư vấn.
Xây dựng các chương trình tuân thủ hợp tác giữa cơ quan thuế và doanh nghiệp
là một hướng tiếp cận hiệu quả. Thông qua các cơ chế tuân thủ tự nguyện có ưu đãi,
doanh nghiệp được khuyến khích chủ động kê khai đầy đủ và chính xác nghĩa vụ thuế
của mình để đổi lấy những lợi ích như giảm tần suất thanh tra hoặc được ưu tiên trong
các thủ tục hành chính. Các chương trình hòa giải tranh chấp thuế cũng cần được áp
dụng rộng rãi để giải quyết nhanh chóng và hiệu quả các bất đồng giữa cơ quan thuế
và người nộp thuế, tránh việc kéo dài tranh chấp gây tốn kém thời gian và nguồn lực cho cả hai bên.
Đồng thời, cần xây dựng các kênh đối thoại thường xuyên giữa cơ quan thuế và
cộng đồng doanh nghiệp để lắng nghe phản hồi, giải đáp thắc mắc và thu thập ý kiến
đóng góp cho việc hoàn thiện chính sách thuế. Nâng cao nhận thức về tuân thủ thuế
trong cộng đồng doanh nghiệp và xã hội nói chung là một nhiệm vụ quan trọng và lâu
dài. Các chiến dịch truyền thông về vai trò và đóng góp của thuế đối với sự phát triển
của đất nước cần được tổ chức thường xuyên. Việc giáo dục về đạo đức kinh doanh và
trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp nên được đưa vào chương trình đào tạo trong các
trường đại học và các khóa bồi dưỡng doanh nhân.
Cuối cùng, sự công khai minh bạch trong việc sử dụng nguồn thu thuế là yếu tố
then chốt để xây dựng niềm tin của người dân và doanh nghiệp vào hệ thống thuế. Khi
người nộp thuế thấy được đóng góp của họ được sử dụng hiệu quả cho các mục tiêu
phát triển kinh tế - xã hội, họ sẽ có động lực mạnh mẽ hơn để tuân thủ đầy đủ nghĩa vụ thuế của mình. 20