lOMoARcPSD| 58562220
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG
VIỆN KINH TẾ VÀ KINH DOANH QUỐC TẾ
---🙠🕮🙢---
TIỂU LUẬN GIỮA KỲ
THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH
TRANH CỦA NGÀNH TÔM VIỆT NAM TRÊN THỊ TRƯỜNG QUỐC
TẾ
Môn học
Quan hệ kinh tế quốc tế
Lớp tín chỉ
KTE306(2425-1)2.1
Giáo viên hướng dẫn
TS. Phạm Thị Huyền Trang
Nhóm
3
Hà Nội, 11/2024
DANH SÁCH THÀN VIÊN NHÓM 3
Số thứ tự
Họ và tên
1
Bùi Tá Thịnh (Nhóm trưởng)
lOMoARcPSD| 58562220
2
Bùi Lê Huy
2311110120
3
Nguyễn Đình Cần
2311110045
4
Trần Thị Minh Chi
2314110052
5
Mai Hùng Dũng
2314110062
6
Trịnh Thị Tuyết Anh
2311110014
7
Trần Mai Linh
2311110152
8
Trần Thu Trang
2314110301
9
Nguyễn Thị Huyền
2314510053
10
Hà Thùy Minh
2311710063
lOMoARcPSD| 58562220
Mục lục
1. Tổng quan ngành xuất khẩu tôm tại Việt Nam những năm gần đây ........................... 2
1.1 Lịch sử phát triển .................................................................................................. 2
1.2 Tình hình hiện tại .................................................................................................. 3
1.2.1 Quy mô sản xuất ............................................................................................ 3
1.2.2 Sản lượng ....................................................................................................... 4
1.2.3 Các vùng sản xuất chính ................................................................................ 4
1.2.4 Thị trường xuất khẩu chính ............................................................................ 4
2. Phân tích năng lực cạnh tranh của ngành xuất khẩu tôm Việt Nam ........................... 6
2.1 Điểm mạnh ............................................................................................................ 6
2.1.1 Điều kiện tự nhiên thuận lợi........................................................................... 6
2.1.2 Chi phí lao động thấp ..................................................................................... 7
2.1.3 Sản lượng tôm lớn .......................................................................................... 7
2.2 Điểm hạn chế ........................................................................................................ 7
2.2.1 Hạn chế trong kiểm soát dịch bệnh ................................................................ 7
2.2.2 Hạn chế về chất lượng sản phẩm ................................................................... 8
2.2.3 Chi phí sản xuất cao ....................................................................................... 9
2.2.4 Hạn chế kĩ thuật ............................................................................................. 9
2.2.5 Thiếu sự đa dạng trong sản phẩm ................................................................ 10
2.2.6 Phụ thuộc thị trường ..................................................................................... 10
2.2.7 Hạn chế về thương hiệu ............................................................................... 10
2.3 Thách thức ........................................................................................................... 11
2.3.1 Hạn ngạch nhập khẩu ................................................................................... 11
2.3.2 Yêu cầu cao về chất lượng sản phẩm và truy xuất nguồn gốc ..................... 11
2.3.3 Rào cản thuế quan ........................................................................................ 12
2.3.4 Biến đổi khí hậu ........................................................................................... 13
2.3.5 Đối thủ cạnh tranh ........................................................................................ 14
2.4 Cơ hội .................................................................................................................. 15
3. Giải pháp nâng cao hiệu quả xuất khẩu .................................................................... 16
3.1 Nâng cao chất lượng sản phẩm, con giống ......................................................... 16
3.2 Đa dạng hoá sản phẩm, đẩy mạnh hàng chế biến sâu, giá trị gia tăng ................ 17
3.3 Tăng cường đa dạng hóa thị trường xuất khẩu và khai thác thị trường nội địa .. 18
Danh mục tài liệu tham khảo......................................................................................25
lOMoARcPSD| 58562220
LỜI MỞ ĐẦU
Việt Nam là một quốc gia đang phát triển, lợi thế về vị trí địa lý, tài nguyên thiên nhiên,
nhân lực… Chính vì vậy, tiềm năng xuất khẩu của Việt Nam tương đối lớn và góp phần thúc
đẩy phát triển kinh tế - hội. Trong đó một trong những ngành hàng xuất khẩu mũi nhọn
phải kể đến thủy hải sản cụ thể là tôm. Theo trang tin Tạp chí Thủy sản Việt Nam, hiện nay
nước ta nằm trong top 3 quốc gia xuất khẩu tôm nhiều nhất thế giới, chiếm 13 – 14% tổng giá
trị xuất khẩu tôm toàn cầu và tôm của Việt Nam đã được xuất khẩu đến khoảng 100 quốc gia
vùng lãnh thổ. Tuy nhiên, ngành xuất khẩu tôm Việt Nam cũng đang phải đối mặt với nhiều
thách thức và cạnh tranh gay gắt trên thị trường quốc tế.
Bên cạnh những điều kiện thuận lợi, ngành tôm Việt Nam đã và đang phải đối mặt với nhiều
thách thức trên thương trường xuất nhập khẩu và áp lực cạnh tranh với các nước như Ấn Độ,
Thái Lan Ecuador; cũng như yêu cầu về chất lượng, an toàn thực phẩm, bảo vệ môi
trường của c quốc gia vùng lãnh thổ ngày càng khắt khe. Hơn nữa, một số thị trường
lớn như EU, Mỹ, Nhật Bản chính sách tiêu chuẩn được cập nhật liên tục ngày càng
nghiêm ngặt đã đặt ra không ít khó khăn cho các doanh nghiệp tôm Việt Nam. Sự thiếu đồng
bộ trong quy trình sản xuất, chế biến, cùng với những bất cập trong quản hỗ trợ chính
sách từ các cơ quan chức năng cũng một trong những nguyên nhân làm giảm sức cạnh tranh
của ngành tôm Việt Nam.
Nhận thấy nhu cầu về mặt hàng tôm ngày càng tăng, nhóm tác giả đã quyết định nghiên cứu
đề tài: “Thực trạng và giải pháp nâng cao ng lực cạnh tranh của ngành xuất khẩu tôm
Việt Nam trên thị trường quốc tế”, nhằm cung cấp cái nhìn sâu sắc toàn diện hơn về
ngành xuất khẩu tôm cũng như tối ưu hóa nguồn lực hiện hạn chế những kkhăn trong
công cuộc khẳng định thương hiệu tôm Việt Nam trên bản đồ xuất khẩu toàn cầu.
1. Tổng quan ngành xuất khẩu tôm tại Việt Nam những năm gần đây
1.1 Lịch sử phát triển
Giai đoạn đầu (1998-2002): Ngành m Việt Nam chưa được chú trọng phát triển, với
sản lượng nuôi và công nghệ chế biến còn hạn chế. Từ 1998 đến 2002, xuất khẩu tôm
tăng trưởng ổn định, nhưng chưa vượt qua 1 tỷ USD. Năm 2003, kim ngạch xuất khẩu
tôm lần đầu tiên vượt mốc 1 tỷ USD.
Giai đoạn phát triển (2003-2009): Giá trị xuất khẩu tăng trưởng ổn định nhưng không
cao, từ 1,3 tỷ USD lên 1,7 tỷ USD trong giai đoạn này. Đến năm 2010, xuất khẩu tôm
đạt hơn 2 tỷ USD, chứng tỏ sự phát triển mạnh mẽ của ngành.
Giai đoạn khó khăn phục hồi (2012-2014): Năm 2012, ngành tôm đối mặt với khó
khăn do rào cản kỹ thuật, dịch bệnh EMS (Early Mortality Syndrome - Hội chứng tôm
chết sớm) và khủng hoảng kinh tế toàn cầu, dẫn đến giảm 6,6% kim ngạch xuất khẩu.
lOMoARcPSD| 58562220
Tuy nhiên, ngành phục hồi mạnh mẽ trong hai năm 2013 2014, đạt lần lượt 3 tỷ
USD gần 3,95 tỷ USD, nhờ vào nhu cầu tôm tăng cao chính sách thuận lợi từ
Mỹ.
Giai đoạn 2015-2017: Ngành tôm đối mặt với nhiều khó khăn như dịch bệnh (EMS),
giá tôm giảm, cạnh tranh gay gắt. Dẫn đến kim ngạch xuất khẩu tôm tăng trưởng chậm,
thậm chí có thời điểm giảm so với cùng kỳ; cụ thể m 2015 đạt 2,4 tỷ USD. Tuy
nhiên, đến năm 2017 kim ngạch xuất khẩu tôm tăng mạnh trở lại và đạt 3,85 tỷ USD -
tăng 22,3% so với 2016.
Giai đoạn 2018-2020: Ngành tôm dần phục hồi nhờ các biện pháp kiểm soát dịch
bệnh, đa dạng hóa thị trường, nâng cao chất lượng sản phẩm. Chính vậy, kim
ngạch xuất khẩu tôm tăng trưởng ổn định và có sự chuyển biến rõ rệt.
Giai đoạn 2021-2023: Ngành tôm tiếp tục đà tăng trưởng, tuy nhiên chịu ảnh hưởng
của đại dịch COVID-19, giá nguyên liệu đầu vào tăng, các rào cản thương mại. Vậy
nên kim ngạch xuất khẩu tôm tăng trưởng vẫn tích cực, nhưng với tốc độ chậm hơn so
với giai đoạn trước.
1.2 Tình hình hiện tại
1.2.1 Quy mô sản xuất
Diện tích nuôi tôm:
Việt Nam hiện khoảng 700.000 ha diện tích nuôi m, với khoảng 400.000 - 450.000
ha dành cho nuôi tôm chân trắng và khoảng 250.000 - 300.000 ha cho tôm sú.
Các vùng nuôi tôm chủ yếu nằm ở khu vực ven biển, nơi điều kiện tự nhiên thuận
lợi và ở khu vực vùng đồng bằng sông Cửu Long.
Số lượng hộ nuôi:
Ước tính khoảng 200.000 - 300.000 hộ gia đình tham gia trực tiếp vào hoạt động
nuôi tôm, chủ yếu là các hộ nhỏ lẻ và hợp tác xã, bên cạnh đó cũng có sự góp mặt của
nhiều doanh nghiệp lớn, tiêu biểu thể kể đến Công ty CP Thủy sản Sóc Trăng
Stapimex, CTCP Tập đoàn Thủy sản Minh Phú Minh Phu Seafood Corp, CTCP Thủy
sản Minh Phú - Hậu Giang, Công ty CP Thực phẩm Sao Ta Fimex VN, CTCP Chế
biến và dịch vụ thủy sản Cà Mau....
Bảng 1. Top 5 doanh nghiệp xuất khẩu tôm Việt Nam, quý I/2024 (triệu USD)
TT
Tên doanh
nghiệp
QI/2024
QI/2023
Tăng,
giảm (%)
Tỷ trọng trong
xuất khẩu tôm
(%)
Tỷ trọng trong
xuất khẩu Thủy
sản (%)
1
Stapimex
67,401
53,653
25,6
9,8
3,5
2
Minh Phu
Seafood Corp
48,883
36,888
32,5
7,1
2,5
lOMoARcPSD| 58562220
3
Minh Phu Hau
Giang
43,358
40,885
6,0
6,3
2,2
4
Fimex VN
30,647
26,727
14,7
4,5
1,6
5
Cases
27,984
32,581
-14,1
4,1
1,4
Nguồn: VASEP (Theo số liệu từ Tổng cục Hải quan)
1.2.2 Sản lượng
Tôm sú (Penaeus monodon):
Sản lượng hàng năm khoảng 50.000 - 60.000 tấn.
Đặc điểm: Tôm sú có thịt ngon, giá trị xuất khẩu cao, thường được tiêu thụ trong nước
và xuất khẩu sang các thị trường như Nhật Bản, Mỹ, EU.
Tôm chân trắng (Litopenaeus vannamei):
Sản lượng ng năm khoảng 700.000 - 800.000 tấn, chiếm phần lớn sản lượng tôm của
Việt Nam.
1.2.3 Các vùng sản xuất chính
Đồng bằng sông Cửu Long: nơi Bạc Liêu, Sóc Trăng Mau những tỉnh
hàng đầu về nuôi tôm chân trắng với nhiều hình nuôi tôm kết hợp áp dụng công
nghệ cao, chuyển dịch cơ cấu giống. Vì thế, tính tới năm 2023, tổng
sản lượng tôm của ĐBSCL vẫn đạt được mức ổn định, góp phần quan trọng vào kim
ngạch xuất khẩu thủy sản của cả nước.
Miền Trung: nổi tiếng với nuôi tôm sú, giống tôm chất lượng cao tại 2 tỉnh Khánh
Hòa và Bình Định.
Miền Bắc: sự tham gia của các tỉnh như Hải Phòng Thái Bình trong việc phát
triển nuôi tôm, nhưng quy mô còn nhỏ so với miền Nam.
1.2.4 Thị trường xuất khẩu chính
Thị trường EU và Trung Quốc là hai thị trường xuất khẩu tôm lớn và quan trọng nhất
của Việt Nam.
lOMoARcPSD| 58562220
(Nguồn: Hiệp hội chế biến và xuất khẩu thủy sản Việt Nam https://vasep.com.vn/)
Một số thành tựu gần đây
Tăng trưởng kim ngạch xuất khẩu:
Năm 2023: Chiếm tỷ trọng lớn nhất trong cấu xuất khẩu thuỷ sản mặt hàng tôm
với trị giá hơn 3,3 tỷ USD, chiếm khoảng 38% trị giá xuất khẩu thuỷ sản cả nước, giảm
21,6% so với năm 2022. Trong đó, xuất khẩu tôm chân trắng đạt 2,5 tỷ USD, giảm
20,5%; tôm sú đạt 460 triệu USD, giảm 19,8%.
Một số chủng loại xuất khẩu năm 2023 (Nguồn: Báo cáo
Xuất nhập khẩu Việt Nam 2023 Bộ Công Thương
https://trungtamwto.vn/file/22934/bao-cao-xuat-nhap-khau-viet-nam-
nam2023.pdf)
lOMoARcPSD| 58562220
Năm 2024: Tôm mang về kim ngạch xuất khẩu cao nhất với gần 2,8 tỷ USD, tăng
10,5% so với cùng kỳ năm 2023. m 2024, tôm đông lạnh xuất khẩu vẫn bị tác động
bởi xu hướng giá chưa phục hồi rệt, cùng với áp lực giá bán cạnh tranh với m
Ecuador Ấn Độ. Tuy nhiên, tôm chế biến của Việt Nam vẫn vị thế tốt các thị
trường. Do vậy, tính đến cuối tháng 9, xuất khẩu tôm chân trắng chế biến vẫn tăng gần
10%, trong khi xuất khẩu tôm chân trắng đông lạnh tăng nhẹ hơn. với mức 4,5%. Lũy
kế 9 tháng đầu năm, xuất khẩu tôm chân trắng đạt gần 2 tỷ USD, XK tôm đạt 334
triệu USD.
Biểu đồ ba mặt có kim ngạch xuất khẩu lớn nhất trong 9 tháng đầu năm
2024
(Nguồn: VASEP Hiệp hội chế biển xuất khẩu thủy sản Việt Nam
https://vasep.com.vn/san-pham-xuat-khau/tin-tong-hop/xuat-nhap-khau/xuatkhau-
thuy-san-quy-iii-2024-dat-2-76-ty-usd-31685.html) Chứng nhận chất lượng:
Ngày càng nhiều doanh nghiệp Việt Nam đạt được các chứng nhận quốc tế như
ASC (Aquaculture Stewardship Council), GlobalGAP, BAP... Điều này chứng tỏ chất
lượng sản phẩm tôm Việt Nam đã được quốc tế công nhận đáp ứng các tiêu chuẩn
cao về an toàn thực phẩm, bảo vệ môi trường và trách nhiệm xã hội.
2. Phân tích năng lực cạnh tranh của ngành xuất khẩu tôm Việt Nam
2.1 Điểm mạnh
2.1.1 Điều kiện tự nhiên thuận lợi
Việt Nam điều kiện tự nhiên tưởng cho ngành nuôi trồng tôm, nhờ bờ biển dài
hơn 3.000 km và hệ thống sông ngòi, kênh rạch phong phú, đặc biệt tại các vùng ven
biển và đồng bằng sông Cửu Long. Khí hậu nhiệt đới gió mùa với nhiệt độ ổn định từ
25–30°C, phù hợp cho sự phát triển của các giống m, đặc biệt m tôm thẻ
chân trắng. Lượng mưa phong phú nhưng được phân bố theo mùa cũng giúp điều tiết
nguồn nước ngọt ớc lợ cho các vùng nuôi tôm. Đặc biệt, khu vực đồng bằng sông
Cửu Long đất đai màu mỡ, nguồn ớc ngọt nước lợ dồi dào, phù hợp cho các
hình nuôi tôm nước ngọt và tôm nước lợ. Các khu vực như Mau, Bạc Liêu, Sóc
Trăng, Kiên Giang là những vùng trọng điểm với nguồn tài nguyên đất, nước tự nhiên
và khí hậu thuận lợi để phát triển đa dạng hình thức nuôi tôm: từ nuôi tôm thâm canh,
bán thâm canh đến quảng canh.
lOMoARcPSD| 58562220
2.1.2 Chi phí lao động thấp
Đây là một lợi thế cạnh tranh lớn của ngành nuôi trồng tôm Việt Nam, đặc biệt khi so
sánh với các nước đối thủ như Thái Lan, Ấn Độ Ecuador. Việt Nam nguồn lao
động dồi dào ở các vùng nông thôn, nơi có tỷ lệ nhân công có kinh nghiệm trong nuôi
trồng chế biến thủy sản. Chi phí lao động thấp giúp doanh nghiệp Việt Nam tiết
kiệm một phần quy trình các khâu từ nuôi trồng cho đến sản xuất, đóng gói để có thể
tối ưu hoá giá trị sản phẩm tôm xuất khẩu.
Hơn nữa, nhiều công đoạn trong nuôi trồng tôm đòi hỏi lao động trực tiếp, từ việc
chuẩn bị ao nuôi, cho ăn, quảnmôi trường nước, đến thu hoạch, do vậy chi phí lao
động thấp cho phép các trang trại có thể thực hiện với chi phí hợp lý, đồng thời có thể
đầu tư vào cải thiện quy trình mà vẫn duy trì giá thành sản phẩm.
Bên cạnh đó, chi phí lao động thấp cho phép Việt Nam tập trung vào các mô hình nuôi
tôm đa dạng (quảng canh, bán thâm canh) nhằm đáp ứng nhu cầu thtrường. Lợi thế
này góp pihần quan trọng vào việc duy trì và mở rộng xuất khẩu tôm của Việt Nam.
2.1.3 Sản lượng tôm lớn
Sản lượng tôm lớn là một lợi thế quan trọng của Việt Nam, giúp đáp ng nhu cầu xuất
khẩu ổn định tạo vị thế cạnh tranh trên thị trường quốc tế. Việt Nam nằm trong
nhóm các quốc gia hàng đầu thế giới về sản xuất xuất khẩu tôm, nhờ đó thcung
ứng khối lượng lớn, đáp ứng nhanh các đơn hàng lớn từ các thị trường chính như Mỹ,
EU, Nhật Bản và Trung Quốc. Hơn nữa, khả năng cung cấp đều đặn với sản lượng lớn
không chỉ giúp đáp ứng yêu cầu của các khách hàng lớn còn đảm bảo giá thành
cạnh tranh khi giao dịch theo quy mô. Đồng thời, sản ợng cao cũng cho phép các
doanh nghiệp xuất khẩu dễ dàng thương lượng và mở rộng thị trường hơn.
2.2 Điểm hạn chế
2.2.1 Hạn chế trong kiểm soát dịch bệnh
Tình hình dịch bệnh chung hiện nay của ngành nuôi trồng tôm:
Tại Thái Bình, tính đến ngày 21/5/2024, bệnh Đốm trắng đã lan rộng tại 244 ao tôm ở các xã
Đông Minh (Tiền Hải), Thụy Trường, Thụy Hải, Thụy Xuân (Thái Thụy) với diện tích
148.539m² và 469,8 vạn con giống. Riêng tại Thái Thụy, bệnh Đốm trắng đã gây thiệt hại 181
vạn con tôm giống.
Tương tự, tại Sóc Trăng, theo báo cáo của Chi cục Thủy sản tỉnh, tính đến giữa tháng 5/2024,
tổng diện tích thả nuôi tôm nước lợ đạt trên 13.700 ha, trong đó trên 300 ha bị thiệt hại.
Hơn 50% diện tích thiệt hại do một số dịch bệnh như: Hoại tử gan tụy cấp, Đốm trắng, Phân
trắng và EHP (ký sinh trùng)
Thực trạng kiểm soát dịch bệnh
Các nhà nghiên cứu trong lĩnh vực thủy sản nhận định, tôm đã phát bệnh thì không thể điều
trị. Phòng bệnh giải pháp chính, giúp người nuôi hạn chế thiệt hại, thông qua việc xử
nguồn nước thật kỹ, lựa chọn con giống chất lượng tại những đơn vị uy tín. Tuy vậy, ở Việt
Nam hiện nay vẫn đối diện với nhiều hạn chế trong việc kiểm soát dịch bệnh một skhía
cạnh:
lOMoARcPSD| 58562220
Về kiểm soát nguồn nước: Ngành thú y cho biết ngành nuôi tôm tại Việt Nam đang đối
mặt với nhiều thách thức nghiêm trọng liên quan đến kiểm soát nguồn nước. Các diễn biến
thời tiết cực đoan, khó dự đoán và tác động tiêu cực đến môi trường nước khiến nguồn nước
cấp vùng hạ lưu thường xuyên trong tình trạng thiếu hụt ô nhiễm. Bên cạnh đó, nhiều
mô hình nuôi tôm hiện nay chưa có biện pháp kiểm soát nước hiệu quả, dẫn đến nguy cơ cao
bùng phát các loại dịch bệnh, bao gồm cả những bệnh thường gặp, gây thiệt hại lớn cho người
nuôi.
Về con giống, chất lượng nguồn tôm giống đang vấn đề đáng báo động. Hiện lượng
tôm giống đã qua kiểm dịch chưa cao, tôm bố mẹ gần như phụ thuộc hoàn toàn vào khai thác
tự nhiên nên chất lượng không đồng đều. Việc quản lý nhà nước về tôm giống còn nhiều bất
cập ngay từ khâu nhập khẩu tôm bố mẹ.
2.2.2 Hạn chế về chất lượng sản phẩm
Tồn dư kháng sinh, yếu tố “kìm chân” con tôm Việt:
Theo tính toán, ngành tôm Việt Nam mỗi năm mất đến 10.000 tỉ đồng. Đây khoản chi phí
mà doanh nghiệp phải bỏ ra để kiểm soát kháng sinh từ vùng nuôi, đến nhà máy chế biến.
Ngoài ra, một khoản chi phí khác không nhỏ, chi cho việc kiểm soát kháng sinh các nước
nhập khẩu, doanh nghiệp phải chịu và bị trừ vào giá bán. Điều này, khiến hội bán ng của
Việt Nam bị giảm đáng kể do thời gian thông quan kéo dài, hàng phải chờ lấy mẫu
chờ kết quả kiểm tra kháng sinh, từ đó cho thấy khả năng cạnh tranh sản phẩm tôm của Việt
Nam bị giảm sút so với các nước xuất khẩu tôm như Ấn Độ, Ecuador… vào hai thị trường
chính Mỹ, EU. Báo cáo của Mỹ cho thấy 86% mẫu thử nghiệm mức Notrofurantoin vượt
mức, 28,6% mẫu có lượng
Fluoroquinilone (FQ) ợt giới hạn; bên cạnh đó, Việt Nam cùng với Indonesia 1 trong 2
nước xuất khẩu tôm chứa Malachite Green (MG) và lượng Lưu huỳnh vượt mức. Năm 2017,
cuộc điều tra Ủy ban châu Âu (EC) đã cảnh cáo thẻ vàng cho Việt Nam, điều này làm cho
thủy hải sản Việt Nam xuất khẩu sang EU sẽ bị kiểm soát
100% thay vì kiểm tra xác suất, nghĩa là doanh nghiệp phải chi trả nhiều chi phí hơn.
Tôm nhập khẩu dương tính với lượng kháng sinh theo quốc gia. (Nguồn:
Determination of sulfite and antimicrobial residue in imported shrimp to the USA.
https://www.researchgate.net/publication/
lOMoARcPSD| 58562220
347627356_Determination_of_sulfite_and_antimicrobial_residue_in_imported_shrim
p_to_the_USA)
Vấn đề về vệ sinh và truy xuất nguồn gốc:
Một trong những yếu tố quan trọng các thị trường EU yêu cầu sản phẩm phải thể
truy xuất được nguồn gốc và bảo đảm vệ sinh thực phẩm. Thủy sản Việt Nam, đặc biệt là tôm,
chưa thực sự đáp ứng tốt yêu cầu về minh bạch trong quá trình sản xuất, từ nuôi trồng đến
chế biến.
Ngành tôm của Việt Nam vẫn còn phân mảnh, thiếu các công cụ để thu thập chia sẻ dữ
liệu. Thêm vào đó, sự phụ thuộc quá lớn vào người trung gian cũng một vấn đề, khi các
nông dân quy mô nhỏ phải dựa vào họ để tiếp thị sản phẩm. Người trung gian kiểm soát hơn
75% chuỗi giá trị tôm, kết nối nông dân với các nhà chế biến, đồng thời thực hiện giao dịch
với nhà máy thức ăn và trại giống. Tuy nhiên, họ thường trộn và phân loại tôm từ nhiều trang
trại khác nhau, hầu như không hồ sơ về các hoạt động này. Do đó, tôm bị ô nhiễm
thể trộn lẫn với tôm thu hoạch bền vững, làm giảm minh bạch về nguồn gốc.
2.2.3 Chi phí sản xuất cao
Một trong những nhược điểm của việc xuất khẩu tôm Việt Nam đó là vấn đề chi phí sản xuất
của ngành ơng đối cao. Nguyên nhân do một số công nghệ, thức ăn, thuốc dùng trong
nuôi trồng tôm phải nhập khẩu, làm tăng chi phí sản xuất. Chất lượng tôm giống chưa được
quản lý chặt chẽ, một lượng lớn tôm giống kém chất lượng vẫn được lưu thông trên thị trường
và đến tay người nuôi nên tiềm ẩn nguy cơ dịch bệnh bùng phát, dẫn đến tỷ lệ chết cao, buộc
người nuôi phải thả giống nhiều lần khiến chi phí tăng cao. Hơn vậy, thức ăn cho tôm ở Việt
Nam thường cao hơn so với các với các ớc khác do nguyên liệu đầu vào tăng cao, người
nuôi thường mua nợ nên chi phí thức ăn cũng đội lên đáng kể. Chi phí năng lượng trong việc
vận hành các hệ thống nuôi, các hệ thống xử lý ớc, hệ thống sục khí các thiết bị khác
tăng cao cũng góp phần làm tăng giá thành. Chính bởi sự tăng cao của các chi phí kể trên đã
mang đến một hệ luỵ lớn khiến giá thành của tôm Việt Nam vượt lên quá cao, khó cạnh tranh
với các nước khác trên thế giới. Về cạnh tranh giá thành, thể nhận thấy nguyên nhân giá
tôm nguyên liệu của một số nước khác như Ecuador thấp hơn tôm xuất khẩu của Việt Nam
do tỉ lệ nuôi thành công cao, lên tới 80% trở lên. Ecuador cũng ưu thế với con giống chất
lượng và nguồn thức ăn rẻ hơn từ các quốc gia cung ứng.
2.2.4 Hạn chế kĩ thuật
Từ khâu đầu tiên và ng quan trọng nhất đó kỹ thuật chọn giống. Một số người nuôi
tôm vẫn chọn giống từ các nguồn không chất ợng, dẫn đến tôm sức khỏe kém dễ
nhiễm bệnh. Khâu quản chất lượng giống còn lỏng lẻo, nhiều tôm giống kém chất lượng
vẫn được sử dụng, dẫn đến rủi ro về bệnh dịch. Tiếp đến là sự thiếu kỹ thuật trong việc quản
lý nguồn nước. Hệ thống xử lý nước chưa được đầu tư đúng mức, dẫn đến khó kiểm soát các
yếu tố môi trường như pH, độ mặn, oxy hòa tan, đặc biệt trong c đợt biến đổi khí hậu
hoặc thời tiết bất thường. Một sao nuôi m xả thải trực tiếp ra môi trường không qua
xử lý, gây ô nhiễm môi trường và tăng nguy cơ tái nhiễm bệnh cho các vụ nuôi sau. Quản
thức ăn chưa được hiệu quả. Một số thức ăn kém chất lượng hoặc chứa tạp chất thể y
ảnh hưởng xấu đến sức khỏe của tôm. Thiếu sự đầu sở hạ tầng, một số ao nuôi thiếu
các hệ thống hỗ trợ như máy sục khí, máy lọc, dẫn đến khó kiểm soát môi trường sống của
tôm. Thiếu sự liên kết trong chuỗi cung ứng, từ khâu cung cấp giống, thức ăn, đến thu hoạch
lOMoARcPSD| 58562220
và tiêu thụ, chưa có sự liên kết chặt chẽ, khiến việc ổn định chất lượng và giá thành sản phẩm
gặp nhiều trở ngại.
2.2.5 Thiếu sự đa dạng trong sản phẩm
Ngành tôm Việt Nam chủ yếu xuất khẩu các sản phẩm thô hoặc chế biến sơ bộ, thiếu các sản
phẩm chế biến sâu và giá trị gia tăng. Điều này làm giảm sức cạnh tranh khi so với các quốc
gia công nghệ chế biến tiên tiến như Thái Lan, Ecuador. Hơn vậy, Việt Nam thiếu sự đa
dạng trong sản phẩm m xuất khẩu, phụ thuộc chủ yếu vào hai loại tôm chính tôm thẻ chân
trắng và tôm sú, khiến ngành dễ bị ảnh hưởng khi có biến động giá hoặc dịch bệnh.
2.2.6 Phụ thuộc thị trường
Thị trường Hoa Kỳ:
Hoa Kỳ là một trong những thị trường nhập khẩu tôm lớn nhất của Việt Nam, chiếm tỷ trọng
đáng kể trong tổng kim ngạch xuất khẩu tôm của ớc ta. Theo Hiệp hội Chế biến Xuất
khẩu Thủy sản Việt Nam (VASEP), nhập khẩu thủy sản của Hoa Kỳ đã giảm mạnh, từ 30 tỷ
USD vào năm 2022 xuống còn khoảng 25,3 tỷ USD vào năm 2023. Trong năm 2023, Việt
Nam xuất khẩu tôm sang Mỹ đạt 682 triệu USD, giảm 15% so với năm trước.
Thị trường Trung Quốc:
Năm 2023, xuất khẩu sang thị trường này tiếp tục giảm trong tháng 11. Nhu cầu tại thị trường
này không ổn định, khi tăng trưởng dương trong giai đoạn từ tháng 6 đến tháng 8, nhưng sau
đó quay lại xu hướng giảm trong các tháng 9, 10 11. Tuy nhiên, mức độ sụt giảm không
còn mạnh như các tháng đầu năm.
Trong số các thị trường nhập khẩu chính, Trung Quốc và Hồng Kông (Trung Quốc) là những
thị trường có mức sụt giảm thấp nhất. Việt Nam hiện là nhà cung cấp tôm lớn thứ 4 cho Trung
Quốc trong năm 2023, tuy nhiên lại là thị trường giá trxuất khẩu giảm mạnh nhất, với
mức giảm đến 81,4% so với năm 2022, chỉ đạt 112,8 triệu USD.
Thị trường EU
Năm 2024 đã đánh dấu nhiều thành tựu trong xuất khẩu tôm Việt Nam sang EU. Trong 9
tháng đầu năm, tổng giá trị xuất khẩu đạt trên 360 triệu USD, tăng 15% so với cùng knăm
trước. Đây là một con số ấn ợng, phản ánh sự tăng trưởng mạnh mẽ của ngành tôm Việt
Nam tại thị trường này. Đặc biệt, tôm chân trắng – dòng sản phẩm chủ lực của Việt Nam – đã
duy trì mức tăng trưởng liên tục về giá trị xuất khẩu từ tháng 6 đến nay. Điều này không ch
giúp gia tăng doanh thu mà còn khẳng định vị thế của tôm Việt Nam trên thị trường quốc tế.
Như vậy, việc chỉ phụ thuộc vào một số thị trường lớn thể khiến ngành bị ảnh hưởng khi
các nền kinh tế suy thoái hay thay đổi nhu cầu. Đồng thời Việt Nam sẽ phải chịu sự cạnh tranh
mạnh mẽ từ các quốc gia khác khi xuất khẩu vào các thị trường chính như Hoa Kỳ, Trung
Quốc, EU, Nhật Bản,
2.2.7 Hạn chế về thương hiệu
Mặc tôm Việt Nam vị thế lớn trên thị trường quốc tế, song thương hiệu của sản phẩm
này vẫn còn gặp nhiều hạn chế. Dưới đây là một số hạn chế nổi bật:
Thiếu nhận diện thương hiệu quốc gia ràng, phụ thuộc vào các nhà nhập khẩu
và thương hiệu nước ngoài
lOMoARcPSD| 58562220
Trên thị trường quốc tế, tôm Việt Nam chủ yếu được bán dưới nhãn hiệu của các công ty phân
phối hoặc thương hiệu của các nhà bán lẻ nước ngoài, thay mang thương hiệu Việt Nam.
Điều này làm cho người tiêu dùng khó nhận diện được tôm đến từ Việt Nam, khi ngvề
tôm, họ thường không nhớ đến Việt Nam như một nguồn gốc.
Thương hiệu tôm của Việt Nam không nổi bật hoặc không được xây dựng bài bản như tôm từ
Thái Lan hay Ecuador. Nhiều nhà nhập khẩu không coi tôm Việt Nam một thương hiệu
mạnh với giá trị độc lập mà chỉ là nguồn cung cấp nguyên liệu.
Tôm Việt Nam chủ yếu xuất khẩu dưới dạng sản phẩm thô hoặc chế, không được chế
biến sâu đóng gói dưới thương hiệu Việt Nam. vậy, giá trị gia tăng chủ yếu được
hưởng lợi bởi các công ty nước ngoài sở hữu thương hiệu lớn. Thiếu chiến lược
marketing và truyền thông hiệu quả
Ngành tôm Việt Nam chưa chiến lược marketing bài bản, chưa tận dụng được các kênh
truyền thông và sự kiện quốc tế để quảng bá thương hiệu. Việc thiếu các chiến dịch quảng bá
những thị trường lớn như Mỹ, Nhật Bản, EU làm giảm khả năng nhận diện làm yếu
vị thế cạnh tranh.
Việc không đầu vào tiếp thị kỹ thuật số quảng sản phẩm trên các nền tảng như website,
mạng xã hội khiến thương hiệu tôm Việt Nam không tiếp cận được đến đối tượng khách hàng
mới, đặc biệt là nhóm người tiêu dùng trẻ tuổi và am hiểu công nghệ.
Độ bền vững và chứng nhận quốc tế chưa được chú trọng
Người tiêu ng quốc tế ngày càng quan tâm đến các vấn đề bền vững như bảo vệ môi trường,
quyền lợi lao động và an toàn sinh thái. Trong khi một số doanh nghiệp Việt Nam đã cố gắng
đạt các chứng nhận quốc tế (như ASC, BAP): Công ty Cổ phần Trung
Sơn (Kiên Giang), Công ty TNHH Xã hội Tôm Minh Phú (Cà Mau), Hợp tác xã Toàn Thắng
(Sóc Trăng) và Hợp tác xã Tân Hưng (Cà Mau), … tuy nhiên số lượng còn khá khiêm tốn.
2.3 Thách thức
2.3.1 Hạn ngạch nhập khẩu
Hạn ngạch nhập khẩucông cụ thương mại được áp dụng nhằm giới hạn số lượng hoặc giá
trị hàng hóa một quốc gia cho phép nhập khẩu, nhằm bảo vệ ngành sản xuất trong nước,
kiểm soát giá cả, hoặc duy trì cân bằng thương mại.
Tiêu biểu thị trường Hàn Quốc, thị trường lớn của ngành xuất khẩu tôm Việt Nam: 50%
lượng tôm nhập khẩu của nước này tới từ Việt Nam, tuy nhiên việc xuất khẩu tôm vẫn phải
tuân thủ những quy định hạn ngạch nghiêm khắc. Theo quy định, nhập khẩu tôm từ Việt Nam
theo hạn ngạch thuế suất 14-16%, nếu vượt hạn ngạch, thuế suất thể tăng lên đến
20%. Điều này đặt tôm Việt Nam vào tình thế cạnh tranh khó khăn so với tôm từ Peru, quốc
gia được miễn thuế nhờ Hiệp định Thương mại Tự do (FTA) với Hàn Quốc.
2.3.2 Yêu cầu cao về chất lượng sản phẩm và truy xuất nguồn gốc
Các thị trường lớn như Hoa Kỳ, EU Trung Quốc đang áp dụng các quy định nghiêm
ngặt về an toàn thực phẩm, nhiều nhà n lẻ hiện cũng xem xét thêm các yếu tố
khác ngoài khả năng truy xuất nguồn gốc tôm. Họ đánh giá các thành phần trong thức
ăn, môi trường nuôi, việc sử dụng hóa chất hay kháng sinh trong quá trình nuôi,
tính bền vững của phương pháp sản xuất.
lOMoARcPSD| 58562220
Đồng thời, các thị trường nhập khẩu tôm Việt Nam cũng đề ra những quy định “quá
nghiêm ngặt” về chất lượng sản phẩm, đặc biệt là yếu tố kháng sinh trong sản phẩm.
Công văn 48/CV-VASEP: Báo cáo, đề xuất việc tham vấn & kiến nghị với
CQTQ Nhật Bản về bất cập trong ngưỡng chấp nhận chỉ tiêu kháng sinh Doxycycline áp
dụng trong kiểm soát thủy sản NK vào Nhật Bản
2.3.3 Rào cản thuế quan
Thuế nhập khẩu thông thường
Đây là loại thuế được áp dụng đối với tất cả các sản phẩm tôm nhập khẩu vào một quốc gia.
Tuy mức thuế này thể thay đổi tùy thuộc vào từng quốc gia c hiệp định thương mại
tự do (FTA), nhưng vẫn một trong những rào cản thương mại lớn đối với các nhà xuất
khẩu tôm.
Thị trường Mỹ: Mỹ áp dụng thuế nhập khẩu đối với tôm nhập khẩu từ các quốc gia
không có thỏa thuận thương mại đặc biệt. Tuy nhiên, các mức thuế này không phải lúc
nào cũng cao và có thể thay đổi theo từng loại tôm hoặc theo từng khu vực.
lOMoARcPSD| 58562220
Thị trường EU: Các quốc gia EU có thể áp dụng thuế nhập khẩu đối với tôm, nhưng
EU cũng các chương trình ưu đãi thuế quan dành cho các quốc gia phát triển
đang phát triển. Các quốc gia như Việt Nam thể được hưởng các ưu đãi thuế quan
dưới các thỏa thuận nHệ thống Ưu đãi Thuế quan Tối huệ quốc (MFN) hoặc
Chương trình Ưu đãi Thuế quan (GSP), nhưng mức thuế nhập khẩu vẫn có thể dao
động.
Thuế chống bán phá giá (Anti-dumping duties)
Thuế chống bán phá giá là một trong những rào cản thuế quan phổ biến đối với ngành xuất
khẩu tôm Việt Nam, đặc biệt là khi sản phẩm tôm của Việt Nam được cho là bán với giá thấp
hơn giá trị thị trường trong nước (dumping). Điều này thể xảy ra khi chính phủ Việt Nam
hoặc các công ty tôm của Việt Nam áp dụng các biện pháp trợ cấp hoặc giảm giá bán sản
phẩm để gia tăng khả năng cạnh tranh trên thị trường quốc tế.
Thuế chống bán phá giá tại Mỹ:
o Vào những năm trước, Mỹ đã áp dụng thuế chống bán phá giá đối với tôm
tôm chân trắng từ Việt Nam. Mức thuế này dao động từ 0% đến 25% tùy
thuộc vào việc các công ty có hợp tác trong cuộc điều tra của Mỹ hay không.
o Những công ty không hợp tác hoặc bị phát hiện có hành vi bán phá giá sẽ phải
chịu mức thuế cao hơn. Mức thuế có thể áp dụng trong 5 năm hoặc lâu hơn nếu
không có sự thay đổi trong điều kiện thị trường.
dụ: Một ng ty xuất khẩu tôm từ Việt Nam vào Mỹ thể phải trả thuế chống bán phá
giá 10%, trong khi các công ty hợp tác trong điều tra và có kết quả tốtthể không bị áp thuế
hoặc chỉ chịu thuế rất thấp.
Thuế chống bán phá giá tại EU: Tương tự, EU cũng áp dụng các biện pháp phòng
vệ thương mại đối với tôm Việt Nam, đặc biệt nếu nghi ngờ về hành vi bán phá
giá. Thuế chống bán phá giá thể làm giảm khả năng cạnh tranh của tôm Việt Nam
tại các thị trường EU, tôm Việt Nam sẽ bị đánh thuế cao hơn so với các quốc gia
khác như Ấn Độ hay Ecuador.
Mức thuế nhập khẩu trong các hiệp định thương mại tự do (FTA)
Việc tham gia vào các hiệp định thương mại tự do (FTA) thể giúp giảm hoặc loại bỏ thuế
quan đối với ng hóa xuất khẩu, bao gồm tôm. Tuy nhiên, nếu một quốc gia không tham gia
các FTA hoặc không đạt được các điều khoản ưu đãi, mức thuế nhập khẩu vẫn có thể rất cao.
Hiệp định EVFTA (EU-Vietnam Free Trade Agreement): Việc Việt Nam kết
Hiệp định Thương mại Tự do Việt Nam - EU (EVFTA) vào năm 2020 giúp giảm
thuế quan đối với nhiều mặt ng, bao gồm tôm. ới EVFTA, thuế nhập khẩu tôm
Việt Nam vào EU đã giảm dần sẽ hoàn toàn loại bỏ trong vòng vài năm tới. Điều
này giúp m Việt Nam lợi thế cạnh tranh so với các quốc gia khác không thỏa
thuận thương mại với EU.
2.3.4 Biến đổi khí hậu
Biến đổi khí hậu đang ngày càng ảnh hưởng mạnh đến ngành nuôi trồng thủy sản ven biển
Việt Nam, gây ra c hiện tượng thời tiết cực đoan như bão lớn, hạn hán kéo dài, xâm nhập
mặn nhiệt độ nước biển tăng cao trong năm 2023-2024. Những tác động này không chỉ
lOMoARcPSD| 58562220
làm suy giảm năng suất và sản lượng thủy sản, mà còn đe dọa sinh kế và an ninh kinh tế của
người dân ven biển.
Các biểu hiện khí hậu bất thường ảnh hưởng đến nuôi trồng thủy sản
Nhiều cơn bão và áp thấp nhiệt đới
Năm 2023-2024 chứng kiến sự gia tăng về cả tần suất lẫn cường độ của các cơn bão áp
thấp nhiệt đới tại Việt Nam. Bão áp thấp nhiệt đới không chỉ y thiệt hại cho sở hạ
tầng nuôi tôm (ao, đầm, lồng bè nuôi)còn ảnh hưởng đến môi trường sống của tôm. Các
cơn bão mạnh (Yagi) thể làm sụp đổ các ao nuôi, cuốn trôi m, hủy hoại hệ thống cấp
nước, và khiến tôm bị chết do thiếu oxy hoặc chất lượng nước bị suy giảm đột ngột. Các tác
động này dẫn đến tổn thất kinh tế lớn cho người nuôi m, đồng thời ảnh hưởng đến chuỗi
cung ứng và xuất khẩu tôm của Việt Nam. Xâm nhập mặn sớm và sâu hơn
Xâm nhập mặn là một vấn đề nghiêm trọng đối với các vùng nuôi tôm, đặc biệt là ở các tỉnh
ven biển miền Trung và miền Nam. Khi mực nước biển dâng cao hoặc sự thay đổi trong
hình khí hậu, độ mặn của ớc thể thay đổi đột ngột, gây ra những tác động tiêu cực
đối với các loài thủy sản. Tôm, đặc biệt tôm nuôi trong ao ớc lợ hoặc nước ngọt, sẽ bị
sốc và chết nếu độ mặn thay đổi đột ngột hoặc quá cao. Xâm nhập mặn sớm và sâu hơn cũng
làm ảnh hưởng đến sự cung cấp nước sạch cho các khu vực nuôi tôm nước ngọt, gây khó khăn
trong việc duy trì chất lượng nước và sức khỏe của tôm.
2.3.5 Đối thủ cạnh tranh
Cạnh tranh từ các quốc gia xuất khẩu tôm hàng đầu
Ngành tôm Việt Nam đang phải đối mặt với sự cạnh tranh quyết liệt từ các quốc gia xuất khẩu
lớn như Ấn Độ, Thái Lan, Indonesia, Ecuador. Các nước này tận dụng lợi thế chi phí sản
xuất thấp, công nghệ tiên tiến, và quy mô nuôi trồng lớn để giữ vững thị phần toàn cầu, đặt ra
thách thức lớn cho ngành tôm Việt Nam, đặc biệt khi chi phí sản xuất cao của Việt Nam
khiến giá tôm khó cạnh tranh trên các thị trường nhạy cảm về giá, buộc nước ta phải cải thiện
cả về chất lượng và chi phí sản xuất nhằm gia tăng sức cạnh tranh trên thị trường quốc tế.
Ấn Độ
Ấn Độ là một trong những nhà cung cấp tôm hàng đầu thế giới nhờ quy mô nuôi trồng lớn và
việc áp dụng công nghệ tiên tiến. Xu hướng xuất khẩu tôm của n Độ duy trì mức tăng trưởng
ổn định, đặc biệt trong các sản phẩm tôm chân trắng. Trong tháng 7 năm 2024, Ấn Độ đã
xuất khẩu 70.070 tấn tôm, tăng 5% so với cùng kỳ năm ngoái, chủ yếu nhờ nhu cầu từ thị
trường Hoa Kỳ EU tăng mạnh, mặc xuất khẩu sang Trung Quốc đã giảm nhẹ. Động thái
này cho thấy khả năng của Ấn Độ trong việc nắm bắt các cơ hội trên thị trường quốc tế thông
qua chiến lược cạnh tranh giá thấp, đặt áp lực lên các đối thủ, trong đó có Việt Nam.
Thái Lan
Thái Lan hướng đến chiến lược chất lượng cao với sự kiểm soát nghiêm ngặt về tiêu chuẩn
sản xuất chế biến, tạo lợi thế trên các thị trường yêu cầu tiêu chuẩn cao. Thái Lan không
đặt mục tiêu tăng trưởng mạnh về sản lượng, mà thay vào đó, tập trung vào các sản phẩm
giá trị gia tăng cao nhằm phục vụ cả thị trường nội địa khách du lịch. Sản ợng tôm của
Thái Lan trong năm 2022 đạt khoảng 125.000 tấn, chủ yếu tôm chân trắng. Để gia tăng kh
năng cạnh tranh, Thái Lan cũng duy trì nhập khẩu tôm ngun liệu từ Ecuador Argentina
nhằm đáp ứng nhu cầu chế biến xuất khẩu.
Ecuador
lOMoARcPSD| 58562220
Ecuador nổi bật với mô hình nuôi tôm công nghiệp quy mô lớn và chi phí sản xuất thấp, nhờ
việc sử dụng công nghệ hiện đại và quản lý chặt chẽ. Mật độ thả giống thấp giúp Ecuador đạt
hiệu quả cao, giảm chi phí sản xuất, tạo ra lợi thế cạnh tranh về giá. có sự sụt giảm trong
xuất khẩu tôm ở đầu năm 2024, Ecuador vẫn duy trì mức xuất khẩu lớn, trong đó Trung Quốc
và Mỹ là hai thị trường chính. Sản lượng xuất khẩu tháng 4/2024 đạt kỷ lục 111.684 tấn, tăng
19% về khối lượng và 4% về giá trị so với cùng kỳ năm trước. Việc duy trì tốc độ tăng trưởng
xuất khẩu cho thấy Ecuador đang điều chỉnh linh hoạt để đáp ng nhu cầu toàn cầu, tạo sức
ép lớn cho các đối thủ trong đó có Việt Nam.
So sánh với các nước xuất khẩu tôm hàng đầu trên thế giới Áp lực về giá cả
Giá thành một thách thức lớn cho ngành tôm Việt Nam trong bối cảnh cạnh tranh gay gắt,
khi các quốc gia xuất khẩu hàng đầu liên tục điều chỉnh giá để mở rộng thị phần. Các nước
như Ấn Độ, Ecuador và Indonesia đã áp dụng các chiến lược cắt giảm chi phí sản xuất để tối
ưu hóa lợi nhuận.
Các ớc này ưu tiên sử dụng thức ăn hàm ợng đạm thấp (35-38%), giúp giảm chi phí
thức ăn đáng kể. Trong khi đó, Việt Nam phải sử dụng thức ăn đạm cao để rút ngắn thời gian
nuôi, tuy nhiên lại làm tăng chi phí sản xuất.
Đặc biệt, chi phí sản xuất trung bình tại Ecuador và Ấn Độ lần lượt là 2,2-2,4 USD/kg và 2,7-
3 USD/kg, trong khi tại Việt Nam 3,5-4,2 USD/kg. Với chi phí sản xuất thấp hơn, các đối
thủ của Việt Nam thể giảm giá bán, thu hút khách hàng trên thị trường quốc tế. hình
chuỗi cung ứng hiệu quả giúp các nước này giảm chi phí sản xuất tăng tính cạnh tranh,
trong khi ngành tôm Việt Nam đang gặp khó khăn trong việc duy trì biên lợi nhuận.
2.4 Cơ hội
Ngành xuất khẩu tôm của Việt Nam tiềm năng lớn trên thị trường quốc tế, đặc biệt với
nhu cầu ngày càng tăng từ các thị trường lớn như Hoa Kỳ, Nhật Bản, Liên minh châu Âu
(EU), Trung Quốc và Hàn Quốc.
Trong nửa đầu năm 2024, nhập khẩu tôm của EU tăng trưởng ổn định, và các thị trường như
Đức, Lan, Bỉ ghi nhận mức tăng cao nhất. Tôm chân trắng chiếm đa số trong cơ cấu
nhập khẩu tôm của EU từ Việt Nam, với tỷ trọng khoảng 80,5%, theo sau là tôm sú (12,4%).
Thị trường Bắc Âu nhu cầu lớn về các sản phẩm giá trị gia tăng, tiện lợi, trong khi Nam
Âu lại ưu tiên các sản phẩm giá cả phải chăng hơn như tôm chân trắng chế biến. Thị trường
châu Á: Trung Quốc, Nhật Bản và Hàn Quốc là ba thị trường lớn ở châu Á, với nhu cầu nhập
khẩu m ngày ng tăng. Những quốc gia y đều có xu hướng tiêu thụ thực phẩm từ hải sản
do thay đổi trong xu hướng dinh dưỡng.
Ngoài ra việc tiếp cận, áp dụng công nghệ mới như hệ thống tuần hoàn nước, công nghệ
Biofloc, nuôi tôm trong nhà màng tạo ra hội cải thiện hiệu quả sản xuất, giảm rủi ro
dịch bệnh tăng chất lượng tôm. ng nghệ hiện đại giúp tối ưu hóa quy trình sản xuất
nâng cao chất lượng sản phẩm, từ đó giúp ngành tôm Việt Nam đáp ứng tốt hơn các tiêu chuẩn
quốc tế về an toàn thực phẩm và truy xuất nguồn gốc.
Chính phủ cũng đã tạo những điều kiện thuận lợi cho ngành xuất khẩu tôm bằng việc áp dụng
nhiều chính sách trong nước nhằm thúc đẩy ngành phát triển bền vững gia tăng sức cạnh
tranh quốc tế. Trước hết, cung cấp các khoản vay ưu đãi và giảm thuế nhập khẩu đối với thiết
bị, máy móc phục vụ nuôi trồng chế biến tôm, đồng thời khuyến khích ứng dụng công
nghệ cao vào sản xuất tôm cũng được thúc đẩy mạnh mẽ. Các doanh nghiệp trong ngành được
lOMoARcPSD| 58562220
hỗ trợ để nghiên cứu ứng dụng công nghệ, phát triển c giống tôm kháng bệnh nâng
cao năng suất, giúp giảm thiểu rủi ro trong sản xuất.
Cuối cùng, các hiệp định thương mại quốc tế cũng có những thuận lợi nhất định cho quá trình
ra biển lớn của ngành Xuất khẩu tôm Việt Nam, như Hiệp định Thương mại Tự do Việt Nam
- EU (EVFTA), Hiệp định Đối tác Toàn diện Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP),
và Hiệp định Đối tác Kinh tế Toàn diện Khu vực (RCEP), đều các điều khoản quan trọng
giúp thúc đẩy ngành xuất khẩu tôm của Việt Nam phát triển mạnh mẽ hơn.
Trước hết, các điều khoản về cắt giảm thuế quan là yếu tố nổi bật. Các hiệp định này cam kết
giảm hoặc loại bỏ thuế nhập khẩu đối với sản phẩm tôm từ Việt Nam. dụ, EVFTA giảm
dần thuế nhập khẩu tôm vào EU xuống mức thấp hoặc bằng 0% theo lộ trình. Điều này giúp
tôm Việt Nam có giá thành cạnh tranh hơn so với tôm từ các nước chưa có hiệp định thương
mại với EU hoặc các thành viên CPTPP.
Thứ hai, các điều khoản về thuận lợi hóa thương mại trong các hiệp định giúp đơn giản hóa
thủ tục xuất khẩu và rút ngắn thời gian thông quan. Ví dụ, hiệp định CPTPP quy định các bên
ký kết phải tăng cường chế "một cửa" điện tử trong quy trình hải quan, tạo điều kiện cho
doanh nghiệp Việt Nam giảm bớt thời gian và chi phí khi xuất khẩu tôm sang các ớc thành
viên như Nhật Bản, Canada và Mexico.
Cuối cùng, các hiệp định thường kèm theo các điều khoản bảo vệ quyền lợi doanh nghiệp
chế giải quyết tranh chấp thương mại, giúp doanh nghiệp Việt Nam an tâm khi giao thương
với các đối tác quốc tế. Những điều khoản y tạo ra môi trường kinh doanh n định, thuận
lợi và an toàn hơn cho ngành xuất khẩu tôm.
3. Giải pháp nâng cao hiệu quả xuất khẩu
3.1 Nâng cao chất lượng sản phẩm, con giống
Trong ngành nuôi tôm, chất lượng giống đóng vai trò then chốt quyết định đến hiệu quả sản
xuất và lợi nhuận của người nuôi. Một giống tôm khỏe mạnh, khả năng chống chịu tốt sẽ
giúp giảm thiểu rủi ro và tối ưu hóa năng suất nuôi trồng. Tuy nhiên, hiện nay ở Việt Nam vẫn
còn thiếu các cơ sở nghiên cứu và phát triển giống tôm bố mẹ chất lượng cao, sạch bệnh phục
vụ cho sản xuất. Sự thiếu hụt này dẫn đến tình trạng người nuôi phải phụ thuộc vào giống
nhập khẩu, trong đó có cả những lô hàng tôm bố mẹ chất lượng thấp, dễ mang mầm bệnh vào
môi trường nuôi nội địa.
Để giải quyết tình trạng này, Việt Nam cần xây dựng một chiến lược phát triển giống tôm lâu
dài bền vững. Trước tiên, nên đầu mạnh mẽ vào các chương trình gia hóa chọn lọc
di truyền nhằm nâng cao chất lượng của cả hai giống tôm chủ lực: tôm sú và tôm chân trắng.
Đây các chương trình quan trọng để tạo ra các dòng giống khỏe mạnh, sức đề kháng
cao, thích ng tốt với điều kiện nuôi trồng trong nước đáp ứng yêu cầu về an toàn thực
phẩm quốc tế.
Để cải thiện chất lượng tôm giống tăng cường kiểm soát dịch bệnh, chính phủ cần triển
khai một hệ thống kiểm định nghiêm ngặt, chỉ cho phép các trại giống lớn đạt chuẩn mới được
quyền sản xuất và phân phối tôm giống ra thị trường. Cụ thể, cần:
Thiết lập tiêu chuẩn chất lượng nghiêm ngặt cho trại giống lớn: Các tiêu chuẩn
này sẽ bao gồm cả yêu cầu về cơ sở vật chất, quy trình sản xuất, kiểm soát môi trường
lOMoARcPSD| 58562220
điều kiện sinh trưởng của tôm bố mẹ. Các trại giống phải đạt chứng nhận tiêu chuẩn
về phòng chống dịch bệnh, sử dụng công nghệ lai tạo chọn lọc giống an toàn, không
gây ảnh hưởng đến môi trường sinh thái.
Cấp giấy phép hoạt động phân phối m giống cho các trại đạt chuẩn: Chỉ
những trại giống lớn có giấy chứng nhận từ các quan có thẩm quyền mới được phép
phân phối tôm giống ra thị trường. Các giấy phép này sẽ đảm bảo rằng trại giống đáp
ứng đủ các yêu cầu về quy trình sản xuất tôm giống an toàn, sạch bệnh, góp phần duy
trì uy tín của ngành nuôi tôm Việt Nam.
3.2 Đa dạng hoá sản phẩm, đẩy mạnh hàng chế biến sâu, giá trị gia tăng
Từ thực trạng xuất khẩu tôm của Việt Nam năm 2023 gặp nhiều kkhăn, việc đa dạng
hóa sản phẩm, phát triển các sản phẩm tôm chế biến sâu, tôm giá trị gia tăng sẽ một trong
những sách lược giúp các doanh nghiệp thể trụ vững tiếp tục phát triển. Để sử dụng
phương pháp này có hiệu quả cần nghiên cứu kỹ nhu cầu tiêu dùng của các thị trường trên thế
giới để đa dạng hoá và cung cấp các mặt hàng thuỷ sản phù hợp, trong đó quan tâm nhiều hơn
đến sản phẩm tôm chế biến sâu.
Hiện nay, xuất khẩu thuỷ sản nói chung và kim ngạch tôm nói riêng của Việt Nam chủ
yếu dưới dạng thô, chế nên giá trị thu được không cao. Lạm phát ng cao tại các thị trường
xuất khẩu chính khiến nhu cầu nhập khẩu giảm. Sản ợng tôm toàn cầu tăng, sản xuất
xuất khẩu tôm của các nước đối thủ, đặc biệt Ecuador tăng trưởng bùng nổ, gây thừa
lớn cho nguồn cung và đồng thời làm giảm mạnh giá tôm nguyên liệu trên thế giới. Trong khi
đó, chi phí nuôi sản xuất tôm tại Việt Nam lại cao hơn từ 20-35% so với Ecuador Ấn
Độ. Không chỉ vậy, đối với những thị trường xuất khẩu tôm chủ lực của Việt Nam như Mỹ và
EU, xét về vận chuyển logistics, khoảng cách địa khiến cho Việt Nam tốn chi phí
cước vận tải biển cao hơn nhiều so với các thị trường đối thủ. Điều này đặt ra yêu cầu cho các
doanh nghiệp Việt Nam cần phải tránh tư duy “bỏ hết trứng vào cùng một giỏ”, tránh chỉ tập
trung khai thác, sản xuất tôm nguyên liệu; thay vào đó, đặt ra bài toán cần phải đa dạng hoá
sản phẩm, định vị và tái cơ cấu tôm xuất khẩu cho phù hợp với xu thế của thời đại.
Khi tăng trưởng sản lượng nuôi trồng chỉ giới hạn, chế biến sản phẩm giá trị gia
tăng sẽ là xu thế, giúp đạt được các mục tiêu về kim ngạch xuất khẩu trong tương lai. Vì vậy,
việc nâng cao tỷ trọng mặt hàng tôm chế biến sâu (hay còn gọi là tôm giá trị gia tăng) là một
hướng đi mới đầy tiềm năng cho xuất khẩu tôm của Việt Nam. TS. Hồ Quốc Lực - nguyên
Chủ tịch VASEP, Chủ tịch Hội đồng Quản trị Công ty Cổ phần Thực phẩm Sao Ta (FIMEX),
Doanh nhân Việt Nam tiêu biểu năm 2022, cho biết trong số 3 nước sản lượng tôm cao
nhất thế giới (Ecuador, Ấn Độ và Việt Nam) ttrình độ chế biến của các doanh nghiệp tôm
Việt thuộc cấp độ cao nhất trên thế giới và đây một lợi thế cạnh tranh lớn. Trình độ chế biến
tôm của chúng ta đang không ngừng tăng, với mặt hàng mới ngày càng phong phú. Các sản
phẩm tôm giá trị gia ng nổi bật của Việt Nam có thể kể đến như tôm bao bột, tôm chiên, tôm
tẩm gia vị, tôm xẻ ớm, tôm xiên que, tôm tempura, tôm nobashi, cảo tôm, sủi cảo m
gừng, tôm thẻ thịt duỗi tẩm bột chiên đông lạnh, tôm thẻ xiên que đông lạnhĐây thể coi
một “vũ khí” quan trọng của xuất khẩu tôm Việt Nam để thể chiếm giữ thị phần trụ
vững dưới sức ép cạnh tranh lớn trên thế giới.
Phát triển sản phẩm mới, sản phẩm giá trị gia tăng phải căn cứ vào nhu cầu cụ thể của
từng thị trường và từng phân khúc của mỗi thị trường. Trong dài hạn, các doanh nghiệp Việt
Nam cần nỗ lực hơn nữa trong nghiên cứu thị trường, nghiên cứu vthị hiếu tiêu dùng mới,
cụ thể là nghiên cứu một cách thấu đáo khẩu vị, sở thích, bao bì, cách đóng gói, cách thức chế
biến phù hợp với từng loại sản phẩm. Người tiêu dùng ngày càng tiết kiệm thời gian, nên các
sản phẩm tiện lợi, dễ chế biến ngày càng được chú ý. Cụ thể như Trung Quốc - vốn một
lOMoARcPSD| 58562220
nước chuyên nhập khẩu tôm nguyên liệu giđây đang xu hướng tăng nhập khẩu một số
loại tôm chế biến, tiêu biểu như sản phẩm tôm sú luộc (hấp) với màu đỏ bắt mắt. Còn tại Hàn
Quốc, nhu cầu đối với thực phẩm nấu chín, chế biến bảo quản sẵn đang tăng n nhanh
chóng. Đây là cơ hội thuận lợi cho các doanh nghiệp đẩy mạnh xuất khẩu các sản phẩm thủy
sản ăn liền đã qua chế biến và bộ sản phẩm nấu ăn tiện lợi thâm nhập sang thị trường này.
3.3 Tăng cường đa dạng hóa thị trường xuất khẩu và khai thác thị trường nội địa
Đa dạng hóa thị trường xuất khẩu là giải pháp thiết yếu giúp ngành m Việt Nam giảm
thiểu sự phụ thuộc vào một số thị trường lớn, đồng thời ổn định sản lượng và doanh thu. Tình
hình thương mại toàn cầu hiện đang biến động mạnh mẽ, đòi hỏi các doanh nghiệp tôm Việt
Nam phải mrộng sang các thị trường mới đduy trì tăng trưởng ổn định. Để tận dụng
hội này, việc khai thác các hiệp định thương mại tự do (FTA) mà Việt Nam đã kết, chẳng
hạn CPTPP (Hiệp định Đối tác Toàn diện Tiến bộ xuyên Thái Bình ơng), EVFTA (Hiệp
định thương mại tự do Liên minh châu Âu-Việt Nam) UKVFTA (Hiệp định Thương mại
Tự do Việt Nam - Vương quốc Anh và Bắc Ailen), sẽ giúp tôm Việt Nam có lợi thế cạnh tranh
lớn hơn trên các thị trường quốc tế.
Song song với đó, việc mở cửa thị trường mới là một bước đi cần thiết nhằm giảm rủi
ro từ sự phụ thuộc vào các thị trường truyền thống. Bộ Công Thương và Bộ Nông nghiệp
Phát triển ng thôn đang tích cực đàm phán mở rộng xuất khẩu m sang các nước nhu
cầu cao như Trung Quốc, thông qua hình thức xuất khẩu chính ngạch. Xuất khẩu chính ngạch
không chỉ giúp nâng cao thương hiệu tôm Việt còn cải thiện khả năng kiểm soát chất
lượng, đảm bảo lợi ích cho cả người nuôi doanh nghiệp. Ngoài ra, các thị trường tiềm năng
như UAE, Israel và các quốc gia thuộc khối MERCOSUR (Thị trường chung Nam Mỹ) cũng
mở ra những triển vọng mới.
Việc đa dạng hóa thị trường xuất khẩu, khai thác thị trường nội địa một cách hiệu quả
cũng là chiến lược quan trọng nhằm đảm bảo sự ổn định lâu dài cho ngành. Theo ông Trương
Đình Hòe - Tổng thư Hiệp hội chế biến xuất khẩu thủy sản Việt Nam (VASEP), hiện
nay khoảng 150.000 tấn tôm sú được tiêu thụ ngay trong nước, cho thấy nhu cầu lớn từ người
tiêu dùng nội địa. Để đáp ứng nhu cầu này, các doanh nghiệp cần có chiến lược chuyển hướng
mạnh vào thị trường nội địa, đặc biệt trong những thời điểm xuất khẩu gặp khó khăn. Khi có
được sự ổn định từ thị trường trong nước, người nuôi tôm sẽ an tâm sản xuất, không còn phụ
thuộc hoàn toàn vào sự biến động của thị trường xuất khẩu, từ đó tạo nền tảng vững chắc cho
sự phát triển của toàn ngành. Để thị trường nội địa thực sự trở thành một bệ đỡ cho ngành
tôm, các doanh nghiệp cần đầu tư vào đa dạng hóa sản phẩm chế biến sẵn, chú trọng đến các
sản phẩm tiện lợi phợp với nhu cầu của người tiêu dùng hiện đại, đặc biệt tại các thành
phố lớn.
Kết luận
Ngành xuất khẩu tôm Việt Nam đang ngày càng khẳng định vai trò quan trọng trong nền kinh tế
quốc gia, không chỉ qua đóng góp nguồn thu ngoại tệ mà còn thông qua việc tạo công ăn việc làm và
thúc đẩy phát triển kinh tế bền vững tại các vùng ven biển. Với sự gắn kết chặt chẽ của nền kinh tế
Việt Nam vào thương mại toàn cầu, ngành xuất khẩu tôm có nhiều cơ hội mở rộng thị trường nhờ các
hiệp định thương mại tự do. Tuy nhiên, điều này cũng đòi hỏi ngành tôm phải nỗ lực cải tiến chất
lượng sản phẩm tối ưu hóa chuỗi cung ứng để đáp ứng được các tiêu chuẩn ngày càng khắt khe
của thị trường quốc tế.
Trong ngắn hạn, ngành tôm Việt Nam sẽ đối mặt với những thách thức đáng kể từ biến động kinh
tế toàn cầu và các yếu tố bất ổn chính trị. Việc nhiều quốc gia siết chặt các tiêu chuẩn nhập khẩu đòi
hỏi các doanh nghiệp tôm phải nâng cao năng lực cạnh tranh, đảm bảo chất lượng tính bền vững
trong sản phẩm của mình. Đồng thời, sự gia tăng nhu cầu thực phẩm bền vững trên toàn thế giới mang

Preview text:

lOMoAR cPSD| 58562220
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG
VIỆN KINH TẾ VÀ KINH DOANH QUỐC TẾ
---🙠🕮🙢---
TIỂU LUẬN GIỮA KỲ
THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH
TRANH CỦA NGÀNH TÔM VIỆT NAM TRÊN THỊ TRƯỜNG QUỐC TẾ Môn học
Quan hệ kinh tế quốc tế Lớp tín chỉ KTE306(2425-1)2.1
Giáo viên hướng dẫn TS. Phạm Thị Huyền Trang Nhóm 3
Hà Nội, 11/2024
DANH SÁCH THÀN VIÊN NHÓM 3 Số thứ tự Họ và tên Mã số sinh viên 1
Bùi Tá Thịnh (Nhóm trưởng) 2311110288 lOMoAR cPSD| 58562220 2 Bùi Lê Huy 2311110120 3 Nguyễn Đình Cần 2311110045 4 Trần Thị Minh Chi 2314110052 5 Mai Hùng Dũng 2314110062 6 Trịnh Thị Tuyết Anh 2311110014 7 Trần Mai Linh 2311110152 8 Trần Thu Trang 2314110301 9 Nguyễn Thị Huyền 2314510053 10 Hà Thùy Minh 2311710063 lOMoAR cPSD| 58562220 Mục lục
1. Tổng quan ngành xuất khẩu tôm tại Việt Nam những năm gần đây ........................... 2
1.1 Lịch sử phát triển .................................................................................................. 2
1.2 Tình hình hiện tại .................................................................................................. 3
1.2.1 Quy mô sản xuất ............................................................................................ 3
1.2.2 Sản lượng ....................................................................................................... 4
1.2.3 Các vùng sản xuất chính ................................................................................ 4
1.2.4 Thị trường xuất khẩu chính ............................................................................ 4
2. Phân tích năng lực cạnh tranh của ngành xuất khẩu tôm Việt Nam ........................... 6
2.1 Điểm mạnh ............................................................................................................ 6
2.1.1 Điều kiện tự nhiên thuận lợi........................................................................... 6
2.1.2 Chi phí lao động thấp ..................................................................................... 7
2.1.3 Sản lượng tôm lớn .......................................................................................... 7
2.2 Điểm hạn chế ........................................................................................................ 7
2.2.1 Hạn chế trong kiểm soát dịch bệnh ................................................................ 7
2.2.2 Hạn chế về chất lượng sản phẩm ................................................................... 8
2.2.3 Chi phí sản xuất cao ....................................................................................... 9
2.2.4 Hạn chế kĩ thuật ............................................................................................. 9
2.2.5 Thiếu sự đa dạng trong sản phẩm ................................................................ 10
2.2.6 Phụ thuộc thị trường ..................................................................................... 10
2.2.7 Hạn chế về thương hiệu ............................................................................... 10
2.3 Thách thức ........................................................................................................... 11
2.3.1 Hạn ngạch nhập khẩu ................................................................................... 11
2.3.2 Yêu cầu cao về chất lượng sản phẩm và truy xuất nguồn gốc ..................... 11
2.3.3 Rào cản thuế quan ........................................................................................ 12
2.3.4 Biến đổi khí hậu ........................................................................................... 13
2.3.5 Đối thủ cạnh tranh ........................................................................................ 14
2.4 Cơ hội .................................................................................................................. 15
3. Giải pháp nâng cao hiệu quả xuất khẩu .................................................................... 16
3.1 Nâng cao chất lượng sản phẩm, con giống ......................................................... 16
3.2 Đa dạng hoá sản phẩm, đẩy mạnh hàng chế biến sâu, giá trị gia tăng ................ 17
3.3 Tăng cường đa dạng hóa thị trường xuất khẩu và khai thác thị trường nội địa .. 18
Danh mục tài liệu tham khảo......................................................................................25 lOMoAR cPSD| 58562220 LỜI MỞ ĐẦU
Việt Nam là một quốc gia đang phát triển, có lợi thế về vị trí địa lý, tài nguyên thiên nhiên,
nhân lực… Chính vì vậy, tiềm năng xuất khẩu của Việt Nam tương đối lớn và góp phần thúc
đẩy phát triển kinh tế - xã hội. Trong đó một trong những ngành hàng xuất khẩu mũi nhọn
phải kể đến thủy hải sản cụ thể là tôm. Theo trang tin Tạp chí Thủy sản Việt Nam, hiện nay
nước ta nằm trong top 3 quốc gia xuất khẩu tôm nhiều nhất thế giới, chiếm 13 – 14% tổng giá
trị xuất khẩu tôm toàn cầu và tôm của Việt Nam đã được xuất khẩu đến khoảng 100 quốc gia
và vùng lãnh thổ. Tuy nhiên, ngành xuất khẩu tôm Việt Nam cũng đang phải đối mặt với nhiều
thách thức và cạnh tranh gay gắt trên thị trường quốc tế.
Bên cạnh những điều kiện thuận lợi, ngành tôm Việt Nam đã và đang phải đối mặt với nhiều
thách thức trên thương trường xuất nhập khẩu và áp lực cạnh tranh với các nước như Ấn Độ,
Thái Lan và Ecuador; cũng như yêu cầu về chất lượng, an toàn thực phẩm, và bảo vệ môi
trường của các quốc gia và vùng lãnh thổ ngày càng khắt khe. Hơn nữa, ở một số thị trường
lớn như EU, Mỹ, Nhật Bản có chính sách và tiêu chuẩn được cập nhật liên tục và ngày càng
nghiêm ngặt đã đặt ra không ít khó khăn cho các doanh nghiệp tôm Việt Nam. Sự thiếu đồng
bộ trong quy trình sản xuất, chế biến, cùng với những bất cập trong quản lý và hỗ trợ chính
sách từ các cơ quan chức năng cũng là một trong những nguyên nhân làm giảm sức cạnh tranh của ngành tôm Việt Nam.
Nhận thấy nhu cầu về mặt hàng tôm ngày càng tăng, nhóm tác giả đã quyết định nghiên cứu
đề tài: “Thực trạng và giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh của ngành xuất khẩu tôm
Việt Nam trên thị trường quốc tế”, nhằm cung cấp cái nhìn sâu sắc và toàn diện hơn về
ngành xuất khẩu tôm cũng như tối ưu hóa nguồn lực hiện có và hạn chế những khó khăn trong
công cuộc khẳng định thương hiệu tôm Việt Nam trên bản đồ xuất khẩu toàn cầu.
1. Tổng quan ngành xuất khẩu tôm tại Việt Nam những năm gần đây
1.1 Lịch sử phát triển
Giai đoạn đầu (1998-2002): Ngành tôm Việt Nam chưa được chú trọng phát triển, với
sản lượng nuôi và công nghệ chế biến còn hạn chế. Từ 1998 đến 2002, xuất khẩu tôm
tăng trưởng ổn định, nhưng chưa vượt qua 1 tỷ USD. Năm 2003, kim ngạch xuất khẩu
tôm lần đầu tiên vượt mốc 1 tỷ USD.
Giai đoạn phát triển (2003-2009): Giá trị xuất khẩu tăng trưởng ổn định nhưng không
cao, từ 1,3 tỷ USD lên 1,7 tỷ USD trong giai đoạn này. Đến năm 2010, xuất khẩu tôm
đạt hơn 2 tỷ USD, chứng tỏ sự phát triển mạnh mẽ của ngành.
Giai đoạn khó khăn và phục hồi (2012-2014): Năm 2012, ngành tôm đối mặt với khó
khăn do rào cản kỹ thuật, dịch bệnh EMS (Early Mortality Syndrome - Hội chứng tôm
chết sớm) và khủng hoảng kinh tế toàn cầu, dẫn đến giảm 6,6% kim ngạch xuất khẩu. lOMoAR cPSD| 58562220
Tuy nhiên, ngành phục hồi mạnh mẽ trong hai năm 2013 và 2014, đạt lần lượt 3 tỷ
USD và gần 3,95 tỷ USD, nhờ vào nhu cầu tôm tăng cao và chính sách thuận lợi từ Mỹ.
Giai đoạn 2015-2017: Ngành tôm đối mặt với nhiều khó khăn như dịch bệnh (EMS),
giá tôm giảm, cạnh tranh gay gắt. Dẫn đến kim ngạch xuất khẩu tôm tăng trưởng chậm,
thậm chí có thời điểm giảm so với cùng kỳ; cụ thể năm 2015 đạt 2,4 tỷ USD. Tuy
nhiên, đến năm 2017 kim ngạch xuất khẩu tôm tăng mạnh trở lại và đạt 3,85 tỷ USD - tăng 22,3% so với 2016.
Giai đoạn 2018-2020: Ngành tôm dần phục hồi nhờ các biện pháp kiểm soát dịch
bệnh, đa dạng hóa thị trường, và nâng cao chất lượng sản phẩm. Chính vì vậy, kim
ngạch xuất khẩu tôm tăng trưởng ổn định và có sự chuyển biến rõ rệt.
Giai đoạn 2021-2023: Ngành tôm tiếp tục đà tăng trưởng, tuy nhiên chịu ảnh hưởng
của đại dịch COVID-19, giá nguyên liệu đầu vào tăng, và các rào cản thương mại. Vậy
nên kim ngạch xuất khẩu tôm tăng trưởng vẫn tích cực, nhưng với tốc độ chậm hơn so với giai đoạn trước.
1.2 Tình hình hiện tại
1.2.1 Quy mô sản xuất

Diện tích nuôi tôm:
Việt Nam hiện có khoảng 700.000 ha diện tích nuôi tôm, với khoảng 400.000 - 450.000
ha dành cho nuôi tôm chân trắng và khoảng 250.000 - 300.000 ha cho tôm sú. •
Các vùng nuôi tôm chủ yếu nằm ở khu vực ven biển, nơi có điều kiện tự nhiên thuận
lợi và ở khu vực vùng đồng bằng sông Cửu Long.
Số lượng hộ nuôi:
Ước tính có khoảng 200.000 - 300.000 hộ gia đình tham gia trực tiếp vào hoạt động
nuôi tôm, chủ yếu là các hộ nhỏ lẻ và hợp tác xã, bên cạnh đó cũng có sự góp mặt của
nhiều doanh nghiệp lớn, tiêu biểu có thể kể đến Công ty CP Thủy sản Sóc Trăng –
Stapimex, CTCP Tập đoàn Thủy sản Minh Phú – Minh Phu Seafood Corp, CTCP Thủy
sản Minh Phú - Hậu Giang, Công ty CP Thực phẩm Sao Ta – Fimex VN, CTCP Chế
biến và dịch vụ thủy sản Cà Mau....
Bảng 1. Top 5 doanh nghiệp xuất khẩu tôm Việt Nam, quý I/2024 (triệu USD) TT Tên
doanh QI/2024 QI/2023 Tăng,
Tỷ trọng trong Tỷ trọng trong nghiệp
giảm (%) xuất khẩu tôm xuất khẩu Thủy (%) sản (%) 1 Stapimex
67,401 53,653 25,6 9,8 3,5 2 Minh Phu
48,883 36,888 32,5 7,1 2,5 Seafood Corp lOMoAR cPSD| 58562220
3 Minh Phu Hau 43,358 40,885 6,0 6,3 2,2 Giang 4 Fimex VN
30,647 26,727 14,7 4,5 1,6 5 Cases
27,984 32,581 -14,1 4,1 1,4
Nguồn: VASEP (Theo số liệu từ Tổng cục Hải quan) 1.2.2 Sản lượng
Tôm sú (Penaeus monodon):
Sản lượng hàng năm khoảng 50.000 - 60.000 tấn. •
Đặc điểm: Tôm sú có thịt ngon, giá trị xuất khẩu cao, thường được tiêu thụ trong nước
và xuất khẩu sang các thị trường như Nhật Bản, Mỹ, EU.
Tôm chân trắng (Litopenaeus vannamei):
Sản lượng hàng năm khoảng 700.000 - 800.000 tấn, chiếm phần lớn sản lượng tôm của Việt Nam.
1.2.3 Các vùng sản xuất chính
Đồng bằng sông Cửu Long: nơi có Bạc Liêu, Sóc Trăng và Cà Mau là những tỉnh
hàng đầu về nuôi tôm chân trắng với nhiều mô hình nuôi tôm kết hợp áp dụng công
nghệ cao, chuyển dịch cơ cấu giống. Vì thế, tính tới năm 2023, tổng
sản lượng tôm của ĐBSCL vẫn đạt được mức ổn định, góp phần quan trọng vào kim
ngạch xuất khẩu thủy sản của cả nước.
Miền Trung: nổi tiếng với nuôi tôm sú, giống tôm chất lượng cao tại 2 tỉnh Khánh Hòa và Bình Định.
Miền Bắc: có sự tham gia của các tỉnh như Hải Phòng và Thái Bình trong việc phát
triển nuôi tôm, nhưng quy mô còn nhỏ so với miền Nam.
1.2.4 Thị trường xuất khẩu chính
Thị trường EU và Trung Quốc là hai thị trường xuất khẩu tôm lớn và quan trọng nhất của Việt Nam. lOMoAR cPSD| 58562220
(Nguồn: Hiệp hội chế biến và xuất khẩu thủy sản Việt Nam https://vasep.com.vn/)
Một số thành tựu gần đây
Tăng trưởng kim ngạch xuất khẩu:
Năm 2023: Chiếm tỷ trọng lớn nhất trong cơ cấu xuất khẩu thuỷ sản là mặt hàng tôm
với trị giá hơn 3,3 tỷ USD, chiếm khoảng 38% trị giá xuất khẩu thuỷ sản cả nước, giảm
21,6% so với năm 2022. Trong đó, xuất khẩu tôm chân trắng đạt 2,5 tỷ USD, giảm
20,5%; tôm sú đạt 460 triệu USD, giảm 19,8%.
Một số chủng loại xuất khẩu năm 2023 (Nguồn: Báo cáo Xuất nhập khẩu Việt Nam 2023 – Bộ Công Thương
https://trungtamwto.vn/file/22934/bao-cao-xuat-nhap-khau-viet-nam- nam2023.pdf) lOMoAR cPSD| 58562220 •
Năm 2024: Tôm mang về kim ngạch xuất khẩu cao nhất với gần 2,8 tỷ USD, tăng
10,5% so với cùng kỳ năm 2023. Năm 2024, tôm đông lạnh xuất khẩu vẫn bị tác động
bởi xu hướng giá chưa phục hồi rõ rệt, cùng với áp lực giá bán cạnh tranh với tôm
Ecuador và Ấn Độ. Tuy nhiên, tôm chế biến của Việt Nam vẫn có vị thế tốt ở các thị
trường. Do vậy, tính đến cuối tháng 9, xuất khẩu tôm chân trắng chế biến vẫn tăng gần
10%, trong khi xuất khẩu tôm chân trắng đông lạnh tăng nhẹ hơn. với mức 4,5%. Lũy
kế 9 tháng đầu năm, xuất khẩu tôm chân trắng đạt gần 2 tỷ USD, XK tôm sú đạt 334 triệu USD.
Biểu đồ ba mặt có kim ngạch xuất khẩu lớn nhất trong 9 tháng đầu năm 2024
(Nguồn: VASEP – Hiệp hội chế biển và xuất khẩu thủy sản Việt Nam
https://vasep.com.vn/san-pham-xuat-khau/tin-tong-hop/xuat-nhap-khau/xuatkhau-
thuy-san-quy-iii-2024-dat-2-76-ty-usd-31685.html) Chứng nhận chất lượng:
Ngày càng có nhiều doanh nghiệp Việt Nam đạt được các chứng nhận quốc tế như
ASC (Aquaculture Stewardship Council), GlobalGAP, BAP... Điều này chứng tỏ chất
lượng sản phẩm tôm Việt Nam đã được quốc tế công nhận và đáp ứng các tiêu chuẩn
cao về an toàn thực phẩm, bảo vệ môi trường và trách nhiệm xã hội.
2. Phân tích năng lực cạnh tranh của ngành xuất khẩu tôm Việt Nam 2.1 Điểm mạnh
2.1.1 Điều kiện tự nhiên thuận lợi
Việt Nam có điều kiện tự nhiên lý tưởng cho ngành nuôi trồng tôm, nhờ bờ biển dài
hơn 3.000 km và hệ thống sông ngòi, kênh rạch phong phú, đặc biệt tại các vùng ven
biển và đồng bằng sông Cửu Long. Khí hậu nhiệt đới gió mùa với nhiệt độ ổn định từ
25–30°C, phù hợp cho sự phát triển của các giống tôm, đặc biệt là tôm sú và tôm thẻ
chân trắng. Lượng mưa phong phú nhưng được phân bố theo mùa cũng giúp điều tiết
nguồn nước ngọt và nước lợ cho các vùng nuôi tôm. Đặc biệt, khu vực đồng bằng sông
Cửu Long có đất đai màu mỡ, nguồn nước ngọt và nước lợ dồi dào, phù hợp cho các
mô hình nuôi tôm nước ngọt và tôm nước lợ. Các khu vực như Cà Mau, Bạc Liêu, Sóc
Trăng, Kiên Giang là những vùng trọng điểm với nguồn tài nguyên đất, nước tự nhiên
và khí hậu thuận lợi để phát triển đa dạng hình thức nuôi tôm: từ nuôi tôm thâm canh,
bán thâm canh đến quảng canh. lOMoAR cPSD| 58562220
2.1.2 Chi phí lao động thấp
Đây là một lợi thế cạnh tranh lớn của ngành nuôi trồng tôm Việt Nam, đặc biệt khi so
sánh với các nước đối thủ như Thái Lan, Ấn Độ và Ecuador. Việt Nam có nguồn lao
động dồi dào ở các vùng nông thôn, nơi có tỷ lệ nhân công có kinh nghiệm trong nuôi
trồng và chế biến thủy sản. Chi phí lao động thấp giúp doanh nghiệp Việt Nam tiết
kiệm một phần quy trình các khâu từ nuôi trồng cho đến sản xuất, đóng gói để có thể
tối ưu hoá giá trị sản phẩm tôm xuất khẩu.
Hơn nữa, nhiều công đoạn trong nuôi trồng tôm đòi hỏi lao động trực tiếp, từ việc
chuẩn bị ao nuôi, cho ăn, quản lý môi trường nước, đến thu hoạch, do vậy chi phí lao
động thấp cho phép các trang trại có thể thực hiện với chi phí hợp lý, đồng thời có thể
đầu tư vào cải thiện quy trình mà vẫn duy trì giá thành sản phẩm.
Bên cạnh đó, chi phí lao động thấp cho phép Việt Nam tập trung vào các mô hình nuôi
tôm đa dạng (quảng canh, bán thâm canh) nhằm đáp ứng nhu cầu thị trường. Lợi thế
này góp pihần quan trọng vào việc duy trì và mở rộng xuất khẩu tôm của Việt Nam.
2.1.3 Sản lượng tôm lớn
Sản lượng tôm lớn là một lợi thế quan trọng của Việt Nam, giúp đáp ứng nhu cầu xuất
khẩu ổn định và tạo vị thế cạnh tranh trên thị trường quốc tế. Việt Nam nằm trong
nhóm các quốc gia hàng đầu thế giới về sản xuất và xuất khẩu tôm, nhờ đó có thể cung
ứng khối lượng lớn, đáp ứng nhanh các đơn hàng lớn từ các thị trường chính như Mỹ,
EU, Nhật Bản và Trung Quốc. Hơn nữa, khả năng cung cấp đều đặn với sản lượng lớn
không chỉ giúp đáp ứng yêu cầu của các khách hàng lớn mà còn đảm bảo giá thành
cạnh tranh khi giao dịch theo quy mô. Đồng thời, sản lượng cao cũng cho phép các
doanh nghiệp xuất khẩu dễ dàng thương lượng và mở rộng thị trường hơn.
2.2 Điểm hạn chế
2.2.1 Hạn chế trong kiểm soát dịch bệnh
Tình hình dịch bệnh chung hiện nay của ngành nuôi trồng tôm:
Tại Thái Bình, tính đến ngày 21/5/2024, bệnh Đốm trắng đã lan rộng tại 244 ao tôm ở các xã
Đông Minh (Tiền Hải), Thụy Trường, Thụy Hải, Thụy Xuân (Thái Thụy) với diện tích
148.539m² và 469,8 vạn con giống. Riêng tại Thái Thụy, bệnh Đốm trắng đã gây thiệt hại 181 vạn con tôm giống.
Tương tự, tại Sóc Trăng, theo báo cáo của Chi cục Thủy sản tỉnh, tính đến giữa tháng 5/2024,
tổng diện tích thả nuôi tôm nước lợ đạt trên 13.700 ha, trong đó có trên 300 ha bị thiệt hại.
Hơn 50% diện tích thiệt hại do một số dịch bệnh như: Hoại tử gan tụy cấp, Đốm trắng, Phân
trắng và EHP (ký sinh trùng)
Thực trạng kiểm soát dịch bệnh
Các nhà nghiên cứu trong lĩnh vực thủy sản nhận định, tôm đã phát bệnh thì không thể điều
trị. Phòng bệnh là giải pháp chính, giúp người nuôi hạn chế thiệt hại, thông qua việc xử lý
nguồn nước thật kỹ, lựa chọn con giống chất lượng tại những đơn vị uy tín. Tuy vậy, ở Việt
Nam hiện nay vẫn đối diện với nhiều hạn chế trong việc kiểm soát dịch bệnh ở một số khía cạnh: lOMoAR cPSD| 58562220
Về kiểm soát nguồn nước: Ngành thú y cho biết ngành nuôi tôm tại Việt Nam đang đối
mặt với nhiều thách thức nghiêm trọng liên quan đến kiểm soát nguồn nước. Các diễn biến
thời tiết cực đoan, khó dự đoán và tác động tiêu cực đến môi trường nước khiến nguồn nước
cấp ở vùng hạ lưu thường xuyên trong tình trạng thiếu hụt và ô nhiễm. Bên cạnh đó, nhiều
mô hình nuôi tôm hiện nay chưa có biện pháp kiểm soát nước hiệu quả, dẫn đến nguy cơ cao
bùng phát các loại dịch bệnh, bao gồm cả những bệnh thường gặp, gây thiệt hại lớn cho người nuôi.
Về con giống, chất lượng nguồn tôm giống đang là vấn đề đáng báo động. Hiện lượng
tôm giống đã qua kiểm dịch chưa cao, tôm bố mẹ gần như phụ thuộc hoàn toàn vào khai thác
tự nhiên nên chất lượng không đồng đều. Việc quản lý nhà nước về tôm giống còn nhiều bất
cập ngay từ khâu nhập khẩu tôm bố mẹ.
2.2.2 Hạn chế về chất lượng sản phẩm
Tồn dư kháng sinh, yếu tố “kìm chân” con tôm Việt:
Theo tính toán, ngành tôm Việt Nam mỗi năm mất đến 10.000 tỉ đồng. Đây là khoản chi phí
mà doanh nghiệp phải bỏ ra để kiểm soát kháng sinh từ vùng nuôi, đến nhà máy chế biến.
Ngoài ra, một khoản chi phí khác không nhỏ, chi cho việc kiểm soát kháng sinh ở các nước
nhập khẩu, doanh nghiệp phải chịu và bị trừ vào giá bán. Điều này, khiến cơ hội bán hàng của
Việt Nam bị giảm đáng kể do thời gian thông quan kéo dài, vì lô hàng phải chờ lấy mẫu và
chờ kết quả kiểm tra kháng sinh, từ đó cho thấy khả năng cạnh tranh sản phẩm tôm của Việt
Nam bị giảm sút so với các nước xuất khẩu tôm như Ấn Độ, Ecuador… vào hai thị trường
chính là Mỹ, EU. Báo cáo của Mỹ cho thấy 86% mẫu thử nghiệm có mức Notrofurantoin vượt
mức, 28,6% mẫu có lượng
Fluoroquinilone (FQ) vượt giới hạn; bên cạnh đó, Việt Nam cùng với Indonesia là 1 trong 2
nước xuất khẩu tôm chứa Malachite Green (MG) và lượng Lưu huỳnh vượt mức. Năm 2017,
cuộc điều tra Ủy ban châu Âu (EC) đã cảnh cáo thẻ vàng cho Việt Nam, điều này làm cho
thủy hải sản Việt Nam xuất khẩu sang EU sẽ bị kiểm soát
100% thay vì kiểm tra xác suất, nghĩa là doanh nghiệp phải chi trả nhiều chi phí hơn.
Tôm nhập khẩu dương tính với dư lượng kháng sinh theo quốc gia. (Nguồn:
Determination of sulfite and antimicrobial residue in imported shrimp to the USA.
https://www.researchgate.net/publication/ lOMoAR cPSD| 58562220
347627356_Determination_of_sulfite_and_antimicrobial_residue_in_imported_shrim p_to_the_USA)
Vấn đề về vệ sinh và truy xuất nguồn gốc:
Một trong những yếu tố quan trọng mà các thị trường EU yêu cầu là sản phẩm phải có thể
truy xuất được nguồn gốc và bảo đảm vệ sinh thực phẩm. Thủy sản Việt Nam, đặc biệt là tôm,
chưa thực sự đáp ứng tốt yêu cầu về minh bạch trong quá trình sản xuất, từ nuôi trồng đến chế biến.
Ngành tôm của Việt Nam vẫn còn phân mảnh, thiếu các công cụ để thu thập và chia sẻ dữ
liệu. Thêm vào đó, sự phụ thuộc quá lớn vào người trung gian cũng là một vấn đề, khi các
nông dân quy mô nhỏ phải dựa vào họ để tiếp thị sản phẩm. Người trung gian kiểm soát hơn
75% chuỗi giá trị tôm, kết nối nông dân với các nhà chế biến, đồng thời thực hiện giao dịch
với nhà máy thức ăn và trại giống. Tuy nhiên, họ thường trộn và phân loại tôm từ nhiều trang
trại khác nhau, và hầu như không có hồ sơ về các hoạt động này. Do đó, tôm bị ô nhiễm có
thể trộn lẫn với tôm thu hoạch bền vững, làm giảm minh bạch về nguồn gốc.
2.2.3 Chi phí sản xuất cao
Một trong những nhược điểm của việc xuất khẩu tôm Việt Nam đó là vấn đề chi phí sản xuất
của ngành tương đối cao. Nguyên nhân do một số công nghệ, thức ăn, và thuốc dùng trong
nuôi trồng tôm phải nhập khẩu, làm tăng chi phí sản xuất. Chất lượng tôm giống chưa được
quản lý chặt chẽ, một lượng lớn tôm giống kém chất lượng vẫn được lưu thông trên thị trường
và đến tay người nuôi nên tiềm ẩn nguy cơ dịch bệnh bùng phát, dẫn đến tỷ lệ chết cao, buộc
người nuôi phải thả giống nhiều lần khiến chi phí tăng cao. Hơn vậy, thức ăn cho tôm ở Việt
Nam thường cao hơn so với các với các nước khác do nguyên liệu đầu vào tăng cao, người
nuôi thường mua nợ nên chi phí thức ăn cũng đội lên đáng kể. Chi phí năng lượng trong việc
vận hành các hệ thống nuôi, các hệ thống xử lý nước, hệ thống sục khí và các thiết bị khác
tăng cao cũng góp phần làm tăng giá thành. Chính bởi sự tăng cao của các chi phí kể trên đã
mang đến một hệ luỵ lớn khiến giá thành của tôm Việt Nam vượt lên quá cao, khó cạnh tranh
với các nước khác trên thế giới. Về cạnh tranh giá thành, có thể nhận thấy nguyên nhân giá
tôm nguyên liệu của một số nước khác như Ecuador thấp hơn tôm xuất khẩu của Việt Nam
do tỉ lệ nuôi thành công cao, lên tới 80% trở lên. Ecuador cũng có ưu thế với con giống chất
lượng và nguồn thức ăn rẻ hơn từ các quốc gia cung ứng.
2.2.4 Hạn chế kĩ thuật
Từ khâu đầu tiên và cũng là quan trọng nhất đó là kỹ thuật chọn giống. Một số người nuôi
tôm vẫn chọn giống từ các nguồn không rõ chất lượng, dẫn đến tôm có sức khỏe kém và dễ
nhiễm bệnh. Khâu quản lý chất lượng giống còn lỏng lẻo, nhiều tôm giống kém chất lượng
vẫn được sử dụng, dẫn đến rủi ro về bệnh dịch. Tiếp đến là sự thiếu kỹ thuật trong việc quản
lý nguồn nước. Hệ thống xử lý nước chưa được đầu tư đúng mức, dẫn đến khó kiểm soát các
yếu tố môi trường như pH, độ mặn, và oxy hòa tan, đặc biệt trong các đợt biến đổi khí hậu
hoặc thời tiết bất thường. Một số ao nuôi tôm xả thải trực tiếp ra môi trường mà không qua
xử lý, gây ô nhiễm môi trường và tăng nguy cơ tái nhiễm bệnh cho các vụ nuôi sau. Quản lý
thức ăn chưa được hiệu quả. Một số thức ăn kém chất lượng hoặc chứa tạp chất có thể gây
ảnh hưởng xấu đến sức khỏe của tôm. Thiếu sự đầu tư cơ sở hạ tầng, một số ao nuôi thiếu
các hệ thống hỗ trợ như máy sục khí, máy lọc, dẫn đến khó kiểm soát môi trường sống của
tôm. Thiếu sự liên kết trong chuỗi cung ứng, từ khâu cung cấp giống, thức ăn, đến thu hoạch lOMoAR cPSD| 58562220
và tiêu thụ, chưa có sự liên kết chặt chẽ, khiến việc ổn định chất lượng và giá thành sản phẩm gặp nhiều trở ngại.
2.2.5 Thiếu sự đa dạng trong sản phẩm
Ngành tôm Việt Nam chủ yếu xuất khẩu các sản phẩm thô hoặc chế biến sơ bộ, thiếu các sản
phẩm chế biến sâu và giá trị gia tăng. Điều này làm giảm sức cạnh tranh khi so với các quốc
gia có công nghệ chế biến tiên tiến như Thái Lan, Ecuador. Hơn vậy, Việt Nam thiếu sự đa
dạng trong sản phẩm tôm xuất khẩu, phụ thuộc chủ yếu vào hai loại tôm chính là tôm thẻ chân
trắng và tôm sú, khiến ngành dễ bị ảnh hưởng khi có biến động giá hoặc dịch bệnh.
2.2.6 Phụ thuộc thị trường
Thị trường Hoa Kỳ:
Hoa Kỳ là một trong những thị trường nhập khẩu tôm lớn nhất của Việt Nam, chiếm tỷ trọng
đáng kể trong tổng kim ngạch xuất khẩu tôm của nước ta. Theo Hiệp hội Chế biến và Xuất
khẩu Thủy sản Việt Nam (VASEP), nhập khẩu thủy sản của Hoa Kỳ đã giảm mạnh, từ 30 tỷ
USD vào năm 2022 xuống còn khoảng 25,3 tỷ USD vào năm 2023. Trong năm 2023, Việt
Nam xuất khẩu tôm sang Mỹ đạt 682 triệu USD, giảm 15% so với năm trước.
Thị trường Trung Quốc:
Năm 2023, xuất khẩu sang thị trường này tiếp tục giảm trong tháng 11. Nhu cầu tại thị trường
này không ổn định, khi tăng trưởng dương trong giai đoạn từ tháng 6 đến tháng 8, nhưng sau
đó quay lại xu hướng giảm trong các tháng 9, 10 và 11. Tuy nhiên, mức độ sụt giảm không
còn mạnh như các tháng đầu năm.
Trong số các thị trường nhập khẩu chính, Trung Quốc và Hồng Kông (Trung Quốc) là những
thị trường có mức sụt giảm thấp nhất. Việt Nam hiện là nhà cung cấp tôm lớn thứ 4 cho Trung
Quốc trong năm 2023, tuy nhiên lại là thị trường có giá trị xuất khẩu giảm mạnh nhất, với
mức giảm đến 81,4% so với năm 2022, chỉ đạt 112,8 triệu USD. Thị trường EU
Năm 2024 đã đánh dấu nhiều thành tựu trong xuất khẩu tôm Việt Nam sang EU. Trong 9
tháng đầu năm, tổng giá trị xuất khẩu đạt trên 360 triệu USD, tăng 15% so với cùng kỳ năm
trước. Đây là một con số ấn tượng, phản ánh sự tăng trưởng mạnh mẽ của ngành tôm Việt
Nam tại thị trường này. Đặc biệt, tôm chân trắng – dòng sản phẩm chủ lực của Việt Nam – đã
duy trì mức tăng trưởng liên tục về giá trị xuất khẩu từ tháng 6 đến nay. Điều này không chỉ
giúp gia tăng doanh thu mà còn khẳng định vị thế của tôm Việt Nam trên thị trường quốc tế.
Như vậy, việc chỉ phụ thuộc vào một số thị trường lớn có thể khiến ngành bị ảnh hưởng khi
các nền kinh tế suy thoái hay thay đổi nhu cầu. Đồng thời Việt Nam sẽ phải chịu sự cạnh tranh
mạnh mẽ từ các quốc gia khác khi xuất khẩu vào các thị trường chính như Hoa Kỳ, Trung Quốc, EU, Nhật Bản,…
2.2.7 Hạn chế về thương hiệu
Mặc dù tôm Việt Nam có vị thế lớn trên thị trường quốc tế, song thương hiệu của sản phẩm
này vẫn còn gặp nhiều hạn chế. Dưới đây là một số hạn chế nổi bật:
Thiếu nhận diện thương hiệu quốc gia rõ ràng, phụ thuộc vào các nhà nhập khẩu
và thương hiệu nước ngoài lOMoAR cPSD| 58562220
Trên thị trường quốc tế, tôm Việt Nam chủ yếu được bán dưới nhãn hiệu của các công ty phân
phối hoặc thương hiệu của các nhà bán lẻ nước ngoài, thay vì mang thương hiệu Việt Nam.
Điều này làm cho người tiêu dùng khó nhận diện được tôm đến từ Việt Nam, và khi nghĩ về
tôm, họ thường không nhớ đến Việt Nam như một nguồn gốc.
Thương hiệu tôm của Việt Nam không nổi bật hoặc không được xây dựng bài bản như tôm từ
Thái Lan hay Ecuador. Nhiều nhà nhập khẩu không coi tôm Việt Nam là một thương hiệu
mạnh với giá trị độc lập mà chỉ là nguồn cung cấp nguyên liệu.
Tôm Việt Nam chủ yếu xuất khẩu dưới dạng sản phẩm thô hoặc sơ chế, không được chế
biến sâu và đóng gói dưới thương hiệu Việt Nam. Vì vậy, giá trị gia tăng chủ yếu được
hưởng lợi bởi các công ty nước ngoài sở hữu thương hiệu lớn. Thiếu chiến lược
marketing và truyền thông hiệu quả

Ngành tôm Việt Nam chưa có chiến lược marketing bài bản, chưa tận dụng được các kênh
truyền thông và sự kiện quốc tế để quảng bá thương hiệu. Việc thiếu các chiến dịch quảng bá
ở những thị trường lớn như Mỹ, Nhật Bản, và EU làm giảm khả năng nhận diện và làm yếu vị thế cạnh tranh.
Việc không đầu tư vào tiếp thị kỹ thuật số và quảng bá sản phẩm trên các nền tảng như website,
mạng xã hội khiến thương hiệu tôm Việt Nam không tiếp cận được đến đối tượng khách hàng
mới, đặc biệt là nhóm người tiêu dùng trẻ tuổi và am hiểu công nghệ.
Độ bền vững và chứng nhận quốc tế chưa được chú trọng
Người tiêu dùng quốc tế ngày càng quan tâm đến các vấn đề bền vững như bảo vệ môi trường,
quyền lợi lao động và an toàn sinh thái. Trong khi một số doanh nghiệp Việt Nam đã cố gắng
đạt các chứng nhận quốc tế (như ASC, BAP): Công ty Cổ phần Trung
Sơn (Kiên Giang), Công ty TNHH Xã hội Tôm Minh Phú (Cà Mau), Hợp tác xã Toàn Thắng
(Sóc Trăng) và Hợp tác xã Tân Hưng (Cà Mau), … tuy nhiên số lượng còn khá khiêm tốn. 2.3 Thách thức
2.3.1 Hạn ngạch nhập khẩu
Hạn ngạch nhập khẩu là công cụ thương mại được áp dụng nhằm giới hạn số lượng hoặc giá
trị hàng hóa mà một quốc gia cho phép nhập khẩu, nhằm bảo vệ ngành sản xuất trong nước,
kiểm soát giá cả, hoặc duy trì cân bằng thương mại.
Tiêu biểu là thị trường Hàn Quốc, thị trường lớn của ngành xuất khẩu tôm Việt Nam: 50%
lượng tôm nhập khẩu của nước này tới từ Việt Nam, tuy nhiên việc xuất khẩu tôm vẫn phải
tuân thủ những quy định hạn ngạch nghiêm khắc. Theo quy định, nhập khẩu tôm từ Việt Nam
theo hạn ngạch có thuế suất 14-16%, và nếu vượt hạn ngạch, thuế suất có thể tăng lên đến
20%. Điều này đặt tôm Việt Nam vào tình thế cạnh tranh khó khăn so với tôm từ Peru, quốc
gia được miễn thuế nhờ Hiệp định Thương mại Tự do (FTA) với Hàn Quốc.
2.3.2 Yêu cầu cao về chất lượng sản phẩm và truy xuất nguồn gốc
Các thị trường lớn như Hoa Kỳ, EU và Trung Quốc đang áp dụng các quy định nghiêm
ngặt về an toàn thực phẩm, và nhiều nhà bán lẻ hiện cũng xem xét thêm các yếu tố
khác ngoài khả năng truy xuất nguồn gốc tôm. Họ đánh giá các thành phần trong thức
ăn, môi trường nuôi, việc sử dụng hóa chất hay kháng sinh trong quá trình nuôi, và
tính bền vững của phương pháp sản xuất. lOMoAR cPSD| 58562220 •
Đồng thời, các thị trường nhập khẩu tôm Việt Nam cũng đề ra những quy định “quá
nghiêm ngặt” về chất lượng sản phẩm, đặc biệt là yếu tố kháng sinh trong sản phẩm.
Công văn 48/CV-VASEP: Báo cáo, đề xuất việc tham vấn & kiến nghị với
CQTQ Nhật Bản về bất cập trong ngưỡng chấp nhận chỉ tiêu kháng sinh Doxycycline áp
dụng trong kiểm soát thủy sản NK vào Nhật Bản

2.3.3 Rào cản thuế quan
Thuế nhập khẩu thông thường
Đây là loại thuế được áp dụng đối với tất cả các sản phẩm tôm nhập khẩu vào một quốc gia.
Tuy mức thuế này có thể thay đổi tùy thuộc vào từng quốc gia và các hiệp định thương mại
tự do (FTA), nhưng nó vẫn là một trong những rào cản thương mại lớn đối với các nhà xuất khẩu tôm. •
Thị trường Mỹ: Mỹ áp dụng thuế nhập khẩu đối với tôm nhập khẩu từ các quốc gia
không có thỏa thuận thương mại đặc biệt. Tuy nhiên, các mức thuế này không phải lúc
nào cũng cao và có thể thay đổi theo từng loại tôm hoặc theo từng khu vực. lOMoAR cPSD| 58562220 •
Thị trường EU: Các quốc gia EU có thể áp dụng thuế nhập khẩu đối với tôm, nhưng
EU cũng có các chương trình ưu đãi thuế quan dành cho các quốc gia phát triển và
đang phát triển. Các quốc gia như Việt Nam có thể được hưởng các ưu đãi thuế quan
dưới các thỏa thuận như Hệ thống Ưu đãi Thuế quan Tối huệ quốc (MFN) hoặc
Chương trình Ưu đãi Thuế quan (GSP), nhưng mức thuế nhập khẩu vẫn có thể dao động.
Thuế chống bán phá giá (Anti-dumping duties)
Thuế chống bán phá giá là một trong những rào cản thuế quan phổ biến đối với ngành xuất
khẩu tôm Việt Nam, đặc biệt là khi sản phẩm tôm của Việt Nam được cho là bán với giá thấp
hơn giá trị thị trường trong nước (dumping). Điều này có thể xảy ra khi chính phủ Việt Nam
hoặc các công ty tôm của Việt Nam áp dụng các biện pháp trợ cấp hoặc giảm giá bán sản
phẩm để gia tăng khả năng cạnh tranh trên thị trường quốc tế. •
Thuế chống bán phá giá tại Mỹ:
o Vào những năm trước, Mỹ đã áp dụng thuế chống bán phá giá đối với tôm sú
và tôm chân trắng từ Việt Nam. Mức thuế này dao động từ 0% đến 25% tùy
thuộc vào việc các công ty có hợp tác trong cuộc điều tra của Mỹ hay không.
o Những công ty không hợp tác hoặc bị phát hiện có hành vi bán phá giá sẽ phải
chịu mức thuế cao hơn. Mức thuế có thể áp dụng trong 5 năm hoặc lâu hơn nếu
không có sự thay đổi trong điều kiện thị trường.
Ví dụ: Một công ty xuất khẩu tôm từ Việt Nam vào Mỹ có thể phải trả thuế chống bán phá
giá 10%, trong khi các công ty hợp tác trong điều tra và có kết quả tốt có thể không bị áp thuế
hoặc chỉ chịu thuế rất thấp. •
Thuế chống bán phá giá tại EU: Tương tự, EU cũng áp dụng các biện pháp phòng
vệ thương mại đối với tôm Việt Nam, đặc biệt là nếu có nghi ngờ về hành vi bán phá
giá. Thuế chống bán phá giá có thể làm giảm khả năng cạnh tranh của tôm Việt Nam
tại các thị trường EU, vì tôm Việt Nam sẽ bị đánh thuế cao hơn so với các quốc gia
khác như Ấn Độ hay Ecuador.
Mức thuế nhập khẩu trong các hiệp định thương mại tự do (FTA)
Việc tham gia vào các hiệp định thương mại tự do (FTA) có thể giúp giảm hoặc loại bỏ thuế
quan đối với hàng hóa xuất khẩu, bao gồm tôm. Tuy nhiên, nếu một quốc gia không tham gia
các FTA hoặc không đạt được các điều khoản ưu đãi, mức thuế nhập khẩu vẫn có thể rất cao.
Hiệp định EVFTA (EU-Vietnam Free Trade Agreement): Việc Việt Nam ký kết
Hiệp định Thương mại Tự do Việt Nam - EU (EVFTA) vào năm 2020 giúp giảm
thuế quan đối với nhiều mặt hàng, bao gồm tôm. Dưới EVFTA, thuế nhập khẩu tôm
Việt Nam vào EU đã giảm dần và sẽ hoàn toàn loại bỏ trong vòng vài năm tới. Điều
này giúp tôm Việt Nam có lợi thế cạnh tranh so với các quốc gia khác không có thỏa
thuận thương mại với EU.
2.3.4 Biến đổi khí hậu
Biến đổi khí hậu đang ngày càng ảnh hưởng mạnh đến ngành nuôi trồng thủy sản ven biển
Việt Nam, gây ra các hiện tượng thời tiết cực đoan như bão lớn, hạn hán kéo dài, xâm nhập
mặn và nhiệt độ nước biển tăng cao trong năm 2023-2024. Những tác động này không chỉ lOMoAR cPSD| 58562220
làm suy giảm năng suất và sản lượng thủy sản, mà còn đe dọa sinh kế và an ninh kinh tế của người dân ven biển.
Các biểu hiện khí hậu bất thường ảnh hưởng đến nuôi trồng thủy sản
Nhiều cơn bão và áp thấp nhiệt đới
Năm 2023-2024 chứng kiến sự gia tăng về cả tần suất lẫn cường độ của các cơn bão và áp
thấp nhiệt đới tại Việt Nam. Bão và áp thấp nhiệt đới không chỉ gây thiệt hại cho cơ sở hạ
tầng nuôi tôm (ao, đầm, lồng bè nuôi) mà còn ảnh hưởng đến môi trường sống của tôm. Các
cơn bão mạnh (Yagi) có thể làm sụp đổ các ao nuôi, cuốn trôi tôm, hủy hoại hệ thống cấp
nước, và khiến tôm bị chết do thiếu oxy hoặc chất lượng nước bị suy giảm đột ngột. Các tác
động này dẫn đến tổn thất kinh tế lớn cho người nuôi tôm, đồng thời ảnh hưởng đến chuỗi
cung ứng và xuất khẩu tôm của Việt Nam. Xâm nhập mặn sớm và sâu hơn
Xâm nhập mặn là một vấn đề nghiêm trọng đối với các vùng nuôi tôm, đặc biệt là ở các tỉnh
ven biển miền Trung và miền Nam. Khi mực nước biển dâng cao hoặc có sự thay đổi trong
mô hình khí hậu, độ mặn của nước có thể thay đổi đột ngột, gây ra những tác động tiêu cực
đối với các loài thủy sản. Tôm, đặc biệt là tôm nuôi trong ao nước lợ hoặc nước ngọt, sẽ bị
sốc và chết nếu độ mặn thay đổi đột ngột hoặc quá cao. Xâm nhập mặn sớm và sâu hơn cũng
làm ảnh hưởng đến sự cung cấp nước sạch cho các khu vực nuôi tôm nước ngọt, gây khó khăn
trong việc duy trì chất lượng nước và sức khỏe của tôm.
2.3.5 Đối thủ cạnh tranh
Cạnh tranh từ các quốc gia xuất khẩu tôm hàng đầu
Ngành tôm Việt Nam đang phải đối mặt với sự cạnh tranh quyết liệt từ các quốc gia xuất khẩu
lớn như Ấn Độ, Thái Lan, Indonesia, và Ecuador. Các nước này tận dụng lợi thế chi phí sản
xuất thấp, công nghệ tiên tiến, và quy mô nuôi trồng lớn để giữ vững thị phần toàn cầu, đặt ra
thách thức lớn cho ngành tôm Việt Nam, đặc biệt là khi chi phí sản xuất cao của Việt Nam
khiến giá tôm khó cạnh tranh trên các thị trường nhạy cảm về giá, buộc nước ta phải cải thiện
cả về chất lượng và chi phí sản xuất nhằm gia tăng sức cạnh tranh trên thị trường quốc tế. Ấn Độ
Ấn Độ là một trong những nhà cung cấp tôm hàng đầu thế giới nhờ quy mô nuôi trồng lớn và
việc áp dụng công nghệ tiên tiến. Xu hướng xuất khẩu tôm của Ấn Độ duy trì mức tăng trưởng
ổn định, đặc biệt là trong các sản phẩm tôm chân trắng. Trong tháng 7 năm 2024, Ấn Độ đã
xuất khẩu 70.070 tấn tôm, tăng 5% so với cùng kỳ năm ngoái, chủ yếu nhờ nhu cầu từ thị
trường Hoa Kỳ và EU tăng mạnh, mặc dù xuất khẩu sang Trung Quốc đã giảm nhẹ. Động thái
này cho thấy khả năng của Ấn Độ trong việc nắm bắt các cơ hội trên thị trường quốc tế thông
qua chiến lược cạnh tranh giá thấp, đặt áp lực lên các đối thủ, trong đó có Việt Nam. Thái Lan
Thái Lan hướng đến chiến lược chất lượng cao với sự kiểm soát nghiêm ngặt về tiêu chuẩn
sản xuất và chế biến, tạo lợi thế trên các thị trường yêu cầu tiêu chuẩn cao. Thái Lan không
đặt mục tiêu tăng trưởng mạnh về sản lượng, mà thay vào đó, tập trung vào các sản phẩm có
giá trị gia tăng cao nhằm phục vụ cả thị trường nội địa và khách du lịch. Sản lượng tôm của
Thái Lan trong năm 2022 đạt khoảng 125.000 tấn, chủ yếu là tôm chân trắng. Để gia tăng khả
năng cạnh tranh, Thái Lan cũng duy trì nhập khẩu tôm nguyên liệu từ Ecuador và Argentina
nhằm đáp ứng nhu cầu chế biến xuất khẩu. Ecuador lOMoAR cPSD| 58562220
Ecuador nổi bật với mô hình nuôi tôm công nghiệp quy mô lớn và chi phí sản xuất thấp, nhờ
việc sử dụng công nghệ hiện đại và quản lý chặt chẽ. Mật độ thả giống thấp giúp Ecuador đạt
hiệu quả cao, giảm chi phí sản xuất, tạo ra lợi thế cạnh tranh về giá. Dù có sự sụt giảm trong
xuất khẩu tôm ở đầu năm 2024, Ecuador vẫn duy trì mức xuất khẩu lớn, trong đó Trung Quốc
và Mỹ là hai thị trường chính. Sản lượng xuất khẩu tháng 4/2024 đạt kỷ lục 111.684 tấn, tăng
19% về khối lượng và 4% về giá trị so với cùng kỳ năm trước. Việc duy trì tốc độ tăng trưởng
xuất khẩu cho thấy Ecuador đang điều chỉnh linh hoạt để đáp ứng nhu cầu toàn cầu, tạo sức
ép lớn cho các đối thủ trong đó có Việt Nam.
So sánh với các nước xuất khẩu tôm hàng đầu trên thế giới Áp lực về giá cả
Giá thành là một thách thức lớn cho ngành tôm Việt Nam trong bối cảnh cạnh tranh gay gắt,
khi các quốc gia xuất khẩu hàng đầu liên tục điều chỉnh giá để mở rộng thị phần. Các nước
như Ấn Độ, Ecuador và Indonesia đã áp dụng các chiến lược cắt giảm chi phí sản xuất để tối ưu hóa lợi nhuận.
Các nước này ưu tiên sử dụng thức ăn có hàm lượng đạm thấp (35-38%), giúp giảm chi phí
thức ăn đáng kể. Trong khi đó, Việt Nam phải sử dụng thức ăn đạm cao để rút ngắn thời gian
nuôi, tuy nhiên lại làm tăng chi phí sản xuất.
Đặc biệt, chi phí sản xuất trung bình tại Ecuador và Ấn Độ lần lượt là 2,2-2,4 USD/kg và 2,7-
3 USD/kg, trong khi tại Việt Nam là 3,5-4,2 USD/kg. Với chi phí sản xuất thấp hơn, các đối
thủ của Việt Nam có thể giảm giá bán, thu hút khách hàng trên thị trường quốc tế. Mô hình
chuỗi cung ứng hiệu quả giúp các nước này giảm chi phí sản xuất và tăng tính cạnh tranh,
trong khi ngành tôm Việt Nam đang gặp khó khăn trong việc duy trì biên lợi nhuận. 2.4 Cơ hội
Ngành xuất khẩu tôm của Việt Nam có tiềm năng lớn trên thị trường quốc tế, đặc biệt là với
nhu cầu ngày càng tăng từ các thị trường lớn như Hoa Kỳ, Nhật Bản, Liên minh châu Âu
(EU), Trung Quốc và Hàn Quốc.
Trong nửa đầu năm 2024, nhập khẩu tôm của EU tăng trưởng ổn định, và các thị trường như
Đức, Hà Lan, và Bỉ ghi nhận mức tăng cao nhất. Tôm chân trắng chiếm đa số trong cơ cấu
nhập khẩu tôm của EU từ Việt Nam, với tỷ trọng khoảng 80,5%, theo sau là tôm sú (12,4%).
Thị trường Bắc Âu có nhu cầu lớn về các sản phẩm giá trị gia tăng, tiện lợi, trong khi Nam
Âu lại ưu tiên các sản phẩm giá cả phải chăng hơn như tôm chân trắng chế biến. Thị trường
châu Á: Trung Quốc, Nhật Bản và Hàn Quốc là ba thị trường lớn ở châu Á, với nhu cầu nhập
khẩu tôm ngày càng tăng. Những quốc gia này đều có xu hướng tiêu thụ thực phẩm từ hải sản
do thay đổi trong xu hướng dinh dưỡng.
Ngoài ra việc tiếp cận, áp dụng công nghệ mới như hệ thống tuần hoàn nước, công nghệ
Biofloc, và nuôi tôm trong nhà màng tạo ra cơ hội cải thiện hiệu quả sản xuất, giảm rủi ro
dịch bệnh và tăng chất lượng tôm. Công nghệ hiện đại giúp tối ưu hóa quy trình sản xuất và
nâng cao chất lượng sản phẩm, từ đó giúp ngành tôm Việt Nam đáp ứng tốt hơn các tiêu chuẩn
quốc tế về an toàn thực phẩm và truy xuất nguồn gốc.
Chính phủ cũng đã tạo những điều kiện thuận lợi cho ngành xuất khẩu tôm bằng việc áp dụng
nhiều chính sách trong nước nhằm thúc đẩy ngành phát triển bền vững và gia tăng sức cạnh
tranh quốc tế. Trước hết, cung cấp các khoản vay ưu đãi và giảm thuế nhập khẩu đối với thiết
bị, máy móc phục vụ nuôi trồng và chế biến tôm, đồng thời khuyến khích ứng dụng công
nghệ cao vào sản xuất tôm cũng được thúc đẩy mạnh mẽ. Các doanh nghiệp trong ngành được lOMoAR cPSD| 58562220
hỗ trợ để nghiên cứu và ứng dụng công nghệ, phát triển các giống tôm kháng bệnh và nâng
cao năng suất, giúp giảm thiểu rủi ro trong sản xuất.
Cuối cùng, các hiệp định thương mại quốc tế cũng có những thuận lợi nhất định cho quá trình
ra biển lớn của ngành Xuất khẩu tôm Việt Nam, như Hiệp định Thương mại Tự do Việt Nam
- EU (EVFTA), Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP),
và Hiệp định Đối tác Kinh tế Toàn diện Khu vực (RCEP), đều có các điều khoản quan trọng
giúp thúc đẩy ngành xuất khẩu tôm của Việt Nam phát triển mạnh mẽ hơn.
Trước hết, các điều khoản về cắt giảm thuế quan là yếu tố nổi bật. Các hiệp định này cam kết
giảm hoặc loại bỏ thuế nhập khẩu đối với sản phẩm tôm từ Việt Nam. Ví dụ, EVFTA giảm
dần thuế nhập khẩu tôm vào EU xuống mức thấp hoặc bằng 0% theo lộ trình. Điều này giúp
tôm Việt Nam có giá thành cạnh tranh hơn so với tôm từ các nước chưa có hiệp định thương
mại với EU hoặc các thành viên CPTPP.
Thứ hai, các điều khoản về thuận lợi hóa thương mại trong các hiệp định giúp đơn giản hóa
thủ tục xuất khẩu và rút ngắn thời gian thông quan. Ví dụ, hiệp định CPTPP quy định các bên
ký kết phải tăng cường cơ chế "một cửa" điện tử trong quy trình hải quan, tạo điều kiện cho
doanh nghiệp Việt Nam giảm bớt thời gian và chi phí khi xuất khẩu tôm sang các nước thành
viên như Nhật Bản, Canada và Mexico.
Cuối cùng, các hiệp định thường kèm theo các điều khoản bảo vệ quyền lợi doanh nghiệp và
cơ chế giải quyết tranh chấp thương mại, giúp doanh nghiệp Việt Nam an tâm khi giao thương
với các đối tác quốc tế. Những điều khoản này tạo ra môi trường kinh doanh ổn định, thuận
lợi và an toàn hơn cho ngành xuất khẩu tôm.
3. Giải pháp nâng cao hiệu quả xuất khẩu
3.1 Nâng cao chất lượng sản phẩm, con giống
Trong ngành nuôi tôm, chất lượng giống đóng vai trò then chốt quyết định đến hiệu quả sản
xuất và lợi nhuận của người nuôi. Một giống tôm khỏe mạnh, có khả năng chống chịu tốt sẽ
giúp giảm thiểu rủi ro và tối ưu hóa năng suất nuôi trồng. Tuy nhiên, hiện nay ở Việt Nam vẫn
còn thiếu các cơ sở nghiên cứu và phát triển giống tôm bố mẹ chất lượng cao, sạch bệnh phục
vụ cho sản xuất. Sự thiếu hụt này dẫn đến tình trạng người nuôi phải phụ thuộc vào giống
nhập khẩu, trong đó có cả những lô hàng tôm bố mẹ chất lượng thấp, dễ mang mầm bệnh vào
môi trường nuôi nội địa.
Để giải quyết tình trạng này, Việt Nam cần xây dựng một chiến lược phát triển giống tôm lâu
dài và bền vững. Trước tiên, nên đầu tư mạnh mẽ vào các chương trình gia hóa và chọn lọc
di truyền nhằm nâng cao chất lượng của cả hai giống tôm chủ lực: tôm sú và tôm chân trắng.
Đây là các chương trình quan trọng để tạo ra các dòng giống khỏe mạnh, có sức đề kháng
cao, thích ứng tốt với điều kiện nuôi trồng trong nước và đáp ứng yêu cầu về an toàn thực phẩm quốc tế.
Để cải thiện chất lượng tôm giống và tăng cường kiểm soát dịch bệnh, chính phủ cần triển
khai một hệ thống kiểm định nghiêm ngặt, chỉ cho phép các trại giống lớn đạt chuẩn mới được
quyền sản xuất và phân phối tôm giống ra thị trường. Cụ thể, cần:
Thiết lập tiêu chuẩn chất lượng nghiêm ngặt cho trại giống lớn: Các tiêu chuẩn
này sẽ bao gồm cả yêu cầu về cơ sở vật chất, quy trình sản xuất, kiểm soát môi trường lOMoAR cPSD| 58562220
và điều kiện sinh trưởng của tôm bố mẹ. Các trại giống phải đạt chứng nhận tiêu chuẩn
về phòng chống dịch bệnh, sử dụng công nghệ lai tạo và chọn lọc giống an toàn, không
gây ảnh hưởng đến môi trường sinh thái.
Cấp giấy phép hoạt động và phân phối tôm giống cho các trại đạt chuẩn: Chỉ
những trại giống lớn có giấy chứng nhận từ các cơ quan có thẩm quyền mới được phép
phân phối tôm giống ra thị trường. Các giấy phép này sẽ đảm bảo rằng trại giống đáp
ứng đủ các yêu cầu về quy trình sản xuất tôm giống an toàn, sạch bệnh, góp phần duy
trì uy tín của ngành nuôi tôm Việt Nam.
3.2 Đa dạng hoá sản phẩm, đẩy mạnh hàng chế biến sâu, giá trị gia tăng
Từ thực trạng xuất khẩu tôm của Việt Nam năm 2023 gặp nhiều khó khăn, việc đa dạng
hóa sản phẩm, phát triển các sản phẩm tôm chế biến sâu, tôm giá trị gia tăng sẽ là một trong
những sách lược giúp các doanh nghiệp có thể trụ vững và tiếp tục phát triển. Để sử dụng
phương pháp này có hiệu quả cần nghiên cứu kỹ nhu cầu tiêu dùng của các thị trường trên thế
giới để đa dạng hoá và cung cấp các mặt hàng thuỷ sản phù hợp, trong đó quan tâm nhiều hơn
đến sản phẩm tôm chế biến sâu.
Hiện nay, xuất khẩu thuỷ sản nói chung và kim ngạch tôm nói riêng của Việt Nam chủ
yếu dưới dạng thô, sơ chế nên giá trị thu được không cao. Lạm phát tăng cao tại các thị trường
xuất khẩu chính khiến nhu cầu nhập khẩu giảm. Sản lượng tôm toàn cầu tăng, sản xuất và
xuất khẩu tôm của các nước đối thủ, đặc biệt là Ecuador tăng trưởng bùng nổ, gây dư thừa
lớn cho nguồn cung và đồng thời làm giảm mạnh giá tôm nguyên liệu trên thế giới. Trong khi
đó, chi phí nuôi và sản xuất tôm tại Việt Nam lại cao hơn từ 20-35% so với Ecuador và Ấn
Độ. Không chỉ vậy, đối với những thị trường xuất khẩu tôm chủ lực của Việt Nam như Mỹ và
EU, xét về vận chuyển và logistics, khoảng cách địa lý khiến cho Việt Nam tốn chi phí và
cước vận tải biển cao hơn nhiều so với các thị trường đối thủ. Điều này đặt ra yêu cầu cho các
doanh nghiệp Việt Nam cần phải tránh tư duy “bỏ hết trứng vào cùng một giỏ”, tránh chỉ tập
trung khai thác, sản xuất tôm nguyên liệu; thay vào đó, đặt ra bài toán cần phải đa dạng hoá
sản phẩm, định vị và tái cơ cấu tôm xuất khẩu cho phù hợp với xu thế của thời đại.
Khi tăng trưởng sản lượng nuôi trồng chỉ có giới hạn, chế biến sản phẩm giá trị gia
tăng sẽ là xu thế, giúp đạt được các mục tiêu về kim ngạch xuất khẩu trong tương lai. Vì vậy,
việc nâng cao tỷ trọng mặt hàng tôm chế biến sâu (hay còn gọi là tôm giá trị gia tăng) là một
hướng đi mới đầy tiềm năng cho xuất khẩu tôm của Việt Nam. TS. Hồ Quốc Lực - nguyên
Chủ tịch VASEP, Chủ tịch Hội đồng Quản trị Công ty Cổ phần Thực phẩm Sao Ta (FIMEX),
Doanh nhân Việt Nam tiêu biểu năm 2022, cho biết trong số 3 nước có sản lượng tôm cao
nhất thế giới (Ecuador, Ấn Độ và Việt Nam) thì trình độ chế biến của các doanh nghiệp tôm
Việt thuộc cấp độ cao nhất trên thế giới và đây là một lợi thế cạnh tranh lớn. Trình độ chế biến
tôm của chúng ta đang không ngừng tăng, với mặt hàng mới ngày càng phong phú. Các sản
phẩm tôm giá trị gia tăng nổi bật của Việt Nam có thể kể đến như tôm bao bột, tôm chiên, tôm
tẩm gia vị, tôm xẻ bướm, tôm xiên que, tôm tempura, tôm nobashi, há cảo tôm, sủi cảo tôm
gừng, tôm thẻ thịt duỗi tẩm bột chiên đông lạnh, tôm thẻ xiên que đông lạnh… Đây có thể coi
là một “vũ khí” quan trọng của xuất khẩu tôm Việt Nam để có thể chiếm giữ thị phần và trụ
vững dưới sức ép cạnh tranh lớn trên thế giới.
Phát triển sản phẩm mới, sản phẩm giá trị gia tăng phải căn cứ vào nhu cầu cụ thể của
từng thị trường và từng phân khúc của mỗi thị trường. Trong dài hạn, các doanh nghiệp Việt
Nam cần nỗ lực hơn nữa trong nghiên cứu thị trường, nghiên cứu về thị hiếu tiêu dùng mới,
cụ thể là nghiên cứu một cách thấu đáo khẩu vị, sở thích, bao bì, cách đóng gói, cách thức chế
biến phù hợp với từng loại sản phẩm. Người tiêu dùng ngày càng tiết kiệm thời gian, nên các
sản phẩm tiện lợi, dễ chế biến ngày càng được chú ý. Cụ thể như Trung Quốc - vốn là một lOMoAR cPSD| 58562220
nước chuyên nhập khẩu tôm nguyên liệu giờ đây đang có xu hướng tăng nhập khẩu một số
loại tôm chế biến, tiêu biểu như sản phẩm tôm sú luộc (hấp) với màu đỏ bắt mắt. Còn tại Hàn
Quốc, nhu cầu đối với thực phẩm nấu chín, chế biến và bảo quản sẵn đang tăng lên nhanh
chóng. Đây là cơ hội thuận lợi cho các doanh nghiệp đẩy mạnh xuất khẩu các sản phẩm thủy
sản ăn liền đã qua chế biến và bộ sản phẩm nấu ăn tiện lợi thâm nhập sang thị trường này.
3.3 Tăng cường đa dạng hóa thị trường xuất khẩu và khai thác thị trường nội địa
Đa dạng hóa thị trường xuất khẩu là giải pháp thiết yếu giúp ngành tôm Việt Nam giảm
thiểu sự phụ thuộc vào một số thị trường lớn, đồng thời ổn định sản lượng và doanh thu. Tình
hình thương mại toàn cầu hiện đang biến động mạnh mẽ, đòi hỏi các doanh nghiệp tôm Việt
Nam phải mở rộng sang các thị trường mới để duy trì tăng trưởng ổn định. Để tận dụng cơ
hội này, việc khai thác các hiệp định thương mại tự do (FTA) mà Việt Nam đã ký kết, chẳng
hạn CPTPP (Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương), EVFTA (Hiệp
định thương mại tự do Liên minh châu Âu-Việt Nam) và UKVFTA (Hiệp định Thương mại
Tự do Việt Nam - Vương quốc Anh và Bắc Ailen), sẽ giúp tôm Việt Nam có lợi thế cạnh tranh
lớn hơn trên các thị trường quốc tế.
Song song với đó, việc mở cửa thị trường mới là một bước đi cần thiết nhằm giảm rủi
ro từ sự phụ thuộc vào các thị trường truyền thống. Bộ Công Thương và Bộ Nông nghiệp và
Phát triển Nông thôn đang tích cực đàm phán mở rộng xuất khẩu tôm sang các nước có nhu
cầu cao như Trung Quốc, thông qua hình thức xuất khẩu chính ngạch. Xuất khẩu chính ngạch
không chỉ giúp nâng cao thương hiệu tôm Việt mà còn cải thiện khả năng kiểm soát chất
lượng, đảm bảo lợi ích cho cả người nuôi và doanh nghiệp. Ngoài ra, các thị trường tiềm năng
như UAE, Israel và các quốc gia thuộc khối MERCOSUR (Thị trường chung Nam Mỹ) cũng
mở ra những triển vọng mới.
Việc đa dạng hóa thị trường xuất khẩu, khai thác thị trường nội địa một cách hiệu quả
cũng là chiến lược quan trọng nhằm đảm bảo sự ổn định lâu dài cho ngành. Theo ông Trương
Đình Hòe - Tổng thư ký Hiệp hội chế biến và xuất khẩu thủy sản Việt Nam (VASEP), hiện
nay khoảng 150.000 tấn tôm sú được tiêu thụ ngay trong nước, cho thấy nhu cầu lớn từ người
tiêu dùng nội địa. Để đáp ứng nhu cầu này, các doanh nghiệp cần có chiến lược chuyển hướng
mạnh vào thị trường nội địa, đặc biệt trong những thời điểm xuất khẩu gặp khó khăn. Khi có
được sự ổn định từ thị trường trong nước, người nuôi tôm sẽ an tâm sản xuất, không còn phụ
thuộc hoàn toàn vào sự biến động của thị trường xuất khẩu, từ đó tạo nền tảng vững chắc cho
sự phát triển của toàn ngành. Để thị trường nội địa thực sự trở thành một bệ đỡ cho ngành
tôm, các doanh nghiệp cần đầu tư vào đa dạng hóa sản phẩm chế biến sẵn, chú trọng đến các
sản phẩm tiện lợi phù hợp với nhu cầu của người tiêu dùng hiện đại, đặc biệt tại các thành phố lớn. Kết luận
Ngành xuất khẩu tôm Việt Nam đang ngày càng khẳng định vai trò quan trọng trong nền kinh tế
quốc gia, không chỉ qua đóng góp nguồn thu ngoại tệ mà còn thông qua việc tạo công ăn việc làm và
thúc đẩy phát triển kinh tế bền vững tại các vùng ven biển. Với sự gắn kết chặt chẽ của nền kinh tế
Việt Nam vào thương mại toàn cầu, ngành xuất khẩu tôm có nhiều cơ hội mở rộng thị trường nhờ các
hiệp định thương mại tự do. Tuy nhiên, điều này cũng đòi hỏi ngành tôm phải nỗ lực cải tiến chất
lượng sản phẩm và tối ưu hóa chuỗi cung ứng để đáp ứng được các tiêu chuẩn ngày càng khắt khe
của thị trường quốc tế.
Trong ngắn hạn, ngành tôm Việt Nam sẽ đối mặt với những thách thức đáng kể từ biến động kinh
tế toàn cầu và các yếu tố bất ổn chính trị. Việc nhiều quốc gia siết chặt các tiêu chuẩn nhập khẩu đòi
hỏi các doanh nghiệp tôm phải nâng cao năng lực cạnh tranh, đảm bảo chất lượng và tính bền vững
trong sản phẩm của mình. Đồng thời, sự gia tăng nhu cầu thực phẩm bền vững trên toàn thế giới mang