ĐẠI HỘI ĐẢNG LẦN VI (thời gian từ 15 đến ngày 18 tháng12 năm 1986, tại
Nội)
Đại hội Đảng lần thứ VI năm 1986 mở đầu cho thời kỳ đổi mớiđất nước. Đảng ta
đề ra đường lối Đổi mới toàn diện sâu sắc mọi lĩnh vực của nền kinh tế. Sự
nghiệp Đổi mới của Việt Nam được tiến hành trong bối cảnh quốc tế nhiều thay
đổi sâu sắc về một cục diện, trật tự thế giới mới đang hình thành, trong đó các
nước chế độ chính trị khác nhau vừa đấu tranh vừa hợp tác. Đảng đã đưa ra chủ
trương tranh thủ những điều kiện thuận lợi về hợp tác kinh tế khoa học kỹ thuật,
tham gia ngày càng rộng i vào việc phân công hợp tác quốc tế trong “Hội
đồng tương trợ kinh tế mở rộng với các nước khác".
Bối cảnh lịch sử:
Sau chiến tranh thống nhất đất nước, Việt Nam phải đối mặt với nhiều k
khăn to lớn về kinh tế - hội: sản xuất đình trệ, đời sống nhân dân thiếu
hình kinh tế tập trung bao cấp bộc lộ nhiều hạn chế, kìm hãm sự phát
triển của nền kinh tế.
Nhu cầu đổi mới duy kinh tế, xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng
hội chủ nghĩa trở nên cấp bách.
Nội dung chính:
Khẳng định con đường đổi mới
Xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng hội chủ nghĩa
Đổi mới duy kinh tế
Mở rộng đối ngoại kinh tế.
Đổi mới tổ chức bộ máy nhà nước
Những quyết định mang tính đột phá:
Chuyển từ hình kinh tế tập trung bao cấp sang nền kinh tế thị
trường định hướng hội chủ nghĩa
Đổi mới tổ chức bộ máy nhà nước
Mở rộng đối ngoại kinh tế: Đại hội khuyến khích thu hút đầu nước
ngoài, phát triển xuất khẩu, hội nhập kinh tế quốc tế. Đây chủ trương
đúng đắn, giúp Việt Nam hội nhập với nền kinh tế thế giới tận dụng
được các nguồn lực bên ngoài cho phát triển kinh tế.
Thành tựu
Đưa đất nước thoát khỏi khủng hoảng kinh tế - hội: Đại hội đã xác định
đúng đắn nguyên nhân dẫn đến khủng hoảng, đề ra các giải pháp hiệu quả đđưa
đất nước thoát khỏi khủng hoảng. Nhờ đó, nền kinh tế bắt đầu những chuyển
biến tích cực, sản xuất đời sống nhân dân dần dần được cải thiện.
Đại hộiđã đề ra chủ trương Bắt đầu công cuộc đổi mới chế quản kinh tế:
đổi mới chế quản kinh tế từ tập trung bao cấp sang kinh tế thị trường định
hướng hội chủ nghĩa. Đây bước ngoặt quan trọng, tạo điều kiện cho nền kinh
tế phát triển mạnh mẽ trong những năm tiếp theo.
Đại hội đã chủ trương mở rộngMở rộng quan hệ hợp tác kinh tế quốc tế:
quan hệ hợp tác kinh tế quốc tế với các nước trên thế giới, thu hút vốn đầu tư nước
ngoài (FDI) để phát triển kinh tế. Nhờ đó, Việt Nam ngày càng hội nhập sâu rộng
vào nềnkinh tế khu vực thế giới.
Song, vẫn đi kèm một số hạn chế
Nhận thức chưa đầy đủ về sự phức tạp của quá trình đổi mới
Thiếu giải pháp cụ thể cho một số vấn đề quan trọng
Chưa thống nhất cao trong nhận thức về một số vấn đề quan trọng
Hạn chế trong công tác tuyên truyền, giáo dục về đường lối mới
Ý nghĩa của Đại hội VI:
Đại hội VI sự kiện lịch sử trọng đại, đánh dấu bước ngoặt quan trọng trong
công cuộc đổi mới đất nước.
Những quyết định mang tính đột phá của Đại hội đã tạo động lực mạnh mẽ
cho công cuộc đổi mới kinh tế - hội, đưa Việt Nam thoát khỏi khủng
hoảng hướng tới sự phát triển thịnh vượng.
Đại hội VI khẳng định vị thế lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam trong
công cuộc đổi mới hội nhập quốc tế.
ĐẠI HỘI ĐẢNG LẦN VII ( Thời gian từ 24 đến 27 tháng 6 năm 1991, tại
Nội)
1. Bối cảnh lịch sử:
Đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam VII diễn ra trong bối cảnh đất nước đang thực
hiện công cuộc đổi mới được đề ra từ Đại hội Đảng Cộng sản VN VI đạt được
những thắng lợi bước đầu, được nhân dân quốc tế ủng hộ. Tình hình quốc tế
trong nước lúc bấy giờ nhiều biến chuyển phức tạp, nhất sự sụp đổ của khối
Đông Âu cuộc khủng hoảng trầm trọng của Liên Xô.
2. Điểm nổi bật của đại hội VII:
Ngoài các văn kiện chính của một Đại hội Đảng, Đại hội VII còn thông qua 2 văn
kiện quan trọng: Cương lĩnh xd đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH, Chiến
lược ổn định phát triển kinh tế - hội đến năm 2000.
Cương lĩnh xd đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH:
Trong Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ q độ lên chủ nghĩa hội
được thông qua tại Đại hội VII (1991), Đảng xác định hình hội hội chủ
nghĩa Việt Nam gồm 6 đặc trưng bản nhất:
Do nhân dân lao động làm chủ;
một nền kinh tế phát triển cao dựa trên lực lượng sản xuất hiện đại chế
độ công hữu về các liệu sản xuất chủ yếu;
nền văn hoá tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc;
Con người được giải phóng khỏi áp bức, bóc lột, bất công, làm theo năng
lực, hưởng theo lao động, cuộc sống m no, t do, hạnh phúc, điều
kiện phát triển toàn diện nhân;
Các dân tộc trong nước bình đẳng, đoàn kết giúp đ lẫn nhau cùng tiến
bộ.
quan hệ hữu nghị hợp tác với nhân dân tất cả các nước trên thế giới.
Chiến lược ổn định phát triển kinh tế - hội đến năm 2000:
Đại hội 7 tiếp tục thực hiện đường lối đổi mới toàn diện, bước đầu triển khai thực
hiện Cương lĩnh năm 1991 Chiến lược ổn định phát triển kinh tế - hội.
Xác định mục tiêu tổng quát của 5 năm 1991 - 1995 là vượt qua khó khăn thách
thức, phát triển kinh tế - hội, tăng cường ổn định chính trị, đẩy lùi bất công xã
hội.
3. Thành tựu:
GDP đạt 8,2% vượt mức kế hoạch định ra ban đầu bắt đầu tích lũy từ
nội bộ nền kinh tế.
Lạm phát từ mức 67,1% năm 1991 giảm xuống còn 12,7% năm 1995.
Tình hình chính trị của đất nước ổn định.
Nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần vận hành theo chế thị trường
sự quản của Nhà nước theo định hướng XHCN tiếp tục được xây dựng.
Nền dân chủ của nhân dân ngày càng được phát huy.
Quốc phòng được giữ vững, an ninh quốc gia được bảo đảm.
4. Hạn chế:
Đại hội diễn ra trong bối cảnh quốc tế trong nước nhiều biến động
phức tạp, đặc biệt s sụp đổ của Liên Đông Âu. Tuy nhiên, Đại
hội chưa đánh giá đầy đ những biến đổi này tác động của đối với
Việt Nam.
Đại hội chưa xác định cụ thể các bước đi giải pháp thực hiện cho các mục
tiêu, nhiệm vụ đã đề ra. Dẫn đến việc một số chủ trương, chính sách của
Đảng được triển khai chậm chạp, thiếu hiệu quả.
Đại hội chưa chú trọng đầy đủ đến vấn đề xây dựng nhà nước pháp quyền
hội chủ nghĩa mặc đã được đề cập trước đó. Khiến việc xây dựng n
nước pháp quyền diễn ra chậm chạp, thiếu đồng bộ.
Ý Nghĩa
Đại hội VII năm 1991, Đảng ta định hướng: “Độc lập tự chủ, đa phương hoá, đa
dạng hoá quan hệ đối ngoại” với phương châm“Việt Nam muốn bạn với tất cả
các nước trong cộng đồng quốc tế, phấn đấu vì hòa bình, độc lập và phát triển”.
Đây một cột mốc quan trọng đánh dấu bước khởi đầu của Việt Nam tham gia hội
nhập kinh tế quốc tế trong thời kỳ mới. Nhờ chủ trương này, Việt Nam đã đẩy lùi
được chính sách bao vây lập của các thế lực t địch, không ngừng mở rộng
quan hệ hợp tác kinh tế đối ngoại song phương đa phương sau khi hệ thống
hội chủ nghĩa Đông Âu tan rã.

Preview text:

ĐẠI HỘI ĐẢNG LẦN VI (thời gian từ 15 đến ngày 18 tháng12 năm 1986, tại Hà Nội)
Đại hội Đảng lần thứ VI năm 1986 mở đầu cho thời kỳ đổi mớiđất nước. Đảng ta
đề ra đường lối Đổi mới toàn diện và sâu sắc mọi lĩnh vực của nền kinh tế. Sự
nghiệp Đổi mới của Việt Nam được tiến hành trong bối cảnh quốc tế có nhiều thay
đổi sâu sắc về một cục diện, trật tự thế giới mới đang hình thành, trong đó các
nước có chế độ chính trị khác nhau vừa đấu tranh vừa hợp tác. Đảng đã đưa ra chủ
trương tranh thủ những điều kiện thuận lợi về hợp tác kinh tế và khoa học kỹ thuật,
tham gia ngày càng rộng rãi vào việc phân công và hợp tác quốc tế trong “Hội
đồng tương trợ kinh tế và mở rộng với các nước khác".
Bối cảnh lịch sử:
• Sau chiến tranh thống nhất đất nước, Việt Nam phải đối mặt với nhiều khó
khăn to lớn về kinh tế - xã hội: sản xuất đình trệ, đời sống nhân dân thiếu
thốn, ngân sách nhà nước thâm hụt, lạm phát cao.
• Mô hình kinh tế tập trung bao cấp bộc lộ nhiều hạn chế, kìm hãm sự phát triển của nền kinh tế.
• Nhu cầu đổi mới tư duy kinh tế, xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng
xã hội chủ nghĩa trở nên cấp bách. Nội dung chính:
Khẳng định con đường đổi mới
Xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa
Đổi mới tư duy kinh tế
Mở rộng đối ngoại kinh tế.
Đổi mới tổ chức bộ máy nhà nước
Những quyết định mang tính đột phá:
Chuyển từ mô hình kinh tế tập trung bao cấp sang nền kinh tế thị
trường định hướng xã hội chủ nghĩa
Đổi mới tổ chức bộ máy nhà nước
Mở rộng đối ngoại kinh tế:
Đại hội khuyến khích thu hút đầu tư nước
ngoài, phát triển xuất khẩu, hội nhập kinh tế quốc tế. Đây là chủ trương
đúng đắn, giúp Việt Nam hội nhập với nền kinh tế thế giới và tận dụng
được các nguồn lực bên ngoài cho phát triển kinh tế. Thành tựu
Đưa đất nước thoát khỏi khủng hoảng kinh tế - xã hội: Đại hội đã xác định
đúng đắn nguyên nhân dẫn đến khủng hoảng, đề ra các giải pháp hiệu quả để đưa
đất nước thoát khỏi khủng hoảng. Nhờ đó, nền kinh tế bắt đầu có những chuyển
biến tích cực, sản xuất và đời sống nhân dân dần dần được cải thiện.
Bắt đầu công cuộc đổi mới cơ chế quản lý kinh tế: Đại hộiđã đề ra chủ trương
đổi mới cơ chế quản lý kinh tế từ tập trung bao cấp sang kinh tế thị trường định
hướng xã hội chủ nghĩa. Đây là bước ngoặt quan trọng, tạo điều kiện cho nền kinh
tế phát triển mạnh mẽ trong những năm tiếp theo.
Mở rộng quan hệ hợp tác kinh tế quốc tế: Đại hội đã chủ trương mở rộng
quan hệ hợp tác kinh tế quốc tế với các nước trên thế giới, thu hút vốn đầu tư nước
ngoài (FDI) để phát triển kinh tế. Nhờ đó, Việt Nam ngày càng hội nhập sâu rộng
vào nềnkinh tế khu vực và thế giới.
Song, vẫn đi kèm một số hạn chế
• Nhận thức chưa đầy đủ về sự phức tạp của quá trình đổi mới
• Thiếu giải pháp cụ thể cho một số vấn đề quan trọng
• Chưa thống nhất cao trong nhận thức về một số vấn đề quan trọng
• Hạn chế trong công tác tuyên truyền, giáo dục về đường lối mới
Ý nghĩa của Đại hội VI:
• Đại hội VI là sự kiện lịch sử trọng đại, đánh dấu bước ngoặt quan trọng trong
công cuộc đổi mới đất nước.
• Những quyết định mang tính đột phá của Đại hội đã tạo động lực mạnh mẽ
cho công cuộc đổi mới kinh tế - xã hội, đưa Việt Nam thoát khỏi khủng
hoảng và hướng tới sự phát triển thịnh vượng.
• Đại hội VI khẳng định vị thế lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam trong
công cuộc đổi mới và hội nhập quốc tế.
ĐẠI HỘI ĐẢNG LẦN VII ( Thời gian từ 24 đến 27 tháng 6 năm 1991, tại Hà Nội)
1. Bối cảnh lịch sử:
Đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam VII diễn ra trong bối cảnh đất nước đang thực
hiện công cuộc đổi mới được đề ra từ Đại hội Đảng Cộng sản VN VI và đạt được
những thắng lợi bước đầu, được nhân dân và quốc tế ủng hộ. Tình hình quốc tế và
trong nước lúc bấy giờ có nhiều biến chuyển phức tạp, nhất là sự sụp đổ của khối
Đông Âu và cuộc khủng hoảng trầm trọng của Liên Xô.
2. Điểm nổi bật của đại hội VII:
Ngoài các văn kiện chính của một Đại hội Đảng, Đại hội VII còn thông qua 2 văn
kiện quan trọng: Cương lĩnh xd đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH, Chiến
lược ổn định và phát triển kinh tế - xã hội đến năm 2000.
Cương lĩnh xd đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH:
Trong Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội
được thông qua tại Đại hội VII (1991), Đảng xác định mô hình xã hội xã hội chủ
nghĩa ở Việt Nam
gồm 6 đặc trưng cơ bản nhất:
• Do nhân dân lao động làm chủ;
• Có một nền kinh tế phát triển cao dựa trên lực lượng sản xuất hiện đại và chế
độ công hữu về các tư liệu sản xuất chủ yếu;
• Có nền văn hoá tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc;
• Con người được giải phóng khỏi áp bức, bóc lột, bất công, làm theo năng
lực, hưởng theo lao động, có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, có điều
kiện phát triển toàn diện cá nhân;
• Các dân tộc trong nước bình đẳng, đoàn kết và giúp đỡ lẫn nhau cùng tiến bộ.
• Có quan hệ hữu nghị và hợp tác với nhân dân tất cả các nước trên thế giới.
Chiến lược ổn định và phát triển kinh tế - xã hội đến năm 2000:
Đại hội 7 tiếp tục thực hiện đường lối đổi mới toàn diện, bước đầu triển khai thực
hiện Cương lĩnh năm 1991 và Chiến lược ổn định và phát triển kinh tế - xã hội.
Xác định mục tiêu tổng quát của 5 năm 1991 - 1995 là vượt qua khó khăn thách
thức, phát triển kinh tế - xã hội, tăng cường ổn định chính trị, đẩy lùi bất công xã hội. 3. Thành tựu:
• GDP đạt 8,2% vượt mức kế hoạch định ra ban đầu và bắt đầu có tích lũy từ nội bộ nền kinh tế.
• Lạm phát từ mức 67,1% năm 1991 giảm xuống còn 12,7% năm 1995.
• Tình hình chính trị của đất nước ổn định.
• Nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần vận hành theo cơ chế thị trường có
sự quản lý của Nhà nước theo định hướng XHCN tiếp tục được xây dựng.
• Nền dân chủ của nhân dân ngày càng được phát huy.
• Quốc phòng được giữ vững, an ninh quốc gia được bảo đảm. 4. Hạn chế:
• Đại hội diễn ra trong bối cảnh quốc tế và trong nước có nhiều biến động
phức tạp, đặc biệt là sự sụp đổ của Liên Xô và Đông Âu. Tuy nhiên, Đại
hội chưa đánh giá đầy đủ những biến đổi này và tác động của nó đối với Việt Nam.
• Đại hội chưa xác định cụ thể các bước đi và giải pháp thực hiện cho các mục
tiêu, nhiệm vụ đã đề ra. Dẫn đến việc một số chủ trương, chính sách của
Đảng được triển khai chậm chạp, thiếu hiệu quả.
• Đại hội chưa chú trọng đầy đủ đến vấn đề xây dựng nhà nước pháp quyền xã
hội chủ nghĩa mặc dù đã được đề cập trước đó. Khiến việc xây dựng nhà
nước pháp quyền diễn ra chậm chạp, thiếu đồng bộ. Ý Nghĩa
Đại hội VII năm 1991, Đảng ta định hướng: “Độc lập tự chủ, đa phương hoá, đa
dạng hoá quan hệ đối ngoại” với phương châm“Việt Nam muốn là bạn với tất cả
các nước trong cộng đồng quốc tế, phấn đấu vì hòa bình, độc lập và phát triển”.
Đây là một cột mốc quan trọng đánh dấu bước khởi đầu của Việt Nam tham gia hội
nhập kinh tế quốc tế trong thời kỳ mới. Nhờ chủ trương này, Việt Nam đã đẩy lùi
được chính sách bao vây cô lập của các thế lực thù địch, không ngừng mở rộng
quan hệ hợp tác kinh tế đối ngoại song phương và đa phương sau khi hệ thống xã
hội chủ nghĩa ở Đông Âu tan rã.