






Preview text:
2.2. Mô hình kinh tế thị trường xã hội (Đức, Thụy Điển, Bắc Âu, ...)
2.2.1. Mô hình kinh tế thị trường xã hội cộng hòa liên bang Đức 2.2.1.1. Khái niệm
Kinh tế thị trường xã hội bao gồm sự kết hợp cạnh tranh kinh tế tự do với
công bằng xã hội trong khung khổ pháp lý do nhà nước tạo lập nên.
2.2.1.2. Các đặc điểm cơ bản
- Đề cao tự do cá nhân và cho rằng chỉ trong cạnh tranh thực sự, cạnh tranh
hoàn hảo thì tự do cá nhân mới được thực hiện. Trong đó cơ sở cạnh tranh là sở hữu tư nhân.
- Coi trọng vai trò, chức năng của nhà nước.
+ Nhà nước là chủ thể chính trong việc đảm bảo công bằng xã hội.
+ Nhà nước can thiệp để đảm bảo sự hoạt động bình thường của giá cả, của hệ thống kinh tế.
2.2.1.3. Vai trò của nhà nước
- Bảo vệ sở hữu tư nhân và đảm bảo cho các nguyên tắc cạnh tranh không bị phá vỡ.
- Can thiệp vào thị tường bằng các chính sách như: chính sách tín dụng,
chính sách thuế, chính sách tiền tệ, Chính sách thu nhập, Chính sách chống độc quyền...
- Đảm bảo sự phát triển không có khủng hoảng, ngăn chặn suy thoái kinh
tế. Bằng cách tạo môi trường kinh doanh thuận lợi cho các doanh nghiệp, nhà
nước phải có chính sách ổn định tiền tệ. 2.2.1.4. Thành tựu
- Tỷ lệ thất nghiệp đạt mức thấp kỷ lục là 0,7 – 0,8% trong giai đoạn 1961 – 1966 và 1970 – 1971
- Mức sống cũng tăng đều đặn, với sức mua của tiền tăng 73% từ năm
1950 đến năm 1960. Từ năm 1962 đến năm 1973, tỷ lệ hộ gia đình có tủ lạnh
tăng từ 52% lên 93%, tỷ lệ hộ gia đình có máy hút bụi tăng từ 65% lên 91%,
tỷ lệ hộ gia đình có tivi tăng từ 34% lên 87% và tỷ lệ hộ gia đình có ô tô tăng từ 27% lên 55%. 2.2.1.5. Hạn chế
- Chi tiêu cho phúc lợi xã hội cao nên tiền thuế rất cao.
- Mô hình này bảo vệ quyền lợi người lao động rất mạnh – qua công đoàn,
lương tối thiểu, bảo hiểm thất nghiệp, và bảo vệ việc làm. Thế nhưng lại làm
cho thị trường lao động không có năng động, cạnh tranh cao.
- Mặc dù có những chính sách bảo vệ người lao động nhưng nền kinh tế
Đức vẫn tồn tại các vấn đề cơ bản của nền kinh tế thị trường:
+ Chênh lệch giàu nghèo, bất bình đẳng trong quyền sở hữu tài sản
+ Vẫn phải đối mặt với nguy cơ khủng hoảng kinh tế, lạm phát nếu không
có sự can thiệp, các chính sách để điều chỉnh
2.2.2. Mô hình kinh tế thị trường xã hội ở Thụy Điển và các nước Bắc Âu 2.2.2.1. Khái niệm
Là sự kết hợp học thuyết kinh tế Keynes và hệ thống đảm bảo xã hội, điều
tiết các điều kiện lao động và tiền lương nhờ những cuộc thương lượng tập
thể giữa các công đoàn và giới chủ.
2.2.2.2. Đặc điểm
- Tư nhân đóng vai trò chủ đạo trong nền kinh tế
- Coi trọng thị trường tự do, tự do kinh doanh nhưng có sự can thiệp gián
tiếp của nhà nước thông qua chính sách tiền tệ, thuế,...
- Chi tiêu công lớn và mức thuế cao cho an sinh xã hội đặc biệt là cho giáo
dục và phát triển khoa học công nghệ.
2.2.2.3. Vai trò của nhà nước
- Cung cấp hệ thống dịch vụ y tế, bảo trợ xã hội cho tất cả các gia đình và
cá nhân người lao động như:
+ Đảm bảo lương trong thời gian nghỉ sinh con
+ Có các khoản trợ cấp cho những gia đình đông con
+ Cung cấp dịch vụ y tế và bảo vệ sức khỏe miễn phí
- Đảm bảo nền kinh tế phát triển ổn định không khủng hoảng. Bằng cách
tạo môi trường kinh doanh thuận lợi cho các doanh nghiệp, đảm bảo việc
làm, giảm tỷ lệ thất nghiệp bằng các chính sách hỗ trợ việc làm
- Đầu tư phát triển nguồn nhân lưc, phát triển công nghệ với chính sách
miễn phí giáo dục từ mẫu giáo cho đến đại học, đầu tư mạnh vào nghiên cứu và phát triển 2.2.2.4. Thành tựu
- Năm 1970 Thụy Điển đứng thứ 3 trong bảng xếp hạng GDP bình quân đầu người
- Theo chỉ số năng lực cạnh tranh của Diễn đàn Kinh tế Thế giới 2012–
2013 xếp hạng Thụy Điển là quốc gia có sức cạnh tranh đứng thứ 4
- Thời kỳ 1950 – 1980 được đánh giá là “thời kỳ vàng” của nền kinh tế các nước Bắc Âu 2.2.2.5. Hạn chế
- Vì trợ cấp, an sinh xã hội tốt nên không kích thích được người lao động
tham gia thị trường, cũng như khai thác hiệu quả của nguồn lao động. Như ở
Na Uy, người lao động sẽ được nhận 100% lương trợ cấp cho việc nghỉ ốm
có thể lên đến 1 năm. Từ đó, xuất hiện tình trạng 7% lực lượng lao động luôn
nghỉ bệnh ở bất kỳ thời điểm nào.
2.3. Mô hình kinh tế thị trường Đông Á (Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan, ...) 2.3.1. Khái niệm
Mô hình kinh tế thị trường Đông Á là một biến thể độc đáo của nền kinh tế
thị trường, đặc trưng bởi sự kết hợp giữa cơ chế thị trường tự do và vai trò
chủ động của nhà nước trong việc điều tiết và định hướng phát triển kinh tế.
Đây là một phần trong chiến lược phát triển kinh tế thành công của các quốc
gia Đông Á, bao gồm Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan, Singapore, Trung
Quốc, và các nước mới nổi trong khu vực.
2.3.2. Đặc điểm chính của mô hình phát triển Đông Á
- Một trong những đặc trưng quan trọng nhất của mô hình này là chiến lược
tăng trưởng hướng ngoại. Các quốc gia như Hàn Quốc, Nhật Bản, tập trung
vào xuất khẩu, coi đây là động lực chính cho phát triển kinh tế.
- Các chính phủ Đông Á đầu tư rất mạnh vào giáo dục và đào tạo nguồn
nhân lực. Họ hiểu rằng, muốn duy trì lợi thế cạnh tranh, một lực lượng lao
động chất lượng cao là yếu tố không thể thiếu.
Tuy nhiên, mô hình này không phải không có hạn chế. Vai trò lớn của nhà
nước đôi khi khiến thị trường hoạt động thiếu hiệu quả, thậm chí tạo ra sự
phụ thuộc quá mức vào các chính sách hỗ trợ.
2.3.3. Thành tựu nổi bật
Mô hình kinh tế thị trường Đông Á đã thành công trong việc đạt được tăng
trưởng kinh tế nhanh chóng.
2.3.4. Yếu tố góp phần vào sự thành công của mô hình kinh tế thị trường Đông Á
Một số yếu tố góp phần vào sự thành công của mô hình kinh tế thị trường
Đông Á. Các yếu tố này bao gồm:
- Mức đầu tư cao vào giáo dục và nguồn nhân lực. Các chính phủ Đông Á
đã đầu tư mạnh vào giáo dục, giúp tạo ra lực lượng lao động có tay nghề.
- Tăng trưởng hướng đến xuất khẩu.
- Các chính phủ Đông Á đã can thiệp vào nền kinh tế để thúc đẩy tăng trưởng
và phát triển. Sự can thiệp này bao gồm cung cấp trợ cấp, giảm thuế và các
hình thức hỗ trợ khác cho doanh nghiệp.
2.3.5. Nhược điểm
- Mô hình kinh tế thị trường Đông Á đã bị chỉ trích vì quá phụ thuộc vào
sự can thiệp của chính phủ và tạo ra một hệ thống chủ nghĩa tư bản thân hữu
2.4. Mô hình kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa (Trung Quốc) 2.4.1. Khái niệm
- Nền kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa là một nền kinh tế thị
trường nhiều thành phần, trong đó nhà nước giữ vai trò chủ đạo và có trách
nhiệm định hướng nền kinh tế, với mục tiêu dài hạn là xây dựng xã hội chủ nghĩa. 2.4.2. Hình thành Nhìn Silde 2.4.3. Đặc điểm
Nền kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa tại Trung Quốc có những đặc điểm cơ bản sau:
- Đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Trung Quốc: Đảng Cộng sản
Trung Quốc đóng vai trò dẫn dắt và kiểm soát nền kinh tế, định hướng phát
triển thông qua các chính sách vĩ mô, kế hoạch 5 năm và sự can thiệp trực
tiếp vào các lĩnh vực quan trọng. Mục tiêu là đảm bảo nền kinh tế phục vụ
mục tiêu xã hội chủ nghĩa, không đi chệch hướng tư bản
- Sự đa dạng hóa sở hữu và khu vực kinh tế: Mặc dù chịu sự chi phối mạnh
mẽ của Doanh nghiệp nhà nước nhưng vẫn khuyến khích và tạo điều kiện cho
sự phát triển của kinh tế tư nhân và kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài.
2.4.4. Lợi thế và thành tựu
- Theo số liệu của WTO, năm 2021, Trung Quốc là nước xuất khẩu hàng
hóa nhiều nhất thế giới và nhập khẩu hàng hóa nhiều thứ hai. Trong lĩnh vực
dịch vụ, quốc gia này xuất khẩu nhiều thứ ba và nhập khẩu nhiều thứ hai toàn cầu.
- Năm 2010, Trung Quốc vượt Nhật Bản trở thành nền kinh tế lớn thứ hai thế giới, chỉ sau Mỹ.
- Sau 45 năm, GDP Trung Quốc từ 367,9 tỷ nhân dân tệ (50,8 tỷ USD) tăng
lên 121.000 tỷ nhân dân tệ năm 2022. Thu nhập bình quân tăng vọt từ 468
nhân dân tệ năm 1980 lên 91.000 nhân dân tệ (gần 13.000 USD) năm 2022.
Việc này giúp họ chuyển từ nhóm nước có thu nhập thấp lên nhóm thu nhập trung bình cao, theo WB.
2.4.5. Hạn chế và khó khăn
- Doanh nghiệp Nhà nước hoạt động còn kém hiệu quả so với doanh nghiệp tư nhân.
- Già hóa dân số: Từ năm 2022, dân số Trung Quốc bắt đầu giảm, đánh dấu
bước ngoặt nhân khẩu học nghiêm trọng. Dự báo đến 2050, 1/3 dân số Trung
Quốc sẽ trên 60 tuổi, làm giảm năng suất và gây khó khăn cho mô hình "tăng
trưởng dựa vào nhân công rẻ".
- Ô nhiễm môi trường suy thoái tài nguyên: do định hướng cơ cấu kinh tế
phát triển mạnh về công nghiệp – dịch vụ nên đã để lại những hậu quả về môi
trường như làm giảm chất lượng không khí, ô nhiễm đất đai nguồn nước, cạn kiệt tài nguyên,…
- Cuộc chiến tranh thuế quan với Mỹ: gây ra nhiều tác động xấu đến nền
kinh tế, ảnh hưởng đến sản xuất và xuất khẩu, giá cả thị trường, …