1
ĐẠI HỌC QUỐC GIA TP. HỒ CHÍ MINH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHỆ THÔNG TIN
KHOA HỆ THỐNG THÔNG TIN
TỪ THỊ TƯỜNG VI - 22521660
TIỂU LUẬN CUỐI KỲ
MÔN: TÂM HỌC NHÂN CÁCH
Đề tài: Dựa trên một học thuyết về nhân cách đã được dạy
trên lớp, hãy phân tích một số đặc điểm trong nhân cách
của bản thân
GIẢNG VIÊN BỘ MÔN
PHẠM THỊ MAI TRANG
TP. HỒ CHÍ MINH, 2025
2
3
TIỂU LUẬN CUỐI KỲ TÂM HỌC NHÂN CÁCH
Đề bài: Dựa trên một học thuyết về nhân cách đã được dạy trên lớp, Anh/Chị hãy phân tích
một số đặc điểm trong nhân cách của bản thân.
Học thuyết lựa chọn: Viktor Frankl Liệu pháp ý nghĩa (Logotherapy)
MSSV: 22521660
Họ & Tên Sinh Viên: Từ Thị Tường Vi
1. do chọn học thuyết
Em chọn học thuyết Viktor Frankl học thuyết này nhấn mạnh tìm kiếm ý nghĩa động
lực trung tâm của con người, giúp giải thích việc sao giai đoạn em rất nỗ lực nhưng
cũng giai đoạn dễ trì hoãn, thiếu kỷ luật bị cảm xúc chi phối.
Khung thuyết của Frankl giúp em nhìn vấn đề một cách hệ thống: khi “ý nghĩa/mục tiêu”
đủ rõ, em chủ động bền bỉ hơn; khi mục tiêu mờ, em dễ rơi vào trạng thái trống rỗng, làm
việc theo cảm hứng giảm hiệu suất.
2. Trình bày học thuyết Frankl
Frankl cho rằng động lực chính của con người tìm kiếm ý nghĩa:
"Nếu con người thể tìm thấy ý nghĩa ngay cả trong đau khổ tột cùng, thì chúng ta hoàn
toàn thể tìm thấy trong cuộc sống hiện đại."
Ông đề xuất ba nguồn (con đường) tạo ý nghĩa:
Công việc/hành động (đóng góp, sáng tạo, hoàn thành trách nhiệm),
Tình yêu/mối quan hệ (gắn kết, hỗ trợ, cảm giác thuộc về),
Đau khổ/thách thức không thể tránh (tìm ý nghĩa thông qua thái độ sự kiên
cường).
Một điểm then chốt của liệu pháp ý nghĩa tự do ý chí: không kiểm soát hoàn toàn hoàn
cảnh, con người thể chọn thái độ phản ứng trước hoàn cảnh, từ đó chịu trách nhiệm về
đời sống tạo ý nghĩa.
4
Frankl cũng tả “khoảng trống hiện sinh” như trạng thái trống rỗng nghĩa khi
nhân mất kết nối với giá trị mục tiêu, dễ dẫn đến buồn chán, thờ ơ hoặc tuyệt vọng.
vậy, liệu pháp ý nghĩa hướng đến việc giúp nhân xác định giá trị mục tiêu nguồn
ý nghĩa, sắp xếp đời sống theo các nguyên tắc đó.
3. Liên hệ bản thân theo học thuyết Frankl
3.1. Nguồn lực nhân định hướng ý nghĩa
Nhìn nhận lại bản thân, em thấy mình một sự giao thoa thú vị giữa duy logic nhạy bén
của dân kỹ thuật tâm hồn nhạy cảm, giàu lòng trắc ẩn. Em may mắn sở hữu khả năng tiếp
thu nhanh cùng một "gu" thẩm mỹ riêng biệt trong hội họa thiết kế. Theo thuyết của
Viktor Frankl, những tố chất này chính mảnh đất màu mỡ để em ươm mầm ý nghĩa sống
thông qua hai con đường: Sáng tạo (Công việc) Sự kết nối (Mối quan hệ).
Hiện tại, đang theo đuổi ngành Hệ thống thông tin, trái tim em lại dành sự ưu ái đặc biệt
cho thiết kế UI/UX. Với em, ý nghĩa nghề nghiệp không chỉ dừng lại việc hoàn thành nhiệm
vụ, cảm giác hạnh phúc khi nhìn thấy những sản phẩm “đẹp chỉn chu thực dụng”
do chính tay mình nhào nặn được hội công nhận. Đó không chỉ một mục tiêu, còn
“trục ý nghĩa” xuyên suốt, giúp em thêm sức mạnh để mài giũa kỹ năng vượt qua
những áp lực học tập căng thẳng.
3.2. Vấn đề nổi bật: cầu toàn nhưng thiếu kỷ luật/kiên trì
Điểm em muốn cải thiện gồm: tính kỷ luật, sự chăm chỉ khả năng không bị cảm xúc chi
phối quá nhiều. Biểu hiện chính là: ngủ muộn dậy trễ, trì hoãn, dễ bỏ giữa chừng khi
gặp giai đoạn khó hoặc chán.
Theo Frankl, khi nhân chưa gắn hành động hằng ngày với ý nghĩa/giá trị ràng, họ dễ
rơi vào trạng thái thiếu định hướng; từ đó giảm bền bỉ dễ xuất hiện cảm giác trống rỗng.
Với em, điều này thể hiện việc: em thể đặt mục tiêu rất cao (cầu toàn, muốn làm “đẹp
đúng”), nhưng nếu mục tiêu chỉ dừng “muốn hoàn hảo” thiếu một ý nghĩa cụ thể (vì
sao cần làm đều mỗi ngày), em dễ mất nhịp trì hoãn.
5
Hướng điều chỉnh theo Frankl chuyển từ “đợi động lực/cảm hứng” sang lựa chọn trách
nhiệm. Frankl nhấn mạnh con người thể chọn thái độ phản ứng trước tình huống.
Với em, lựa chọn này được cụ thể hóa bằng việc: duy trì giờ ngủ giờ dậy ổn định hơn, chia
mục tiêu lớn thành tiến độ nhỏ theo ngày/tuần, kiên trì làm một phần tối thiểu ngay cả khi
tâm trạng không tốt. Khi em làm như vậy, kỷ luật trở thành một phần của ý nghĩa: “em chọn
trở thành người năng lực được công nhận bằng sản phẩm”.
3.3. Mối quan hệ: đồng cảm đi kèm nỗi sợ mất lòng tránh từ chối
Về mặt mối quan hệ, em người đồng cảm, nhưng điểm yếu sợ mất lòng nên đôi khi
tránh từ chối. Thay phản hồi ràng, em xu hướng trì hoãn phản hồi hoặc trả lời vòng
vo, dẫn đến việc người khác bị động giảm chất lượng giao tiếp. Tình huống hay gặp khi
người khác rủ tham gia hoạt động hoặc nhờ hỗ trợ một phần việc nào đó vào lúc em không
phù hợp, em không nói “không” ngay.
Theo Frankl, ý nghĩa gắn liền với trách nhiệm lựa chọn: nhân không kiểm soát được
cách người khác phản ứng, nhưng thể chọn cách hành xử nhất quán với giá trị của mình.
Do đó, điều em cần rèn “từ chối trách nhiệm”: phản hồi sớm, rõ, lịch sự; nói đúng khả
năng giới hạn. Khi làm được, em sẽ vừa giữ được sự tôn trọng trong quan hệ, vừa giảm tự
trách giảm xung đột nội tâm.
3.4. Thái độ trước khó khăn: kinh nghiệm thu mình bài học điều tiết cảm xúc
Em từng giai đoạn stress mạnh do khủng hoảng gia đình tuổi thiếu niên, dẫn đến thu
mình giảm năng ợng sống trong một thời gian ngắn. Em xem đây dụ điển hình cho
trạng thái mất định hướng/giảm ý nghĩa, tương thích với tả về “khoảng trống hiện sinh”
của Frankl.
Từ trải nghiệm đó, em rút ra mục tiêu phát triển hiện tại không để cảm xúc chi phối quá
nhiều. Em cũng nhận thấy phản ứng của mình khi bị góp ý thường giai đoạn tự trách
buồn, rồi mới thay đổi. Theo tinh thần Frankl, em muốn chuyển trọng tâm sang việc tìm ý
6
nghĩa của trải nghiệm (mình học được gì) nhanh chóng chọn hành động phù hợp với mục
tiêu/giá trị đã xác định.
3.5. Điều chỉnh hiện tại: trí hơn trong tình cảm
Nếu trước đây tình cảm lúc ảnh hưởng mạnh đến tâm trạng, thì hiện tại em chủ động điều
chỉnh theo hướng trí tự chủ hơn, đặt trọng tâm vào học tập nghề nghiệp phát triển
bản thân. Sự thay đổi này phù hợp với Frankl điểm: em không cần kiểm soát mọi biến động
cảm xúc, nhưng em thể chọn thái độ hành động theo mục tiêu dài hạn.
4. Kết luận
Học thuyết Frankl đã giúp em giải được "bài toán" nhân cách của chính mình. Những
vấn đề như thiếu kỷ luật hay hay bị cảm xúc chi phối hóa ra hệ quả của việc chưa duy trì
được một mục đích đủ lớn cho những nỗ lực mỗi ngày. Khi xác định được ý nghĩa nghề
nghiệp tạo ra các sản phẩm chất lượng, em trở nên bền bỉ nhạy bén hơn hẳn.
Thay để bản thân "trôi" theo cảm hứng, giờ đây em chọn cách tiếp cận chủ động hơn.
Frankl dạy em rằng: chúng ta thể không kiểm soát được mọi việc xảy đến, nhưng chúng
ta m chủ cách mình phản ứng. Đây chính động lực để em chuyển đổi từ sự trì hoãn sang
hành động trách nhiệm, dùng ý nghĩa sống để kiến tạo nên một bản thân kỷ luật hơn, bản
lĩnh hơn trên con đường phát triển sự nghiệp ơng lai.
Tài liệu tham khảo (APA)
Tài liệu bài giảng môn Tâm học nhân cách. (n.d.). Hiện sinh Frankl May (Liệu pháp
ý nghĩa/Logotherapy) [Tài liệu bài giảng, PDF].
Frankl, V. E. (2006). Man’s Search for Meaning. Beacon Press. (Original work published
1946)
7

Preview text:

ĐẠI HỌC QUỐC GIA TP. HỒ CHÍ MINH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHỆ THÔNG TIN
KHOA HỆ THỐNG THÔNG TIN
TỪ THỊ TƯỜNG VI - 22521660
TIỂU LUẬN CUỐI KỲ
MÔN: TÂM LÝ HỌC NHÂN CÁCH
Đề tài: Dựa trên một học thuyết về nhân cách đã được dạy
trên lớp, hãy phân tích một số đặc điểm trong nhân cách
của bản thân GIẢNG VIÊN BỘ MÔN PHẠM THỊ MAI TRANG
TP. HỒ CHÍ MINH, 2025 1 2
TIỂU LUẬN CUỐI KỲ – TÂM LÝ HỌC NHÂN CÁCH
Đề bài: Dựa trên một học thuyết về nhân cách đã được dạy trên lớp, Anh/Chị hãy phân tích
một số đặc điểm trong nhân cách của bản thân.
Học thuyết lựa chọn: Viktor Frankl – Liệu pháp ý nghĩa (Logotherapy) MSSV: 22521660
Họ & Tên Sinh Viên: Từ Thị Tường Vi
1. Lý do chọn học thuyết
Em chọn học thuyết Viktor Frankl vì học thuyết này nhấn mạnh tìm kiếm ý nghĩa là động
lực trung tâm của con người, giúp giải thích rõ việc vì sao có giai đoạn em rất nỗ lực nhưng
cũng có giai đoạn dễ trì hoãn, thiếu kỷ luật và bị cảm xúc chi phối.
Khung lý thuyết của Frankl giúp em nhìn vấn đề một cách hệ thống: khi “ý nghĩa/mục tiêu”
đủ rõ, em chủ động và bền bỉ hơn; khi mục tiêu mờ, em dễ rơi vào trạng thái trống rỗng, làm
việc theo cảm hứng và giảm hiệu suất.
2. Trình bày học thuyết Frankl
Frankl cho rằng động lực chính của con người là tìm kiếm ý nghĩa:
"Nếu con người có thể tìm thấy ý nghĩa ngay cả trong đau khổ tột cùng, thì chúng ta hoàn
toàn có thể tìm thấy nó trong cuộc sống hiện đại."
Ông đề xuất ba nguồn (con đường) tạo ý nghĩa:
Công việc/hành động (đóng góp, sáng tạo, hoàn thành trách nhiệm),
Tình yêu/mối quan hệ (gắn kết, hỗ trợ, cảm giác thuộc về),
Đau khổ/thách thức không thể tránh (tìm ý nghĩa thông qua thái độ và sự kiên cường).
Một điểm then chốt của liệu pháp ý nghĩa là tự do ý chí: dù không kiểm soát hoàn toàn hoàn
cảnh, con người có thể chọn thái độ và phản ứng trước hoàn cảnh, từ đó chịu trách nhiệm về
đời sống và tạo ý nghĩa. 3
Frankl cũng mô tả “khoảng trống hiện sinh” như trạng thái trống rỗng và vô nghĩa khi cá
nhân mất kết nối với giá trị và mục tiêu, dễ dẫn đến buồn chán, thờ ơ hoặc tuyệt vọng.
Vì vậy, liệu pháp ý nghĩa hướng đến việc giúp cá nhân xác định giá trị – mục tiêu – nguồn
ý nghĩa, và sắp xếp đời sống theo các nguyên tắc đó.
3. Liên hệ bản thân theo học thuyết Frankl
3.1. Nguồn lực cá nhân và định hướng ý nghĩa
Nhìn nhận lại bản thân, em thấy mình là một sự giao thoa thú vị giữa tư duy logic nhạy bén
của dân kỹ thuật và tâm hồn nhạy cảm, giàu lòng trắc ẩn. Em may mắn sở hữu khả năng tiếp
thu nhanh cùng một "gu" thẩm mỹ riêng biệt trong hội họa và thiết kế. Theo lý thuyết của
Viktor Frankl, những tố chất này chính là mảnh đất màu mỡ để em ươm mầm ý nghĩa sống
thông qua hai con đường: Sáng tạo (Công việc) và Sự kết nối (Mối quan hệ).
Hiện tại, dù đang theo đuổi ngành Hệ thống thông tin, trái tim em lại dành sự ưu ái đặc biệt
cho thiết kế UI/UX. Với em, ý nghĩa nghề nghiệp không chỉ dừng lại ở việc hoàn thành nhiệm
vụ, mà là cảm giác hạnh phúc khi nhìn thấy những sản phẩm “đẹp – chỉn chu – thực dụng”
do chính tay mình nhào nặn được xã hội công nhận. Đó không chỉ là một mục tiêu, mà còn
là “trục ý nghĩa” xuyên suốt, giúp em có thêm sức mạnh để mài giũa kỹ năng và vượt qua
những áp lực học tập căng thẳng.
3.2. Vấn đề nổi bật: cầu toàn nhưng thiếu kỷ luật/kiên trì
Điểm em muốn cải thiện gồm: tính kỷ luật, sự chăm chỉ và khả năng không bị cảm xúc chi
phối quá nhiều. Biểu hiện chính là: ngủ muộn – dậy trễ, trì hoãn, và dễ bỏ giữa chừng khi
gặp giai đoạn khó hoặc chán.
Theo Frankl, khi cá nhân chưa gắn hành động hằng ngày với ý nghĩa/giá trị rõ ràng, họ dễ
rơi vào trạng thái thiếu định hướng; từ đó giảm bền bỉ và dễ xuất hiện cảm giác trống rỗng.
Với em, điều này thể hiện ở việc: em có thể đặt mục tiêu rất cao (cầu toàn, muốn làm “đẹp
và đúng”), nhưng nếu mục tiêu chỉ dừng ở “muốn hoàn hảo” mà thiếu một ý nghĩa cụ thể (vì
sao cần làm đều mỗi ngày), em dễ mất nhịp và trì hoãn. 4
Hướng điều chỉnh theo Frankl là chuyển từ “đợi động lực/cảm hứng” sang lựa chọn có trách
nhiệm. Frankl nhấn mạnh con người có thể chọn thái độ và phản ứng trước tình huống.
Với em, lựa chọn này được cụ thể hóa bằng việc: duy trì giờ ngủ – giờ dậy ổn định hơn, chia
mục tiêu lớn thành tiến độ nhỏ theo ngày/tuần, và kiên trì làm một phần tối thiểu ngay cả khi
tâm trạng không tốt. Khi em làm như vậy, kỷ luật trở thành một phần của ý nghĩa: “em chọn
trở thành người có năng lực và được công nhận bằng sản phẩm”.
3.3. Mối quan hệ: đồng cảm đi kèm nỗi sợ mất lòng và né tránh từ chối
Về mặt mối quan hệ, em là người đồng cảm, nhưng điểm yếu là sợ mất lòng nên đôi khi né
tránh từ chối. Thay vì phản hồi rõ ràng, em có xu hướng trì hoãn phản hồi hoặc trả lời vòng
vo, dẫn đến việc người khác bị động và giảm chất lượng giao tiếp. Tình huống hay gặp là khi
người khác rủ tham gia hoạt động hoặc nhờ hỗ trợ một phần việc nào đó vào lúc em không
phù hợp, em không nói “không” ngay.
Theo Frankl, ý nghĩa gắn liền với trách nhiệm lựa chọn: cá nhân không kiểm soát được
cách người khác phản ứng, nhưng có thể chọn cách hành xử nhất quán với giá trị của mình.
Do đó, điều em cần rèn là “từ chối có trách nhiệm”: phản hồi sớm, rõ, lịch sự; nói đúng khả
năng và giới hạn. Khi làm được, em sẽ vừa giữ được sự tôn trọng trong quan hệ, vừa giảm tự
trách và giảm xung đột nội tâm.
3.4. Thái độ trước khó khăn: kinh nghiệm thu mình và bài học điều tiết cảm xúc
Em từng có giai đoạn stress mạnh do khủng hoảng gia đình ở tuổi thiếu niên, dẫn đến thu
mình và giảm năng lượng sống trong một thời gian ngắn. Em xem đây là ví dụ điển hình cho
trạng thái mất định hướng/giảm ý nghĩa, tương thích với mô tả về “khoảng trống hiện sinh” của Frankl.
Từ trải nghiệm đó, em rút ra mục tiêu phát triển hiện tại là không để cảm xúc chi phối quá
nhiều. Em cũng nhận thấy phản ứng của mình khi bị góp ý thường có giai đoạn tự trách và
buồn, rồi mới thay đổi. Theo tinh thần Frankl, em muốn chuyển trọng tâm sang việc tìm ý 5
nghĩa của trải nghiệm (mình học được gì) và nhanh chóng chọn hành động phù hợp với mục
tiêu/giá trị đã xác định.
3.5. Điều chỉnh ở hiện tại: lý trí hơn trong tình cảm
Nếu trước đây tình cảm có lúc ảnh hưởng mạnh đến tâm trạng, thì hiện tại em chủ động điều
chỉnh theo hướng lý trí và tự chủ hơn, đặt trọng tâm vào học tập – nghề nghiệp – phát triển
bản thân. Sự thay đổi này phù hợp với Frankl ở điểm: em không cần kiểm soát mọi biến động
cảm xúc, nhưng em có thể chọn thái độ và hành động theo mục tiêu dài hạn. 4. Kết luận
Học thuyết Frankl đã giúp em giải mã được "bài toán" nhân cách của chính mình. Những
vấn đề như thiếu kỷ luật hay hay bị cảm xúc chi phối hóa ra là hệ quả của việc chưa duy trì
được một mục đích đủ lớn cho những nỗ lực mỗi ngày. Khi xác định được ý nghĩa nghề
nghiệp là tạo ra các sản phẩm chất lượng, em trở nên bền bỉ và nhạy bén hơn hẳn.
Thay vì để bản thân "trôi" theo cảm hứng, giờ đây em chọn cách tiếp cận chủ động hơn.
Frankl dạy em rằng: chúng ta có thể không kiểm soát được mọi việc xảy đến, nhưng chúng
ta làm chủ cách mình phản ứng. Đây chính là động lực để em chuyển đổi từ sự trì hoãn sang
hành động có trách nhiệm, dùng ý nghĩa sống để kiến tạo nên một bản thân kỷ luật hơn, bản
lĩnh hơn trên con đường phát triển sự nghiệp tương lai.
Tài liệu tham khảo (APA)
Tài liệu bài giảng môn Tâm lý học nhân cách. (n.d.). Hiện sinh – Frankl và May (Liệu pháp
ý nghĩa/Logotherapy)
[Tài liệu bài giảng, PDF].
Frankl, V. E. (2006). Man’s Search for Meaning. Beacon Press. (Original work published 1946) 6 7