Đang tải lên
Vui lòng đợi trong giây lát...
Preview text:
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
ĐẠI HỌC KINH TẾ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH KHOA LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ
⸻⸻⸻⸻⸻⸻⸻⸻⸻⸻⸻⸻⸻⸻⸻⸸⸻⸻⸻⸻⸻⸻⸻⸻⸻⸻⸻⸻⸻⸻⸻ BÀI TIỂU LUẬN
BỘ MÔN LỊCH SỬ ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM CHỦ ĐỀ:
Đảng lãnh đạo cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, thực hiện hòa bình,
thống nhất nước nhà (1965-1975)
GIẢNG VIÊN HƯỚNG DẪN : BÙI THỊ HUYỀN
NHÓM SINH VIỆN THỰC HIỆN : NHÓM 3
MÃ LỚP HỌC PHẦN : 23C1HIS51002623 HỆ ĐÀO TẠO : CHÍNH QUY BUỔI HỌC : SÁNG THỨ 7 PHÒNG HỌC : N2-505
Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 10 tháng 11 năm 2023 MỤC LỤC
I. Lời mở đầu.................................................................................................................... 1
II. Nội dung....................................................................................................................... 2
1. Giai đoạn 1965-1968: Mỹ tham chiến, đường lối của Đảng và quá trình thực hiện
đường lối của 2 miền Nam - Bắc (1965 - 1968)..............................................................2
1.1. Hoàn cảnh lịch sử.................................................................................................2
1.2. Đường lối của Đảng.............................................................................................3
1.3. Quá trình thực hiện đường lối của 2 miền Nam-Bắc............................................4
2. Giai đoạn 1969 - 1975: Hội nghị Paris và quá trình vừa đánh, vừa đàm, giải phóng
miền Nam, thống nhất đất nước......................................................................................6
2.1 Hoàn cảnh lịch sử..................................................................................................6
2.2 Hội nghị Paris.......................................................................................................7
2.3 Quá trình vừa đánh, vừa đàm, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước..........9
3. Kết quả, ý nghĩa của giai đoạn 1954-1975................................................................12
3.1 Kết quả................................................................................................................ 12
3.2. Ý nghĩa lịch sử và kinh nghiệm lãnh đạo của Đảng trong thời kỳ (1954 - 1975).
................................................................................................................................... 14
4. Bài học kinh nghiệm của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước và giải phóng miền
Nam thống nhất đất nước..............................................................................................15
III. Kết luận.................................................................................................................... 15 Tài liệu tham khảo
Bảng phân công công việc các thành viên trong nhóm 3 STT Tên MSSV
Công việc được phân công Mức độ hoàn thành (%) 1 Tạ Khánh Hà 31221023776 Nội dung 3.1, 100%
Trả lời câu hỏi phản biện từ nhóm khác 2 Nguyễn Xuân Hân 31221023021
Nội dung câu hỏi bổ sung, 100%
Trả lời câu hỏi phản biện từ nhóm khác 3 Trần Thị Thu Hiền 31221024577 Nội dung 1.1, Mini Game 100% 4 Đàm Nguyễn Thu Ngân 31221025981 Nội dung 1.3, 100%
Tổng hợp chỉnh sửa bài tiểu luận 5 Nguyễn Phương Nghi 31221020433
Nội dung 2.3, Chỉnh sửa PowerPoint 100% 6 Nguyễn Hà Quỳnh Như 31221026533
Nội dung 1.2, Chỉnh sửa PowerPoint 100% 7 Đỗ Thanh Sơn 31 191027294 Thuyết trình 100% 8 Huỳnh Ngọc Thiên Sơn 31221022076
Tổng hợp và chỉnh sửa bài tiểu luận 100% 9 Phạm Quốc Thiên Sơn 31221021704
Nội dung (Lời mở đầu, bổ sung 3.2), 100%
Tổng hợp chỉnh sửa bài tiểu luận 10 Thới Trần Ngọc Thạch 31221025597 Nội dung 2.2, Minigame 100% 1 1 Hoàng Phương Thanh 31221024582
Nội dung 4, Chỉnh sửa PowerPoint 100% 12 Ngô Vũ Trường Thịnh 31221026609
Nội dung 2.1, Chỉnh sửa PowerPoint 100% 13 Lương Thị Thanh Trà 31221022803
Nội dung 1.3, Thuyết trình 100% 14 Giang Thị Bích Trâm 31221024478
Nội dung 3.2, Thuyết trình 100% 15 Nguyễn Ngọc Tú Trinh 31221024321
Nội dung (Kết Luận), Minigame 100% I. Lời mở đầu
Trong suốt quá trình học tập, không thể phủ nhận rằng lịch sử là một nguồn tri thức
quý báu, giúp ta hiểu rõ hơn về quá khứ, hiện tại và tương lai của đất nước. Bên cạnh địa
lý, lịch sử cũng là một yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến kinh tế, chính trị, văn hóa và xã
hội của một quốc gia. Đặc biệt, giai đoạn lịch sử từ năm 1954 đến năm 1975 là một giai
đoạn có ý nghĩa to lớn đối với sự phát triển của Việt Nam - dân tộc ta đã phải đối mặt với
những thách thức khó khăn nhất và đã chiến thắng những kẻ thù mạnh nhất.
Để có thể nghiên cứu sâu hơn về giai đoạn lịch sử này cũng như để hiểu sâu sắc hơn
về vai trò của Đảng trong công cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, nhóm chúng em
xin gửi đến cô bài tiểu luận với chủ đề: “Đảng lãnh đạo cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu
nước, thực hiện hòa bình, thống nhất nước nhà (1965-1975)”. Đây là một chủ đề quan
trọng và có ý nghĩa lịch sử sâu sắc, không chỉ đối với dân tộc Việt Nam mà còn đối với
thế giới. Cuộc trường kỳ kháng chiến chống Mỹ cứu nước là một cuộc chiến tranh dân
tộc giải phóng, là một cuộc chiến tranh chống xâm lược, là một cuộc chiến tranh chống
đế Chúng em tin rằng, việc nghiên cứu về cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước không
chỉ là một nhiệm vụ lịch sử, mà còn là một nhiệm vụ kinh tế. Bởi vì, cuộc kháng chiến
chống Mỹ cứu nước đã tạo ra những điều kiện thuận lợi cho sự phát triển kinh tế của Việt
Nam sau 1975. Đồng thời, cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước cũng đã để lại những
hậu quả và thách thức cho sự phát triển kinh tế của Việt Nam trong bối cảnh mới. Do đó,
việc nghiên cứu về cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước không chỉ giúp chúng em hiểu
rõ hơn về quá khứ, mà còn giúp chúng em có cái nhìn toàn diện và sâu sắc hơn về hiện tại
và tương lai của kinh tế Việt Nam.
Trong bài tiểu luận này, chúng em sẽ trình bày về các nội dung sau:
Giai đoạn 1965 - 1968: Mỹ tham chiến, đường lối của Đảng và quá trình thực
hiện đường lối của 2 miền Nam-Bắc (1965 - 1968). Trong giai đoạn này, chúng em sẽ
phân tích về nguyên nhân và quyết sách của Mỹ khi can thiệp vào Việt Nam, về đường
lối của Đảng trong việc lãnh đạo cuộc kháng chiến, về những thành tựu và khó khăn của
hai miền Nam-Bắc trong việc thực hiện đường lối của Đảng.
Giai đoạn 1969 - 1975: Hội nghị Paris và quá trình “vừa đánh, vừa đàm”,
giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước. Trong giai đoạn này, chúng em sẽ phân
tích về quá trình và kết quả của Hội nghị Paris, về chiến lược và tác phẩm của Đảng trong
việc “vừa đánh, vừa đàm”, về những chiến công và ý nghĩa của cuộc Tổng tiến công và
nổi dậy Xuân Mậu Thân 1975, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước.
Kết quả, ý nghĩa của giai đoạn 1954 -1975: Trong phần này, chúng em sẽ tổng
kết về những kết quả và ý nghĩa của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước trong giai
đoạn 1954 -1975, đối với dân tộc Việt Nam và đối với thế giới. Chúng em cũng sẽ đề cập 1
đến những hậu quả và thách thức của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước đối với sự
phát triển kinh tế của Việt Nam sau 1975.
Để thực hiện bài tiểu luận này, nhóm đã sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau:
phương pháp lịch sử, phương pháp so sánh, phương pháp phân tích và tổng hợp. Nhóm
đã tham khảo các nguồn tài liệu chính thức và uy tín, bao gồm các tài liệu của Đảng, Nhà
nước, các tác phẩm của các nhà lịch sử, các báo cáo kinh tế, các bài báo khoa học, các
sách giáo khoa và các trang web tin tức (cụ thể ở phần cuối bài tiểu luận).
Nhóm chúng em hy vọng rằng bài tiểu luận này sẽ mang lại những thông tin bổ ích và
có giá trị về cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, và vai trò trọng yếu của Đảng trong
công cuộc lịch sử này. Chúng em xin chân thành cảm ơn cô đã dành thời gian quý báu để
đọc và góp ý cho bài tiểu luận của chúng em.
Tiếp đến xin mời cô theo dõi phần nội dung chính của bài tiểu luận sau đây. II. Nội dung
1. Giai đoạn 1965-1968: Mỹ tham chiến, đường lối của Đảng và quá trình thực
hiện đường lối của 2 miền Nam - Bắc (1965 - 1968). 1.1. Hoàn cảnh lịch sử a. Ở miền Bắc
Từ ngày.5 - 8/1964, Mỹ dựng nên “sự kiện vịnh Bắc Bộ” .nhằm lấy cớ dùng . không
quân.và hải quân đánh phá.miền
Bắc, mở đầu.cuộc chiến tranh.phá hoại với ý đồ .
đưa.miền Bắc trở về thời.kỳ đồ đá, phá . hoại công cuộc .
xây.dựng Chủ nghĩa.xã hội ở
miền Bắc, ngăn.chặn sự chi viện của miền Bắc cho miền Nam, đè.bẹp ý chí.quyết tâm
chống.Mĩ cứu nước.của cả.dân tộc Việt Nam,.buộc chúng ta phải kết.thúc.chiến
tranh.theo điều kiện do.Mỹ đặt ra.
“Trước tình.hình đó,.theo tinh thần của.nghị quyết hội nghị lần.thứ XI và XII., Ban
Chấp hành.Trung ương Đảng đã kịp.thời xác định chủ trương chuyển hướng và nhiệm vụ cụ thể của .
miền Bắc cho phù hợp với.yêu cầu, nhiệm vụ mới trong hoàn.cảnh cả nước phải đứng dậy chống .
đế quốc .. Chủ trương chuyển hướng và.những nhiệm vụ. của miền
Bắc phản ánh quyết tâm.của Đảng và nhân dân.ta trong việc kiên trì con đường.Xã hội
chủ nghĩa, tiếp tục tăng cường sức mạnh. của miền Bắc từ.đó làm chỗ dựa vững chắc cho
sự nghiệp chống.Mỹ cứu nước, giải phóng.miền Nam, thống nhất toàn vẹn . lãnh thổ đất.nước đất nước. Thực hiện những nghị . quyết của Đảng và
. theo lời kêu gọi.của Hồ Chủ tịch, quân
dân.miền Bắc đã dấy lên cao.trào chống Mỹ cứu nước, vừa sản xuất.vừa chiến đấu
với.niềm tin tưởng và.quyết tâm.cao độ giải phóng.đất nước. 2 b. Ở miền Nam
Cuộc “Chiến tranh cục bộ” mà .
Mỹ tiến hành.là cuộc chiến tranh.có quy mô lớn
nhất,.mạnh nhất kể từ.thế chiến II với sự.tham gia của quân đội Mỹ . . và nhiều nước.chư hầu.
Đầu mùa khô.1965 - 1966, bộ chỉ huy quân sự Mỹ huy .
động 70 vạn quân thực hiện
mục tiêu “tìm diệt” quân . giải phóng, giành .
lại quyền chủ động chiến trường, “bình định”
các vùng nông thôn đồng bằng quan trọng. . Theo đường lối .
kháng chiến của.Đảng. và được hậu phương miền Bắc.ra sức chi
viện,.quân dân miền Nam đã anh dũng.chiến đấu chống lại cuộc “
. chiến tranh cục bộ”.của Mỹ và.tay sai.
Mùa khô 1966 - 1967, với lực lượng hùng hậu, Mỹ mở cuộc phản công chiến lược lần
thứ hai thế nhưng các cuộc hành quân của Mỹ đều bị quân dân ta bẻ gãy và tổn thất nặng nề. Cuối năm 1967, cuộc .
“chiến tranh cục bộ” của .
Mỹ được đẩy đến cao trào,.số quân
viễn chinh đổ.vào miền Nam nước ta đã lên đến con số 48 .
.vạn quân. Với sự thắng lợi.trên cả hai mặt trận quân .
sự và chính trị, .ngày 28/1/1967,.Hội nghị lần thứ XII.Ban Chấp
hành Trung ương Đảng đã quyết định mở mặt .
trận ngoại giao.với mục đích tranh thủ . sự ủng hộ của quốc tế d
. ành cho nước ta, mở ra cục diện vừa đánh,.vừa đàm,.phát huy sức
mạnh tổng hợp.để chống lại đế quốc Mỹ. .
Mùa xuân. Mậu Thân 1968, dưới sự lãnh đạo của Đảng,.quân dân ta đã đồng lòng
thực hiện.cuộc tổng tiến công và
. nổi dậy và đã giành chiến thắng v . ang dội, đánh
dấu.bước ngoặt quan trọng, chuyển chiến tranh.cách mạng miền Nam sang thời kỳ mới,
khởi đầu quá trình đi.đến thất bại hoàn toàn của.Mỹ và ngụy quyền Sài Gòn. Chiến lược
“chiến tranh cục bộ”.của Mỹ thất bại. Mỹ phải chấp nhận .đàm phán với Việt Nam tại hội
nghị Paris từ ngày 13/5/1968.
1.2. Đường lối của Đảng
Nội dung cơ bản của đường lối:
Quyết tâm chiến lược: Nêu cao khẩu hiệu “quyết tâm đánh thắng giặc Mỹ xâm
lược”, Đảng phát động cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước và xác định đây là nhiệm
vụ thiêng liêng của cả dân tộc từ Nam chí Bắc.
Mục tiêu chiến lược: Quyết tâm đánh bại bất kỳ cuộc chiến tranh xâm lược nào
của đế quốc Mỹ, nhằm bảo vệ miền Bắc, giải phóng miền Nam, thực hiện thống nhất nước nhà. 3
Phương châm chiến lược: Miền Bắc đẩy mạnh chiến tranh nhân dân chống chiến
tranh cục bộ, đồng thời miền Nam phát động chiến tranh nhân dân chống chiến tranh phá
hoại, chủ trương đánh lâu dài, dựa vào sức mình là chính, tập trung lực lượng hai miền để
mở những cuộc tiến công lớn và giành thắng lợi quyết định trên chiến trường miền Nam.
Tư tưởng chỉ đạo đối với miền Nam: “Tiếp tục kiên trì phương châm: Kết hợp
đấu tranh quân sự với đấu tranh chính trị, triệt để thực hiện ba mũi giáp công”, đánh địch
trên cả ba vùng chiến lược. Đấu tranh quân sự trong giai đoạn này là yếu tố vô cùng quan
trọng, giữ vai trò quyết định trực tiếp đến chiến thắng trong cuộc chiến tranh giải phóng miền Nam.
Tư tưởng chỉ đạo đối với miền Bắc: Tiếp tục xây dựng miền Bắc vững mạnh về
kinh tế và quốc phòng, động viên sức người sức của ở mức cao nhất để chi viện cho miền
Nam, tiến hành chiến tranh nhân dân chống chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ, bảo vệ
vững chắc miền Bắc Xã hội chủ nghĩa.
Về mối quan hệ và nhiệm vụ cách mạng của hai miền: Miền Nam là tiền tuyến
lớn còn miền Bắc là hậu phương lớn, hai nhiệm vụ này gắn bó mật thiết với nhau trong
cuộc chiến tranh chống Mỹ cứu nước của cả dân tộc. lúc này, khẩu hiệu của nhân dân cả
nước: “tất cả để đánh thắng giặc Mỹ xâm lược”.
Ý nghĩa: Nghị quyết của Ban Chấp hành Trung ương Đảng tại Hội nghị Trung
ương lần thứ 11 và 12 mang ý nghĩa vô cùng to lớn:
+ Thể hiện quyết tâm đánh Mỹ và thắng Mỹ, tinh thần độc lập tự chủ, kiên trì với ý chí,
nguyện vọng của toàn Đảng, toàn quân, toàn dân ta: “giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc”.
+ Thể hiện tinh thần giương cao ngọn cờ độc lập dân tộc và Chủ nghĩa xã hội, tiến hành
đồng thời cũng như kết hợp chặt chẽ hai chiến lược cách mạng ở hai miền Bắc, Nam
nhưng vẫn đáp ứng điều kiện phù hợp với thực tế đất nước và bối cảnh quốc tế.
+ Đây là đường lối chiến lược được phát triển trong hoàn cảnh mới – chiến tranh nhân
dân, toàn dân, toàn diện, lâu dài, dựa vào sức mình là chính. Đường lối này cũng là cơ sở
để Đảng lãnh đạo toàn dân đưa cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước tới thắng lợi vẻ vang.
1.3. Quá trình thực hiện đường lối của 2 miền Nam-Bắc
a.Quá trình thực hiện đường lối của miền Bắc:
Dựa theo những chủ trương mà Ban chấp hành Trung ương Đảng đã xác định, quan và
dân miền Bắc đã đẩy lên cao phong trào chống Mỹ. Nhiệm vụ cấp bách lúc này là phải
kịp thời chuyển hướng tư tưởng và tổ chức, chuyển hướng xây dựng kinh tế và tăng
cường lực lượng quốc phòng cho hợp với tình hình mới. Làm cho Đảng và toàn dân hiểu 4
rõ: Giải phóng miền Nam là trách nhiệm chung của nhân dân cả nước và cả nước đều
phải tham gia đánh giặc. Cần phải xác định rõ: “Miền Bắc dù có bị ném bom bắn phá đến
đâu cũng phải vì giải phóng miền Nam mà không chút nao núng, nâng cao chí khí căm
thù và quyết tâm thắng địch”.
Nhân dân và bộ đội vừa chăm lo sản xuất, vừa ngày đêm chiến đấu với các phong trào
“Ba sẵn sàng”, “Ba đảm đang”, “Tay cày tay súng”, “Tay búa tay súng”. Bên cạnh đó,
tiêu biểu như trong chiến đấu có “Nhắm thẳng quân thù mà bắn”, trong chi viện tiền
tuyến có “Thóc không thiếu một cân, quân không thiếu một người”, trong bảo đảm giao
thông vận tải có “Xe chưa qua, nhà không tiếc”,....Thành công của các phong trào này đã
khơi dậy và khuyến khích tinh thần của nhân dân, góp phần rất to lớn vào thắng lợi của
sự nghiệp kháng chiến chống Mỹ, đấu tranh giải phóng miền Nam thống nhất đất nước.
Sau những nỗ lực, cố gắng không ngừng nghỉ của quân và dân cả hai miền Nam - Bắc,
ngày 1/11/1968 Mỹ buộc phải ngừng đánh phá miền Bắc không điều kiện. Sau bốn năm
ấy, miền Bắc đạt được những thành tựu đáng tự hào trên những mặt chính trị, kinh tế, văn
hóa, chi viện cho tiền tuyến lớn miền Nam.
b. Quá trình thực hiện đường lối của miền Nam
Từ đường lối lãnh đạo của Đảng cùng sự giúp sức chi viện của hậu phương miền Bắc,
quân dân miền Nam đã anh dũng chiến đấu chống lại chiến lược “Chiến tranh cục bộ”
của Mỹ và tay sai. Và những trận thắng từ Núi Thành (5/1965), Vạn Tường (8/1965) hay
Plâyme (11/1965),... đã tạo bước đệm chắc chắn để bẻ gãy cuộc phản công chiến lược
mùa khô 1965 - 1966 và mùa khô 1966 - 1967, từ đó làm thất bại kế hoạch tìm và diệt,
bình định nhằm giành thế chủ động trên chiến trường.
Ở giai đoạn này, miền Nam cần giữ vững và phát triển thế tiến công, kiên quyết tiến
công và liên tục tiến công, đánh địch trên cả ba vùng chiến lược. Giai đoạn này đấu tranh
quân sự có tác dụng quyết định trực tiếp và giữ một vị trí quan trọng.
Ngày 28/01/1967, Hội nghị Trung ương lần thứ 13 (Khóa III) đã quyết định mở mặt
trận ngoại giao nhằm tranh thủ được sự ủng hộ của bạn bè quốc tế và mở ra cục diện vừa đánh vừa đàm.
Đến tháng 01/1968, Nghị quyết Hội nghị Trung ương lần thứ 14 đã chuyển chiến
tranh cách mạng miền Nam sang thời kỳ mới - tiến lên giành thắng lợi quyết định bằng
phương pháp tổng công kích - tổng khởi nghĩa vào tất cả các đô thị, định lũy của Mỹ - ngụy trên toàn miền Nam.
Với quyết tâm chiến lược của Đảng, ta đã phát động cuộc tổng tiến công và nổi dậy
đợt I trên toàn miền Nam vào đúng đêm 30 rạng sáng ngày 31/01/1968 - ngay dịp giao
thừa Tết Mậu Thân, thời điểm mà địch lơ là nhất. Và các đợt tiến công tiếp theo vào
tháng 05 và tháng 08/1968, quân và dân ta đã tiêu diệt, loại khỏi vòng chiến đấu hàng 5
chục vạn tên địch cũng như phá hủy nhiều phương tiện chiến tranh của kẻ thù và giải
phóng thêm hàng triệu đồng bào. Có thể nói cuộc tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu
Thân 1968 là một chủ trương táo bạo và sáng tạo của Đảng, đánh thẳng vào ý chí xâm
lược của giới cầm quyền Mỹ.
Bên cạnh đó, cũng nhìn nhận lại quá trình lãnh đạo, chỉ đạo các hoạt động quân sự
1968, chúng ta đã phạm phải những sai lầm chủ quan trong việc đánh giá tình hình và đề
ra yêu cầu chưa sát thực tế dẫn đến hệ quả cách mạng miền Nam lâm vào thời kỳ khó
khăn nghiêm trọng do tổn thất về lực lượng và thế trận.
2. Giai đoạn 1969 - 1975: Hội nghị Paris và quá trình vừa đánh, vừa đàm, giải
phóng miền Nam, thống nhất đất nước 2.1 Hoàn cảnh lịch sử
Giai đoạn 1969 - 1975 là một thời kỳ quan trọng và đầy biến động trong lịch sử Việt
Nam, đánh dấu những biến đổi lớn trong cuộc Chiến tranh Việt Nam và cuộc đấu tranh
giành độc lập và thống nhất đất nước.
a. Cuộc Kháng Chiến Chống Mỹ (1969 - 1973)
Từ năm 1969, cuộc kháng chiến chống Mỹ của nhân dân Việt Nam đã bước vào giai
đoạn mới. Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân năm 1968 đã làm lung lay ý
chí xâm lược của Mỹ, buộc Mỹ phải tuyên bố “Phi Mĩ hóa chiến tranh”, ngừng ném bom
miền Bắc và ngồi vào bàn đàm phán Pari để bàn về chấm dứt chiến tranh. Năm 1969, Mỹ
đã tiến hành cuộc tấn công đất liền lớn nhất trong chiến tranh mang tên “Chiến dịch Tết
Mậu Thân” nhằm đánh đổ hủy diệt khả năng chiến đấu của miền Bắc Việt Nam . Tuy
nhiên, điều này đã không thành công và chỉ gây thêm tổn thất nặng nề cho quân đội và
dân Việt Nam. Cuộc tấn công này đã tạo ra sự chống đối mạnh mẽ từ phía người dân và
làm tăng thêm sự chống Mỹ trong cả nước.
b. Hiệp Định Pari và Thời Kỳ Hậu Chiến (1973 - 1975)
Sau những năm kháng chiến ác liệt, Hiệp định Pari năm 1973 về chấm dứt chiến tranh,
lập lại hòa bình ở Việt Nam đã được ký kết. Tuy nhiên, sau Hiệp định Pari, cuộc chiến
tranh vẫn tiếp tục diễn ra ở miền Nam do sự không tuân thủ hiệp định của phía Mỹ và
chính quyền Sài Gòn. Từ năm 1970, quân đội Mỹ giảm quy mô và sự tác động của họ
trên chiến trường Việt Nam cũng trở nên nhỏ hơn. Đồng thời, sự nổi lên của phong trào
chống chiến tranh và phản đối trong nước Mỹ cũng ngày càng lớn mạnh. Những cuộc
biểu tình và phản ứng của nhân dân Mỹ đã đẩy chính phủ Mỹ đưa ra quyết định rút quân
khỏi Việt Nam vào năm 1973. 6
c. Thắng Lợi Mùa Xuân Năm 1975 và Sự Thống Nhất Đất Nước
Cuối cùng, vào mùa Xuân năm 1975, nhân dân ta đã giành được thắng lợi vĩ đại trong
cuộc Tổng tiến công và nổi dậy, kết thúc thành công cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu
nước. Ngày 30 tháng 4 năm 1975, Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam đã tiến công
chính thức vào Sài Gòn và phá tan chính quyền Cộng Hòa miền Nam Việt Nam. Đây là
một mốc quan trọng trong lịch sử Việt Nam, đánh dấu sự thống nhất của đất nước sau nhiều năm chiến tranh.
d. Hoàn Cảnh Lịch Sử Sau Năm 1975
Sau năm 1975, Việt Nam bước vào một giai đoạn mới của lịch sử: thời kỳ hòa bình và
thống nhất. Đất nước ta bắt đầu tiến hành xây dựng lại từ những tàn phá của chiến tranh
và tiếp tục con đường xây dựng Chủ nghĩa xã hội. Tuy nhiên, cuộc chiến tranh lưu vong
của người Việt và di dân sau chiến tranh đã làm gia tăng thêm sự đau khổ và khó khăn
cho dân tộc. Việc xây dựng lại và hòa nhập đất nước cũng đặt ra nhiều thách thức cho
chính phủ mới. Sự phục hồi kinh tế và xã hội tốn rất nhiều thời gian và công sức, và cần
sự đoàn kết của toàn bộ dân tộc để vượt qua những thử thách này.
Tóm lại, giai đoạn 1969 - 1975 là một quãng thời gian bi tráng trong lịch sử Việt Nam.
Những khó khăn và thách thức mà nhân dân ta đã vượt qua trong giai đoạn này không chỉ
làm rõ ý chí kiên cường của nhân dân Việt Nam mà còn tạo ra những bước tiến quan
trọng cho sự phát triển của đất nước. Hoàn cảnh lịch sử của Việt Nam giai đoạn này đã để
lại sự ảnh hưởng lớn đến tâm hồn và tinh thần của người dân, cũng như hình ảnh về một
quốc gia chiến đấu dũng cảm và kiên cường trước những thử thách khó khăn. 2.2 Hội nghị Paris
Sau cuộc tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu thân năm 1968, chính thức diễn ra Hội
nghị Paris, đây là cột mốc quan trọng đánh dấu cuộc đọ sức trên mặt trận ngoại giao, tạo
cục diện "vừa đánh vừa đàm."
Ngày 13/5/1968, Hội nghị Paris về Việt Nam chính thức được khai mạc. Không giống
như Hội nghị Geneva năm 1954, lần này ta vừa đánh vừa trực tiếp đàm phán với đối phương. Năm 1969:
Ngày 25/01, ngày đầu tiên diễn ra đàm phán giữa 4 bên tham chiến nhằm giải quyết
vấn đề miền Nam Việt Nam, Hội nghị bao gồm đại diện của Mặt trận Dân tộc Giải phóng
miền Nam Việt Nam, Việt Nam Dân chủ Cộng Hòa, Việt Nam Cộng Hòa và Hoa Kỳ long trọng khai mạc.
Ngày 08/5, đoàn Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam đã đưa ra tuyên
bố của Mặt trận về “Những nguyên tắc và nội dung chủ yếu của giải pháp toàn bộ về vấn 7
đề miền Nam Việt Nam, góp phần lập lại hòa bình ở Việt Nam”, gọi tắt là “Giải pháp toàn bộ 10 điểm”. Năm 1970:
Ngày 21/2, cuộc gặp gỡ đầu tiên của Kissinger và Lê Đức Thọ - Xuân Thủy tại Paris.
Ngày 14/9, đoàn đàm phán Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng Hòa miền Nam Việt
Nam đưa ra tuyên bố “Tám điểm” về giải pháp cho vấn đề Việt Nam.
Ngày 17/9, tại phiên họp toàn thể lần thứ 80 Hội nghị Paris, Chính phủ Cách mạng
lâm thời Cộng Hòa miền Nam Việt Nam đề ra giải pháp “Tám điểm - nói rõ thêm” một
giải pháp chính trị cho vấn đề Việt Nam, trong đó có việc rút quân Mỹ và thả tù binh
cùng một thời hạn, thành lập Chính phủ liên hiệp lâm thời ở miền Nam Việt Nam không có Thiệu - Kỳ - Khiêm. Năm 1971:
Bộ trưởng Ngoại giao Hoa Kỳ Kissinger đề nghị “cuối cùng” 7 điểm, yêu cầu tách
riêng hai vấn đề quân sự và vấn đề chính trị. Nhằm tăng sức ép với Mỹ và hỗ trợ đấu
tranh quân sự và chính trị, ngày 26/6, trong cuộc gặp riêng Lê Đức Thọ - Kissinger, về
phía Việt Nam đưa ra “Sáng kiến hòa bình 9 điểm” tập trung vào việc yêu cầu Mỹ thay Nguyễn Văn Thiệu.
Ngày 1/7, tại lần họp thứ 119, bà Nguyễn Thị Bình nêu “Sáng kiến mới gồm 7 điểm,
nhằm giải quyết hòa bình vấn đề miền Nam Việt Nam”.
Ngày 16/8, Kissinger đã đề ra “Đề nghị 8 điểm”, Hoa Kỳ sẽ không thay đổi lập
trường: không giải quyết toàn bộ mà chỉ giải quyết các vấn đề quân sự để lấy được tù binh về. Năm 1972:
Ngày 2/2, nhằm tăng sức ép đối với Mỹ và phối hợp cùng với các hoạt động quân sự
đang được chuẩn bị, Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng Hòa miền Nam Việt Nam đưa
ra tuyên bố “Hai điểm nói rõ thêm” trong giải pháp 7 điểm ngày 1/7/1971.
Ngày 24/3, Mỹ đã đơn phương tuyên bố dừng Hội nghị Paris không thời hạn.
Ngày 30/3, dân, quân Việt Nam đã mở cuộc Tổng tấn công chiến lược Xuân - Hè.
Chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh” của chính quyền Nixon thất bại nghiêm trọng.
Thắng lợi của tấn công chiến lược Xuân - Hè 1972 đã phục vụ một cách rất tích cực cho
việc đấu tranh ngoại giao và chính trị, đặc biệt là đưa đàm phán Paris thực chất đi vào từ tháng 7/1972.
Ngày 13/7, Hoa Kỳ chấp thuận tổ chức họp lại Hội nghị toàn thể 4 bên tại Paris. Từ
tháng 7 đến tháng 9 năm 1972, diễn ra 4 cuộc gặp riêng, Việt Nam lần lượt đưa ra 3 yêu
cầu, Mỹ đưa 4 yêu cầu. 8
Tại phiên họp ngày 8/10 - Cố vấn đặc biệt Lê Đức Thọ đưa ra dự thảo “Hiệp định về
chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam” và dự thảo “Thỏa thuận về quyền tự
quyết của Nhân dân miền Nam”.
Ngay trong chiều 9/10, phía Mỹ đưa ra một phản đề nghị dưới dạng dự thảo hiệp định,
trong đó chấp nhận nhiều điều khoản và vấn đề đoàn Việt Nam đã nêu.
Ngày 20/10, cả hai đạt được thỏa thuận cuối cùng, dự định sẽ ký Hiệp định vào ngày
31/10/1972. Việt Nam đạt được những mục tiêu đã đề ra là Mỹ phải chấm dứt chiến tranh
và rút toàn bộ quân khỏi miền Nam Việt Nam. Năm 1973:
Ngày 8/1, phiên đàm phán lần cuối tổ chức tại Paris.
Ngày 13/1, các bên hoàn thành văn bản của Hiệp định, các đợt gặp gỡ riêng giữa Lê
Đức Thọ - Xuân Thủy và Kissinger kết thúc.
Ngày 23/1, Mỹ đã chấp thuận ký Hiệp định Paris vô điều kiện. Việt Nam bảo vệ thành
công các nội dung và những nguyên tắc: “Mỹ chấm dứt chiến tranh, rút quân trong 2
tháng, giữ nguyên trạng về chính trị, Hội đồng hòa giải hòa hợp dân tộc 3 thành phần,
hoàn toàn không đề cập vấn đề quân đội miền Bắc”.
Ngày 27/1, Bộ trưởng Ngoại giao của 4 bên tham dự Hội nghị Paris ký Hiệp định
Paris đối với việc chấm dứt hoàn toàn chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam và bốn
Nghị định thư liên quan.
Ngày 28/1, ngừng bắn trên toàn bộ miền Nam Việt Nam. Hiệp định Paris được chính
thức thi hành. Hiệp định Paris đã buộc Mỹ rút khỏi Việt Nam, là tiền đề cho sự sụp đổ
của chính quyền Sài Gòn.
Kết quả tích cực của quá trình đàm phán dài nhất thế giới với 4 năm 8 tháng 16 ngày,
45 cuộc gặp riêng giữa Việt Nam và Mỹ, gồm 201 phiên họp công khai 500 buổi họp
báo, gần 1.000 cuộc phỏng vấn và nhiều phong trào phản đối chiến tranh Việt Nam trên toàn cầu.
2.3 Quá trình vừa đánh, vừa đàm, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước
a. “Vừa đánh vừa đàm” - phương châm chiến lược độc đáo dưới sự lãnh đạo của Đảng.
“Vừa đánh, vừa đàm” là tư tưởng chỉ đạo xuyên suốt của Đảng ta trong cuộc kháng
chiến chống Mỹ, cứu nước. Đây là nghệ thuật kết hợp giữa đấu tranh quân sự với đấu
tranh ngoại giao, tạo nên sức mạnh tổng hợp để chiến thắng kẻ thù xâm lược trên cả chiến
trường và trên bàn đàm phán.
“Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, nghệ thuật “đánh” và “đàm” được
phát triển lên đỉnh cao, trở thành hoạt động song hành - “vừa đánh, vừa đàm”, “đánh” tạo 9
thế cho “đàm”, “đàm” khích lệ để tiếp tục “đánh”. Nghệ thuật đó được tiến hành một
cách chủ động trong suốt cuộc chiến tranh và kết hợp rất chặt chẽ, nhịp nhàng, khôn
khéo, đồng thời cũng vô cùng quyết liệt, tạo sức mạnh tổng hợp to lớn đánh bại đội quân
“lắm súng nhiều tiền” Mỹ cùng đồng minh của chúng trên chiến trường và tại bàn đàm phán.”
Tháng 1/1967, sau những thắng lợi của quân và dân hai miền, Hội nghị Trung ương
Đảng Lao động Việt Nam lần thứ 13 ban hành Nghị quyết về đẩy mạnh đấu tranh ngoại
giao, chủ động tiến công địch, phục vụ sự nghiệp chống Mỹ, cứu nước của nhân dân ta,
nhất trí đẩy mạnh đấu tranh ngoại giao, quyết định “cần tiến công địch về ngoại giao”,
đưa ngoại giao trở thành một mặt trận đồng thời chỉ rõ đấu tranh quân sự và đấu tranh
chính trị ở miền Nam là nhân tố quyết định thắng lợi trên chiến trường, làm cơ sở cho
thắng lợi trên mặt trận ngoại giao: “Chúng ta chỉ có thể giành được trên bàn hội nghị
những cái mà chúng ta đã giành được trên chiến trường. Tuy nhiên, đấu tranh ngoại giao
không chỉ đơn thuần phản ánh cuộc đấu tranh trên chiến trường, mà trong tình hình quốc
tế hiện nay với tính chất cuộc chiến tranh giữa ta và địch, đấu tranh ngoại giao giữ một
vai trò quan trọng, tích cực và chủ động”. Với cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu
Thân 1968, cục diện “vừa đánh, vừa đàm” chính thức được mở ra.
b. Đại thắng mùa Xuân 1975 - thành quả của phương châm chiến lược “vừa đánh, vừa đàm”
“Đảng ta đã xác định và thực hiện phương châm chiến lược “vừa đánh vừa đàm” dựa
trên nghệ thuật kết hợp ba mặt trận: quân sự, chính trị và ngoại giao, đồng thời, dựa trên
cục diện tình hình và so sánh lực lượng cụ thể trên chiến trường lúc đó. Chúng ta không
thể giải quyết cuộc chiến tranh chỉ bằng quân sự vì Mỹ là một đế quốc hùng mạnh, có lực
lượng quân đội lớn và vũ khí tối tân, trong khi về so sánh sức mạnh, ta chưa có thế áp đảo.”
“Vừa đánh, vừa đàm” chính là phương châm thích hợp nhất để tiếp tục đẩy mạnh cuộc
cách mạng ở miền Nam và tạo điều kiện “đánh cho Mỹ cút, đánh cho ngụy nhào” để rồi
đi tới thắng lợi cuối cùng “Bắc Nam sum họp” như lời của Chủ tịch Hồ Chí Minh viết
trong thơ chúc Tết Xuân Kỷ Dậu năm 1969.
Ta đã áp dụng chiến lược “vừa đánh, vừa đàm” với Mỹ trong 5 năm từ cuối 1968 đến
đầu 1973. Đầu năm 1971, Mỹ - ngụy thử sức với cuộc hành quân Lam Sơn 719 để chiếm
Sê Pôn, phá hủy đường Hồ Chí Minh và thử nghiệm công thức “bộ binh ngụy + hỏa lực +
hậu cần Mỹ”. Nhưng ta đã sẵn sàng và tiên đoán được, ta đã phản công Đường 9 - Nam
Lào có ý nghĩa chiến lược, đánh bại quân chủ lực ngụy và hỏa lực Mỹ, làm tan vỡ chiến
lược “Việt Nam hóa chiến tranh” của Mỹ. Chiến thắng Đường 9 - Nam Lào cũng đã
chấm dứt quá trình Mỹ - ngụy tiến công ra vòng ngoài bằng các cuộc hành quân lớn trên
chiến trường ba nước Đông Dương. 10
Ta đã tận dụng thời cơ khi Mỹ gặp khó khăn về chiến lược và chuẩn bị bầu cử tổng
thống Mỹ để tiến hành cuộc tiến công chiến lược 1972 trên khắp miền Nam. Ta đã đồng
loạt tấn công trên 3 hướng: Trị Thiên, Bắc Tây Nguyên và Đông Nam Bộ, trong đó
hướng Trị Thiên là hướng chủ đạo.
Khi quân Ngụy bị ta đánh tan tác, Mỹ đã dùng binh lực không quân, hải quân tấn
công dữ dội ở cả miền Nam và miền Bắc, đồng thời dùng ngoại giao xảo quyệt và cuối
cùng dùng máy bay B52 tập kích Hà Nội, Hải Phòng nhằm giảm thiệt hại của Mỹ, ép ta
phải đồng ý với điều kiện của Mỹ trong đàm phán, kết thúc chiến tranh theo lợi ích của
Mỹ. Nhưng ta đã không sợ hãi trước sự điên cuồng của Mỹ, mà đã giành được thắng lợi
trên các chiến trường miền Nam năm 1972 và đặc biệt là thắng lợi của trận “Điện Biên
Phủ trên không” ở Hà Nội. Những thắng lợi này đã buộc Mỹ phải ký Hiệp định Paris để
chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam, rút hết quân Mỹ và quân các nước phụ
thuộc khỏi miền Nam nước ta.
Sau khi ký Hiệp định Paris, Mỹ - ngụy vẫn không từ bỏ ý định chiếm đóng miền
Nam, mà đề ra kế hoạch ba năm (1973-1976) để lấy lại toàn bộ vùng giải phóng của ta,
nhằm tách miền Nam ra khỏi Việt Nam, biến nó thành một quốc gia riêng biệt, phụ thuộc
vào Mỹ. Chính quyền Nguyễn Văn Thiệu đã cố tình vi phạm Hiệp định, liên tục tiến hành
các cuộc hành quân xâm lược vùng giải phóng của ta.
Để đối phó với tình hình Mỹ - ngụy vi phạm Hiệp định Paris, Hội nghị Trung
ương 21 tháng 7/1973 đã quyết định con đường cách mạng của nhân dân miền Nam là
con đường bạo lực cách mạng, tư tưởng chỉ đạo của Trung ương Đảng là chủ động phản
công, chuẩn bị cho cuộc tiến công toàn diện giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước.
Theo Nghị quyết của Đảng, từ cuối năm 1973 đến năm 1974, quân và dân ta ở miền Nam
đã liên tục đánh bại quân Mỹ - ngụy trên các chiến trường, từ Trị Thiên đến Tây Nam Bộ
và vùng ven Sài Gòn. Đặc biệt, cuối năm 1974, đầu năm 1975, quân ta đã giành được
chiến thắng lịch sử khi đánh chiếm thị xã Phước Long (6/1/1975), giải phóng hoàn toàn tỉnh Phước Long.
Dưới sự chỉ đạo của Đảng, cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975 đã diễn
ra trên toàn miền Nam, bắt đầu bằng Chiến dịch Tây Nguyên, tiến công vào thị xã Buôn
Mê Thuột vào ngày 10/3/1975. Trước tình hình thắng lớn tại Tây Nguyên, cuộc họp Bộ
Chính trị ngày 18/3/1975 đã quyết định giải phóng miền Nam trong năm 1975. Ngày
26/3/1975 thành phố Huế được giải phóng. Ngày 29/3/1975, Đà Nẵng được giải phóng.
Ngày 26/4/1975, Chiến dịch Hồ Chí Minh giải phóng Sài Gòn - Gia Định bắt đầu. Vào
11 giờ 30 phút ngày 30/4/1975, lá cờ chiến thắng đã được cắm trên Dinh Độc Lập, Sài
Gòn được giải phóng, cuộc tổng tiến công và nổi dậy Xuân 1975 của quân dân ta đã toàn thắng. 11
Hiệp định Paris đã kết thúc quá trình “vừa đánh, vừa đàm” của quân đội ta. Quân và
dân Việt Nam đã thực hiện thắng lợi câu thơ của Bác “đánh cho Mỹ cút”, tạo điều kiện để
hai năm sau, với thắng lợi Đại thắng mùa Xuân 1975, quân và dân ta tiếp tục thực hiện
“đánh cho ngụy nhào”, hoàn thành trọn vẹn lời thơ chúc Tết cuối cùng của Bác:
“Vì độc lập, vì tự do
Đánh cho Mỹ cút, đánh cho ngụy nhào
Tiến lên chiến sĩ đồng bào
Bắc Nam sum họp, xuân nào vui hơn”.
3. Kết quả, ý nghĩa của giai đoạn 1954-1975 3.1 Kết quả
Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954 - 1975), dưới sự lãnh đạo của
Đảng Lao động Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh, quân và dân Việt Nam hai miền
Nam - Bắc đã giành được thắng lợi vẻ vang, chấm dứt 117 năm ách thống trị của chủ
nghĩa thực dân phương Tây. Trong 21 năm, Việt Nam ta đã đánh bại âm mưu và hành
động giúp sức chính quyền tay sai thực hiện chiến tranh của Mỹ trong những năm (1954 -
1960), chiến tranh đặc biệt (1961 - 1965), chiến tranh cục bộ (1965 - 1968) và Việt Nam
hóa chiến tranh (1969 - 1975).
Ở miền Nam quân và dân ta đã lập nên những chiến công to lớn, nổi bật là phong
trào Đồng khởi (1960), Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân (1968) và Tổng tiến
công và nổi dậy mùa Xuân (1975). Bên cạnh đó, quân và dân ta đã diệt và loại khỏi vòng
chiến đấu hơn 1 triệu quân ngụy, giết và làm bị thương 905.537 quân Mỹ và chư hầu, tịch
thu và phá hủy hơn 46.500 máy bay các loại, hơn 13.000 khẩu pháo, 38.000 xe tăng, xe
bọc thép, 10.000 tàu, xuồng chiến đấu. Trong quá trình đó, nhân dân ta đã lập nên Mặt
trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam (1960), Liên minh các lực lượng dân tộc,
dân chủ và hòa bình Việt Nam (1968), đến năm 1969, thành lập Chính phủ Cách mạng
lâm thời Cộng Hòa miền Nam Việt Nam.
Ở miền Bắc, nhân dân ta đã đánh thắng hai cuộc chiến tranh phá hoại của Mỹ là Giôn-
xơn (8/1964 - 11/1968) và Ních-xơn (4/1972 - 1/1973). Quân và dân ta cũng đã bắn rơi
4.181 máy bay gồm 48 kiểu hiện đại nhất, trong đó có 68 B52, 13 F111, diệt và bắt sống
hàng ngàn giặc lái, 271 lần bắn cháy và bắn chìm tàu chiến, tàu biệt kích địch. Đồng thời,
cũng đập tan kế hoạch đưa biệt kích, gián điệp ra phá hoại miền Bắc, bảo vệ vững chắc
hậu phương Xã hội chủ nghĩa.
Hơn thế nữa, quân và dân Việt Nam còn đánh bại Mỹ ở mặt trận ngoại giao. Lúc đầu,
Mỹ đã lôi kéo nhiều nước tham chiến đánh Việt Nam, nhưng bằng sự khôn khéo, linh
hoạt trong ngoại giao mà nước ta càng nhận được sự ủng hộ của nhiều nơi trên thế giới,
tiêu biểu là Liên Xô, Trung Quốc, Lào, Campuchia, các nước Xã hội chủ nghĩa, các nước
dân chủ nhân dân và những người yêu chuộng hòa bình trên toàn thế giới, đặc biệt còn có 12
nhân dân Mỹ. Bên cạnh đó, Việt Nam cũng giành được thắng lợi trên bàn đàm phán với
Mỹ tại Hội nghị Paris. Điều này, buộc Mỹ phải rút toàn bộ lực lượng và quân đồng minh
ra khỏi Việt Nam, tạo điều kiện cho cuộc kháng chiến chiến đi đến thắng lợi hoàn toàn.
3.2. Ý nghĩa lịch sử và kinh nghiệm lãnh đạo của Đảng trong thời kỳ (1954 - 1975). a. Ý nghĩa lịch sử: “Đối với Việt Nam:
+ Cuộc kháng chiến chống Mĩ cứu nước thắng lợi đã kết thúc 21 năm chiến đấu chống
Mĩ cứu nước, đồng thời kết thúc vẻ vang quá trình 30 năm chiến tranh giải phóng (1945 -
1975), chấm dứt vĩnh viễn ách thống trị của Chủ nghĩa đế quốc và Chế độ phong kiến,
rửa sạch nỗi nhục và nỗi đau mất nước hơn 1 thế kỷ qua. Trên cơ sở đó, hoàn thành về cơ
bản cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân trong cả nước, bảo vệ thành công Chủ nghĩa xã
hội của miền Bắc, xóa bỏ mọi cản trở trên con đường thống nhất nước nhà.
+ Thắng lợi này đã mở ra kỷ nguyên mới cho dân tộc Việt Nam: Kỷ nguyên độc lập dân
tộc và cả nước đi lên Chủ nghĩa xã hội. Đó là một trong những thắng lợi vĩ đại nhất trong
lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc ta.” “Đối với thế giới:
+ Thắng lợi của nhân dân ta và thất bại của đế quốc Mỹ có tác động lớn đến nội bộ nước
Mỹ và cục diện thế giới, có ảnh hưởng và là nguồn cổ vũ lớn đối với phong trào cách
mạng trên thế giới, các dân tộc đang đấu tranh chống Chủ nghĩa đế quốc để tự giải phóng cho mình. Cụ thể:
Đối với nội bộ nước Mỹ: Cuộc chiến tranh Việt Nam đã gây ra sự phân cực lớn
trong xã hội Mỹ. Sự thất bại của Mỹ trong cuộc chiến này đã làm thay đổi chính sách đối
ngoại của Mỹ, dẫn đến sự kết thúc của chính sách “chiến tranh lạnh” và sự thay đổi trong
cách Mỹ tiếp cận các vấn đề quốc tế.
Đối với cục diện thế giới: Thắng lợi của nhân dân Việt Nam đã phá vỡ các quan
niệm về sự vượt trội của các cường quốc và khẳng định quyền tự quyết của các quốc gia
nhỏ. Điều này đã tạo ra một nguồn cổ vũ lớn cho các phòng trào giải phóng dân tộc khác trên thế giới
Đối với phong trào cách mạng trên thế giới: Thắng lợi của nhân dân Việt Nam đã
trở thành nguồn cổ vũ to lớn cho các phong trào cách mạng khác trên thế giới. Nó khẳng
định rằng một quốc gia nhỏ bé có thể đánh bại một cường quốc to lớn, miễn là nhân dân đoàn kết và quyết tâm.
+ Thắng lợi của nhân dân ta trong sự nghiệp kháng chiến chống Mĩ cứu nước đã được
Đảng ta khẳng định “mãi mãi được ghi vào lịch sử dân tộc ta như một trong những trang
chói lọi nhất, một biểu tượng sáng ngời về sự toàn - thắng của Chủ nghĩa anh hùng cách 13
mạng và trí tuệ con người, và đi vào lịch sử thế giới như một chiến công vĩ đại của thế kỷ
XX, một sự kiện có tầm quan trọng quốc tế và có tính thời đại sâu sắc”.”
b. Kinh nghiệm lãnh đạo của Đảng thời kỳ 1954-1975:
Một là, giương cao ngọn cờ độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội nhằm huy động sức
mạnh toàn dân đánh Mỹ, cả nước đánh Mỹ.
Hai là, tìm ra phương pháp đấu tranh đúng đắn, sáng tạo, thực hiện khởi nghĩa toàn
dân và chiến tranh nhân dân, sử dụng phương pháp cách mạng tổng hợp.
Ba là, phải có công tác tổ chức chiến đấu giỏi của các cấp bộ Đảng và các cấp chi ủy
quân đội, thực hiện giành thắng lợi từng bước đến thắng lợi hoàn toàn.
Bốn là, hết sức coi trọng công tác xây dựng Đảng, xây dựng lực lượng cách mạng ở
miền Nam và tổ chức xây dựng lực lượng chiến đấu trong cả nước, tranh thủ tối đa sự
đồng tình, ủng hộ của quốc tế.
Hạn chế của Đảng trong chỉ thực tiễn: có thời điểm đánh giá so sánh lực lượng giữa
ta và địch chưa thật đầy đủ và còn có những biểu hiện nóng vội, chủ quan, duy ý chí
trong xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc.”
Chính sách cải cách ruộng đất ở miền Bắc Việt Nam từ năm 1953 đến 1956 là một ví
dụ điển hình về những khó khăn và thách thức mà Đảng đã gặp phải.
Chương trình này nhằm mục đích phân chia lại ruộng đất nông thôn, xóa bỏ văn hóa
phong kiến, và tiêu diệt các thành phần được coi là “phản quốc” và “phản động” như địa
chủ phản cách mạng, Việt gian, và những người cộng tác với Pháp. Mục tiêu của chính
sách này là “thủ tiêu quyền chiếm hữu ruộng đất của thực dân Pháp và của đế quốc xâm
lược khác ở Việt Nam, xóa bỏ chế độ phong kiến chiếm hữu ruộng đất của giai cấp địa
chủ, thực hiện chế độ sở hữu ruộng đất của nông dân, giải phóng sức sản xuất ở nông
thôn, đẩy mạnh sản xuất nông nghiệp và mở đường cho công thương nghiệp phát triển,
cải thiện đời sống của nông dân, bồi dưỡng lực lượng của nhân dân, lực lượng của kháng
chiến, đẩy mạnh kháng chiến, hoàn thành giải phóng dân tộc, củng cố chế độ dân chủ
nhân dân, phát triển công cuộc kiến quốc”
Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện, chính sách này đã gặp phải một số vấn đề. Một
trong những vấn đề lớn nhất là việc nông dân đã lạm dụng việc xét xử địa chủ để trả thủ
cá nhân, thậm chí xảy ra việc dân chúng vu oan và tấn công cả những đảng viên, cán bộ
chính quyền. Điều này đã gây ra không khí căng thẳng tại nông thôn miền Bắc lúc ấy,
gây phương hại đến sự đoàn kết của người dân, ảnh hưởng tới niềm tin của một số tầng
lớp nhân dân với Đảng Lao động Việt Nam. 14
4. Bài học kinh nghiệm của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước và giải phóng
miền Nam thống nhất đất nước
Thứ nhất, đường lối kháng chiến chống Mỹ, cứu nước và giải phóng miền Nam là
một đường lối đúng đắn, sáng tạo, độc lập, tự chủ. Các chủ trương mang tính chặt chẽ,
kết hợp nhuần nhuyễn giữa nguyên tắc chiến lược, sách lược và phương châm đấu tranh,
tạo nên giải pháp tối ưu từ khi mở đầu, tạo đà cho kháng chiến tiến lên và kết thúc thắng
lợi từ mục tiêu giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước.
Thứ hai, nghệ thuật tiến hành chiến tranh nhân dân sáng tạo. Nghệ thuật ở chỗ tổ chức
cả nước cùng đánh giặc, cả nước cùng tiến công. Điều này còn được thể hiện qua việc
phát động chiến tranh ở hai miền: Miền Nam tiến hành chống chiến tranh cục bộ của Mỹ,
Miền Bắc chống chiến tranh phá hoại. Ngoài ra còn kết hợp thêm sức mạnh từ chính trị,
ngoại giao, quân sự,... vào mục tiêu chung vĩ đại.
Thứ ba, xây dựng căn cứ địa cách mạng, hậu phương kháng chiến vững chắc. Tại
miền Bắc, Đảng chủ trương là căn cứ địa của cả nước, vừa là hậu phương vững chắc của
cuộc chiến, cũng là chiến trường chống lại âm mưu phá hoại của không quân và hải quân
Mỹ. Tại miền Nam thì xây dựng hậu phương tại chỗ được tận dụng việc xây dựng và mở
rộng căn cứ, vùng giải phóng tại chiến trường. Bên cạnh đó, Đảng còn chú trọng vào hạ
tầng các tuyến đường giao thông phục vụ cho việc vận chuyển hàng hóa chi viện thông suốt từ Bắc vào Nam.
Thứ tư, phát huy sức mạnh đoàn kết toàn dân, đoàn kết quốc tế, kết hợp sức mạnh
dân tộc với sức mạnh thời đại để chống đế quốc Mỹ. Đảng ta phát huy truyền thống anh
em gắn bó, đoàn kết, liên minh với Lào và Campuchia trên cơ sở Đông Dương là một
chiến trường cùng đấu tranh, chiến thắng kẻ thù chung là đế quốc Mỹ. Bên cạnh đó,
Đảng ta luôn coi trọng đoàn kết quốc tế, xem đó là một yếu tố hợp thành đường lối chống
Mỹ, cứu nước. Ngoài ra, việc đặt đấu tranh ngoại giao, hoạt động đối ngoại thành một
mặt trận có tầm chiến lược quan trọng đã tạo nên thế và lực vượt trội trong cuộc chiến tranh.
Thứ năm, xây dựng Đảng và đội ngũ cán bộ đủ phẩm chất, năng lực với nhiệm vụ,
yêu cầu cuộc kháng chiến chống Mỹ. Đảng ta luôn luôn coi trọng công tác xây dựng đội
ngũ cán bộ Đảng ngay từ khi mới vạch ra đường lối, để có nguồn lực chất lượng, làm nên
nhân tố hội tụ giữa truyền thống và hiện đại, giữa dân tộc và giai cấp. III. Kết luận
Thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước là kết quả của sự lãnh đạo đúng
đắn của Đảng, đội tiên phong nồng nàn lòng yêu nước và khao khát tự do dân tộc của giai
cấp công nhân Việt Nam, người đại biểu trung thành của nhân dân Việt Nam, người đã
kết hợp nhuần nhuyễn chủ nghĩa Mác- Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh với nghị lực chiến
đấu phi thường và sức sáng tạo vô tận của nhân dân ta.
Thắng lợi lịch sự này “Mãi mãi được ghi vào lịch sử dân tộc ta như một trong những
trang chói lọi nhất, biểu tượng sáng ngời về sự toàn thắng của chủ nghĩa anh hùng cách
mạng và trí tuệ con người, đi vào lịch sử thế giới như một chiến công vĩ đại của thế kỷ 15
XX, một sự kiện có tầm quan trọng quốc tế to lớn và có tính thời đại sâu sắc”. Chiến
thắng này là nguồn động lực cổ vũ vô cùng to lớn đối với phong trào cách mạng thế giới
và đóng góp to lớn vào cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa đế quốc của các dân tộc thuộc địa trên thế giới.
Việc nghiên cứu sự lãnh đạo của Đảng trong thời kỳ 1954 - 1975 trong cuộc kháng
chiến chống Mỹ cứu nước, thực hiện hòa bình, thống nhất nước nhà không chỉ giúp
chúng ta hiểu rõ về giai đoạn lịch sử hào hùng của dân tộc ta, mà còn củng cố niềm tin
cho chúng ta về một tương lai sáng lạn vào đường lối lãnh đạo của Đảng. Là những người .
sinh viên mang trong mình dòng máu dân tộc Việt Nam, chúng ta nguyện đem hết sức,
mình trau dồi bản thân,. tu dưỡng đạo đức, củng cố tri thức để cống hiến công lao cho đất
nước và cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam Xã hội chủ nghĩa. 16