
















Preview text:
ĐẠI HỌC UEH TRƯỜNG KINH DOANH
KHOA LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ BÀI TIỂU LUẬN
Đề bài: Đảng lãnh đạo xây dựng, bảo vệ chính quyền cách
mạng và kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (1945-1954).
Giảng viên: Bùi Thị Huyền
Mã lớp học phần: 23C1HIS51002614
Nhóm sinh viên: Nhóm 1
TP. Hồ Chí Minh – 2023
DANH SÁCH THÀNH VIÊN NHÓM 1 STT Họ và Tên
Công việc được phân công
Mức độ hoàn thành 1 Trần Bảo Anh Nội dung 2 100%
Nội dung 3 + Thuyết trình nội 2 Hoàng Linh Chi 100% dung 2,3 3 Ngô Thị Hương Giang
Trả lời câu hỏi phản biện 100%
Nội dung 4 + Thuyết trình nội
Đoàn Bùi Minh Huyền 4
dung 4,5 + Trả lời câu hỏi 100% (Trưởng nhóm) phản biện
Nội dung 1 + Thuyết trình nội 5 Nguyễn Thị Như Khuê 100% dung 1 6 Huỳnh Diễm My Nội dung 3 100% 7 Nguyễn Vũ Hoài Nam Nội dung 2 100% 8 Trần Liễu Ngân Trò chơi 100% 9 Đào Hữu Nhật Nguyên Tiểu luận 100% 10 Nguyễn Bá Hùng Phát Nội dung 5 100% 11 Huỳnh Hồng Phúc
Trả lời câu hỏi phản biện 100% 12 Nông Thị Phương Thanh Làm powerpoint 100% 13 Lê Thị Ngọc Thư Làm powerpoint 100% 14 Trần Thu Trang Làm powerpoint 100% 15 Trần Lê Bảo Trâm Nội dung 4 100% 2 MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU......................................................................................................................................
CHƯƠNG 1. XÂY DỰNG VÀ BẢO VỆ CHÍNH QUYỀN CÁCH MẠNG (1945-
1946).....................................................................................................................................................
1.1 Tình hình Việt Nam sau cách mạng tháng Tám....................................................................
1.2 Xây dựng chế độ mới và chính quyền cách mạng..................................................................
1.3 Tổ chức cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược ở Nam bộ, đấu
tranh bảo vệ chính quyền cách mạng non trẻ..............................................................................
CHƯƠNG 2. ĐƯỜNG LỐI KHÁNG CHIẾN TOÀN QUỐC VÀ QUÁ TRÌNH
TỔ CHỨC THỰC HIỆN TỪ NĂM 1946 - 1950...............................................................................
2.1 Diễn biến lịch sử.......................................................................................................................
2.2 Đường lối kháng chiến.............................................................................................................
2.3 Tổ chức chỉ đạo kháng chiến...................................................................................................
CHƯƠNG 3. ĐẠI HỘI II VÀ ĐẨY MẠNH CUỘC CHIẾN ĐẾN THẮNG LỢI
HOÀN TOÀN......................................................................................................................................
3.1 Đại hội đại biểu lần thứ II của Đảng.......................................................................................
3.2 Đẩy mạnh phát triển cuộc kháng chiến về mọi mặt...............................................................
3.3 Kết hợp đấu tranh quân sự và ngoại giao kết thúc thắng lợi cuộc kháng
chiến................................................................................................................................................
3.3.1 Trên mặt trận quân sự.....................................................................................................
3.3.2 Trên mặt trận ngoại giao.................................................................................................
CHƯƠNG 4. ĐIỆN BIÊN PHỦ-ĐIỂM HẸN LỊCH SỬ...................................................................
4.1 Nguyên nhân dẫn đến chiến dịch Điện Biên Phủ...................................................................
4.1.1 Âm mưu của thực dân Pháp............................................................................................
4.1.2 Chủ trương của Đảng......................................................................................................
4.2 Diễn biến...................................................................................................................................
4.3 Kết quả......................................................................................................................................
CHƯƠNG 5. KẾT QUẢ, Ý NGHĨA LỊCH SỬ, NGUYÊN NHÂN THẮNG LỢI
VÀ BÀI HỌC KINH NGHIỆM.........................................................................................................
5.1 Kết quả và ý nghĩa lịch sử........................................................................................................
5.1.1 Kết quả..............................................................................................................................
5.1.2 Ý nghĩa lịch sử..................................................................................................................
5.2 Nguyên nhân thắng lợi và bài học kinh nghiệm.....................................................................
5.2.1 Nguyên nhân thắng lợi.....................................................................................................
5.2.2 Bài học kinh nghiệm.........................................................................................................
TÀI LIỆU THAM KHẢO................................................................................................................... 3 LỜI MỞ ĐẦU
Trải qua nhiều thập kỷ của cuộc khủng hoảng và chiến tranh, Việt Nam đã chứng kiến
một giai đoạn lịch sử đầy biến động và quyết liệt trong cuộc chiến đấu vì độc lập và tự
do. Chính trong giai đoạn này, Đảng Lãnh đạo đã đóng một vai trò quan trọng trong
xây dựng và bảo vệ chính quyền cách mạng, cũng như kháng chiến chống thực dân
Pháp xâm lược từ năm 1945 đến năm 1954. Cuộc chiến này đã đi vào lịch sử dưới cái
tên Chiến tranh Đông Dương, và nó không chỉ ghi dấu ấn sâu sắc trong tâm hồn của
người Việt mà còn tạo nên những biến cố quan trọng trong bản đồ chính trị thế giới.
Chính quyền cách mạng và cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp trong giai đoạn
1945-1954 đã tạo ra một tình thần đoàn kết mạnh mẽ trong nhân dân Việt Nam, đồng
thời định hình một Đảng Lãnh đạo mạnh mẽ, luôn sẵn sàng hy sinh cho mục tiêu độc
lập, tự do và bình đẳng. Trong bài viết này, chúng ta sẽ tìm hiểu về những biến cố
quan trọng, những nhân vật xuất sắc và những chiến lược chiến đấu mà Đảng Lãnh
đạo đã sử dụng để đánh bại thực dân Pháp, đánh dấu bước đầu tiên của cuộc kháng
chiến dài hơi cho độc lập của Việt Nam. 4
CHƯƠNG 1. XÂY DỰNG VÀ BẢO VỆ CHÍNH QUYỀN CÁCH MẠNG (1945- 1946)
1.1 Tình hình Việt Nam sau cách mạng tháng Tám
Sau khi CMT8 thành công, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời, công cuộc xây
dựng và bảo vệ đất nước của nhân dân ta đứng trước bối cảnh vừa có những thuận lợi
cơ bản, vừa gặp phải nhiều khó khăn to lớn, hiểm nghèo.
Thuận lợi cơ bản là trên thế giới, hệ thống xã hội chủ nghĩa do Liên Xô đứng đầu
được hình thành. Phong trào cách mạng giải phóng dân tộc điều kiện phát triển, trở
thành một dòng thác cách mạng. Phong trào dân chủ và hòa bình cũng đang vươn lên
mạnh mẽ. Ở trong nước, chính quyền dân chủ nhân dân được thành lập, có hệ thống từ
Trung ương đến cơ sở. Nhân dân lao động đã làm chủ vận mệnh của đất nước. Lực
lượng vũ trang nhân dân được tăng cường. Toàn dân tin tưởng và ủng hộ Việt Minh,
ủng hộ Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa do Hồ Chí Minh làm Chủ tịch.
Khó khăn nghiêm trọng là hậu quả do chế độ cũ để lại như nạn đói, nạn dốt rất nặng
nề, ngân quỹ quốc gia trống rỗng. Kinh nghiệm quản lý đất nước của cán bộ các cấp
non yếu. Nền độc lập của nước ta chưa được quốc gia nào trên thế giới công nhận, và
đặt quan hệ ngoại giao. Với danh nghĩa Đồng minh đến tước khí giới của phát xít
Nhật, quân đội các nước đế quốc ồ ạt kéo vào chiếm đóng Việt Nam và khuyến khích
bọn Việt gian chống phá chính quyền cách mạng nhằm xóa bỏ nền độc lập và chia cắt
nước ta. Nghiêm trọng nhất là quân Anh, Pháp đã đồng lõa với nhau nổ súng đánh
chiếm Sài Gòn, hòng tách Nam Bộ ra khỏi Việt Nam. "Giặc đói, giặc dốt và giặc
ngoại xâm” là những hiểm họa đối với chế độ mới, vận mệnh dân tộc như "ngàn cần
treo sợi tóc", Tổ quốc lâm nguy.
1.2 Xây dựng chế độ mới và chính quyền cách mạng
Trước tình hình mới, Trung ương Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã sáng suốt phân
tích tình thế, dự đoán chiều hướng phát triển của các trào lưu cách mạng trên thế giới
và sức mạnh mới của dân tộc để vạch ra chủ trương, giải pháp đấu tranh nhằm giữ
vững chính quyền, bảo vệ nền độc lập, tự do vừa giành được.
Vào ngày 3 tháng 9 năm 1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh chủ toạ phiên họp đầu tiên của
Hội đồng Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà tại Bắc Bộ phủ (trụ sở tạm
thời của Chính phủ). Người trình bày trước Hội đồng Chính phủ Những nhiệm vụ cấp
bách của Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, bao gồm sáu vấn đề:
● Thứ nhất là giải quyết nạn đói. Người đề nghị Chính phủ "phát động một chiến
dịch tăng gia sản xuất. Trong khi chờ đợi ngô, khoai và những thứ lương thực
phụ khác, phải ba, bốn tháng mới có, tôi đề nghị mở một cuộc lạc quyên. Mười
ngày một lần, tất cả đồng bào chúng ta nhịn ăn một bữa. Gạo tiết kiệm được sẽ
góp lại phát cho người nghèo".
● Thứ hai là giải quyết nạn dốt. "Một dân tộc dốt là một dân tộc yếu. Vì vậy, tôi
đề nghị mở một chiến dịch để chống nạn mù chữ" - Người nói. 5
● Thứ ba là phải có một hiến pháp dân chủ. Người đề nghị Chính phủ "tổ chức
càng sớm càng hay cuộc tổng tuyển cử với chế độ phổ thông đầu phiếu. Tất cả
công dân trai gái mười tám tuổi đều có quyền ứng cử và bầu cử, không phân
biệt giàu nghèo, tôn giáo, dòng giống, v.v...".
● Thứ tư là phải giáo dục nhân dân trừ bỏ những thói xấu do chế độ thực dân đã
dùng mọi thủ đoạn để đầu độc và hủ hoá dân ta, Người đề nghị "mở một chiến
dịch giáo dục lại tinh thần nhân dân bằng cách thực hiện: CẦN, KIỆM, LIÊM, CHÍNH".
● Thứ năm là đề nghị bỏ ngay ba thứ thuế: thuế thân, thuế chợ, thuế đò và "tuyệt
đối cấm hút thuốc phiện".
● Thứ sáu là đề nghị Chính phủ ta tuyên bố: Tín Ngưỡng Tự Do và Lương - Giáo đoàn kết.
Vào ngày 25 tháng 11 năm 1945, Trung ương Đảng ra chỉ thị "Kháng chiến kiến
quốc". Chỉ thị nhận định những thay đổi căn bản của tình hình thế giới và trong nước
sau chiến tranh thế giới thứ hai, nêu rõ những thuận lợi căn bản và những thử thách
lớn của cuộc cách mạng giải phóng dân tộc mà nhân dân ta đang tiến hành. Từ đó, Chỉ
thị nêu lên các vấn đề cơ bản của cuộc kháng chiến như sau: ● Tính
chất : Chỉ thị khẳng định cách mạng Đông Dương lúc này vẫn là cuộc
cách mạng giải phóng dân tộc. Xác định đất nước chưa hoàn toàn độc lập, kẻ
thù chính, đối tượng đấu tranh chính của nhân dân ta vẫn là thực dân Pháp xâm lược. ● Nhiệm
vụ chiến lược : Kết hợp tiến hành đồng thời hai nhiệm vụ là kháng
chiến chống thực dân Pháp xâm lược giành độc lập dân tộc và ra sức xây dựng chế độ xã hội mới. ● Nhiệm
vụ trước mắt : Củng cố chính quyền, chống ngoại xâm, bài trừ nội
phản, cải thiện đời sống nhân dân.
1.3 Tổ chức cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược ở Nam bộ, đấu
tranh bảo vệ chính quyền cách mạng non trẻ
Giải pháp về ngoại giao gồm 2 giai đoạn:
❖ Giai đoạn 1: Từ 9/1945 đến 3/1946
Hòa với Tưởng miền Bắc để đánh Pháp ở miền Nam. Việc Hòa với Tưởng để ta có
điều kiện để tập trung lực lượng chống Pháp, cuộc hòa hoãn này đối với Pháp là một
bất lợi. Pháp coi Tưởng và ta như đồng mình với nhau để ngăn chặn mưu đồ của Pháp, 6
hơn một năm quân Tưởng đóng quân trên đất nước ta, chúng ta đã thực hiện được hòa
hoãn với chúng. Kết quả cuối cùng kẻ địch không thực hiện được dã tâm của chúng,
trái lại, ta thực hiện được mục tiêu chiến lược là giữ vững độc lập, giữ vững chính
quyền. Việc hòa với Tưởng là hòa với một kẻ thù trực tiếp nguy hiểm, nhưng không
phải kẻ thù chính để phân hóa, cô lập, tập trung lực lượng đấu tranh bằng biện pháp
quân sự chống kẻ thù chính.
❖ Giai đoạn 2: Từ 3/1946 đến 12/1946
Hòa với Pháp để đuổi Tưởng về nước. Ý nghĩa của việc hòa với Pháp: Hòa với Pháp
là hòa với kẻ thù chính để loại bớt một kẻ thù trực tiếp nguy hiểm và tranh thủ trạng
thái không có chiến tranh để xây dựng đất nước, chuẩn bị lực lượng đối phó với một
cuộc chiến tranh lớn nếu kẻ thù cố tình gây ra. Đó là một điều khá đặc biệt được đặt ra
và giải quyết trong một hoàn cảnh lịch sử đặc biệt. 7
CHƯƠNG 2. ĐƯỜNG LỐI KHÁNG CHIẾN TOÀN QUỐC VÀ QUÁ TRÌNH
TỔ CHỨC THỰC HIỆN TỪ NĂM 1946 - 1950
2.1 Diễn biến lịch sử
Cục diện chiến trường ở Việt Nam và trên thế giới vào những năm 1945 - 1946 diễn
biến theo hướng có lợi cho cách mạng Việt Nam. Với chiến tranh thế giới thứ hai đi
đến hồi kết, phe Trục dần đầu hàng trước phe Đồng Minh. Nhân cơ hội đó, phong trào
giải phóng dân tộc ở các châu lục như châu Phi, Châu Á hay Mỹ Latin dâng cao. Việt
Nam là một trong những thuộc địa chớp được thời cơ ngàn vàng ấy khi cách mạng
tháng Tám nổ ra trên khắp cả nước đã dẫn đến sự ra đời của nước Việt Nam Dân chủ
Cộng hòa vào ngày 2 tháng 9 năm 1945.
Tuy nhiên, đất nước được thành lập chưa lâu đã phải đối đầu với những khó khăn mới.
Quân Pháp, mượn danh nghĩa đi theo quân Anh để giải giáp phát xít Nhật cùng với
Trung Hoa Dân quốc, đã quay trở lại Việt Nam để chuẩn bị cướp nước một lần nữa.
Để tháo gỡ khó khăn, Bác Hồ đã chọn con đường “hòa để tiến” bằng cách ký vào hai
bản Hiệp định sơ bộ và bản Tạm ước, nhân nhượng một số quyền lợi cho Pháp. Khi
Pháp trở mặt, có hành động khiêu khích và nhất là cự tuyệt trước lời kêu gọi hòa bình
từ phía Việt Nam, Hồ Chí Minh đã ra Lời kêu gọi toàn quốc Kháng chiến vào ngày 19
tháng 12 năm 1946. Vào lúc 20 giờ cùng ngày, kháng chiến chống Pháp bắt đầu.
2.2 Đường lối kháng chiến
Nội dung cơ bản của đường lối kháng chiến bao gồm ba nội dung chính: dựa trên sức
mạnh toàn dân, tiến hành kháng chiến toàn dân, toàn diện, lâu dài và dựa vào sức mình là chính.
Kháng chiến toàn dân là đem toàn bộ sức, lực, tài dân, động viên toàn dân tích cực
tham gia kháng chiến. Kháng chiến lâu dài là tư tưởng chỉ đạo chiến lược, là quá trình
đánh tiêu hao lực lượng địch & xây dựng, phát triển lực lượng ta, dẫn đến biến đổi cục
diện chiến trường theo hướng có lợi cho ta. Dựa vào sức mình là chính yêu cầu lấy nội
lực dân tộc, phát huy sức mạnh vật chất, tinh thần trong ta làm gốc.
Mục tiêu của đường lối đánh đổ quân Pháp xâm lược, giành độc lập, tự do, thống nhất
hoàn toàn; vì nền tự do dân chủ và góp phần bảo vệ nền hòa bình thế giới. Vì thế
đường lối hoàn toàn đúng đắn, phù hợp với tình hình đất nước và do đó được sự ủng
hộ nhiệt liệt của dân.
2.3 Tổ chức chỉ đạo kháng chiến
Từ sau ngày kháng chiến, cả nước được chia ra làm các khu để phục vụ cho mục tiêu
kháng chiến. Năm 1946, cả nước có 12 chiến khu.
Bắt đầu từ 1947, về lĩnh vực chính trị, Đảng cho mở “lớp tháng 8” nhằm đẩy mạnh
công tác xây dựng đảng, với kết quả là kết nạp hơn 70 nghìn thành viên mới. Quân đội
được củng cố, số lượng bộ đội chính quy tăng lên hơn 12 vạn quân, trang bị 3 vạn
súng, có 20 công xưởng sửa chữa. Cán bộ Việt Nam được cử sang để hỗ trợ Lào và
Campuchia thành lập các căn cứ kháng chiến ở hai nước. Về các lĩnh vực kinh tế, văn 8
hóa, xã hội: đẩy mạnh phong trào tăng gia sản xuất, duy trì nha bình dân học vụ, tìm
kiếm sự ủng hộ của nhân dân thế giới, đặt cơ quan đại diện ở Thái Lan và Miến Điện.
Trong năm, chiến dịch Việt Bắc Thu - Đông 1947 đã diễn ra với 75 ngày đêm chiến
đấu. Bộ đội ta đã bẻ gãy các mũi tiến công nguy hiểm của Pháp. Thắng lợi này đã phá
sản hoàn toàn chiến lược “đánh nhanh, thắng nhanh” của Pháp, bảo đảm an toàn cơ
quan “đầu não” lãnh đạo kháng chiến, bảo toàn và phát triển được quân chủ lực, bảo
vệ được căn cứ địa, tạo bước chuyển về thế và lực cho cuộc kháng chiến trường kỳ của dân tộc.
Sang năm 1948, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký sắc lệnh phong hàm tướng cho Đồng chí
Võ Nguyên Giáp cùng trung tướng Nguyễn Bình và 9 thiếu tướng. Bên cạnh đó, Lời
kêu gọi thi đua ái quốc của chủ tịch Hồ Chí Minh vào 11 tháng 6 diễn ra nhiều cuộc
vận động thi đua ái quốc ở các ngành, các giới. Hội nghị văn hóa toàn quốc tháng 7
thông qua đường lối, phương châm xây dựng nền văn hóa mới mang tính dân tộc,
khoa học, đại chúng. Trên chiến trường, đã diễn ra nhiều chiến thắng giòn giã như trận
La Ngà (3/1948), Tầm Vu (4/1948) ở các vùng bị địch tạm chiếm
Năm 1949, tương quan giữa ta và Pháp có nhiều chuyển biến. Về phía Pháp, Revers
đề ra kế hoạch mở rộng chiếm đóng đồng bằng, trung du Bắc Bộ, khóa chặt hành lang
biên giới hai nước Trung - Việt. Ngoài ra, Pháp còn cho thành lập Quốc gia Việt Nam,
do cựu hoàng Bảo Đại làm quốc trưởng. Thực chất đây là chính quyền con rối do
Pháp dựng lên. Còn về phía ta, lực lượng 3 thứ quân được phát triển nhanh chóng và
trưởng thành về mọi mặt. Số lượng đảng viên tiếp tục tăng, kết nạp hơn 50000 đảng viên mới.
Đến năm 1950, tình hình quốc tế tiếp tục có lợi cho phía Việt Nam, khi các nước
thuộc khối XHCN lần lượt đặt quan hệ ngoại giao với Việt Nam Dân chủ Cộng hòa,
còn Pháp càng lệ thuộc nhiều vào Mỹ và Mỹ càng ngày can thiệp sâu vào chiến tranh
ở Việt Nam và Đông Dương. Chiến dịch biên giới Thu Đông 1950 đã tiêu diệt một bộ
phận sinh lực địch, mở rộng căn cứ địa Việt Bắc, mở hành lang tạo quan hệ thông
thương với Trung Quốc và các nước XHCN và mở ra cục diện mới cho chiến trường
khi ta bắt đầu giành quyền chủ động chiến lược trên chiến trường chính Bắc Bộ. Quân
Pháp thất bại lớn cả về quân sự và chính trị, bị đẩy lùi vào thế phòng ngự bị động.
Chiến dịch này có ý nghĩa bản lề quan trọng, là bước ngoặt của cuộc chiến tranh. 9
CHƯƠNG 3. ĐẠI HỘI II VÀ ĐẨY MẠNH CUỘC CHIẾN ĐẾN THẮNG LỢI HOÀN TOÀN
3.1 Đại hội đại biểu lần thứ II của Đảng
Đến năm 1951, thế lực của chiến tranh nhân dân có sự phát triển vượt bậc. Có sự ủng
hộ nhiệt tình từ các nước anh em như Liên Xô, Trung Quốc,.. ta đã có những vùng
giải phóng rộng lớn, lực lượng vũ trang có khả năng tiêu diệt sinh lực địch, tuy nhiên
nhờ vào trợ giúp của đế quốc Mỹ, Pháp vẫn nỗ lực tăng cường đàn áp, gây cho nhân
dân nhiều khó khăn, Nhằm giải quyết vấn đề mới được đặt ra, Đại hội lần II của Đảng
Cộng sản Đông Dương – Đại hội kháng chiến được triệu tập.
Từ ngày 11 đến ngày 19/2/1951, Đại Hội họp tại xã Vinh Quang, huyện Chiêm Hóa,
tỉnh Tuyên Quang gồm 153 đại biểu chính thức và 53 đại biểu dự khuyết thay mặt cho trên 76 vạn đảng viên.
Báo cáo chính trị do chủ tịch Hồ Chí Minh trình bày chiều ngày 11/2 đề ra 2 nhiệm vụ
chính của Đảng lúc này là:
● Đưa kháng chiến đến thắng lợi hoàn toàn
● Tổ chức Đảng Lao Động Việt Nam
Báo cáo Bàn về cách mạng do đồng chí Trường Chinh trình bày ngày 12/2, phân tích
một cách hệ thống và sâu sắc toàn bộ đường lối cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân
tiến dần lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, nêu rõ Việt Nam có 2 mâu thuẫn cơ bản:
mâu thuẫn giữa nhân dân, chủ yếu là nông dân với địa chủ phong kiến, mâu thuẫn
giữa nhân dân Việt Nam với đế quốc xâm lược và tay sai.
Đại Hội II cũng đã chỉ ra tính chất xã hội Việt Nam lúc này là Dân chủ Nhân dân và
Nửa phong kiến, nửa thuộc địa. Từ đó, Đại hội đã đề ra nhiệm vụ cơ bản của Việt
Nam là đánh đuổi bọn đế quốc thưc dân và xóa bỏ di tích phong kiến và nửa phong
kiến. Trên cơ sở đó, báo cáo nên rõ sự sắp xếp lực lượng cách mạng chia thành 4 giai cấp:
● Giai cấp công nhân: lực lượng cách mạng chủ yếu ● Giai cấp nông dân
● Giai cấp tiểu tư sản, tư sản dân tộc
● Văn thân, sĩ phu yêu nước
Đại hội đại biểu lần thứ II của Đảng là một sự kiện lịch sử trọng đại, đánh dấu bước
trưởng thành mới về tư tưởng, đường lối chính trị của Đảng. Đảng từ bí mật trở lại 10
hoạt động công khai với tên gọi Đảng Lao động Việt Nam, đáp ứng yêu cầu phát triển cách mạng.
3.2 Đẩy mạnh phát triển cuộc kháng chiến về mọi mặt
Từ đầu năm 1951, Đảng chủ trương mở các chiến dịch tiến công quân sự có quy mô
tương đối lớn đánh vào các vùng chiếm đóng của địch ở địa bàn trung du và đồng
bằng Bắc Bộ, tiêu diệt, tiêu hao sinh lực địch, tạo điều kiện phát triển cuộc chiến tranh
du kích vùng sau lưng địch.
Trên các mặt trận chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, Đảng, Chính phủ chỉ đạo đẩy
mạnh việc chăm lo phát triển thực lực, củng cố và tăng cường sức mạnh hậu phương
kháng chiến. Vận động nhân dân tăng gia sản xuất, thực hành tiết kiệm, khắc phục
khó khăn, hăng hái lao động, bảo đảm đạn dược, thuốc men, quân trang, quân dụng
cung cấp đủ cho bộ đội. Từ đầu năm 1953, Đảng chủ trương đẩy mạnh thực hiện các
cải cách dân chủ, ngày 4-12-1953, tại kỳ họp thứ 3, Quốc hội khóa I đã thông qua
Luật cải cách ruộng đất và ngày 19-12-1953, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký ban hành
sắc lệnh Luật cải cách ruộng đất.
3.3 Kết hợp đấu tranh quân sự và ngoại giao kết thúc thắng lợi cuộc kháng chiến
3.3.1 Trên mặt trận quân sự
Tháng 7-1953, Nava đã vạch ra kế hoạch chính trị-quân sự mới lấy tên là “Kế hoạch
Nava”, dự kiến thực hiện trong vòng 18 tháng nhằm “chuyển bại thành thắng”. Nava
chủ trương tăng cường tập trung binh lực, hình thành những “quả đấm thép” để quyết
chiến với chủ lực của Việt Minh.
Để đánh bại âm mưu và kế hoạch Nava, Đảng chủ trương mở cuộc tiến công chiến
lược Đông Xuân 1953-1954: Lai Châu (12-1953); Trung Lào (12-1953), Hạ Lào và
Đông Bắc Campuchia (12-1953); mặt trận Tây Nguyên (1-1954); Thượng Lào (1-
1954). Tại mặt trận Bình Trị Thiên, Nam Trung Bộ, Nam Bộ ta tổ chức đồng loạt tấn
công địch, kết hợp phát động phá tề, trừ gian, mở các chiến dịch địch vận, ngụy vận,
phá hủy giao thông, đẩy mạnh hoạt động chiến tranh du kích... Thực hiện quyết tâm
chiến lược đó, ta đã tập trung khoảng 5 vạn quân với mọi nỗ lực và quyết tâm cao nhất
bao vây chặt quân địch ở Điện Biên Phủ. Với phương châm “đánh chắc, tiến chắc”, “đánh chắc thắng.
3.3.2 Trên mặt trận ngoại giao
Sau thất bại 7-5-1954, Chính phủ Pháp không còn sự lựa chọn nào khác, buộc phải
đàm phán tại Hội nghị Giơnevơ bàn về chấm dứt chiến tranh lập lại hòa bình ở Đông Dương. 11
CHƯƠNG 4. ĐIỆN BIÊN PHỦ-ĐIỂM HẸN LỊCH SỬ
4.1 Nguyên nhân dẫn đến chiến dịch Điện Biên Phủ
4.1.1 Âm mưu của thực dân Pháp
Trong những năm 1947 đến 1953, quân và dân ta liên tiếp giành nhiều thắng lợi quan
trọng trong các chiến dịch Việt Bắc – Thu Đông (năm 1947), chiến dịch Biên giới
(năm 1950)… làm cho cục diện chiến tranh ở Việt Nam và Đông Dương ngày càng
chuyển biến có lợi cho ta, tạo ra thế bất lợi đối với thực dân Pháp.Vào ngày 29 tháng
11 năm 1953, khi Navarre đến thăm Điện Biên Phủ lần đầu tiên, ông đã thấy bằng đôi
mắt mình vị trí đặc biệt quan trọng của thung lũng này, cả về mặt quân sự lẫn kinh tế.
Điện Biên Phủ là một thung lũng rộng lớn nằm ở phía tây vùng rừng núi Tây Bắc, gần
biên giới với Lào, có vị trí chiến lược quan trọng khống chế cả một vùng rộng lớn của
Tây Bắc và Thượng Lào. Được Mỹ giúp đỡ, Pháp xây dựng Điện Biên Phủ thành tập
đoàn cử điểm mạnh nhất ở Đông Dương. Lực lượng địch ở đây lúc cao nhất là 16 200
quân, được bố trí làm 49 cứ điểm, chia thành ba phân khu : phân khu Trung tâm có sở
chỉ huy và sân bay Mường Thanh, phân khu Bắc, phân khu Nam.Theo H.Navarre và
nhiều nhà quân sự Pháp - Mĩ đánh giá Điện Biên Phủ là “pháo đài bất khả xâm
phạm”, và từ ngày 3 - 12 - 1953, chúng quyết định giao chiến với quân ta tại Điện Biên Phủ.
4.1.2 Chủ trương của Đảng
Nhận thức rõ âm mưu, thủ đoạn của thực dân Pháp ngày 06/12/1953, Bộ Chính trị đã
họp đưa ra quyết định mở Chiến dịch Điện Biên Phủ và thông qua phương án tác
chiến, thành lập Bộ Chỉ huy chiến dịch, Đảng uỷ mặt trận do Đại tướng Võ Nguyên
Giáp làm Tư lệnh kiêm Bí thư Đảng uỷ chiến dịch. Ngày 25/01/1954, các đơn vị bộ
đội của ta đã ở vị trí tập kết và sẵn sàng nổ súng theo phương châm tác chiến “đánh
nhanh, thắng nhanh”. Trong quá trình đó, do nhận thấy địch đã tăng cường lực lượng
phòng ngự vững chắc, Bộ Chỉ huy và Đảng uỷ chiến dịch đã đưa ra quyết định đúng
đắn: giữ vững quyết tâm tiêu diệt tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ, thay đổi phương
châm tác chiến từ “đánh nhanh, thắng nhanh” sang “đánh chắc, tiến chắc”. 4.2 Diễn biến
Đầu tháng 12/1953, Bộ Chính trị Trung ương Đảng quyết định mở chiến dịch Điện Biên Phủ.
Mục tiêu của chiến dịch là tiêu diệt lực lượng địch, giải phóng vùng Tây Bắc, tạo điều
kiện giải phóng Bắc Lào.
Chiến dịch bắt đầu từ ngày 13/3/1954 đến hết ngày 7/5/1954 và được chia làm 3 đợt:
- Đợt 1, Từ ngày 13 đến 17/3/1954: Quân ta đã dũng cảm, mưu trí tiến công
tiêu diệt căn cứ Him Lam và toàn bộ phân khu Bắc.
Uy hiếp đến sân bay Mường Thanh; tư lệnh pháo binh Pháp ở Điện Biên Phủ –
đại tá Pirốt bất lực trước pháo binh của ta nên đã dùng lựu đạn để tự sát. 12
- Đợt 2, Từ ngày 30/3 đến ngày
30/4/1954: quân ta tiến công tiêu diệt các
căn cứ phía đông phân khu Trung tâm.
Đây là đợt tấn công dai dẳng, quyết liệt
nhất và cam go nhất, ta và địch giành
giật nhau từng đoạn giao thông hào và
từng tấc đất . Sau đợt tấn công thứ 2, khu
trung tâm Điện Biên Phủ đã nằm trong
tầm bắn của bên quân ta, quân địch rơi
vào tình trạng bị động và tinh thần chiến
đấu giảm xuống rõ rệt.
- Đợt 3, Từ ngày 01/5 đến ngày
07/5/1954: quân ta đồng loạt tiến công
tiêu diệt các căn cứ còn lại ở phân khu Trung tâm và phân khu Nam.
Chiều 7/5, quân ta đánh vào sở chỉ huy
địch. 17 giờ 30 phút ngày 7/5, Tướng De
Castries cùng toàn bộ Ban tham mưu của
địch ra đầu hàng. Lá cờ “quyết chiến,
quyết thắng” của quân ta tung bay trên
nóc hầm chỉ huy của quân địch. Và ngay
trong đêm đó, quân ta tiếp tục tiến công
phân khu Nam, đánh cho địch tháo chạy
về Thượng Lào, đến 24 giờ thì tất cả toàn
bộ quân của địch đã bị quân ta bắt. 4.3 Kết quả
Trải qua 56 ngày đêm “khoét núi, ngủ hầm…”, thông qua phương châm tác chiến phù
hợp, đầy thông minh, sáng tạo, với sự chuẩn bị kỹ lưỡng, chu đáo, sự tập trung lãnh
đạo, chỉ huy của Đảng ủy, Bộ chỉ huy Chiến dịch, bằng quyết tâm cao độ; với 3 đợt
tấn công bất ngờ; thực hiện phương châm tác chiến “đánh chắc, tiến chắc”, quân và
dân ta đã đập tan toàn bộ tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ. Kết quả, trong gần 2 tháng
chiến đấu quân ta đã bắt sống tướng De Castries, loại khỏi vòng chiến đấu 16.200 tên
địch, bắn rơi 62 máy bay, thu 64 ô tô và tịch thu toàn bộ vũ khí, đạn dược, quân trang
quân dụng của địch. Giải phóng được nhiều vùng rộng lớn. Đã giáng một đòn mạnh,
quyết định, đập tan hoàn toàn kế hoạch Nava của Pháp.
Chiến thắng Điện Biên Phủ trở thành “cột mốc vàng” của lịch sử dân tộc Việt Nam,
niềm tự hào của dân tộc và phong trào giải phóng dân tộc trên thế giới. 13
CHƯƠNG 5. KẾT QUẢ, Ý NGHĨA LỊCH SỬ, NGUYÊN NHÂN THẮNG LỢI
VÀ BÀI HỌC KINH NGHIỆM
5.1 Kết quả và ý nghĩa lịch sử 5.1.1 Kết quả
❖ Về mặt chính trị
Đảng ra hoạt động công khai đã có điều kiện kiện toàn tổ chức, tăng cường sự lãnh
đạo đối với cuộc kháng chiến. Bộ máy chính quyền được củng cố từ Trung ương đến
cơ sở. Mặt trận Liên hiệp quốc dân Việt Nam (Liên Việt) được thành lập. Khối đại
đoàn kết toàn dân phát triển lên một bước mới. Chính sách ruộng đất được triển khai,
từng bước thực hiện khẩu hiệu người cày có ruộng.
❖ Về mặt quân sự
Đến cuối năm 1952, lực lượng chủ lực đã có sáu đại đoàn bộ binh, một đại đoàn công
binh - pháo binh. Thắng lợi của các chiến dịch Trung du, Đường 13, Hà - Nam- Ninh,
Hòa Bình, Tây Bắc, Thượng Lào, v.v. đã tiêu diệt được nhiều sinh lực địch, giải
phóng nhiều vùng đất đai và dân cư, mở rộng vùng giải phóng của Việt Nam và giúp
đỡ cách mạng Lào, V.V.. Chiến thắng Điện Biên Phủ ngày 7-5-1954 được ghi vào lịch
sử dân tộc ta như một Bạch Đằng, một Chi Lăng hay một Đống Đa trong thế kỷ XX
và đi vào lịch sử thế giới như một chiến công hiển hách, báo hiệu sự thắng lợi của
nhân dân các dân tộc bị áp bức, sự sụp đổ của chủ nghĩa thực dân. ❖ Về ngoại giao
Với phương châm kết hợp đấu tranh chính trị, quân sự và ngoại giao, khi biết tin Pháp
có ý định đàm phán, thương lượng với ta, ngày 27-12-1953, Ban Bí thư ra Thông tư
nêu rõ: "lập trường của nhân dân Việt Nam là kiên quyết kháng chiến đến thắng lợi
cuối cùng. Song nhân dân và Chính phủ ta cũng tán thành thương lượng nhằm mục
đích giải quyết hòa bình vấn để Việt Nam". Ngày 8-5- 1954, Hội nghị quốc tế về
chấm dứt chiến tranh Đông Dương chính thức khai mạc tại Geneva (Thụy Sĩ). Ngày
21-7-1954, các văn bản của Hiệp định Giơnevơ về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa
bình ở Đông Dương, được ký kết, cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược
của quân dân ta kết thúc thắng lợi.
5.1.2 Ý nghĩa lịch sử
Đối với nước ta, việc đề ra và thực hiện thắng lợi đường lối kháng chiến, xây dựng
chế độ dân chủ nhân dân đã làm thất bại cuộc chiến tranh xâm lược của thực dân Pháp
được đế quốc Mỹ giúp sức ở mức độ cao, buộc chúng phải công nhận độc lập, chủ
quyền, toàn vẹn lãnh thổ của các nước Đông Dương; làm thất bại âm mưu mở rộng và
kéo dài chiến tranh của đế quốc Mỹ, kết thúc chiến tranh, lập lại hòa bình ở Đông
Dương; giải phóng hoàn toàn miền Bắc, tạo điều kiện để miền Bắc tiến lên chủ nghĩa 14
xã hội làm căn cứ địa, hậu thuẫn cho cuộc đấu tranh ở miền Nam; tăng thêm niềm tự
hào dân tộc cho nhân dân ta và nâng cao uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế.
Đối với quốc tế, thắng lợi đó đã cổ vũ mạnh mẽ phong trào giải phóng dân tộc trên thế
giới; mở rộng địa bàn, tăng thêm lực lượng cho chủ nghĩa xã hội và cách mạng thế
giới; cùng với nhân dân Lào và Campuchia đập tan ách thống trị của chủ nghĩa thực
dân ở ba nước Đông Dương, mở ra sự sụp đổ của chủ nghĩa thực dân cũ trên thế giới,
trước hết là hệ thống thuộc địa của thực dân Pháp.
Đánh giá về ý nghĩa lịch sử của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược, Hồ
Chí Minh nói: "Lần đầu tiên trong lịch sử, một nước thuộc địa nhỏ yếu đã đánh thắng
một nước thực dân hùng mạnh. Đó là một thắng lợi vẻ vang của nhân dân Việt Nam,
đồng thời cũng là một thắng lợi của các lực lượng hòa bình, dân chủ và xã hội chủ nghĩa trên thế giới".
5.2 Nguyên nhân thắng lợi và bài học kinh nghiệm
5.2.1 Nguyên nhân thắng lợi
Thắng lợi của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và can thiệp Mỹ là kết quả tổng
hợp của nhiều nguyên nhân, trong đó nổi bật là: Có sự lãnh đạo vững vàng của Đảng,
với đường lối kháng chiến đúng đắn đã huy động được sức mạnh toàn dân đánh giặc;
có sự đoàn kết chiến đấu của toàn dân tập hợp trong mặt trận dân tộc thống nhất rộng
rãi - Mặt trận Liên Việt, được xây dựng trên nền tảng khối liên minh công - nông và
trí thức vững chắc. Có lực lượng vũ trang gồm ba thứ quân do Đảng ta trực tiếp lãnh
đạo ngày càng vững mạnh, chiến đấu dũng cảm, mưu lược, tài trí, là lực lượng quyết
định tiêu diệt địch trên chiến trường, đè bẹp ý chí xâm lược của địch, giải phóng đất
đai của Tổ quốc. Có chính quyền dân chủ nhân dân, của dân, do dân và vì dân được
giữ vững, củng cố và lớn mạnh, làm công cụ sắc bén tổ chức toàn dân kháng chiến và
xây dựng chế độ mới. Có sự liên minh đoàn kết chiến đấu keo sơn giữa ba dân tộc
Việt Nam, Lào, Campuchia cùng chống một kẻ thù chung; đồng thời có sự ủng hộ,
giúp đỡ to lớn của Trung Quốc, Liên Xô, từ các nước xã hội chủ nghĩa, các dân tộc
yêu chuộng hòa bình trên thế giới, kể cả nhân dân tiến bộ Pháp.
5.2.2 Bài học kinh nghiệm
Thắng lợi của cuộc kháng chiến đã ghi nhận sự phát triển và thành công trong lãnh
đạo, chỉ đạo chiến tranh giải phóng dân tộc của Đảng Lao động Việt Nam và để lại
nhiều bài học, kinh nghiệm quý báu. Một là: đề ra đường lối đúng đắn, sáng tạo, phù
hợp với thực tiễn lịch sử của cuộc kháng chiến ngay từ những ngày đầu. Hai là: kết
hợp chặt chẽ và giải quyết đúng đắn mối quan hệ giữa hai nhiệm vụ cơ bản vừa kháng
chiến vừa kiến quốc, chống đế quốc và chống phong kiến. Ba là: ngày càng hoàn thiện
phương thức lãnh đạo, tổ chức điều hành cuộc kháng chiến phù hợp với đặc thù của
từng giai đoạn. Bốn là: xây dựng và phát triển lực lượng vũ trang ba thứ quân: Bộ đội
chủ lực, bộ đội địa phương, dân quân du kích một cách thích hợp, đáp ứng kịp thời
yêu cầu của nhiệm vụ chính trị - quân sự của cuộc kháng chiến. Năm là: coi trọng
công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng; nâng cao vai trò lãnh đạo toàn diện của Đảng đối
với cuộc kháng chiến trên tất cả mọi lĩnh vực, mặt trận. 15 LỜI CẢM ƠN
Chúng em xin chân thành cảm ơn sự hỗ trợ và sự đồng hành của mọi người trong quá
trình nghiên cứu và viết tiểu luận này về chủ đề "Đảng lãnh đạo xây dựng, bảo vệ
chính quyền cách mạng và kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (1945-1954)".
Không thể không nhắc đến tấm lòng vàng của cô hướng dẫn - Bùi Thị Huyền và các
bạn trong lớp, đã luôn ủng hộ và cung cấp, góp ý những kiến thức quý báu giúp chúng
em hoàn thành bài tiểu luận này.
Trong quá trình nghiên cứu và viết về chủ đề quan trọng này, chúng em đã học được
rất nhiều về sự hy sinh và kháng chiến dũng cảm của nhân dân Việt Nam trong cuộc
chiến tranh chống thực dân Pháp từ năm 1945 đến 1954. Đảng Cộng sản Việt Nam
(nay là Đảng Cộng sản Việt Nam) đã đóng vai trò quan trọng trong việc lãnh đạo và tổ
chức cuộc kháng chiến, bảo vệ chính quyền cách mạng và quyền tự do của dân tộc.
Chúng em hy vọng rằng tiểu luận này có thể góp phần nhỏ vào việc giữ lửa tình yêu
và lòng tự hào về lịch sử và dân tộc của chúng ta. Chúng em cũng hy vọng rằng sự nỗ
lực của những người lính, nhà lãnh đạo, và toàn bộ nhân dân Việt Nam trong cuộc
kháng chiến này sẽ được thế hệ trẻ tiếp theo học hỏi và tôn trọng.
Cuối cùng, chúng em xin kết thúc bằng lời cảm ơn sâu sắc đối với tất cả những người
đã giúp đỡ và hỗ trợ chúng em trong việc hoàn thành tiểu luận này. Xin cảm ơn! 16 TÀI LIỆU THAM KHẢO
[1] Giáo trình Lịch sử Đảng cộng sản Việt Nam (2021), Nxb. Chính trị Quốc Gia Sự thâ “ t.
[2] Tài liệu hướng dẫn ôn môn Lịch sử Đảng CSVN [3]. PPT bài giảng của GV
[4]. Cao Thị Thanh Thảo (2023), Hoàn cảnh, diễn biến và kết quả của Chiến dịch Hồ
Chí Minh, Luật Dương Gia cua-chien-dich-ho-chi-minh/>
[5]. Sách Giáo Khoa Lịch sử lớp 9 17