ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
ĐẠO GIÁO VĂN HOÁ VIỆT NAM
HỌC PHẦN: CƠ SỞ VĂN HOÁ VIỆT NAM
Thành phố Hồ Chí Minh, năm 2025
Trần Quốc Thịnh 2456040099
Phạm Ngọc Anh Đào 2456040018
Võ Xuân Đào 2456040019
Phạm Khánh Ly 2456040059
Vũ Lê Bảo Ngọc 2456040070
Nguyễn Như Ngọc 2456040071
Nguyễn Thị Yến Nhi 2456040079
Nguyễn Minh Phát 2456040086
Phù Ky Phương 2456040088
1. Sự hình thành Đạo giáo ở Trung Quốc
1.1. Đạo trong Đạo đức kinh của Lão Tử và Nam hoa kinh của Trang Tử
Lão Tử là người nước Sở (vùng Bách Việt), tên là Nhĩ, tự là Đam (nên còn gọi là Lão
Đam), sống vào khoảng thế kỉ VI-V TCN, gần như đồng thời với Khổng Tử (lớn tuổi
hơn Khổng Tử). Ông từng làm quan phụ trách thư viện nhà Chu, sau lui về ẩn;
không biết mất năm nào, tương truyền cưỡi con trâu xanh đi về phía Tây vào núi rồi
biến mất.
Đạo là hạt nhân lí luận của Đạo giáo Trung Quốc. Tư tưởng đó được Lão Tử trình bày
trong tác phẩm ngày nay 3 tên gọi khác nhau: Lão Tử, Đạo đức kinh, Lão Tử
ngũ thiên văn. Gọi Lão Tử là gọi theo tên tác giả; tác giả Lão Đam hay Nhĩ tôn
xưng nên gọi Lão Tử. Gọi Đạo đức kinh cách chia tác phẩm thành hai phần: Đạo
kinh (37 chương) Đức kinh (44 chương); nhưng gần đây khai quật khảo cổ học
phát hiện một văn bản mà Đức kinh lại đặt trước Đạo kinh. Gọi Lão Tử ngũ thiên văn
có nghĩa là tác phẩm có 5000 chữ của Lão Tử. Nhưng hiện nay tồn tại nhiều dị bản từ
đời Đường về sau 5722, 5555, 5590, 5540 chữ, chứ không phải đúng 5000 chữ.
Tên sách cũng như cách chấm câu, chia chương, đặt tên chương đều việc làm của
người đời sau, bản thân văn bản gốc không tên, không chương, không chấm câu.
Hiện nay một số nhà nghiên cứu Trung Quốc tiến hành biên soạn, hiệu chỉnh chú
giải lại các thư tịch cổ, trong đó có Đạo đức kinh.
văn bản khác nhau, chấm câu khác nhau, giải thích khác nhau nhiều hay ít thì 75
chữ “đạo” trong Đạo đức kinh (có văn bản khác thì 76 chữ) 3 ngữ nghĩa chính:
Đạo bản thể trụ; Đạo quy luật vận động của trụ; Đạo chỉ thiên đạo, tức
đường lối trị quốc trị thân.
Nghĩa thứ nhất: Đạo bản thể trụ. Nghĩa này nổi bật thường được trích dẫn
trong Chương 25 (các chữ 22-25). Cách giải tương đối thống nhất: Đạo cái
trước trời đất, sinh ra vạn vật. Lão Tử không biết gọi bèn gọi “Đạo”, cũng
thể miễn cưỡng gọi Đại. Như vậy, thuật ngữ Đạo của Lão Tử tựa hồ không liên
quan với ngữ nghĩa nguyên thuỷ của từ “đạo” “con đường đi”. Tuỳ từng nhà
nghiên cứu muốn giải thích như thế nào, nhưng Lão Tử đã phân bua rõ đó chỉ một
danh từ mà ông đưa ra, không những gọi là Đạo mà gọi là Đại cũng được.
Lão Tử viết: “Nhân pháp địa, địa pháp thiên, thiên pháp đạo, đạo pháp tự nhiên”.
(Người noi theo đất, đất noi theo trời, trời noi theo đạo, đạo noi theo tự nhiên). Theo
Cơ sở Văn hoá Việt Nam (Trần Ngọc Thêm) lý giải, đạoLão Tử viết là khái niệm
trừu tượng chỉ cái tự nhiên, cái sẵn một cách tự nhiên. Theo đó, đạo nguồn gốc
của vạn vật. Nhưng theo Nguyễn Duy Hinh: “Không thể giải thích “đạo pháp tự
nhiên” Đạo noi theo Tự nhiên được tuy rằng theo ngữ pháp của câu thì nên giải
thích như thế”. Thượng Công đã chú giải như sau: Đạo tính tự nhiên, sở
1
pháp (Tính của Đạo là tự nhiên, không noi theo cái cả). Như vậy, tuỳ theo cách
giải của các nhà nghiên cứu, chữ “Đạo” trong Đạo đức kinh khi chỉ Đạo-bản
thể, có khi chỉ qui luật vận động của Đạo-bản thể. Chữ “Đạo” chỉ bản thể của Lão Tử
nêu ra không phảimột từ do ông sáng tạo raphát triển nội dung chữ “đạo” vốn
có lên thành phạm trù triết học chỉ bản thể vũ trụ.
Nghĩa thứ hai: Đạo qui luật vận động của trụ. Qui luật của Đạo-bản thể biểu
hiện trong câu “Đạo sinh nhất, nhất sinh nhị, nhị sinh tam, tam sinh vật”,… biểu
hiện trong xã hội bằng đường lối trị quốc, tu thân theo nguyên tắc vô vi.
Nghĩa thứ ba: Đạo chỉ thiên đạo, tức đường lối trị quốc trị thân. Trong Đạo đức kinh,
thiên đạo qui luật tự nhiên chứ không phải “ý trời” hay “mệnh trời”, thiên đạo
không thân với người này với người khác. Làm vua không được gây chiến, không
tham lam hưởng lạc, không dùng bạo lực cưỡng chế người khác… như thế mới hợp
thiên đạo, mới trường cửu, trái thiên đạo thì diệt vong.
Như vậy, thiên đạo của Lão Tử không chỉ ý Trời, mệnh Trời mà chỉ qui luật vận động
khách quan của vạn vật do Đạo-bản thể qui định; từ “thiên” trong thiên đạo đây
tương ứng với Tự nhiên. Vận dụng vào trị quốc trị thân là “vô vi vô bất vi” để cho sự
vật phát triển đúng theo qui luật khách quan của nó, không cưỡng bức, không đi
ngược lại qui luật khách quan. Thiên đạo trước phạm trù Đạo của Lão Tử, nhưng
Lão Tử đã gắn với Đạo-bản thể hay nói cho đúng hơn Lão Tử đã phát triển thiên
đạo từ đường lối trị quốc trị thân thuận theo Tự nhiên thành một phần của Đạo-bản
thể.
Nói đến Đạo-bản thể đồng thời hàm ý thiên đạo thì điều này sẽ thấy hơn trong
Nam hoa kinh của Trang Tử.
Trang Tử (khoảng 369-286 TCN) sinh sống sau Lão Tử, Khổng Tử khoảng hơn 200
năm. Sách của ông vốn mang tên Trang Tử nhưng đến năm 722 CN vua Đường tôn
ông làm Nam Hoa chân nhân thì sách của ông mang tên Nam Hoa chân kinh. Sách đã
được biên soạn thêm bớt nên nhiều dị bản.
Theo sách “Lão Tử Trang Tử trực giải” của Trần Khánh Huệ biên soạn xuất bản năm
1998 thì trong Trang Tử có 352 chữ “Đạo”. Khái quát thành 6 nhóm sau: Đạo chỉ bản
thể trụ; Đạo qui luật vận động khách quan của trụ hội; Đạo chỉ những
quan hệ cá nhân trong xã hội; Đạo chỉ phương pháp tu dưỡng cá nhân; Đạo chỉ đường
đi, đường đời; Đạo là nói.
Như vậy, trong Trang Tử, chữ Đạo chủ yếu dùng để chỉ bản thể như Lão Tử đã đề
xướng, đôi khi dùng với nghĩa “con đường đi” hay “nói”, nhưng tương đối hiếm
hoi. Trang Tử không có chữ Đạo nào chỉ tôn giáo, chỉ Đạo giáo, mặc dù Trang Tử có
2
khái niệm “thần nhân”, “thánh nhân”, “chí nhân”, “chân nhân”… nhưng ngay khái
niệm “tiên” thì không có; tuy rằng hai chữ “tiên tiên” trong câu “tiên tiên hồ qui
hì” nhưng có nghĩa là: “về mau đi thôi” chứ không phải là “tiên” của tiên học.
Tóm lại, qua hai đạo thư của Lão Tử Trang Tử thể thấy chữ Đạo các ngữ
nghĩa sau đây:
(1) Đạo có nghĩa là “con đường đi” theo đúng như tự dạng của nó. Sau đó, không xác
định chắc chắn thời điểm cụ thể nhưng có thể là vào thời Xuân Thu - Chiến Quốc khi
bắt đầu diễn ra cục diện “bách gia chư tử” thì “Đạo” chỉ con đường Tam Hoàng
Ngũ Đế đã đi, tức chỉ đường lối chính trị Trang Tử gọi “tiên vương chỉ đạo”.
Thời điểm này bách gia tranh luận về đường lối chính trị, mượn việc ca tụng Tam
Hoàng Ngũ Đế để phê phán đường lối chính trị thời loạn này. Đồng thời mỗi nhà đưa
ra một đường lối chính trị trị quốc tu thân, từ “Đạo” dùng để chỉ đường lối trị quốc tu
thân đó nên Trang Tử đã đề cập đến “Phu Tử chi đạo”,… Như vậy, chữ “Đạo” đã
diễn biến từ nghĩa đen sang nghĩa bóng, từ cụ thể sang trừu tượng, từ sự vật sang khái
niệm.
(2) Đạo chỉ quan hệ xã hội và quan hệ cá nhân. Một khi Đạo đã chỉ đường lối trị quốc
trị thân thì cũng đồng thời chỉ ra các quan hệ xã hội và quan hệ cá nhân của đường lối
đó. Quan hệ hội trước tiên chỉ quan hệ vua-quan-dân như Trang Tử đã đưa ra
“nhân quần chi đạo”, “thần chi đạo”, “nhân đạo”,…; thứ chỉ đến quan hệ nhân
trong hội như “nhân nghĩa chi đạo”, “tồn thân chi đạo”,… Trị quốc thì phải giải
quyết quan hệ vua tôi, trị thân thì giải quyết quan hệ nhân với nhân đều
phương pháp thích hợp.
(3) Đạo chỉ qui luận vận động khách quan của sự vật. Tự nhiên vận hành trật tự
khách quan: Trời trên đất dưới nên vua quan trên dưới tôn ti; bốn mùa nối tiếp
nhau, sinh ra rồi già đi, cường tráng rồi suy yếu không thể nào cưỡng lại được.
tưởng thiên đạo như thế lấy thiên, tức tự nhiên làm sở. Khi xuất hiện phạm trù
Đạo-bản thể của Lão Tử thì thiên đạo là qui luật vận hành của Đạo-bản thể,lấy vô
vi bất vi làm đường lối thực hiện qui luật đó. Trong Trang Tử, khái niệm “thiên
đạo” mang cả hai nội dung cụ thể đó, cho nên không hoàn toàn giống với Lão Tử.
Trong Lão Tử, thiên đạo, nhân đạo đều qui luật vận động của Đạo-bản thể; còn
trong Trang Tử, khi thiên đạo lại khác nhân đạo. Nhưng sao “thiên đạo” cũng
chỉ qui luật vận động khách quan của thể giới, không phụ thuộc vào ý chí con người
hay thần linh nào cả.
(4) Đạo chỉ bản thểtrụ. Đạo của Lão Tử là cáitrước trời đất mà sinh ra trời đất
vạn vật, một phạm trù triết học, vận dụng vào hội thành đường lối vi bất
vi, tức để cho mọi sự vật phát triển theo qui luật khách quan của nó, không can thiệp
vào sự vận động của nó thì tuy vô vi mà vô bất vi. Thiên đạo trong Lão Tử không còn
3
chỉ qui luật của “Thiên” chỉ qui luật của Đạo-bản thể cho nên thuật ngữ Đạo vừa
mang nội dung bản thể vừa mang nội dung qui luật khách quan.
Ngoài 4 nghĩa chính trên đây, trong Lão Tử cũng như Trang Tử đôi khi cũng dùng
chữ “đạo” với nghĩa “nói” nhưng không nhiều lắm, đó không nghĩa nghĩa đen
của chữ này.
Tóm lại, thuật ngữ “đạo” trong hai đạo thư nói trên không nghĩa tôn giáo hay tín
ngưỡng, chỉ nghĩa triết học, chính trị học, hội học. Cho nên không phải tất cả
các chữ “đạo” trong hai đạo thư này đều chỉ Đạo-bản thể do Lão Tử đề xuất, cũng
như không phải đều Thiên đạo. Thuật ngữ “đạo” đã thoát khỏi ngữ nghĩa ban đầu,
thăng hoa thành phạm trù chính trị học, hội học, triết học. Nhưng đến thời điểm
Lão Trang thì chưa thành phạm trù tôn giáo.
Theo Nguyễn Duy Hinh, trong ngôn ngữ Việt Nam hiện nay nội hàm thuật ngữ “đạo”
không thể liên quan với chữ “đạo” của văn học Trung Quốc cổ đại.
Theo sở văn hoá Việt Nam (Trần Ngọc Thêm), Đạo của Lão Tử nguồn gốc của
vạn vật; Đức biểu hiện cụ thể của đạo trong từng sự vật. Đạo sinh ra vạn vật,
nhưng làm cho vật nào thành ra vật ấy tồn tại được trong trụ do Đức. Nếu
Đạo cái tĩnh hình thì Đức cái động hữu hình của Đạo. Nếu Đạo bản chất
của vũ trụ thì Đức là sự cấu tạo và tồn tại của vũ trụ.
Sự sinh hoá từ Đạo ra Đức, từ Đức trở về Đạo ở Lão Tử thấm nhuần sâu sắc tinh thần
biện chứng âm dương của triết nông nghiệp. Được chi phối bởi luật quân bình âm
dương, vạn vật tồn tại theo lẽ tự nhiên một cách rất hợp lí, công bằng, chu đáo do
vậy mầu nhiệm. Hợp lí, vì, theo Lão Tử, lẽ tự nhiên giống như việc giương cung,
cao thì ghìm xuống, thấp thì nâng lên. Công bằng, luôn bớt chỗ thừa vào
chỗ thiếu. Chu đáo, vì nó như cái lưới trời lồng lộng, tuy thưa mà khó lọt. Bởi vậy mà
mầu nhiệm tới mức không cần tranh chiến thắng, không cần nói ứng nghiệm.
Mọi sự bất cập hay thái quá (mất quân bình) đều trái với lẽ tự nhiên và, do vậy, sẽ tự
điều chỉnh theo luật âm dương chuyển hoá: “Vật hễ bớt thì nó thêm, thêm thì nó bớt”.
Từ đây, Lão Tử suy ra triết lí sống tối ưu là muốn làm việc gì, phải đi từ điểm đối lập,
phải vi (không làm). vi không nghĩa hoàn toàn không làm hoà
nhập với tự nhiên, đừng làm thái quá.làm thái quá thì theo luật âm dương “vật
cực tắc phản”, kết quả thu được còn tệ hại hơn hoàn toàn không làm gì. Triết lí
vi áp dụng vào đời sống nhân “chỉ không tranh nên thiên hạ không ai tranh
nổi với mình”. Áp dụng vào đời sống xã hội, Lão Tử không tán thành lối cai trị cưỡng
chế, áp đặt đương thời, ông nói muốn dân yên ổn thì cai trị một nước phải “giống như
kho một nồi nhỏ”: nhỏ nên để yên, không cạo vẩy không cắt bỏ ruột, khi kho
không khuấy đảo - cạo, cắt, khuấy đảo chỉ tổ làm cho cá nát.
4
Trong lĩnh vực nhận thức, phát triển tưởng biện chứng của Lão Tử, Trang Tử đã
tuyệt đối hoá sự vận động, xoá nhoà mọi ranh giới giữa con người với thiên nhiên,
giữa phải trái, giữa tồn tại vô, đẩy phép biện chứnh tới mức cực đoan thành
một thứ tương đối luận.
Trong lĩnh vực hội, nếu như Lão Tử chỉ dừng mức không tán thành cách cai trị
hữu vi thì Trang Tử căm ghét kẻ thống trị đến cực độ; ông không chỉ bất hợp tác với
họ còn quyền rủa, châm biếm họ. Trang Tử đã đẩy phép vi với chủ trương
sống hoà mình với tự nhiên của Lão Tử tới mức cực đoan thành chủ nghĩa yếm thế
thoát tục, trở về hội nguyên thuỷ: “Núi không đường đi, đầm không cầu thuyền,
muôn vật chung sống, làng xóm liên tiếp cùng ở với cầm thú”.
1.2. Đạo giáo ra đời, những tiền đề của nó
Lịch sử ra đời Đạo giáo được ghi lại trong sử ch cổ Trung Quốc khá phức tạp
nhiều khi mâu thuẫn nhau về nhân vật, quan hệ truyền thừa và thời điểm.
Nói chung vào khoảng cuối thời Đông Hán (cuối thế kỉ II CN) nhiều cuộc khởi
nghĩa nông dân thường được phát động dưới ngọn cờ tôn giáo.tưởng của Lão Tử
cộng với chất duy tâm Trang Tử đã đưa vào đã trở thành sở cho việc thần
hoá đạo gia thành Đạo giáo. Chủ trương vi cùng thái độ phản ứng của Lão-Trang
đối với chính sách áp bức bóc lột của tầng lớp thống trị khiến cho Đạo giáo rất thích
hợp để dùng làm khí tinh thần tập hợp nông dân khởi nghĩa. Năm 141 xuất hiện
Ngũ Đấu Mễ đạo của Trương Lăng năm 184 xuất hiện Thái Bình đạo của Trương
Giác. Hai tổ chức này được xem hình thức đầu tiên của Đạo giáo, thường được
mệnh danh là Đạo giáo sơ kỳ, Đạo giáo tảo kỳ, tức Đạo giáo thời kỳ đầu.
Ngũ Đấu Mễ đạo (vì tín đồ gia nhập đạo phải nộp 5 đấu gạo) do Trương Lăng
(Trương Đạo Lăng) lập năm 141 Tứ Xuyên ngày nay. Trương Lăng từng làm Thái
học sinh rồi làm huyện lệnh Tứ Xuyên. Sau đó, bỏ quan đi luyện Cửu thiên thần
đan núi Cẩm Vân tỉnh Giang Tây. Sau 3 năm thì luyện thành đan nên đổi tên núi
này thành núi Long Hổ sơn. Long Hổ sơn sau này thành một phái chính trong lịch sử
Đạo giáo. Nhưng sau đó, Trương Lăng trở vào Tứ Xuyên đến Hạo Minh Sơn học đạo,
năm 141 tuyên bố đạo kinh mới bắt đầu truyền giáo, lập Ngũ Đấu Mễ đạo, tự xưng
Thái Thanh Huyền Nguyên. Đạo giáo ra đời. Trương Lăng chết, con Trương Hành
nối nghiệp; Trương Hành chết, con Trương Lỗ nối nghiệp. Sử gọi ba ông Tam
Trương gọi Ngũ Đấu Mễ đạo Tam Trương Đạo giáo. Ngũ Đấu Mễ đạo chữa
bệnh bằng bùa chú thu mỗi người 5 đấu gạo tổ chức tín đồ thành 24 trị (đơn vị
hành chính – tôn giáo như giáo khu) có chức sắc (tế tửu) cai quản làm cơ sở cho cuộc
nổi dậy năm 191.
5
tưởng Lão Trang được các vua Văn Đế Cảnh Đế (171-141 TCN) đưa vào
đường lối chính trị, gọiHoàng Lão học. liệu ghi chép, Sở vương Anh đã thờ
Hoàng Lão đạo từ thời Minh Đế (58-75TCN). Đó liệu sớm nhất về thờ Lão Tử
với danh nghĩa thần linh của Hoàng Lão đạo. Hoàng Lão học lấy tưởng trị nước
của Hoàng Đế tưởng vi của Lão Tử làm sở luận trị quốc, còn Hoàng
Lão đạo thì đã thần hoá Lão Tử. Như vậy, việc Trương Lăng thần hoá Lão Tử cũng là
một trong nhiều trường hợp ở thời kì này. Xét về nội dung thì Ngũ Đấu Mễ đạo muộn
hơn Hoàng Lão đạohoàn chỉnh hơn, cả kinh lẫn nghi thức, hệ thống tổ chức
tôn giáo tuy không phổ biến trong cả nước chủ yếu trong vùng Ba Thục, nhưng
vẫn phổ biến trong nhân dân. Hoàng Lão đạo chỉ phổ biến trong quí tộc cung đình
gồm cả Hoàng đế lẫn vương hầu, vẫn dùng những kinh điển Hoàng Lão đạo. Như
vậy, thực tế đã hình thành Đạo giáo cung đình và Đạo giáo dân gian đối lập nhau.
thể khái quát như sau: Đạo giáo Trung Quốc khái quát ra đời trên sở Hoàng
Lão học tức học thuyết về đường lối trị quốc của Hoàng đế triết học Lão Tử về
Đạo-bản thể. Sở chuyển sang Đạo (tôn giáo) kế thừa tín ngưỡng nguyên thuỷ
như thần đạo, vu thuật (bùa chú). Thành tố thứ ba cực quan trọng Phương Tiên
đạo (dưỡng sinh). Đạo giáo ngay từ Hoàng Lão đạo đã chia thành Đạo giáo tộc
(Đạo giáo cung quán sau này) Đạo giáo dân gian. Hai con đường bản phù
chú luyện đan chi phối sự phát triển của Đạo giáo. Đạo giáo dân gian chủ yếu đối
lập chính quyền phong kiến. Đạo giáo sĩ tộc chủ yếu ủng hộ chính quyền phong kiến.
Còn Tiên đạo chủ yếu thoát tục tiêu diêu.
Theo Cơ sở văn hoá Việt Nam (Trần Ngọc Thêm), Đạo giáo thờ “Đạo” và tôn Lão Tử
làm giáo chủ, gọi “Thái Thượng Lão Quân”, coi ông hoá thân của “Đạo” giáng
sinh xuống cõi trần. Mục đích tu của Đạo giáo sống lâu. Đạo giáo chia thành hai
phái: Đạo giáo phù thuỷ - dùng các pháp thuật trừ trị bệnh chủ yếu giúp cho dân
thường khoẻ mạnh; Đạo giáo thần tiên - dạy tu luyện, luyện đan, dành cho quý tộc
cầu trường sinh bất tử.
1.3. Đạo tạng, đạo pháp, đạo quán
1.3.1. Đạo tạng
Kinh điển của Đạo giáo gọi Đạo tạng. Đạo kinh hay Đạo tạng ba đặc điểm lớn
sau đây:
Một, nội dung không thống nhất theo từng phái từng gia khác nhau. Cho nên
các khái niệm, phạm trù không mang nội hàm thống nhất, nhiều khi mâu thuẫn. Đó là
do trình độ văn hoá các đạo không cao. Đặc điểm đó xuất phát từ bản thân Đạo
giáo không phải là một tôn giáo thống nhất do một giáo chủ đề xướng, tuy rằng người
ta vẫn cho rằng Trương Đạo Lăng người sáng lập ra Đạo giáo. Nhưng trước
Trương Đạo Lăng đã có Mao Doanh (sinh năm 145 TCN) tu ở Câu Khúc Sơn, sau đó
6
hình thành Mao Sơn phái vậy núi này đổi tên thành núi Mao Sơn. Trương Đạo
Lăng (34-156) ra đời sau Mao Doanh khoảng 100 năm. Đạo giáo trước tiên của
dân gian, đạo sĩ dân gian sáng tác đạo kinh.
Hai, nội dung hỗn tạp. Đạo giáo một tôn giáo đa tố tập hợp không tổng hợp,
cho nên giống với một đống kim loại hơn là một hợp kim. Nhưng tư tưởng Nho giáo,
Phật giáo được thu nhập vào Đạo kinh cũng không đồng nhất.
Ba, tính dân gian áp đảo cho nên tính niên đại chính xác không chắc chắn văn bản
một khi soạn thảo ra thì truyền trong dân gian sao chép tăng bổ không nguồn gốc.
Điển hình là Thái bình kinh có quá nhiều tác giả, hoặc Vu Cát hoặc Trương Đạo Lăng
hoặc Trương Giác,… Theo truyền thống Đạo giáo thì Đạo kinh đều thiên thư do
thần tiên ban cấp.
Đó một số vấn đề khiến cho nghiên cứu Đạo giáo một cách thực sự khoa học
không thể đạt được trong những nội dung cụ thể. Tuy nhiên không vậy Đạo
tạng không giá trị khoa học. Trong Đạo tạng tích luỹ nhiều tri thức y học, thiên
văn, địa lý, văn học,… của nhiều thời đại.
1.3.2. Đạo pháp
Đạo pháp chỉ tất cả các pháp thuật của Đạo giáo, thường khái quát thành 3 lĩnh vực:
Một, các phương thuật luyện dưỡng để đạt đến trường sinh bất tử, thành tiên. Chủ
yếu gồm khí công đạo dẫn, nội ngoại đan thuật, phòng trung thuật…
Hai, các phương thuật trừ tà, phù chú chữa bệnh…
Ba, các phương thuật chiêm nghiệm dự trắc như tướng địa, tướng trạch, tinh mệnh,
lục nhâm, độn giáp,...
Nói chung rất phong phú đa dạng, tập trung thành luyện khí, luyện đan phù chú.
Trên đây đã kết hợp trình bày một số đạo pháp, dưới đây chỉ trình bày một số đạo
pháp chủ yếu để hiểu Đạo giáo: Luyện khí, Tịch cốc, Phòng trung và Thủ quyết.
(1) Luyện khí những phương pháp hấp không phải chỉ đơn thuần thở hít
không khí trong lành còn luyện dưỡng Khí trong con người. Cần phân biệt ngoại
tức pháp và nội tức pháp.
(2) Tịch cốc là không ăn ngũ cốc vì đã phát hiện ăn ngũ cốc dẫn đến một số bệnh, chứ
không phải không ăn thứ cả. Đáng tiếc người ta xưa nay đa phần đều hiểu
một cách đơn giản tịch cốc nhịn ăn hoàn toàn rồi từ đó phê phán tịch cốc.
7
Chung quy, tịch cốc xuất phát từ nhận thức ăn ngũ cốc làm hại thể, khiến cho
thể ô uế, nặng nề, kích động lòng dục gây ra bệnh tật và nhận thức các loại thực phẩm
khác dùng kết hợp với luyện khí thì thân thể con người thanh khiết, nhẹ nhàng, có thể
bay lên trời thành tiên được. Nhận thức được tính ưu việt của thức ăn thực vật là một
thành tựu y dược khoa học dưỡng sinh hiện đại cũng áp dụng. Nhưng bất tử thì
chỉ ảo tưởng xuất phát từ tưởng trọng Sinh, đặc điểm Đạo giáo. Điều đó khiến
cho Đạo giáo tôn giáo duy nhất chủ trương dưỡng sinh chứ không luận bàn về tử
và cuộc sống sau khi chết như nhiều tôn giáo khác. Nhưng rồi dần dần với ảnh hưởng
Phật giáo đã khiến cho đặc điểm này của Đạo giáo lu mờ. Chính vậy, Trần Anh
Ninh chủ trương Tiên học, khôi phục lại hạt nhân dưỡng sinh trong Đạo giáo. Còn
những đạo tịch cốc thì cuối cùng đều chết, chỉ để lại huyền thoại về mọc cánh bay
lên trời hay thi giải. Vì vậy mà tịch cốc bị phê phán, bác bỏ.
(3) Phòng trung thuật xuất hiện trên sở tín ngưỡng phồn thực nguyên thuỷ về sau
kết hợp với luận âm dương khi Đạo giáo hấp thu thì dần dần phát triển thành
nam nữ song tu trong Nội đan phái. Về phương diện thực hiện thiên chức nối dõi tông
đường thì phòng trung thuật đề cập dến tướng, bệnh, thời, kỵ, tuổi, tổn, ích, thuật. Về
phương diện Tiên đạo, thì theo thuyết âm dương, nam giới hấp thu âm dương khí
của nữ giới để hợp với tinh khí của nam giới bổ sung nguyên khí nam giới đưa lên
não vào đan điền, nhờ đó đạt đến trường sinh bất tử. Trong Nội đan phái chi
phái chuyên nam nữ song tu phát triển thuật này của phòng trung thuật. Bóc đi lớp
vỏ tôn giáo thì phòng trung thuật là khoa học về giới tính.
(4) Phù lục và thủ quyết.
Phù lục bao gồm Phù Lục. Phù một quá trình phát triển lâu đời, trước khi
đạo phù đã vu phù. Vu phù phù trấn giữ cửa mộ, dùng để giải mọi tội lỗi của
người chết cấm không cho quỉ xâm nhập mộ. Đạo phù phỏng “phù huyền”
(phù để truyền đạt mệnh lệnh) như binh phù thời Tần-Hán dùng để truyền lệnh của
vua nhân gian. Đạo giáo biến thành thiên phù, thần phù mang ý nghĩa truyền lệnh
của thần linh. Lục văn bản chứng nhận người đắc đạo cấp nào đó mệnh lệnh
sai khiến quỉ thần, vốn một sớ, còn gọi pháp lục. Pháp lục mỗi phái mỗi khác,
qui định đẳng cấp của đạo sĩ. Số phù lục nhiều số, tuy môn phái rệt nhưng
các đạo đều tuỳ ý thêm bớt. Phù lục dùng để triệu thần trục quỉ chữa bệnh, trấn
trạch, trấn mộ,… Phù lục đã trở thành thủ đoạn lừa bịp. vốn không liên quan
đến trường sinh bất tử thành viên tuy rằng những phù dùng vào việc nhập sơn tu
luyện để tránh bị yêu quỉ trong núi quấy rối.
Phù lục đi kèm thần chú thủ quyết (ấn quyết). Thần chú những lời cầu thần trừ
tà. Nhiều câu rất dài, nhiều câu rất ngắn, thường kết thúc bằng “như luật lệnh”, “cấp
cấp như luật lệnh”. Những câu đó có nguồn gốc từ chiếu thư của triều đình truyền cho
cấp dưới lập tức thi hành mệnh lệnh của vua. Sau, Đạo giáo mượn thể lệ đó nhân dân
các vị thần, thường là Thái Thượng Lão Quân để ra lệnh cho quỉ thần nào đó. Khi đọc
8
thần chú, vẽ bùa đạo còn kết hợp với các cách đi gọi bộ pháp (có nhiều bộ
pháp khác nhau). Thủ quyết những thế bàn tay kết hợp lại mang ý nghĩa tượng
trưng cho thần linh hay sức mạnh thần linh. Nguyên tắc cơ bản là hoạch định một tiểu
trụ trên bàn tay đạo sĩ. Tất cả tiểu trụ được phân bố trên lòng bàn tay ngón
tay thành những bộ vị khác nhau. Khi dùng ngón tay cái bấm vào bộ vị nào phối hợp
cùng tư thế các ngón tay khác thì thành quyết văn, tức nội dung của quyết. Mỗi quyết
tên gọi khác nhau gọi quyết mục. Mỗi đạo phái hệ thống quyết riêng tuy
cũng những điểm tương đồng, nhưng đó truyền từng “gia” chỉ truyền cho
truyền nhân thôi. Chủ yếu các quyết đều phục vụ trừ chữa bệnh, nói chung
mục đích y học không khoa học. Sở một số trường hợp thành công chủ
yếu là vì người bệnh tin tưởng (tức yếu tố tâm lý trong y học), nhấttrường hợp các
loại bệnh tâm thần.
Nhìn chung, đạo pháp của Đạo giáo phong phú hơn Phật giáo, Thiên Chúa giáo…
bao quát toàn bộ cuộc sống tinh thần vật chất con người. Chính vậy tính chất
dân gian tính trội, tính gốc của Đạo giáo. Đạo pháp dùng để chữa bệnh cứu người
khiến cho con người thể trường sinh bất tử, nhưng đó không phải mục đích dân
gian mục đích của giới trí thức cổ đại. Nhưng trường sinh bất tử của các vị tu
tiên khác với trường sinh bất tử của vua chúa. Vua chúa cầu trường sinh bất tử để
hưởng lạc lâu dài. Còn các vị tu tiên trường sinh bất tử để “tiêu dao phương ngoại
hữu hương”. Còn bình dân cầu khỏi bệnh tật, ốm đau, giải quyết một trong những nỗi
khổ đời thường. Trừ các đạo sĩ trục lợi lừa bịp mà thời nào cũng có, thì các đạo sĩ đều
được xem lương y. Đó mặt tích cực của đạo pháp nhưng nay đã lạc hậu tr
thành tiêu cực tổn hại sinh mệnh con người.
1.3.3. Đạo quán
Đạo quán sở tu hành, sở thờ tự của Đạo giáo. Khi Đạo giáo mới ra đời thì
đạo núi, bởi núi nơi thanh tĩnh, không khí trong lành thích hợp cho việc
luyện khí. Đương thời sở Đạo giáo am cỏ chủ yếu hang động sau này
các đạo quán do triều đình xây dựng nên mang đậm kiến trúc cung đình. Hiện nay
chính phủ Trung Quốc đã xếp hạng bảo vệ 21 đạo quán theo quyết định năm 1983
trong số hơn 600 đạo quán trong cả nước.
Hiện nay, hai dòng Đạo giáo dân gian Đạo giáo cung đình đã đọng lại thành
Chính Nhất đạo và Toàn Chân đạo. Toàn Chân đạo được coi như đại biểu của Đạo
giáo Trung Quốc.
2. Sự du nhập Đạo giáo vào Việt Nam
2.1. Thời kì Bắc thuộc
9
Theo dòng lịch sử, hiện nay tuy chưa phát hiện những bằng chứng vật chất chứng tỏ
sự có mặt của Đạo giáo ở Việt Nam hồi đầu Công nguyên nhưng căn cứ vào ghi chép
của Đại Việt Sử toàn thư chúng ta thể nhận thấy Đạo giáo được du nhập vào
Việt Nam từ rất sớm. Toàn thư chép: "Sau vua Hán sai Trương Tân làm Thứ sử. (Tân
nhận chức năm Kiến An thứ 6 [211] thời Hán). Tân thích việc quỷ thần, thường đội
khăn đỏ, gảy đàn, đốt hương, đọc sách Đạo giáo, nói rằngthể giúp việc giáo hoá”.
Khi Sĩ Nhiếp cai trị Giao Châu vào thế kỷ II sau Công nguyên, thì đãnhiều Đạo
sĩ đến đây tu luyện, truyền đạo và bản thân ông cũng là một đạo tiên. Trong Thần tiên
truyện của Cát Hồng nói tới chuyện Nhiếp lâm bệnh chết đã ba ngày thì được vị
tiên nhân Đổng Phụng cho một viên thuốc, Nhiếp được cho uống xong, tỉnh dậy
hồi phục trở lại bình thường. Sách Đạo Tạng kinh ghi: “Sau khi vua Hán Linh đế
băng hà, hội (Trung Hoa) rối loạn, chỉ đất Giao Châu yên ổn. Người phương
Bắc chạy sang lánh nạn rất đông, phần nhiều các đạo luyện phép trường sinh
theo cách nhịn ăn”. Cát Hồng xin phép Tấn Thành Đế (năm 333) đến làm huyện lệnh
huyện Câu Lậu (Hải Dương) Giao Chỉ được biết nơi đây nhiều đan sa, luyện
thuốc tiên nay vẫn còn thấy “Thuốc đan sa thừa để lại thành một đống đất đỏ"
được Tấn Thành Đế cho phép (nhưng sau không tới Câu Lậu mà ở lại núi La Phù tỉnh
Quảng Đông luyện đan và trở thành Cát tiên ông).
Nhưng nếu xét trên một bình diện khác thể nói rằng, các tiền đề để Đạo giáo du
nhập vào Việt Nam đã từ sớm hơn. Việc hình thành đặc điểm của Đạo giáo
Việt Nam chịu ảnh hưởng khá lớn từ Thiên đạo của Trương Đạo Lăng do đạo này
thống soái khu vực Tây Nam Trung Quốc, rất gần với Việt Nam. Thiên đạo
Đạo phái phù lục, thiên về sử dụng pháp thuật, bùa chú, cầu đảo, nên rất phù hợp với
tín ngưỡng dân gian của đại bộ phận quần chúng bình dân người Việt suốt từ cổ đại,
vốn sùng bái quỷ thần. Căn cứ theo ghi chép trong quyển 2 sách “An Nam chí
nguyên”: “Tục Giao Chỉ, tôn thờ quỷ thần, rất nhiều dâm từ. Người gặp tai họa,
hầu đồng dựa bóng, khắp nơi. Tin vào điều đó, răm rắp làm theo”. Từ xa xưa
người Việt Nam từ miền núi đến miền xuôi đã rất sùng bái ma thuật, phù phép; họ tin
rằng các bùa, những câu thần chú… thể chữa bệnh, trị ma, thể làm tăng
sức mạnh, gươm chém không đứt… Tương truyền Hùng Vương người giỏi pháp
thuật nên uy tín thu phục 15 bộ lập nên nước Văn Lang. Ngay các nhà cũng
phải học các phép trị bệnh, trừ tà thì mới đưa Phật giáo thâm nhập sâu vào dân chúng
vốn tín ngưỡng ma thuật được. Điều đó đã chứng tỏ tín ngưỡng bản địa với việc
tôn sùng các năng lực siêu nhiên là mảnh đất màu mỡ để Đạo giáo xâm nhập”.
Sự kết hợp giữa Đạo giáo tín ngưỡng bản địa một đặc điểm lớn trong quá trình
phát triển Đạo giáo ở Việt Nam, trước hết Đạo giáo phù thủy, đã thâm nhập nhanh
chóng hòa quyện dễ dàng với tín ngưỡng ma thuật cổ truyền tới mức không còn
ranh giới. Nhưng cũng chỉ làm thay đổi hình thức của các tín ngưỡng bản địa này, còn
nội dung của tín ngưỡng bản địa thì không thay đổi đáng kể, một số tín ngưỡng của ta
hiện nay nếu nhìn bề ngoài thì vẻ sản phẩm của Đạo giáo nhưng kỳ thực đó
10
tín ngưỡng dân gian của Việt Nam, với một vài ảnh hưởng của Đạo giáo. Đạo giáo
Việt Nam không đặt nặng các kinh sách mang tính triết học như Trung Quốc, chủ yếu
là dạy cách lên đồng, phù thủy, bùa chú, gọi hồn, trừ tà, các thuật bói toán,…
Ngoài Đạo giáo phù thủy thì Đạo giáo thần tiên cũng du nhập phái luyện thuốc
trường sinh (ngoại dưỡng) chủ yếu, phổ biến Nam Trung Hoa. Phần lớn thần sa
các đạo Trung Hoa sử dụng để luyện đan đều được các lái buôn mua từ Giao
Chỉ (thường là phải đổi bằng vàng). Năm 42, Mã Viện đưa quân sang Giao Chỉ, ngoài
việc dẹp cuộc khởi nghĩa của Hai Trưng, còn mục đích tìm kiếm các mỏ thần
sa. Sau trận chiến, Viện tiếp tục tiến sâu vào tận vùng nay Quảng Nam
đã tìm thấy mỏ thần sa khổng lồ tại Cù Lao Chàm, mỏ này khai thác đến hết đời Tống
mới cạn. Thế kỉ XIII (đời Nguyên), nhà Thích Đại Sán đi du khảo vùng Đông
Dương đã xác nhận rằng xứ Giao Chỉ là nơi có nhiều thần sa, và mỏ thần sa ở Cù Lao
Chàm là lớn nhất.
Mang tính phổ biến trong Đạo giáo thần tiên Việt Nam phái nội tu. Người Việt
thờ Chử Đồng Tử (người thời vua Hùng, tương truyền đã từng lên núi tu luyện, học
Phật, được ban gậy, nón thần và sách ước, sau thành tiên bay lên Trời) làm ông tổ của
Đạo giáo Việt Nam, gọi Chử Đạo Tổ. yếu tố Phật giáo nhưng xét ra sẽ thấy
nặng yếu tố Đạo giáo hơn: Cây gậy thần thì trong Phật giáo nước ta cây gậy la
truyền cho Man nương để chống hạn; cây gậy đầu sanh đầu từ của Thái Bạch
Kim Tinh cho Nguyễn Tuấn của Đạo giáo. Gậy nón công cụ thần của
Thiết Quải dùng trong chuyện Bát tiên quá hải. Đắc đạo bay lên trời trường sinh bất
tử là mơ ước của người tu tiên.
Khác biệt giữa Nho giáo Đạo giáo là: Nho giáo mang bản chất của một công cụ tổ
chức hội, vũ khí của kẻ thống trị thì Đạo giáo, trên sở thuyết vi, mang trong
mình tưởng phản kháng giai cấp thống trị. vậy, cũng giống như Trung Hoa,
vào Việt Nam, Đạo giáo (phù thủy) đã được người dân sử dụng làm khí chống lại
kẻ thống trị. Ngay khi thâm nhập, đã khí chống lại phong kiến phương Bắc.
Phong trào nông dân khởi nghĩa các tỉnh Nam Trung Hoa vào thế kỉ II đều liên
hệ với các cuộc khởi nghĩa nông dân hai quận Giao Chỉ, Cửu Chân.
Để khống chế nước ta chặt chẽ hơn về các mặt chính trị, kinh tế, văn hóa, các triều
đại Trung Hoa sử dụng các thủ đoạn hành chính, ra sức truyền ba tôn giáo Nho,
Phật, Đạo vào Việt Nam thông qua con đường quan phương. Một số đạo sĩ, thầy mo,
thầy phong thủy cũng nối tiếp nhau đến Việt Nam thực hiện các hoạt động truyền
giáo, nổi bật câu chuyện Cao Biền yểm bùa cắt đứt long mạch, đại diện cho Đạo
giáo tiếp tay vào công cuộc đô hộ của phong kiến phương Bắc. Năm 866, nhà Đường
phái Tĩnh Hải Quân Tiết Độ sứ Cao Biền đến trấn thủ An Nam. Ông một mặt chỉnh trị
đường sông, nối liền con đường vận chuyển, phát triển kinh tế; một mặt ông lại đam
thuật thần tiên: “Vào thời Cao Biền, Đạo giáo tín bùa chú truyền đến các địa
11
phương ở nước ta”. Cao Biền lập đàn cầu cúng ngày đêm, bái thần lập quỷ, luyện kim
nấu đan, chi phí khó mà tính nổi, thực hiện phép thuật Đạo giáo như dẫn sấm sét đánh
xuống các tảng đá lớn trên sông để khơi thông đường thủy, thúc đẩy sự truyền bá bùa
chú của Đạo giáo tại Việt Nam. Sau này, Cao Biền cũng được người Việt Nam tôn
làm “Phúc thần”. Từ cuối thời Hán đến thời Đường cũng thời kỳ Đạo giáo truyền
vào Việt Nam theo con đường di dân dần dần phát triển môi trường văn hóa của
vùng đất mới.
2.2. Thời kì độc lập tự chủ
Tuy rằng Việt Nam đã thoát khỏi sự khống chế hành chính của Trung Quốc giành
được độc lập, tầng lớp cai trcác đời vẫn luôn đề xuất đưa về điển chương chế độ
văn hóa tôn giáo Trung Quốc, tưởng Nho giáo được dùng làm đường lối trị
quốc, Phật giáo trong một thời gian được coi là quốc giáo, có những tăng lữ còn được
gọi quốc sư. Trong sự thay đổi vương triều, Đạo giáo nhờ nhận được sự hỗ trợ của
các hoàng đế các đời nên ngày càng thế lực tiếp tục lan rộng trong hội Việt
Nam. Các vị vua thời Đinh, Lê, Lý, Trần đều chọn cả tănglẫn đạo sĩ vào triều làm
cố vấn; bên cạnh tăng quan, có cả chức đạo quan.
Hiện nay, tại đình Đông Ngạc ở Từ Liêm - Nội còn đang lưu giữ một quả chuông
thời Ngô, đúc năm 948, bài minh trên chuông đã cung cấp nhiều thông tin quý giá về
sinh hoạt Đạo giáoviệc thờ phụng Thái Thượng tam tôn. Lúc này các tăng sĩ, Đạo
những trí thức lớn, những bộ óc lớn giúp cho việc xây đắp bảo vệ nền tự chủ
và ý chí thống nhất, độc lập dân tộc.
Đinh Tiên Hoàng lần trước khi khởi binh đã đến lễ bái thần thánh đạo quán
Thiên Tôn Động, nay thuộc tỉnh Ninh Bình, sau khi dẹp loạn 12 sứ quân, lập nên
triều Đinh, ông lại đổi “Thiên Tôn động” thành “An Quốc từ”, đặt quốc hiệu Đại Cồ
Việt, lấy niên hiệu Thái Bình, hy vọng thần linh của Đạo giáo thể bảo vệ đất
nước bình yên. Chỉ bốn năm sau khi lên ngôi (năm 971), vua Đinh Tiên Hoàng đã
"bắt đầu quy định văn tăng đạo... Tăng thống Ngô Châu Lưu được ban hiệu
Khuông Việt đại sư, Trương Ma Ni làm Tăng lục, Đạo Đặng Huyền Quang được
trao chức Sùng chân uy nghi (chức quan trông coi về nghi lễ Đạo giáo). Điều này
chứng tỏ Đạo giáo rất phổ biến và được tầng lớp quan lại hết sức coi trọng. Phật giáo
và Đạo giáo cùng song hành tồn tại và chung sống hoà bình.
Đến thời Lý, bên cạnh Phật giáo, các vua cũng hâm mộ Đạo giáo. Vua Lý Thái Tổ
người “ưa thích dị đoan", Sử thần Văn Hưu phê phán “Lý Thái Tổ lên ngôi mới
được 2 năm, tông miếu chưa dựng, đàn tắc chưa lập trước đã dựng tám chùa
phủ Thiên Đức, lại trùng tu chùa quán ở các lộ...". Ông liên tục cho xây chùa quán kể
cả trong cung, tăng đạo nhiều số. lẽ vậy Sử quan Ngô Liên đã đánh
giá vua Thái Tổ có nhiều công lao to lớn "... mưu lược của bậc đế vương. Duy
12
việc ham thích đạo Phật, đạo Lão chỗ kém. Năm 1049, chùa Diên Hựu (kéo dài
tuổi thọ) được dựng lên để các nhà nhiễu quanh đọc kinh niệm Phật, cầu cho vua
được sống lâu. Tư tưởng mong muốn sống lâu kéo dài tuổi thọ không phải là tư tưởng
của Phật giáo mà trước hết là của Đạo giáo. Đạo giáo có rất nhiều ưu thế, ít nhất là về
thuyết, để làm thỏa mãn trước hết về mặt tinh thần cho những mong muốn này. Sử
sách cũng cho biết tên của một vài ngôi quán ở Thăng Long như, quán Nam Đế quán
Ngũ Nhạc. Năm 1135, "Vua ngự đến quán Ngũ Nhạc để khánh thành tượng Tam Tôn
bằng vàng bạc", chứng tỏ Đạo giáo có sự ủng hộ rất lớn của tầng lớp trên mà cụ thể là
vua, nguồn tài lực của quán Đạo chắc chắn không phải nhỏ. Theo một nghĩa nào
đó, triều Lý đề cao Đạo giáo, coi nó như một tôn giáo của hoàng tộc.
Sang đến đời Trần, Đạo giáo cùng các tôn giáo khác vẫn được nhà Trần coi trọng.
Năm 1225, vua Trần Thái Tông lên ngôi, thì năm 1227 nhà Trần tổ chức "Thi tam
giáo tử (nghĩa những người nối nghiệp Nho giáo, Đạo giáo, Thích giáo)". Lịch
triều hiến chương loại chỉ chép rất ràng về việc tu luyện của một Đạo núi
Phượng Hoàng, Chí Linh, Hải Dương như sau: "Đầu thời Trần đạo Huyền -
Vân ẩn đấy, luyện thuốc tiên nên gọi động Huyền Vân". Lúc này các Đạo
ảnh hưởng khá lớn tới nhiều việc của triều đình, kể cả việc cầu tự nối dõi. Toàn thư
chép "...đạo cung Thái Thanh tên Thậm cầu tự cho vua. Đọc sớ xong tâu vua:
"Thượng đế đã y lời sớ tâu, sắp sai Chiêu Văn đồng tử giáng sinh,trần thế bốn kỷ".
Thế rồi hậu cung mang, sau quả nhiên sinh con trai, hai cánh tay chữ "Chiêu
Văn đồng tử" nét chữ rất rõ, thế đặt hiệu Chiêu Văn". Người con trai sử
chép Trần Nhật Duật hoàng tử thứ sáu của vua Trần Thái Tông. Ông người hâm
mộ Đạo giáo và am hiểu các kinh điển. Hứa Tông Đạo là đạo sĩ ở Phúc Châu, sau khi
theo đường biển tới Việt Nam, ông đã tích cực hỗ trợ quân dân nhà Trần kháng chiến
chống quân Nguyên, và còn nhiều lần lập trai đàn Hoàng Lục cầu siêu, cầu có con nối
dõi, cầu phúc thọ cho hoàng thất, nhận được sự tin sùng từ nhà vua và hoàng thái hậu,
thúc đẩy việc lập đàn cầu cúng của Đạo giáo Việt Nam trở nên phổ biến. Hai tác
phẩm văn học chịu ảnh hưởng rất lớn của Đạo giáo Lĩnh Nam chích quái của Trần
Thế Pháp Việt điện u linh tập của Tế Xuyên ít nhiều đã dẫn trên đây được -
đoán định ra đời vào thời Trần, càng chứng tỏ sự xâm nhập của Đạo giáo vào rất
nhiều lĩnh vực của đời sống chính trị, văn hoá, xã hội.
Năm 1400, triều Hồ được thành lập (1400-1407). Nhà Minh lấy cớ khôi phục nhà
Trần đem quân tới Việt Nam, đến năm 1407 thì lật đổ triều Hồ, đưa Việt Nam trở lại
sự thống trị của triều Minh. Để tăng cường quản đối với Đạo giáo Việt Nam, triều
Minh thiết lập các Đạo để quản lý. Năm 1428, Lợi lãnh đạo quân dân đuổi quân
Minh ra khỏi Việt Nam, lập nên nhà Hậu Lê (1428-1789).
Để củng cố vương triều mới, Thái Tổ Lợi độc tôn Nho giáo, từ góc độ Nho học
chỉnh đốn trật tự tôn ti đẳng cấp hội, thực hiện sách lược khống chế Phật giáo,
Đạo giáo. Trong hoàn cảnh như thế, địa vị xã hội của Đạo giáo mỗi lúc một suy kém,
13
nhưng những điều Đạo giáo khởi xướng như sống lâu trường thọ thành tiên vẫn được
giới vương công quý tộc, văn nhân học sĩ đón nhận. Trong đội ngũ lãnh đạo của triều
cũng không thiếu người sùng tín Đạo giáo, như trong thời Hiến Tông (146-
11504) tại vị, nạn châu chấu hoành hành, nên ông lệnh cho đạo làm phép trừ châu
chấu; thiên hạ đại hạn, liền lệnh cho đạo hướng về “Hạo Thiên Chí Tôn Ngọc
Hoàng Thượng Đế” cầu mưa. Dưới thời vua Thần Tông, xuất hiện một trường
phái Đạo giáo Việt Nam quy rất lớn gọi Nội Đạo tràng - quan phụ trách
việc cúng tế trong triều đình. Người sáng lập ra Nội Đạo Trần Toàn, quê Quảng
Xương (Thanh Hóa), nguyên là một quan to triều Lê, không theo nhà Mạc, từ quan về
quê tu tiên, giúp dân trừ ma quỷ suốt hai vùng châu Hoan châu Ái. Ông mở đạo
trường Hoằng Hóa, 10 vạn tín đồ, được tôn Thượng (Thích Ca Mâu Ni
Phật phong chức). Tương truyền ông từng dùng bùa phép chữa khỏi bệnh mọc lông
cọp cho vua Lê Thần Tông (1619-1643), cứu sống con Chúa chết đã hai ngày, về sau
được vua phong làm Phục Ma thượng đẳng phúc thần. Vua sai dựng nhà quê cho
Toàn tự tay vua ghi ba chữ “Nội Đạo Tràng”. Ba người con trai của ông đều giỏi
đạo pháp, được tôn “Tam Thánh”. Sau ba anh em mất, không đồ đệ, người anh
em họ Hậu Quan nối nghiệp thu nhận 4 đệ tử với thuật pháp riêng: Pháp Cống -
Nội Roi, Pháp Thông - Nội Phủ, Pháp Nan - Nội Dậm, đồ đệ Trung Quốc - Nội
Tưởng (còn có những điển tích khác). Phái đạo này phát triển vào Nghệ An và ra Bắc;
đến tận thế kỉ XX hãy còn tồn tại nhiều trung tâm Thanh Hóa, Nghệ An, Hải
Dương, Hưng Yên, Nội. Thậm chí tới sau chiến tranh thế giới thứ nhất, Giảng
(Hà Nội) hằng năm còn tới mấy vạn tín đồ đến trường Nội đạo để cúng lễ,
chữa bệnh.
Đạo giáo vốn xây dựng trên những tưởng phản kháng các nhà cầm quyền Nho
giáo, đã được dân chúng, Trung Hoa cũng như Việt Nam vào thời phong kiến
dân tộc, đã dùng làm khí tinh thần chống lại ách thống trị. Thời Nhân Tông
(1072-1127), Giác kẻ học được phép lạ tương truyền thể biến cỏ cây
thành âm binh, cầm đầu cuộc bạo động Diễn Châu. Năm 1379, đời Trần Phế Đế,
Bắc Giang, Nguyễn Bổ tự xưng nhiều phép thần thông, nổi lên lấy hiệu Đường
Lang Tử Y, tiếm hiệu xưng vương làm loạn, bị giết. Đời nhà Hồ, Trần Đức Huy dùng
pháp thuật lôi cuốn đông đảo người theo, bị Hồ Quý Ly dẹp năm 1403.
Gần với Đạo giáo thần tiên là khuynh hướng ưa thanh tĩnh, nhàn lạc. Hầu hết các nhà
nho Việt Nam đều mang tưởng này. Sinh không gặp thời, gặp chuyện bất bình
trong chốn quan trường hay khi về già, các cụ thường lui về ẩn dật, tìm thú vui nơi
thiên nhiên, bên chén rượu, khi cuộc cờ, hay làm thơ xướng họa – sống một cách điều
độ với tinh thần thanh thản trong khung cảnh thiên nhiên trong hành chính một
cách dưỡng sinh. Trước hết Nguyễn Trãi (1380-1442) một công thần giúp Lợi
đuổi quân Minh, giành lại độc lập cho nước ta. Sau khi vua Lê Thái Tông mất, bị gian
thần gièm pha, ông cáo quan về ẩn tại Côn Sơn (Hải Dương). Ông cũng nhiều câu
14
thơ ca tụng thú thanh nhàn (một bầu phong nguyệt) tiêu dao tự tại giữa thiên nhiên,
đúng với lời dạy bảo trong Đạo thường mà không còn nghĩ đến sự đua tranh:
“Một bầu phong nguyệt nhàn tự tại,
Hai chữ công danh biếng vả về.”
(Quốc Âm Thi Tập bài số 155)
“Ở thế an nhàn chẳng có sự,
Nghìn muôn tấn nhượng, chớ đua tranh!”
(Quốc Âm Thi Tập bài số 136)
Qua thế kỷ XV-XVI, Nguyễn Bỉnh Khiêm (1491-1585), đỗ Trạng nguyên thời nhà
Mạc, làm quan 8 năm, xin về hưu, được vua Mạc phong tước Trình Tuyền Hầu nên
được gọi là Trạng Trình. Thật ra, ông đã theo phép xuất xử của Nho giáo (Gặp thời có
chính nghĩa thì ra giúp đời, không thì đi ẩn: nhà Mạc vốn bị coi như ngụy, tiếm
ngôi vua Lê, lẽ thế nên ông rút lui), cáo quan về ẩn, nhưng tưởng của
ông lại thấm nhuần thuyết “tính-tự-nhiên” của Trang Tử, như trong Bạch Vân Am thi
tập có câu:
“Làm người thìn (giữ gìn) được tính-tự-nhiên,
Dại dột nhìn ra có phận yên”
(Bạch vân am thi tập, Bài số 53)
“Ngày ngày tiêu sái (thong thả) nhàn vô sự,
Tuy chửa là tiên, ấy ắt tiên.”
(Bạch vân am thi tập, Bài số 22)
Nguyễn Công Trứ (1778-1858) ra làm quan, bận rộn với việc khẩn hoang lập làng
nuôi sống cho dân nghèo, cầm quân đánh giặc chống loạn Cao Miên, mà vẫn tìm cách
sống theo các thuyết Đạo giáo, như “tri túc, tiêu diêu xoay xở để hưởng nhàn(ngao
du sơn thủy). Ông viết: Tri túc, tiện túc, đãi túc thời túc? tri nhàn tiện nhàn, đãi
nhàn, thời nhàn?” (Biết đủ thì đủ, còn đợi cho đủ, biết bao giờ mới đủ? Biết
nhàn thì có nhàn, còn đợi cho nhàn, biết bao giờ mới nhàn?).
Thế kỷ XVII, giáo truyền đạo Kitô xuất hiện Việt Nam, lấy danh nghĩa truyền
giáo để tiến hành một kiểu xâm thực từng bước về văn hóa đối với Việt Nam. Trong
quá trình Latinh hóa chữ Hán-Nôm, các giáo đồng thời cũng dần tách văn hóa Việt
Nam ra khỏi môi trường chữ Hán, điều này về mặt khách quan đã loại bỏ mất mảnh
đất văn hóa cho sự truyền kinh điển Đạo giáo tại Việt Nam. Sau khi hội Việt
15
Nam lâm vào tình trạng chia rẽ nội chiến, với ý định dùng tưởng Nho giáo để
thống nhất nhân dân, Thuần Tông vào năm Long Đức thứ 2 (1733) đã “cấm cả
nước xây dựng chùa, quán, tượng Phật” để ngăn cản Phật giáo Đạo giáo truyền
trong xã hội Việt Nam.
Năm 1802, Nguyễn Ánh thành lập vương triều cuối cùng trong lịch sử Việt Nam -
triều Nguyễn. Nguyễn Ánh kế thừa truyền thống của triều Hậu Lê, độc tôn Nho giáo.
Đạo giáo trong hoạt động hội dân gian Việt Nam cũng không được thịnh hành
bằng Phật giáo, chủ yếu thực hành các hoạt động như cúng bái thần linh, cầu
giáng bút, xin thần linh phán quẻ khuyến thiện thuyết giáo, v.v... trong các đạo
quán, không những dần bị Việt Nam hóa, mà còn thẩm thấu vào những tôn giáo khác,
dụ: một số chùa miếu Phật giáo cũng thờ cúng tượng thần Đạo giáo như Ngọc
Hoàng, Chân Vũ, Bắc Đẩu, v.v... mở rộng sức ảnh hưởng của thần linh Đạo giáo.
Thời chống Pháp, để đối phó với kẻ địch ưu thế về súng đạn, nhiều cuộc khởi
nghĩa đã tích cực sử dụng ma thuật phù thủy làm vũ khí tinh thần.
Mạc Đĩnh Phúc (cháu 18 đời nhà Mạc) khởi nghĩa năm 1895 các tỉnh miền biển
Bắc Bộ. Phong trào do ông khởi xướng mang tính thần bí, tôn giáo. Một trong những
quan điểm thầnđược tuyên truyền rộng rãi lúc bấy giờ Mạc Đĩnh Phúc phép
thuật làm cho súng Tây bắn lại Tây, quân khởi nghĩa không cần mua súng, đóng tàu.
vậy, trang bị khí của nghĩa quân rất thô sơ, khi lâm trận, tuy dũng cảm thừa
nhưng khó khăn để có thể thắng được giặc.
Năm 1895, Trần Cao Vân gặp Trứ , một nhà yêu nước Phú Yên. Hai ông
dùng pháp thuật bùa chú làm khí tuyên truyền vận động lôi cuốn được một
số dân chúng (cả một số đồng bào thiểu số Trung Kỳ) tổ chức thành một lực lượng
chống Pháp khá mạnh. Bọn Pháp gọi đội nghĩa quân này “giặc Thầy chùa” hoặc
“giặc Rựa”. Năm 1898, dưới bóng cờ to tướng đề 4 chữ “Minh trai chủ tễ”, Trứ
đốc suất một đạo dân binh độ khoảng trăm người Thượng du với cung tên đầy đủ. Kế
đó khoảng ba bốn trăm người Kinh cầm khí bằng rựa, mác mỗi người đều
đeo một bùa hộ mệnh (vì họ rất tin vào pháp thuật cao cường của Võ Trứ, đeo bùa
ấy thì súng bắn không lủng, dao chém không đứt, nên tinh thần rất hăng).
Quái kịch Phan Xích Long ở Nam Kỳ: Phan Phát Sanh (tên thật của Phan Xích Long)
đến Thất Sơn tìm học bùa phép, cách chế tạo bom cỡ nhỏ. Khoảng năm 1911,
Nguyễn Hữu Trí và Nguyễn Hiệp là hai thanh niên có chủ trương chống Pháp, tình cờ
quen được Phan Phát Sanh, rồi cùng mưu cuộc đánh đuổi thực dân. Để vận động
tuyên truyền cho sự nghiệp chung, Phan Phát Sanh tự xưng mình Phan Xích Long,
con vua Hàm Nghi tự phong mình Hoàng đế. Buổi đầu, Phan Phát Sanh đặt
sở đầu tiênCần Vọt (Cao Miên), nhờ tiền quyên góp, ông cho cất một ngôi chùa
đó để làm nơi tụ họp, lập hội kín, chế tạo lựu đạn, in truyền đơn đưa ra tuyên cáo
16
Phản Pháp phục Nam, kêu gọi mọi người chống Pháp… Sau này khi về nước, ông lập
căn cứ vùng núi Thất Sơn (Châu Đốc, tỉnh An Giang). Phan Xích Long Nguyễn
Hữu Trí định rằng sẽ đánh chiếm các cơ quan đầu não của Pháp tại Sài Gòn. Theo đó,
nhiều hội kín các tỉnh cũng sẽ nổi dậy giành lấy chính quyền. Chuẩn bị xong, cuối
tháng 3 năm 1913, ông cho người đặt 6 trái bom tự tạo có hẹn giờ ở một số nơi tại Sài
Gòn Chợ Lớn. Chẳng may chưa tới giờ bom nổ thì bị chính quyền phát hiện.
Không nghe tiếng bom nổ, nhiều toán quân đã kịp rút đi, nhưng cảnh sát vẫn bắt được
một số đông khi họ đang đi vào Chợ Lớn, kiểu đồng phục “quần đen, áo trắng,
khăn trắng quấn cổ” mặc tay không cầm khí; quấn một chiếc khăn vải trắng
mới quanh cổ mang trong người một cái bùa bằng lụa hoặc vải trắng, với các
chữ đỏ, theo cấp bậc. Trong mỗi tay áo khoác đã tìm thấy bùa hộ mệnh bằng giấy
màu vàng trên chữ đỏ. Kết cuộc, Nguyễn Hữu T chạy thoát, Phan Xích Long
chạy ra Phan Thiết và bị bắt ở đó, bị đem về giam ở Khám lớn Sài Gòn.
Việt Nam, Đạo giáo như một tôn giáo đã tàn lụi từ lâu. Dấu vết hoạt động cuối
cùng của sự kiện một nhóm tín đồ xuất bản vào năm 1933 Sài Gòn một bộ
sách mang tên Đạo giáo viết theo tinh thần tôn giáo gồm 3 tập. Đến nay, những hiện
tượng như đồng bóng, đội bát nhang, bùa chú… tuy vẫn lưu truyền, nhưng chúng chỉ
còn là những di sản của tín ngưỡng dân gian truyền thống mà thôi.
3. Tác động, ảnh hưởng của Đạo giáo trên phương diện văn hoá của người Việt
3.1. Hình tượng Tứ Bất Tử: Một biểu hiện của Đạo Tiên trong văn hóa Việt
“Tứ bất tử” một huyền thoại về việc nhân dân ta tôn vinh thờ phụng “bốn vị
thánh không bao giờ chết” (Tứ bất tử): Thánh Tản Viên, Thánh Gióng, Thánh Chử
Đồng Tử và Thánh mẫu Liễu Hạnh.
Đức Thánh Tản Viên, hay Sơn Tinh núi Ba Vì, vị thần được ghi chép trong “Việt
điện u linh” và “Lĩnh Nam chích quái” với yếu tố thánh hóa. Theo GS. Từ Chi, người
Mường coi núi Ba Vì là biểu tượng tâm linh quan trọng. Một câu chuyện kể rằng Tản
Viên là con trai của Bố Clượng, người nhận được "con dao ước" từ Vua Khú nhưng vì
không trả lại trước khi mất, gia đình bị trừng phạt. Người con trai chạy lên núi Ba Vì
trở thành thần núi. Một truyền thuyết khác kể về Đinh Thị Đen, người sinh ra con
trai thụ thai kỳ diệu, học phép thuật kế thừa quyền lực của Ma thị-Mẫu Thượng
Ngàn. khác biệt, cả hai truyện đều khẳng định nguồn gốc Mường của Tản
Viên. Sau này, Nho gia đã thánh hóa vị thần này, gắn với Đạo giáo và danh hiệu “Đức
Thánh”.
Thánh Gióng một vị thánh quá quen thuộc với nhân dân ta. Truyền thuyết này gắn
bó và lưu truyền với mọi thế hệ người Việt. Yếu tố Đạo giáo trong truyền thuyết được
thể hiện qua các chi tiết cụ thể. Thánh Gióng một đứa trẻ phi thường, không phải
qua cách sinh sản thông thường. Điều này phản ánh yếu tố siêu nhiên, thường thấy
17
trong tưởng Đạo giáo. Khi hoàn thành sứ mệnh đánh giặc, Gióng không chết
cưỡi ngựa sắt bay về trời, biểu tượng cho sự trường sinh bất tử, phù hợp với quan
niệm của Đạo giáo về việc trở về với thiên đạo. Ngựa sắt, áo giáp sắt roi sắt
Thánh Gióng sử dụng đều mang tính chất huyền bí, đại diện cho sức mạnh phi
thường. Những vật này được thần linh hóa không thuộc về thế giới thường nhật,
điều này phù hợp với quan niệm Đạo giáo về pháp bảo khí cụ siêu nhiên. Thánh
Gióng không chỉ một người anh hùng chống giặc còn hiện thân của sức
mạnh trời đất, được phái xuống để bảo vệ nhân gian, thể hiện tưởng Đạo giáo về
mối liên kết giữa thiên giới và con người.
Mang tính phổ biến trong Đạo giáo thần tiên Việt Nam phái nội tu. Người Việt
thờ Chử Đồng Tử (người thời vua Hùng, tương truyền đã từng lên núi tu luyện, học
Phật, được ban gậy, nón thần và sách ước, sau thành tiên bay lên Trời) làm ông tổ của
Đạo giáo Việt Nam, gọi Chử Đạo Tổ. yếu tố Phật giáo nhưng xét ra sẽ thấy
nặng yếu tố Đạo giáo hơn: Cây gậy thần thì trong Phật giáo nước ta có cây gậy Cà la
truyền cho Man nương để chống hạn; cây gậy đầu sanh đầu từ của Thái Bạch
Kim Tinh cho Nguyễn Tuấn của Đạo giáo. Gậy nón công cụ thần của
Thiết Quải dùng trong chuyện Bát tiên quá hải. Đắc đạo bay lên trời trường sinh bất
tử là mơ ước của người tu tiên.
Những học giả sùng tín đạo Mẫu, cố gắng chứng minh đạo Mẫu tín ngưỡng thuần
Việt, từ chối sự ảnh hưởng của Đạo giáo với hệ thống tín ngưỡng này. Thế nhưng,
nếu xem xét lại sự tích về Mẫu Liễu Hạnh, vị thánh mẫu quan trọng nhất, cuộc
chiến Sòng Sơn được ghi chép lại trong “Tang Thương Ngẫu Lục” giữa Liễu Hạnh và
Nội Đạo Tràng sẽ thấy rằng khó thể chối bỏ các dấu vết Đạo giáo. Sự tích về Mẫu
Liễu Hạnh cho thấy Liễu Hạnh 3 lần giáng sinh cả 3 lần này đều chịu sự điều
tiết của Ngọc Hoàng, vị thần tối cao trong quan niệm thần tiên Trung Quốc. Trong
trận chiến Sòng Sơn, phái Nội Đạo Tràng được triều đình phái tới để tiêu diệt Liễu
Hạnh. Ban đầu, cho pháp lực thua kém các cao nhân của Nội Đạo Tràng nên Liễu
Hạnh đấu phép thua phải bỏ chạy, chỉ đến khi quy y Phật giáo Liễu Hạnh mới thể
lật ngược tình. Một số thuyết cho rằng Mẫu Thượng Thiên chính là Cửu Thiên Huyền
Nữ của Đạo giáo Trung Quốc. Liễu Hạnh không đơn thuần trường hợp thánh hóa
các vị thần địa phương mà là trường hợp Đạo giáo phù thủy bị đồng cốt hóa.
3.2. Đức Thánh Trần Hưng Đạo
Việc thánh hóa các vị thần bản địa chính các yếu tố Đạo giáo được chính quyền
phong kiến sử dụng để thống nhất tín ngưỡng của các địa phương; hoặc khi các nhà
truyền đạo muốn tạo ảnh hưởng tới một địa phương nào đó. Trần Hưng Đạo một
trường hợp đặc biệt trong quá trình “bị thánh hóa”, bản thân Trần Hưng Đạo là người
am hiểu các thuật trong Đạo giáo dù cho giữ vững tư tưởng trung quân của Nho giáo.
18
Sau khi Trần Hưng Đạo qua đời, dân gian bắt đầu hình thành tín ngưỡng hầu đồng
Đức Thánh Trần. Về gốc tích ra đời của ông, dân gian truyền lại, ông chính là Thanh
tiên đồng từ trên Thiên Đình phụng lệnh Ngọc Hoàng đầu thai xuống hạ giới mang
theo phi thân kiếm, cờ ấn, tam bảo của Lão Tử, Ngũ Tài của Thái Công.
Nguyên nhân dẫn đến việc Trần Hưng Đạo được tôn thờ như một vị thánh trong tín
ngưỡng không phải xuất phát từ chiến công đánh thắng quân Mông Nguyên của ông,
từ chiến công huyền thoại chặt đầu tướng giặc Phạm Nhan. Phạm Nhan biết phép
thuật, có thể chặt đầu này mọc đầu khác, nhưng Trần Hưng Đạo lại có thể chém chết.
Truyền thống hầu đồng Đức Thánh Trần không dùng để cầu phúc như chúng ta thấy
ngày nay chủ yếu để trừ ma. Tín ngưỡng thờ cúng nhà Trần gắn liền với
những huyền tích về Đức Thánh Trần con cái, tướng lĩnh hầu cận tạo nên một hệ
thống thờ tự chặt chẽ, lề lối với đủ các cấp bậc. Tuy nhiên, Nhà Trần không thuộc Tứ
Phủ lối thờ phụng riêng phép tắc khác bên Tứ Phủ - nhưng Thần Chủ của Tứ
Phủ của bên Nhà Trần đều thuộc dòng Thiên Tiên, giáng phàm để cứu dân độ thế,
khuyến Thiện phạt Ác.
Nét đặc sắc khi hầu nhà Trần là phép lên đai thượng, xiên lình, lấy dấu mặn. Dấu mặn
lấy bằng cách thanh đồng lấy lình hoặc mảnh bát vỡ lúc thượng đồng rạch vào phần
lưỡi để lấy huyết phù lên các mảnh bùa với ý nghĩa dấu tích phép Thánh. Dân gian
tương truyền các bùa dấu mặn thường trấn yểm cho Đền to phủ lớn, trấn
những vùng long mạch lớn, nếu dùng máu Thánh để trấn thì khó phá được. Đặc
biệt, ma không dám xâm phạm nên cực kỳ thiêng liêng. Phép lên đai thượng
Thanh đồng dùng tấm vải đỏ thắt chặt vào cổ hai người đứng hai bên kéo dây thít
chặt, lúc này mắt ngầu đỏ lộn tròng, mặt hổ phù, để thị uy ra oai, tạo sự uy nghi của
diện Thánh khi làm lễ.
3.3. Các vị thần Đạo giáo được thờ ở đạo quán và chùa ở Việt Nam
Ở Việt Nam, sự giao thoa giữa Đạo giáo, Phật giáo và tín ngưỡng dân gian đã tạo nên
hệ thống thờ tự đa dạng. Các vị thần Đạo giáo thường được thờ đạo quán (đền,
miếu Đạo giáo) đôi khi tại các chùa Việt, không phải trung tâm tín ngưỡng
chính của chùa. Dưới đây là một số vị thần tiêu biểu:
Tam Thanh Giáo Chủ: gồm Nguyên Thủy Thiên Tôn - Thượng Thanh Linh
Bảo Thiên Tôn - Thái Thanh Đạo Đức Thiên Tôn, thường được thờ trong các đạo
quán.
Ngọc Hoàng Thượng Đế - Nam Tào - Bắc Đẩu: vị thần tối cao trong hệ
thống Đạo giáo, cai quản thiên giới mọi thần linh. Hai vị thần kía được thờ trong
chung với Ngọc Hoàng và có vai trò quan trọng trong việc định đoạt số phận.
19

Preview text:

ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
ĐẠO GIÁO VÀ VĂN HOÁ VIỆT NAM
HỌC PHẦN: CƠ SỞ VĂN HOÁ VIỆT NAM Trần Quốc Thịnh 2456040099 Phạm Ngọc Anh Đào 2456040018 Võ Xuân Đào 2456040019 Phạm Khánh Ly 2456040059 Vũ Lê Bảo Ngọc 2456040070 Nguyễn Như Ngọc 2456040071 Nguyễn Thị Yến Nhi 2456040079 Nguyễn Minh Phát 2456040086 Phù Ky Phương 2456040088
Thành phố Hồ Chí Minh, năm 2025
1. Sự hình thành Đạo giáo ở Trung Quốc
1.1. Đạo trong Đạo đức kinh của Lão Tử và Nam hoa kinh của Trang Tử

Lão Tử là người nước Sở (vùng Bách Việt), tên là Nhĩ, tự là Đam (nên còn gọi là Lão
Đam), sống vào khoảng thế kỉ VI-V TCN, gần như đồng thời với Khổng Tử (lớn tuổi
hơn Khổng Tử). Ông từng làm quan phụ trách thư viện nhà Chu, sau lui về ở ẩn;
không biết mất năm nào, tương truyền cưỡi con trâu xanh đi về phía Tây vào núi rồi biến mất.
Đạo là hạt nhân lí luận của Đạo giáo Trung Quốc. Tư tưởng đó được Lão Tử trình bày
trong tác phẩm mà ngày nay có 3 tên gọi khác nhau: Lão Tử, Đạo đức kinh, Lão Tử
ngũ thiên văn. Gọi Lão Tử là gọi theo tên tác giả; tác giả là Lão Đam hay Lý Nhĩ tôn
xưng nên gọi Lão Tử. Gọi Đạo đức kinh là cách chia tác phẩm thành hai phần: Đạo
kinh (37 chương) và Đức kinh (44 chương); nhưng gần đây khai quật khảo cổ học
phát hiện một văn bản mà Đức kinh lại đặt trước Đạo kinh. Gọi Lão Tử ngũ thiên văn
có nghĩa là tác phẩm có 5000 chữ của Lão Tử. Nhưng hiện nay tồn tại nhiều dị bản từ
đời Đường về sau có 5722, 5555, 5590, 5540 chữ, chứ không phải đúng 5000 chữ.
Tên sách cũng như cách chấm câu, chia chương, đặt tên chương đều là việc làm của
người đời sau, bản thân văn bản gốc không tên, không chương, không chấm câu.
Hiện nay một số nhà nghiên cứu Trung Quốc tiến hành biên soạn, hiệu chỉnh và chú
giải lại các thư tịch cổ, trong đó có Đạo đức kinh.
Dù văn bản khác nhau, chấm câu khác nhau, giải thích khác nhau nhiều hay ít thì 75
chữ “đạo” trong Đạo đức kinh (có văn bản khác thì 76 chữ) có 3 ngữ nghĩa chính:
Đạo là bản thể vũ trụ; Đạo là quy luật vận động của vũ trụ; Đạo chỉ thiên đạo, tức
đường lối trị quốc trị thân.
Nghĩa thứ nhất: Đạo là bản thể vũ trụ. Nghĩa này nổi bật và thường được trích dẫn
trong Chương 25 (các chữ 22-25). Cách lý giải tương đối thống nhất: Đạo là cái có
trước trời đất, sinh ra vạn vật. Lão Tử không biết gọi là gì bèn gọi là “Đạo”, cũng có
thể miễn cưỡng gọi là Đại. Như vậy, thuật ngữ Đạo của Lão Tử tựa hồ không liên
quan gì với ngữ nghĩa nguyên thuỷ của từ “đạo” là “con đường đi”. Tuỳ từng nhà
nghiên cứu muốn giải thích như thế nào, nhưng Lão Tử đã phân bua rõ đó chỉ là một
danh từ mà ông đưa ra, không những gọi là Đạo mà gọi là Đại cũng được.
Lão Tử viết: “Nhân pháp địa, địa pháp thiên, thiên pháp đạo, đạo pháp tự nhiên”.
(Người noi theo đất, đất noi theo trời, trời noi theo đạo, đạo noi theo tự nhiên). Theo
Cơ sở Văn hoá Việt Nam (Trần Ngọc Thêm) lý giải, đạo mà Lão Tử viết là khái niệm
trừu tượng chỉ cái tự nhiên, cái có sẵn một cách tự nhiên. Theo đó, đạo là nguồn gốc
của vạn vật. Nhưng theo Nguyễn Duy Hinh: “Không thể giải thích “đạo pháp tự
nhiên” là Đạo noi theo Tự nhiên được tuy rằng theo ngữ pháp của câu thì nên giải
thích như thế”. Vì Hà Thượng Công đã chú giải như sau: Đạo tính tự nhiên, vô sở 1
pháp dã (Tính của Đạo là tự nhiên, không noi theo cái gì cả). Như vậy, tuỳ theo cách
lý giải của các nhà nghiên cứu, chữ “Đạo” trong Đạo đức kinh có khi chỉ Đạo-bản
thể, có khi chỉ qui luật vận động của Đạo-bản thể. Chữ “Đạo” chỉ bản thể của Lão Tử
nêu ra không phải là một từ do ông sáng tạo ra mà phát triển nội dung chữ “đạo” vốn
có lên thành phạm trù triết học chỉ bản thể vũ trụ.
Nghĩa thứ hai: Đạo là qui luật vận động của vũ trụ. Qui luật của Đạo-bản thể biểu
hiện trong câu “Đạo sinh nhất, nhất sinh nhị, nhị sinh tam, tam sinh vật”,… và biểu
hiện trong xã hội bằng đường lối trị quốc, tu thân theo nguyên tắc vô vi.
Nghĩa thứ ba: Đạo chỉ thiên đạo, tức đường lối trị quốc trị thân. Trong Đạo đức kinh,
thiên đạo là qui luật tự nhiên chứ không phải “ý trời” hay “mệnh trời”, thiên đạo
không thân với người này sơ với người khác. Làm vua không được gây chiến, không
tham lam hưởng lạc, không dùng bạo lực cưỡng chế người khác… như thế mới hợp
thiên đạo, mới trường cửu, trái thiên đạo thì diệt vong.
Như vậy, thiên đạo của Lão Tử không chỉ ý Trời, mệnh Trời mà chỉ qui luật vận động
khách quan của vạn vật do Đạo-bản thể qui định; từ “thiên” trong thiên đạo ở đây
tương ứng với Tự nhiên. Vận dụng vào trị quốc trị thân là “vô vi vô bất vi” để cho sự
vật phát triển đúng theo qui luật khách quan của nó, không cưỡng bức, không đi
ngược lại qui luật khách quan. Thiên đạo có trước phạm trù Đạo của Lão Tử, nhưng
Lão Tử đã gắn nó với Đạo-bản thể hay nói cho đúng hơn Lão Tử đã phát triển thiên
đạo từ đường lối trị quốc trị thân thuận theo Tự nhiên thành một phần của Đạo-bản thể.
Nói đến Đạo-bản thể đồng thời hàm ý thiên đạo thì điều này sẽ thấy rõ hơn trong
Nam hoa kinh của Trang Tử.
Trang Tử (khoảng 369-286 TCN) sinh sống sau Lão Tử, Khổng Tử khoảng hơn 200
năm. Sách của ông vốn mang tên Trang Tử nhưng đến năm 722 CN vua Đường tôn
ông làm Nam Hoa chân nhân thì sách của ông mang tên Nam Hoa chân kinh. Sách đã
được biên soạn thêm bớt nên nhiều dị bản.
Theo sách “Lão Tử Trang Tử trực giải” của Trần Khánh Huệ biên soạn xuất bản năm
1998 thì trong Trang Tử có 352 chữ “Đạo”. Khái quát thành 6 nhóm sau: Đạo chỉ bản
thể vũ trụ; Đạo là qui luật vận động khách quan của vũ trụ và xã hội; Đạo chỉ những
quan hệ cá nhân trong xã hội; Đạo chỉ phương pháp tu dưỡng cá nhân; Đạo chỉ đường
đi, đường đời; Đạo là nói.
Như vậy, trong Trang Tử, chữ Đạo chủ yếu dùng để chỉ bản thể như Lão Tử đã đề
xướng, có đôi khi dùng với nghĩa “con đường đi” hay “nói”, nhưng tương đối hiếm
hoi. Trang Tử không có chữ Đạo nào chỉ tôn giáo, chỉ Đạo giáo, mặc dù Trang Tử có 2
khái niệm “thần nhân”, “thánh nhân”, “chí nhân”, “chân nhân”… nhưng ngay khái
niệm “tiên” thì không có; tuy rằng có hai chữ “tiên tiên” trong câu “tiên tiên hồ qui
hì” nhưng có nghĩa là: “về mau đi thôi” chứ không phải là “tiên” của tiên học.
Tóm lại, qua hai đạo thư của Lão Tử và Trang Tử có thể thấy chữ Đạo có các ngữ nghĩa sau đây:
(1) Đạo có nghĩa là “con đường đi” theo đúng như tự dạng của nó. Sau đó, không xác
định chắc chắn thời điểm cụ thể nhưng có thể là vào thời Xuân Thu - Chiến Quốc khi
bắt đầu diễn ra cục diện “bách gia chư tử” thì “Đạo” chỉ con đường mà Tam Hoàng
Ngũ Đế đã đi, tức chỉ đường lối chính trị mà Trang Tử gọi là “tiên vương chỉ đạo”.
Thời điểm này bách gia tranh luận về đường lối chính trị, mượn việc ca tụng Tam
Hoàng Ngũ Đế để phê phán đường lối chính trị thời loạn này. Đồng thời mỗi nhà đưa
ra một đường lối chính trị trị quốc tu thân, từ “Đạo” dùng để chỉ đường lối trị quốc tu
thân đó nên Trang Tử đã đề cập đến “Phu Tử chi đạo”,… Như vậy, chữ “Đạo” đã
diễn biến từ nghĩa đen sang nghĩa bóng, từ cụ thể sang trừu tượng, từ sự vật sang khái niệm.
(2) Đạo chỉ quan hệ xã hội và quan hệ cá nhân. Một khi Đạo đã chỉ đường lối trị quốc
trị thân thì cũng đồng thời chỉ ra các quan hệ xã hội và quan hệ cá nhân của đường lối
đó. Quan hệ xã hội trước tiên chỉ quan hệ vua-quan-dân như Trang Tử đã đưa ra
“nhân quần chi đạo”, “thần chi đạo”, “nhân đạo”,…; thứ chỉ đến quan hệ cá nhân
trong xã hội như “nhân nghĩa chi đạo”, “tồn thân chi đạo”,… Trị quốc thì phải giải
quyết quan hệ vua – tôi, trị thân thì giải quyết quan hệ cá nhân với cá nhân đều có phương pháp thích hợp.
(3) Đạo chỉ qui luận vận động khách quan của sự vật. Tự nhiên vận hành có trật tự
khách quan: Trời trên đất dưới nên vua quan trên dưới có tôn ti; bốn mùa nối tiếp
nhau, sinh ra rồi già đi, cường tráng rồi suy yếu không thể nào cưỡng lại được. Tư
tưởng thiên đạo như thế lấy thiên, tức tự nhiên làm cơ sở. Khi xuất hiện phạm trù
Đạo-bản thể của Lão Tử thì thiên đạo là qui luật vận hành của Đạo-bản thể, và lấy vô
vi vô bất vi làm đường lối thực hiện qui luật đó. Trong Trang Tử, khái niệm “thiên
đạo” mang cả hai nội dung cụ thể đó, cho nên không hoàn toàn giống với Lão Tử.
Trong Lão Tử, thiên đạo, nhân đạo đều là qui luật vận động của Đạo-bản thể; còn
trong Trang Tử, có khi thiên đạo lại khác nhân đạo. Nhưng dù sao “thiên đạo” cũng
chỉ qui luật vận động khách quan của thể giới, không phụ thuộc vào ý chí con người hay thần linh nào cả.
(4) Đạo chỉ bản thể vũ trụ. Đạo của Lão Tử là cái có trước trời đất mà sinh ra trời đất
vạn vật, là một phạm trù triết học, vận dụng vào xã hội thành đường lối vô vi vô bất
vi, tức để cho mọi sự vật phát triển theo qui luật khách quan của nó, không can thiệp
vào sự vận động của nó thì tuy vô vi mà vô bất vi. Thiên đạo trong Lão Tử không còn 3
chỉ qui luật của “Thiên” mà chỉ qui luật của Đạo-bản thể cho nên thuật ngữ Đạo vừa
mang nội dung bản thể vừa mang nội dung qui luật khách quan.
Ngoài 4 nghĩa chính trên đây, trong Lão Tử cũng như Trang Tử đôi khi cũng dùng
chữ “đạo” với nghĩa “nói” nhưng không nhiều lắm, và đó không nghĩa là nghĩa đen của chữ này.
Tóm lại, thuật ngữ “đạo” trong hai đạo thư nói trên không có nghĩa tôn giáo hay tín
ngưỡng, chỉ có nghĩa triết học, chính trị học, xã hội học. Cho nên không phải tất cả
các chữ “đạo” trong hai đạo thư này đều chỉ Đạo-bản thể do Lão Tử đề xuất, cũng
như không phải đều là Thiên đạo. Thuật ngữ “đạo” đã thoát khỏi ngữ nghĩa ban đầu,
thăng hoa thành phạm trù chính trị học, xã hội học, triết học. Nhưng đến thời điểm
Lão Trang thì chưa thành phạm trù tôn giáo.
Theo Nguyễn Duy Hinh, trong ngôn ngữ Việt Nam hiện nay nội hàm thuật ngữ “đạo”
không thể liên quan với chữ “đạo” của văn học Trung Quốc cổ đại.
Theo Cơ sở văn hoá Việt Nam (Trần Ngọc Thêm), Đạo của Lão Tử là nguồn gốc của
vạn vật; Đức là biểu hiện cụ thể của đạo trong từng sự vật. Đạo sinh ra vạn vật,
nhưng làm cho vật nào thành ra vật ấy và tồn tại được trong vũ trụ là do Đức. Nếu
Đạo là cái tĩnh vô hình thì Đức là cái động hữu hình của Đạo. Nếu Đạo là bản chất
của vũ trụ thì Đức là sự cấu tạo và tồn tại của vũ trụ.
Sự sinh hoá từ Đạo ra Đức, từ Đức trở về Đạo ở Lão Tử thấm nhuần sâu sắc tinh thần
biện chứng âm dương của triết lí nông nghiệp. Được chi phối bởi luật quân bình âm
dương, vạn vật tồn tại theo lẽ tự nhiên một cách rất hợp lí, công bằng, chu đáo và do
vậy mà mầu nhiệm. Hợp lí, vì, theo Lão Tử, lẽ tự nhiên giống như việc giương cung,
cao thì ghìm xuống, thấp thì nâng lên. Công bằng, vì nó luôn bớt chỗ thừa mà bù vào
chỗ thiếu. Chu đáo, vì nó như cái lưới trời lồng lộng, tuy thưa mà khó lọt. Bởi vậy mà
nó mầu nhiệm tới mức không cần tranh chiến thắng, không cần nói mà ứng nghiệm.
Mọi sự bất cập hay thái quá (mất quân bình) đều trái với lẽ tự nhiên và, do vậy, sẽ tự
điều chỉnh theo luật âm dương chuyển hoá: “Vật hễ bớt thì nó thêm, thêm thì nó bớt”.
Từ đây, Lão Tử suy ra triết lí sống tối ưu là muốn làm việc gì, phải đi từ điểm đối lập,
phải vô vi (không làm). Vô vi không có nghĩa là hoàn toàn không làm gì mà là hoà
nhập với tự nhiên, đừng làm gì thái quá. Vì làm thái quá thì theo luật âm dương “vật
cực tắc phản”, kết quả thu được còn tệ hại hơn là hoàn toàn không làm gì. Triết lí vô
vi áp dụng vào đời sống cá nhân là “chỉ vì không tranh nên thiên hạ không ai tranh
nổi với mình”. Áp dụng vào đời sống xã hội, Lão Tử không tán thành lối cai trị cưỡng
chế, áp đặt đương thời, ông nói muốn dân yên ổn thì cai trị một nước phải “giống như
kho một nồi cá nhỏ”: cá nhỏ nên để yên, không cạo vẩy không cắt bỏ ruột, khi kho
không khuấy đảo - cạo, cắt, khuấy đảo chỉ tổ làm cho cá nát. 4
Trong lĩnh vực nhận thức, phát triển tư tưởng biện chứng của Lão Tử, Trang Tử đã
tuyệt đối hoá sự vận động, xoá nhoà mọi ranh giới giữa con người với thiên nhiên,
giữa phải và trái, giữa tồn tại và hư vô, đẩy phép biện chứnh tới mức cực đoan thành
một thứ tương đối luận.
Trong lĩnh vực xã hội, nếu như Lão Tử chỉ dừng ở mức không tán thành cách cai trị
hữu vi thì Trang Tử căm ghét kẻ thống trị đến cực độ; ông không chỉ bất hợp tác với
họ mà còn quyền rủa, châm biếm họ. Trang Tử đã đẩy phép vô vi với chủ trương
sống hoà mình với tự nhiên của Lão Tử tới mức cực đoan thành chủ nghĩa yếm thế
thoát tục, trở về xã hội nguyên thuỷ: “Núi không đường đi, đầm không cầu thuyền,
muôn vật chung sống, làng xóm liên tiếp cùng ở với cầm thú”.
1.2. Đạo giáo ra đời, những tiền đề của nó
Lịch sử ra đời Đạo giáo được ghi lại trong sử sách cổ Trung Quốc khá phức tạp và
nhiều khi mâu thuẫn nhau về nhân vật, quan hệ truyền thừa và thời điểm.
Nói chung vào khoảng cuối thời Đông Hán (cuối thế kỉ II CN) có nhiều cuộc khởi
nghĩa nông dân thường được phát động dưới ngọn cờ tôn giáo. Tư tưởng của Lão Tử
cộng với chất duy tâm mà Trang Tử đã đưa vào đã trở thành cơ sở cho việc thần bí
hoá đạo gia thành Đạo giáo. Chủ trương vô vi cùng thái độ phản ứng của Lão-Trang
đối với chính sách áp bức bóc lột của tầng lớp thống trị khiến cho Đạo giáo rất thích
hợp để dùng làm vũ khí tinh thần tập hợp nông dân khởi nghĩa. Năm 141 xuất hiện
Ngũ Đấu Mễ đạo của Trương Lăng và năm 184 xuất hiện Thái Bình đạo của Trương
Giác. Hai tổ chức này được xem là hình thức đầu tiên của Đạo giáo, thường được
mệnh danh là Đạo giáo sơ kỳ, Đạo giáo tảo kỳ, tức Đạo giáo thời kỳ đầu.
Ngũ Đấu Mễ đạo (vì tín đồ gia nhập đạo phải nộp 5 đấu gạo) do Trương Lăng
(Trương Đạo Lăng) lập năm 141 ở Tứ Xuyên ngày nay. Trương Lăng từng làm Thái
học sinh rồi làm huyện lệnh ở Tứ Xuyên. Sau đó, bỏ quan đi luyện Cửu thiên thần
đan ở núi Cẩm Vân tỉnh Giang Tây. Sau 3 năm thì luyện thành đan nên đổi tên núi
này thành núi Long Hổ sơn. Long Hổ sơn sau này thành một phái chính trong lịch sử
Đạo giáo. Nhưng sau đó, Trương Lăng trở vào Tứ Xuyên đến Hạo Minh Sơn học đạo,
năm 141 tuyên bố đạo kinh mới bắt đầu truyền giáo, lập Ngũ Đấu Mễ đạo, tự xưng
Thái Thanh Huyền Nguyên. Đạo giáo ra đời. Trương Lăng chết, con là Trương Hành
nối nghiệp; Trương Hành chết, con là Trương Lỗ nối nghiệp. Sử gọi ba ông là Tam
Trương và gọi Ngũ Đấu Mễ đạo là Tam Trương Đạo giáo. Ngũ Đấu Mễ đạo chữa
bệnh bằng bùa chú thu mỗi người 5 đấu gạo và tổ chức tín đồ thành 24 trị (đơn vị
hành chính – tôn giáo như giáo khu) có chức sắc (tế tửu) cai quản làm cơ sở cho cuộc nổi dậy năm 191. 5
Tư tưởng Lão Trang được các vua Văn Đế và Cảnh Đế (171-141 TCN) đưa vào
đường lối chính trị, gọi là Hoàng Lão học. Có tư liệu ghi chép, Sở vương Anh đã thờ
Hoàng Lão đạo từ thời Minh Đế (58-75TCN). Đó là tư liệu sớm nhất về thờ Lão Tử
với danh nghĩa thần linh của Hoàng Lão đạo. Hoàng Lão học lấy tư tưởng trị nước
của Hoàng Đế và tư tưởng vô vi của Lão Tử làm cơ sở lý luận trị quốc, còn Hoàng
Lão đạo thì đã thần hoá Lão Tử. Như vậy, việc Trương Lăng thần hoá Lão Tử cũng là
một trong nhiều trường hợp ở thời kì này. Xét về nội dung thì Ngũ Đấu Mễ đạo muộn
hơn Hoàng Lão đạo vì hoàn chỉnh hơn, có cả kinh lẫn nghi thức, có hệ thống tổ chức
tôn giáo tuy không phổ biến trong cả nước mà chủ yếu trong vùng Ba Thục, nhưng
vẫn phổ biến trong nhân dân. Hoàng Lão đạo chỉ phổ biến trong quí tộc cung đình
gồm cả Hoàng đế lẫn vương hầu, vẫn dùng những kinh điển Hoàng Lão đạo. Như
vậy, thực tế đã hình thành Đạo giáo cung đình và Đạo giáo dân gian đối lập nhau.
Có thể khái quát như sau: Đạo giáo Trung Quốc khái quát ra đời trên cơ sở Hoàng
Lão học tức học thuyết về đường lối trị quốc của Hoàng đế và triết học Lão Tử về
Đạo-bản thể. Sở dĩ chuyển sang Đạo (tôn giáo) là vì kế thừa tín ngưỡng nguyên thuỷ
như thần đạo, vu thuật (bùa chú). Thành tố thứ ba cực kì quan trọng là Phương Tiên
đạo (dưỡng sinh). Đạo giáo ngay từ Hoàng Lão đạo đã chia thành Đạo giáo sĩ tộc
(Đạo giáo cung quán sau này) và Đạo giáo dân gian. Hai con đường cơ bản là phù
chú và luyện đan chi phối sự phát triển của Đạo giáo. Đạo giáo dân gian chủ yếu đối
lập chính quyền phong kiến. Đạo giáo sĩ tộc chủ yếu ủng hộ chính quyền phong kiến.
Còn Tiên đạo chủ yếu thoát tục tiêu diêu.
Theo Cơ sở văn hoá Việt Nam (Trần Ngọc Thêm), Đạo giáo thờ “Đạo” và tôn Lão Tử
làm giáo chủ, gọi là “Thái Thượng Lão Quân”, coi ông là hoá thân của “Đạo” giáng
sinh xuống cõi trần. Mục đích tu của Đạo giáo là sống lâu. Đạo giáo chia thành hai
phái: Đạo giáo phù thuỷ - dùng các pháp thuật trừ tà trị bệnh chủ yếu giúp cho dân
thường khoẻ mạnh; Đạo giáo thần tiên - dạy tu luyện, luyện đan, dành cho quý tộc
cầu trường sinh bất tử.
1.3. Đạo tạng, đạo pháp, đạo quán 1.3.1. Đạo tạng
Kinh điển của Đạo giáo gọi là Đạo tạng. Đạo kinh hay Đạo tạng có ba đặc điểm lớn sau đây:
Một, nội dung không thống nhất vì theo từng phái từng gia mà khác nhau. Cho nên
các khái niệm, phạm trù không mang nội hàm thống nhất, nhiều khi mâu thuẫn. Đó là
do trình độ văn hoá các đạo sĩ không cao. Đặc điểm đó xuất phát từ bản thân Đạo
giáo không phải là một tôn giáo thống nhất do một giáo chủ đề xướng, tuy rằng người
ta vẫn cho rằng Trương Đạo Lăng là người sáng lập ra Đạo giáo. Nhưng trước
Trương Đạo Lăng đã có Mao Doanh (sinh năm 145 TCN) tu ở Câu Khúc Sơn, sau đó 6
hình thành Mao Sơn phái và vì vậy núi này đổi tên thành núi Mao Sơn. Trương Đạo
Lăng (34-156) ra đời sau Mao Doanh khoảng 100 năm. Đạo giáo trước tiên là của
dân gian, đạo sĩ dân gian sáng tác đạo kinh.
Hai, nội dung hỗn tạp. Đạo giáo là một tôn giáo đa tố tập hợp mà không tổng hợp,
cho nên giống với một đống kim loại hơn là một hợp kim. Nhưng tư tưởng Nho giáo,
Phật giáo được thu nhập vào Đạo kinh cũng không đồng nhất.
Ba, tính dân gian áp đảo cho nên tính niên đại chính xác không chắc chắn vì văn bản
một khi soạn thảo ra thì truyền trong dân gian sao chép tăng bổ không rõ nguồn gốc.
Điển hình là Thái bình kinh có quá nhiều tác giả, hoặc Vu Cát hoặc Trương Đạo Lăng
hoặc Trương Giác,… Theo truyền thống Đạo giáo thì Đạo kinh đều là thiên thư do thần tiên ban cấp.
Đó là một số vấn đề khiến cho nghiên cứu Đạo giáo một cách thực sự khoa học
không thể đạt được trong những nội dung cụ thể. Tuy nhiên không vì vậy mà Đạo
tạng không có giá trị khoa học. Trong Đạo tạng tích luỹ nhiều tri thức y học, thiên
văn, địa lý, văn học,… của nhiều thời đại. 1.3.2. Đạo pháp
Đạo pháp chỉ tất cả các pháp thuật của Đạo giáo, thường khái quát thành 3 lĩnh vực:
Một, các phương thuật luyện dưỡng để đạt đến trường sinh bất tử, thành tiên. Chủ
yếu gồm khí công đạo dẫn, nội ngoại đan thuật, phòng trung thuật…
Hai, các phương thuật trừ tà, phù chú chữa bệnh…
Ba, các phương thuật chiêm nghiệm dự trắc như tướng địa, tướng trạch, tinh mệnh, lục nhâm, độn giáp,...
Nói chung rất phong phú đa dạng, tập trung thành luyện khí, luyện đan và phù chú.
Trên đây đã kết hợp trình bày một số đạo pháp, dưới đây chỉ trình bày một số đạo
pháp chủ yếu để hiểu Đạo giáo: Luyện khí, Tịch cốc, Phòng trung và Thủ quyết.
(1) Luyện khí là những phương pháp hô hấp không phải chỉ đơn thuần là thở hít
không khí trong lành mà còn luyện dưỡng Khí trong con người. Cần phân biệt ngoại
tức pháp và nội tức pháp.
(2) Tịch cốc là không ăn ngũ cốc vì đã phát hiện ăn ngũ cốc dẫn đến một số bệnh, chứ
không phải là không ăn thứ gì cả. Đáng tiếc người ta xưa và nay đa phần đều hiểu
một cách đơn giản tịch cốc là nhịn ăn hoàn toàn rồi từ đó mà phê phán tịch cốc. 7
Chung quy, tịch cốc xuất phát từ nhận thức ăn ngũ cốc làm hại cơ thể, khiến cho cơ
thể ô uế, nặng nề, kích động lòng dục gây ra bệnh tật và nhận thức các loại thực phẩm
khác dùng kết hợp với luyện khí thì thân thể con người thanh khiết, nhẹ nhàng, có thể
bay lên trời thành tiên được. Nhận thức được tính ưu việt của thức ăn thực vật là một
thành tựu y dược mà khoa học dưỡng sinh hiện đại cũng áp dụng. Nhưng bất tử thì
chỉ là ảo tưởng xuất phát từ tư tưởng trọng Sinh, đặc điểm Đạo giáo. Điều đó khiến
cho Đạo giáo là tôn giáo duy nhất chủ trương dưỡng sinh chứ không luận bàn về tử
và cuộc sống sau khi chết như nhiều tôn giáo khác. Nhưng rồi dần dần với ảnh hưởng
Phật giáo đã khiến cho đặc điểm này của Đạo giáo lu mờ. Chính vì vậy, Trần Anh
Ninh chủ trương Tiên học, khôi phục lại hạt nhân dưỡng sinh trong Đạo giáo. Còn
những đạo sĩ tịch cốc thì cuối cùng đều chết, chỉ để lại huyền thoại về mọc cánh bay
lên trời hay thi giải. Vì vậy mà tịch cốc bị phê phán, bác bỏ.
(3) Phòng trung thuật xuất hiện trên cơ sở tín ngưỡng phồn thực nguyên thuỷ về sau
kết hợp với lý luận âm dương và khi Đạo giáo hấp thu thì dần dần phát triển thành
nam nữ song tu trong Nội đan phái. Về phương diện thực hiện thiên chức nối dõi tông
đường thì phòng trung thuật đề cập dến tướng, bệnh, thời, kỵ, tuổi, tổn, ích, thuật. Về
phương diện Tiên đạo, thì theo lý thuyết âm dương, nam giới hấp thu âm dương khí
của nữ giới để hợp với tinh khí của nam giới bổ sung nguyên khí nam giới đưa lên
não và vào đan điền, nhờ đó đạt đến trường sinh bất tử. Trong Nội đan phái có chi
phái chuyên nam nữ song tu là phát triển thuật này của phòng trung thuật. Bóc đi lớp
vỏ tôn giáo thì phòng trung thuật là khoa học về giới tính.
(4) Phù lục và thủ quyết.
Phù lục bao gồm Phù và Lục. Phù có một quá trình phát triển lâu đời, trước khi có
đạo phù đã có vu phù. Vu phù là phù trấn giữ cửa mộ, dùng để giải mọi tội lỗi của
người chết và cấm không cho quỉ xâm nhập mộ. Đạo phù mô phỏng “phù huyền”
(phù để truyền đạt mệnh lệnh) như binh phù thời Tần-Hán dùng để truyền lệnh của
vua nhân gian. Đạo giáo biến nó thành thiên phù, thần phù mang ý nghĩa truyền lệnh
của thần linh. Lục là văn bản chứng nhận người đắc đạo cấp nào đó và là mệnh lệnh
sai khiến quỉ thần, vốn là một sớ, còn gọi là pháp lục. Pháp lục mỗi phái mỗi khác,
qui định đẳng cấp của đạo sĩ. Số phù lục nhiều vô số, tuy có môn phái rõ rệt nhưng
các đạo sĩ đều tuỳ ý thêm bớt. Phù lục dùng để triệu thần trục quỉ chữa bệnh, trấn
trạch, trấn mộ,… Phù lục đã trở thành thủ đoạn lừa bịp. Nó vốn không liên quan gì
đến trường sinh bất tử thành viên tuy rằng có những phù dùng vào việc nhập sơn tu
luyện để tránh bị yêu quỉ trong núi quấy rối.
Phù lục đi kèm thần chú và thủ quyết (ấn quyết). Thần chú là những lời cầu thần trừ
tà. Nhiều câu rất dài, nhiều câu rất ngắn, thường kết thúc bằng “như luật lệnh”, “cấp
cấp như luật lệnh”. Những câu đó có nguồn gốc từ chiếu thư của triều đình truyền cho
cấp dưới lập tức thi hành mệnh lệnh của vua. Sau, Đạo giáo mượn thể lệ đó nhân dân
các vị thần, thường là Thái Thượng Lão Quân để ra lệnh cho quỉ thần nào đó. Khi đọc 8
thần chú, vẽ bùa đạo sĩ còn kết hợp với các cách đi gọi là Vũ bộ pháp (có nhiều bộ
pháp khác nhau). Thủ quyết là những tư thế bàn tay kết hợp lại mang ý nghĩa tượng
trưng cho thần linh hay sức mạnh thần linh. Nguyên tắc cơ bản là hoạch định một tiểu
vũ trụ trên bàn tay đạo sĩ. Tất cả tiểu vũ trụ được phân bố trên lòng bàn tay và ngón
tay thành những bộ vị khác nhau. Khi dùng ngón tay cái bấm vào bộ vị nào phối hợp
cùng tư thế các ngón tay khác thì thành quyết văn, tức nội dung của quyết. Mỗi quyết
có tên gọi khác nhau gọi là quyết mục. Mỗi đạo phái có hệ thống quyết riêng tuy
cũng có những điểm tương đồng, nhưng đó là bí truyền từng “gia” chỉ truyền cho
truyền nhân mà thôi. Chủ yếu các quyết đều phục vụ trừ tà chữa bệnh, nói chung có
mục đích y học dù là không khoa học. Sở dĩ có một số trường hợp thành công chủ
yếu là vì người bệnh tin tưởng (tức yếu tố tâm lý trong y học), nhất là trường hợp các loại bệnh tâm thần.
Nhìn chung, đạo pháp của Đạo giáo phong phú hơn Phật giáo, Thiên Chúa giáo…
bao quát toàn bộ cuộc sống tinh thần và vật chất con người. Chính vì vậy tính chất
dân gian là tính trội, tính gốc của Đạo giáo. Đạo pháp dùng để chữa bệnh cứu người
khiến cho con người có thể trường sinh bất tử, nhưng đó không phải mục đích dân
gian mà là mục đích của giới trí thức cổ đại. Nhưng trường sinh bất tử của các vị tu
tiên khác với trường sinh bất tử của vua chúa. Vua chúa cầu trường sinh bất tử là để
hưởng lạc lâu dài. Còn các vị tu tiên trường sinh bất tử để “tiêu dao phương ngoại hà
hữu hương”. Còn bình dân cầu khỏi bệnh tật, ốm đau, giải quyết một trong những nỗi
khổ đời thường. Trừ các đạo sĩ trục lợi lừa bịp mà thời nào cũng có, thì các đạo sĩ đều
được xem là lương y. Đó là mặt tích cực của đạo pháp nhưng nay đã lạc hậu và trở
thành tiêu cực tổn hại sinh mệnh con người. 1.3.3. Đạo quán
Đạo quán là cơ sở tu hành, cơ sở thờ tự của Đạo giáo. Khi Đạo giáo mới ra đời thì
đạo sĩ ở núi, bởi vì núi là nơi thanh tĩnh, không khí trong lành thích hợp cho việc
luyện khí. Đương thời cơ sở Đạo giáo là am cỏ và chủ yếu là hang động sau này có
các đạo quán do triều đình xây dựng nên mang đậm kiến trúc cung đình. Hiện nay
chính phủ Trung Quốc đã xếp hạng bảo vệ 21 đạo quán theo quyết định năm 1983
trong số hơn 600 đạo quán trong cả nước.
Hiện nay, hai dòng Đạo giáo dân gian và Đạo giáo cung đình đã cô đọng lại thành
Chính Nhất đạo và Toàn Chân đạo. Toàn Chân đạo được coi như là đại biểu của Đạo giáo Trung Quốc.
2. Sự du nhập Đạo giáo vào Việt Nam
2.1. Thời kì Bắc thuộc
9
Theo dòng lịch sử, hiện nay tuy chưa phát hiện những bằng chứng vật chất chứng tỏ
sự có mặt của Đạo giáo ở Việt Nam hồi đầu Công nguyên nhưng căn cứ vào ghi chép
của Đại Việt Sử ký toàn thư chúng ta có thể nhận thấy Đạo giáo được du nhập vào
Việt Nam từ rất sớm. Toàn thư chép: "Sau vua Hán sai Trương Tân làm Thứ sử. (Tân
nhận chức năm Kiến An thứ 6 [211] thời Hán). Tân thích việc quỷ thần, thường đội
khăn đỏ, gảy đàn, đốt hương, đọc sách Đạo giáo, nói rằng có thể giúp việc giáo hoá”.
Khi Sĩ Nhiếp cai trị ở Giao Châu vào thế kỷ II sau Công nguyên, thì đã có nhiều Đạo
sĩ đến đây tu luyện, truyền đạo và bản thân ông cũng là một đạo tiên. Trong Thần tiên
truyện của Cát Hồng nói tới chuyện Sĩ Nhiếp lâm bệnh chết đã ba ngày thì được vị
tiên nhân Đổng Phụng cho một viên thuốc, Sĩ Nhiếp được cho uống xong, tỉnh dậy
hồi phục trở lại bình thường. Sách Đạo Tạng kinh ghi: “Sau khi vua Hán Linh đế
băng hà, xã hội (Trung Hoa) rối loạn, chỉ có đất Giao Châu là yên ổn. Người phương
Bắc chạy sang lánh nạn rất đông, phần nhiều là các đạo sĩ luyện phép trường sinh
theo cách nhịn ăn”. Cát Hồng xin phép Tấn Thành Đế (năm 333) đến làm huyện lệnh
huyện Câu Lậu (Hải Dương) ở Giao Chỉ vì được biết nơi đây có nhiều đan sa, luyện
thuốc tiên nay vẫn còn thấy “Thuốc đan sa thừa để lại thành một đống đất đỏ" và
được Tấn Thành Đế cho phép (nhưng sau không tới Câu Lậu mà ở lại núi La Phù tỉnh
Quảng Đông luyện đan và trở thành Cát tiên ông).
Nhưng nếu xét trên một bình diện khác có thể nói rằng, các tiền đề để Đạo giáo du
nhập vào Việt Nam đã có từ sớm hơn. Việc hình thành và đặc điểm của Đạo giáo ở
Việt Nam chịu ảnh hưởng khá lớn từ Thiên Sư đạo của Trương Đạo Lăng do đạo này
thống soái khu vực Tây Nam Trung Quốc, rất gần với Việt Nam. Vì Thiên Sư đạo là
Đạo phái phù lục, thiên về sử dụng pháp thuật, bùa chú, cầu đảo, nên rất phù hợp với
tín ngưỡng dân gian của đại bộ phận quần chúng bình dân người Việt suốt từ cổ đại,
vốn sùng bái quỷ thần. Căn cứ theo ghi chép trong quyển 2 sách “An Nam chí
nguyên”: “Tục cũ Giao Chỉ, tôn thờ quỷ thần, rất nhiều dâm từ. Người gặp tai họa,
hầu đồng dựa bóng, có ở khắp nơi. Tin vào điều đó, răm rắp làm theo”. Từ xa xưa
người Việt Nam từ miền núi đến miền xuôi đã rất sùng bái ma thuật, phù phép; họ tin
rằng các lá bùa, những câu thần chú… có thể chữa bệnh, trị tà ma, có thể làm tăng
sức mạnh, gươm chém không đứt… Tương truyền Hùng Vương là người giỏi pháp
thuật nên có uy tín thu phục 15 bộ lập nên nước Văn Lang. Ngay các nhà sư cũng
phải học các phép trị bệnh, trừ tà thì mới đưa Phật giáo thâm nhập sâu vào dân chúng
vốn có tín ngưỡng ma thuật được. Điều đó đã chứng tỏ tín ngưỡng bản địa với việc
tôn sùng các năng lực siêu nhiên là mảnh đất màu mỡ để Đạo giáo xâm nhập”.
Sự kết hợp giữa Đạo giáo và tín ngưỡng bản địa là một đặc điểm lớn trong quá trình
phát triển Đạo giáo ở Việt Nam, trước hết là Đạo giáo phù thủy, đã thâm nhập nhanh
chóng và hòa quyện dễ dàng với tín ngưỡng ma thuật cổ truyền tới mức không còn
ranh giới. Nhưng cũng chỉ làm thay đổi hình thức của các tín ngưỡng bản địa này, còn
nội dung của tín ngưỡng bản địa thì không thay đổi đáng kể, một số tín ngưỡng của ta
hiện nay nếu nhìn bề ngoài thì có vẻ là sản phẩm của Đạo giáo nhưng kỳ thực đó là 10
tín ngưỡng dân gian của Việt Nam, với một vài ảnh hưởng của Đạo giáo. Đạo giáo ở
Việt Nam không đặt nặng các kinh sách mang tính triết học như Trung Quốc, chủ yếu
là dạy cách lên đồng, phù thủy, bùa chú, gọi hồn, trừ tà, các thuật bói toán,…
Ngoài Đạo giáo phù thủy thì Đạo giáo thần tiên cũng du nhập và phái luyện thuốc
trường sinh (ngoại dưỡng) là chủ yếu, phổ biến ở Nam Trung Hoa. Phần lớn thần sa
mà các đạo sĩ Trung Hoa sử dụng để luyện đan đều được các lái buôn mua từ Giao
Chỉ (thường là phải đổi bằng vàng). Năm 42, Mã Viện đưa quân sang Giao Chỉ, ngoài
việc dẹp cuộc khởi nghĩa của Hai Bà Trưng, còn có mục đích tìm kiếm các mỏ thần
sa. Sau trận chiến, Mã Viện tiếp tục tiến sâu vào tận vùng mà nay là Quảng Nam và
đã tìm thấy mỏ thần sa khổng lồ tại Cù Lao Chàm, mỏ này khai thác đến hết đời Tống
mới cạn. Thế kỉ XIII (đời Nguyên), nhà sư Thích Đại Sán đi du khảo vùng Đông
Dương đã xác nhận rằng xứ Giao Chỉ là nơi có nhiều thần sa, và mỏ thần sa ở Cù Lao Chàm là lớn nhất.
Mang tính phổ biến trong Đạo giáo thần tiên ở Việt Nam là phái nội tu. Người Việt
thờ Chử Đồng Tử (người thời vua Hùng, tương truyền đã từng lên núi tu luyện, học
Phật, được ban gậy, nón thần và sách ước, sau thành tiên bay lên Trời) làm ông tổ của
Đạo giáo Việt Nam, gọi là Chử Đạo Tổ. Dù có yếu tố Phật giáo nhưng xét ra sẽ thấy
nặng yếu tố Đạo giáo hơn: Cây gậy thần thì trong Phật giáo nước ta có cây gậy Cà la
xà lê truyền cho Man nương để chống hạn; cây gậy đầu sanh đầu từ của Thái Bạch
Kim Tinh cho Nguyễn Tuấn là của Đạo giáo. Gậy và nón là công cụ thần của Lý
Thiết Quải dùng trong chuyện Bát tiên quá hải. Đắc đạo bay lên trời trường sinh bất
tử là mơ ước của người tu tiên.
Khác biệt giữa Nho giáo và Đạo giáo là: Nho giáo mang bản chất của một công cụ tổ
chức xã hội, vũ khí của kẻ thống trị thì Đạo giáo, trên cơ sở thuyết vô vi, mang trong
mình tư tưởng phản kháng giai cấp thống trị. Vì vậy, cũng giống như ở Trung Hoa,
vào Việt Nam, Đạo giáo (phù thủy) đã được người dân sử dụng làm vũ khí chống lại
kẻ thống trị. Ngay khi thâm nhập, nó đã là vũ khí chống lại phong kiến phương Bắc.
Phong trào nông dân khởi nghĩa ở các tỉnh Nam Trung Hoa vào thế kỉ II đều có liên
hệ với các cuộc khởi nghĩa nông dân hai quận Giao Chỉ, Cửu Chân.
Để khống chế nước ta chặt chẽ hơn về các mặt chính trị, kinh tế, văn hóa, các triều
đại Trung Hoa sử dụng các thủ đoạn hành chính, ra sức truyền bá ba tôn giáo Nho,
Phật, Đạo vào Việt Nam thông qua con đường quan phương. Một số đạo sĩ, thầy mo,
thầy phong thủy cũng nối tiếp nhau đến Việt Nam thực hiện các hoạt động truyền
giáo, nổi bật là câu chuyện Cao Biền yểm bùa cắt đứt long mạch, đại diện cho Đạo
giáo tiếp tay vào công cuộc đô hộ của phong kiến phương Bắc. Năm 866, nhà Đường
phái Tĩnh Hải Quân Tiết Độ sứ Cao Biền đến trấn thủ An Nam. Ông một mặt chỉnh trị
đường sông, nối liền con đường vận chuyển, phát triển kinh tế; một mặt ông lại đam
mê thuật thần tiên: “Vào thời Cao Biền, Đạo giáo mê tín bùa chú truyền đến các địa 11
phương ở nước ta”. Cao Biền lập đàn cầu cúng ngày đêm, bái thần lập quỷ, luyện kim
nấu đan, chi phí khó mà tính nổi, thực hiện phép thuật Đạo giáo như dẫn sấm sét đánh
xuống các tảng đá lớn trên sông để khơi thông đường thủy, thúc đẩy sự truyền bá bùa
chú của Đạo giáo tại Việt Nam. Sau này, Cao Biền cũng được người Việt Nam tôn
làm “Phúc thần”. Từ cuối thời Hán đến thời Đường cũng là thời kỳ Đạo giáo truyền
vào Việt Nam theo con đường di dân và dần dần phát triển ở môi trường văn hóa của vùng đất mới.
2.2. Thời kì độc lập tự chủ
Tuy rằng Việt Nam đã thoát khỏi sự khống chế hành chính của Trung Quốc và giành
được độc lập, tầng lớp cai trị các đời vẫn luôn đề xuất và đưa về điển chương chế độ
và văn hóa tôn giáo Trung Quốc, tư tưởng Nho giáo được dùng làm đường lối trị
quốc, Phật giáo trong một thời gian được coi là quốc giáo, có những tăng lữ còn được
gọi là quốc sư. Trong sự thay đổi vương triều, Đạo giáo nhờ nhận được sự hỗ trợ của
các hoàng đế các đời nên ngày càng có thế lực và tiếp tục lan rộng trong xã hội Việt
Nam. Các vị vua thời Đinh, Lê, Lý, Trần đều chọn cả tăng sư lẫn đạo sĩ vào triều làm
cố vấn; bên cạnh tăng quan, có cả chức đạo quan.
Hiện nay, tại đình Đông Ngạc ở Từ Liêm - Hà Nội còn đang lưu giữ một quả chuông
thời Ngô, đúc năm 948, bài minh trên chuông đã cung cấp nhiều thông tin quý giá về
sinh hoạt Đạo giáo và việc thờ phụng Thái Thượng tam tôn. Lúc này các tăng sĩ, Đạo
sĩ là những trí thức lớn, những bộ óc lớn giúp cho việc xây đắp và bảo vệ nền tự chủ
và ý chí thống nhất, độc lập dân tộc.
Đinh Tiên Hoàng có lần trước khi khởi binh đã đến lễ bái thần thánh ở đạo quán
Thiên Tôn Động, nay thuộc tỉnh Ninh Bình, sau khi dẹp loạn 12 sứ quân, lập nên
triều Đinh, ông lại đổi “Thiên Tôn động” thành “An Quốc từ”, đặt quốc hiệu Đại Cồ
Việt, lấy niên hiệu là Thái Bình, hy vọng thần linh của Đạo giáo có thể bảo vệ đất
nước bình yên. Chỉ bốn năm sau khi lên ngôi (năm 971), vua Đinh Tiên Hoàng đã
"bắt đầu quy định văn võ tăng đạo... Tăng thống Ngô Châu Lưu được ban hiệu là
Khuông Việt đại sư, Trương Ma Ni làm Tăng lục, Đạo sĩ Đặng Huyền Quang được
trao chức Sùng chân uy nghi (chức quan trông coi về nghi lễ Đạo giáo). Điều này
chứng tỏ Đạo giáo rất phổ biến và được tầng lớp quan lại hết sức coi trọng. Phật giáo
và Đạo giáo cùng song hành tồn tại và chung sống hoà bình.
Đến thời Lý, bên cạnh Phật giáo, các vua cũng hâm mộ Đạo giáo. Vua Lý Thái Tổ là
người “ưa thích dị đoan", Sử thần Lê Văn Hưu phê phán “Lý Thái Tổ lên ngôi mới
được 2 năm, tông miếu chưa dựng, đàn xã tắc chưa lập mà trước đã dựng tám chùa ở
phủ Thiên Đức, lại trùng tu chùa quán ở các lộ...". Ông liên tục cho xây chùa quán kể
cả trong cung, tăng đạo nhiều vô số. Có lẽ vì vậy mà Sử quan Ngô Sĩ Liên đã đánh
giá vua Lý Thái Tổ có nhiều công lao to lớn "... có mưu lược của bậc đế vương. Duy 12
có việc ham thích đạo Phật, đạo Lão là chỗ kém. Năm 1049, chùa Diên Hựu (kéo dài
tuổi thọ) được dựng lên để các nhà sư nhiễu quanh đọc kinh niệm Phật, cầu cho vua
được sống lâu. Tư tưởng mong muốn sống lâu kéo dài tuổi thọ không phải là tư tưởng
của Phật giáo mà trước hết là của Đạo giáo. Đạo giáo có rất nhiều ưu thế, ít nhất là về
lý thuyết, để làm thỏa mãn trước hết về mặt tinh thần cho những mong muốn này. Sử
sách cũng cho biết tên của một vài ngôi quán ở Thăng Long như, quán Nam Đế quán
Ngũ Nhạc. Năm 1135, "Vua ngự đến quán Ngũ Nhạc để khánh thành tượng Tam Tôn
bằng vàng bạc", chứng tỏ Đạo giáo có sự ủng hộ rất lớn của tầng lớp trên mà cụ thể là
vua, nguồn tài lực của quán Đạo chắc chắn không phải là nhỏ. Theo một nghĩa nào
đó, triều Lý đề cao Đạo giáo, coi nó như một tôn giáo của hoàng tộc.
Sang đến đời Trần, Đạo giáo cùng các tôn giáo khác vẫn được nhà Trần coi trọng.
Năm 1225, vua Trần Thái Tông lên ngôi, thì năm 1227 nhà Trần tổ chức "Thi tam
giáo tử (nghĩa là những người nối nghiệp Nho giáo, Đạo giáo, Thích giáo)". Lịch
triều hiến chương loại chỉ chép rất rõ ràng về việc tu luyện của một Đạo sĩ ở núi
Phượng Hoàng, Chí Linh, Hải Dương như sau: "Đầu thời Trần có đạo sĩ là Huyền -
Vân ẩn ở đấy, luyện thuốc tiên nên gọi là động Huyền Vân". Lúc này các Đạo sĩ có
ảnh hưởng khá lớn tới nhiều việc của triều đình, kể cả việc cầu tự nối dõi. Toàn thư
chép "...đạo sĩ cung Thái Thanh tên là Thậm cầu tự cho vua. Đọc sớ xong tâu vua:
"Thượng đế đã y lời sớ tâu, sắp sai Chiêu Văn đồng tử giáng sinh, ở trần thế bốn kỷ".
Thế rồi hậu cung có mang, sau quả nhiên sinh con trai, hai cánh tay có chữ "Chiêu
Văn đồng tử" nét chữ rất rõ, vì thế đặt hiệu là Chiêu Văn". Người con trai mà sử cũ
chép là Trần Nhật Duật hoàng tử thứ sáu của vua Trần Thái Tông. Ông là người hâm
mộ Đạo giáo và am hiểu các kinh điển. Hứa Tông Đạo là đạo sĩ ở Phúc Châu, sau khi
theo đường biển tới Việt Nam, ông đã tích cực hỗ trợ quân dân nhà Trần kháng chiến
chống quân Nguyên, và còn nhiều lần lập trai đàn Hoàng Lục cầu siêu, cầu có con nối
dõi, cầu phúc thọ cho hoàng thất, nhận được sự tin sùng từ nhà vua và hoàng thái hậu,
thúc đẩy việc lập đàn cầu cúng của Đạo giáo ở Việt Nam trở nên phổ biến. Hai tác
phẩm văn học chịu ảnh hưởng rất lớn của Đạo giáo là Lĩnh Nam chích quái của Trần
Thế Pháp và Việt điện u linh tập của Lý Tế Xuyên ít nhiều đã dẫn trên đây được -
đoán định ra đời vào thời Trần, càng chứng tỏ sự xâm nhập của Đạo giáo vào rất
nhiều lĩnh vực của đời sống chính trị, văn hoá, xã hội.
Năm 1400, triều Hồ được thành lập (1400-1407). Nhà Minh lấy cớ khôi phục nhà
Trần đem quân tới Việt Nam, đến năm 1407 thì lật đổ triều Hồ, đưa Việt Nam trở lại
sự thống trị của triều Minh. Để tăng cường quản lý đối với Đạo giáo Việt Nam, triều
Minh thiết lập các Đạo để quản lý. Năm 1428, Lê Lợi lãnh đạo quân dân đuổi quân
Minh ra khỏi Việt Nam, lập nên nhà Hậu Lê (1428-1789).
Để củng cố vương triều mới, Thái Tổ Lê Lợi độc tôn Nho giáo, từ góc độ Nho học
chỉnh đốn trật tự tôn ti đẳng cấp xã hội, và thực hiện sách lược khống chế Phật giáo,
Đạo giáo. Trong hoàn cảnh như thế, địa vị xã hội của Đạo giáo mỗi lúc một suy kém, 13
nhưng những điều Đạo giáo khởi xướng như sống lâu trường thọ thành tiên vẫn được
giới vương công quý tộc, văn nhân học sĩ đón nhận. Trong đội ngũ lãnh đạo của triều
Lê cũng không thiếu người sùng tín Đạo giáo, như trong thời Lê Hiến Tông (146-
11504) tại vị, nạn châu chấu hoành hành, nên ông lệnh cho đạo sĩ làm phép trừ châu
chấu; thiên hạ đại hạn, liền lệnh cho đạo sĩ hướng về “Hạo Thiên Chí Tôn Ngọc
Hoàng Thượng Đế” cầu mưa. Dưới thời vua Lê Thần Tông, xuất hiện một trường
phái Đạo giáo Việt Nam có quy mô rất lớn gọi là Nội Đạo tràng - cơ quan phụ trách
việc cúng tế trong triều đình. Người sáng lập ra Nội Đạo là Trần Toàn, quê ở Quảng
Xương (Thanh Hóa), nguyên là một quan to triều Lê, không theo nhà Mạc, từ quan về
quê tu tiên, giúp dân trừ ma quỷ suốt hai vùng châu Hoan và châu Ái. Ông mở đạo
trường ở Hoằng Hóa, có 10 vạn tín đồ, được tôn là Thượng sư (Thích Ca Mâu Ni
Phật phong chức). Tương truyền ông từng dùng bùa phép chữa khỏi bệnh mọc lông
cọp cho vua Lê Thần Tông (1619-1643), cứu sống con Chúa chết đã hai ngày, về sau
được vua phong làm Phục Ma thượng đẳng phúc thần. Vua sai dựng nhà ở quê cho
Toàn và tự tay vua ghi ba chữ “Nội Đạo Tràng”. Ba người con trai của ông đều giỏi
đạo pháp, được tôn là “Tam Thánh”. Sau ba anh em mất, không có đồ đệ, người anh
em họ là Hậu Quan nối nghiệp thu nhận 4 đệ tử với thuật pháp riêng: Pháp Cống -
Nội Roi, Pháp Thông - Nội Phủ, Pháp Nan - Nội Dậm, đồ đệ Trung Quốc - Nội
Tưởng (còn có những điển tích khác). Phái đạo này phát triển vào Nghệ An và ra Bắc;
đến tận thế kỉ XX hãy còn tồn tại nhiều trung tâm ở Thanh Hóa, Nghệ An, Hải
Dương, Hưng Yên, Hà Nội. Thậm chí tới sau chiến tranh thế giới thứ nhất, ở Giảng
Võ (Hà Nội) hằng năm còn có tới mấy vạn tín đồ đến trường Nội đạo để cúng lễ, chữa bệnh.
Đạo giáo vốn xây dựng trên những tư tưởng phản kháng các nhà cầm quyền Nho
giáo, đã được dân chúng, ở Trung Hoa cũng như ở Việt Nam vào thời kì phong kiến
dân tộc, đã dùng làm vũ khí tinh thần chống lại ách thống trị. Thời Lý Nhân Tông
(1072-1127), có Lý Giác là kẻ học được phép lạ tương truyền có thể biến cỏ cây
thành âm binh, cầm đầu cuộc bạo động ở Diễn Châu. Năm 1379, đời Trần Phế Đế, ở
Bắc Giang, Nguyễn Bổ tự xưng có nhiều phép thần thông, nổi lên lấy hiệu là Đường
Lang Tử Y, tiếm hiệu xưng vương làm loạn, bị giết. Đời nhà Hồ, Trần Đức Huy dùng
pháp thuật lôi cuốn đông đảo người theo, bị Hồ Quý Ly dẹp năm 1403.
Gần với Đạo giáo thần tiên là khuynh hướng ưa thanh tĩnh, nhàn lạc. Hầu hết các nhà
nho Việt Nam đều mang tư tưởng này. Sinh không gặp thời, gặp chuyện bất bình
trong chốn quan trường hay khi về già, các cụ thường lui về ẩn dật, tìm thú vui nơi
thiên nhiên, bên chén rượu, khi cuộc cờ, hay làm thơ xướng họa – sống một cách điều
độ với tinh thần thanh thản trong khung cảnh thiên nhiên trong hành chính là một
cách dưỡng sinh. Trước hết có Nguyễn Trãi (1380-1442) một công thần giúp Lê Lợi
đuổi quân Minh, giành lại độc lập cho nước ta. Sau khi vua Lê Thái Tông mất, bị gian
thần gièm pha, ông cáo quan về ẩn tại Côn Sơn (Hải Dương). Ông cũng có nhiều câu 14
thơ ca tụng thú thanh nhàn (một bầu phong nguyệt) tiêu dao tự tại giữa thiên nhiên,
đúng với lời dạy bảo trong Đạo thường mà không còn nghĩ đến sự đua tranh:
“Một bầu phong nguyệt nhàn tự tại,
Hai chữ công danh biếng vả về.”
(Quốc Âm Thi Tập bài số 155)
“Ở thế an nhàn chẳng có sự,
Nghìn muôn tấn nhượng, chớ đua tranh!”
(Quốc Âm Thi Tập bài số 136)
Qua thế kỷ XV-XVI, Nguyễn Bỉnh Khiêm (1491-1585), đỗ Trạng nguyên thời nhà
Mạc, làm quan 8 năm, xin về hưu, được vua Mạc phong tước Trình Tuyền Hầu nên
được gọi là Trạng Trình. Thật ra, ông đã theo phép xuất xử của Nho giáo (Gặp thời có
chính nghĩa thì ra giúp đời, không thì đi ở ẩn: nhà Mạc vốn bị coi như là ngụy, tiếm
ngôi vua Lê, có lẽ vì thế nên ông rút lui), mà cáo quan về ở ẩn, nhưng tư tưởng của
ông lại thấm nhuần thuyết “tính-tự-nhiên” của Trang Tử, như trong Bạch Vân Am thi tập có câu:
“Làm người thìn (giữ gìn) được tính-tự-nhiên,
Dại dột nhìn ra có phận yên”
(Bạch vân am thi tập, Bài số 53)
“Ngày ngày tiêu sái (thong thả) nhàn vô sự,
Tuy chửa là tiên, ấy ắt tiên.”
(Bạch vân am thi tập, Bài số 22)
Nguyễn Công Trứ (1778-1858) ra làm quan, bận rộn với việc khẩn hoang lập làng
nuôi sống cho dân nghèo, cầm quân đánh giặc chống loạn Cao Miên, mà vẫn tìm cách
sống theo các thuyết Đạo giáo, như “tri túc, tiêu diêu xoay xở để hưởng nhàn” (ngao
du sơn thủy). Ông viết: “Tri túc, tiện túc, đãi túc hà thời túc? tri nhàn tiện nhàn, đãi
nhàn, hà thời nhàn?” (Biết đủ thì có đủ, còn đợi cho đủ, biết bao giờ mới đủ? Biết
nhàn thì có nhàn, còn đợi cho nhàn, biết bao giờ mới nhàn?).
Thế kỷ XVII, giáo sĩ truyền đạo Kitô xuất hiện ở Việt Nam, lấy danh nghĩa truyền
giáo để tiến hành một kiểu xâm thực từng bước về văn hóa đối với Việt Nam. Trong
quá trình Latinh hóa chữ Hán-Nôm, các giáo sĩ đồng thời cũng dần tách văn hóa Việt
Nam ra khỏi môi trường chữ Hán, điều này về mặt khách quan đã loại bỏ mất mảnh
đất văn hóa cho sự truyền bá kinh điển Đạo giáo tại Việt Nam. Sau khi xã hội Việt 15
Nam lâm vào tình trạng chia rẽ và nội chiến, với ý định dùng tư tưởng Nho giáo để
thống nhất nhân dân, Lê Thuần Tông vào năm Long Đức thứ 2 (1733) đã “cấm cả
nước xây dựng chùa, quán, tượng Phật” để ngăn cản Phật giáo và Đạo giáo truyền bá trong xã hội Việt Nam.
Năm 1802, Nguyễn Ánh thành lập vương triều cuối cùng trong lịch sử Việt Nam -
triều Nguyễn. Nguyễn Ánh kế thừa truyền thống của triều Hậu Lê, độc tôn Nho giáo.
Đạo giáo trong hoạt động xã hội dân gian Việt Nam cũng không được thịnh hành
bằng Phật giáo, nó chủ yếu thực hành các hoạt động như cúng bái thần linh, cầu cơ
giáng bút, xin thần linh phán quẻ và khuyến thiện thuyết giáo, v.v... trong các đạo
quán, không những dần bị Việt Nam hóa, mà còn thẩm thấu vào những tôn giáo khác,
ví dụ: một số chùa miếu Phật giáo cũng có thờ cúng tượng thần Đạo giáo như Ngọc
Hoàng, Chân Vũ, Bắc Đẩu, v.v... mở rộng sức ảnh hưởng của thần linh Đạo giáo.
Thời chống Pháp, để đối phó với kẻ địch có ưu thế về súng đạn, nhiều cuộc khởi
nghĩa đã tích cực sử dụng ma thuật phù thủy làm vũ khí tinh thần.
Mạc Đĩnh Phúc (cháu 18 đời nhà Mạc) khởi nghĩa năm 1895 ở các tỉnh miền biển
Bắc Bộ. Phong trào do ông khởi xướng mang tính thần bí, tôn giáo. Một trong những
quan điểm thần bí được tuyên truyền rộng rãi lúc bấy giờ là Mạc Đĩnh Phúc có phép
thuật làm cho súng Tây bắn lại Tây, quân khởi nghĩa không cần mua súng, đóng tàu.
Vì vậy, trang bị vũ khí của nghĩa quân rất thô sơ, khi lâm trận, tuy dũng cảm có thừa
nhưng khó khăn để có thể thắng được giặc.
Năm 1895, Trần Cao Vân gặp Võ Trứ , một nhà sư yêu nước ở Phú Yên. Hai ông
dùng pháp thuật và bùa chú làm vũ khí tuyên truyền vận động và lôi cuốn được một
số dân chúng (cả một số đồng bào thiểu số ở Trung Kỳ) tổ chức thành một lực lượng
chống Pháp khá mạnh. Bọn Pháp gọi đội nghĩa quân này là “giặc Thầy chùa” hoặc
“giặc Rựa”. Năm 1898, dưới bóng cờ to tướng đề 4 chữ “Minh trai chủ tễ”, Võ Trứ
đốc suất một đạo dân binh độ khoảng trăm người Thượng du với cung tên đầy đủ. Kế
đó khoảng ba bốn trăm người Kinh cầm vũ khí bằng rựa, mác và mỗi người đều có
đeo một lá bùa hộ mệnh (vì họ rất tin vào pháp thuật cao cường của Võ Trứ, đeo bùa
ấy thì súng bắn không lủng, dao chém không đứt, nên tinh thần rất hăng).
Quái kịch Phan Xích Long ở Nam Kỳ: Phan Phát Sanh (tên thật của Phan Xích Long)
đến Thất Sơn tìm học bùa phép, cách chế tạo bom cỡ nhỏ. Khoảng năm 1911, có
Nguyễn Hữu Trí và Nguyễn Hiệp là hai thanh niên có chủ trương chống Pháp, tình cờ
quen được Phan Phát Sanh, rồi cùng mưu cuộc đánh đuổi thực dân. Để vận động và
tuyên truyền cho sự nghiệp chung, Phan Phát Sanh tự xưng mình là Phan Xích Long,
con vua Hàm Nghi và tự phong mình là Hoàng đế. Buổi đầu, Phan Phát Sanh đặt cơ
sở đầu tiên ở Cần Vọt (Cao Miên), nhờ tiền quyên góp, ông cho cất một ngôi chùa ở
đó để làm nơi tụ họp, lập hội kín, chế tạo lựu đạn, in truyền đơn đưa ra tuyên cáo 16
Phản Pháp phục Nam, kêu gọi mọi người chống Pháp… Sau này khi về nước, ông lập
căn cứ ở vùng núi Thất Sơn (Châu Đốc, tỉnh An Giang). Phan Xích Long và Nguyễn
Hữu Trí định rằng sẽ đánh chiếm các cơ quan đầu não của Pháp tại Sài Gòn. Theo đó,
nhiều hội kín ở các tỉnh cũng sẽ nổi dậy giành lấy chính quyền. Chuẩn bị xong, cuối
tháng 3 năm 1913, ông cho người đặt 6 trái bom tự tạo có hẹn giờ ở một số nơi tại Sài
Gòn và Chợ Lớn. Chẳng may chưa tới giờ bom nổ thì bị chính quyền phát hiện.
Không nghe tiếng bom nổ, nhiều toán quân đã kịp rút đi, nhưng cảnh sát vẫn bắt được
một số đông khi họ đang đi vào Chợ Lớn, vì kiểu đồng phục “quần đen, áo trắng,
khăn trắng quấn cổ” mặc dù tay không cầm vũ khí; quấn một chiếc khăn vải trắng
mới quanh cổ và có mang trong người một cái bùa bằng lụa hoặc vải trắng, với các
chữ đỏ, theo cấp bậc. Trong mỗi tay áo khoác đã tìm thấy bùa hộ mệnh bằng giấy
màu vàng trên có chữ đỏ. Kết cuộc, Nguyễn Hữu Trí chạy thoát, Phan Xích Long
chạy ra Phan Thiết và bị bắt ở đó, bị đem về giam ở Khám lớn Sài Gòn.
Ở Việt Nam, Đạo giáo như một tôn giáo đã tàn lụi từ lâu. Dấu vết hoạt động cuối
cùng của nó là sự kiện một nhóm tín đồ xuất bản vào năm 1933 ở Sài Gòn một bộ
sách mang tên Đạo giáo viết theo tinh thần tôn giáo gồm 3 tập. Đến nay, những hiện
tượng như đồng bóng, đội bát nhang, bùa chú… tuy vẫn lưu truyền, nhưng chúng chỉ
còn là những di sản của tín ngưỡng dân gian truyền thống mà thôi.
3. Tác động, ảnh hưởng của Đạo giáo trên phương diện văn hoá của người Việt
3.1. Hình tượng Tứ Bất Tử: Một biểu hiện của Đạo Tiên trong văn hóa Việt

“Tứ bất tử” là một huyền thoại về việc nhân dân ta tôn vinh và thờ phụng “bốn vị
thánh không bao giờ chết” (Tứ bất tử): Thánh Tản Viên, Thánh Gióng, Thánh Chử
Đồng Tử và Thánh mẫu Liễu Hạnh.
Đức Thánh Tản Viên, hay Sơn Tinh núi Ba Vì, là vị thần được ghi chép trong “Việt
điện u linh” và “Lĩnh Nam chích quái” với yếu tố thánh hóa. Theo GS. Từ Chi, người
Mường coi núi Ba Vì là biểu tượng tâm linh quan trọng. Một câu chuyện kể rằng Tản
Viên là con trai của Bố Clượng, người nhận được "con dao ước" từ Vua Khú nhưng vì
không trả lại trước khi mất, gia đình bị trừng phạt. Người con trai chạy lên núi Ba Vì
và trở thành thần núi. Một truyền thuyết khác kể về Đinh Thị Đen, người sinh ra con
trai thụ thai kỳ diệu, học phép thuật và kế thừa quyền lực của Ma thị-Mẫu Thượng
Ngàn. Dù có khác biệt, cả hai truyện đều khẳng định nguồn gốc Mường của Tản
Viên. Sau này, Nho gia đã thánh hóa vị thần này, gắn với Đạo giáo và danh hiệu “Đức Thánh”.
Thánh Gióng là một vị thánh quá quen thuộc với nhân dân ta. Truyền thuyết này gắn
bó và lưu truyền với mọi thế hệ người Việt. Yếu tố Đạo giáo trong truyền thuyết được
thể hiện qua các chi tiết cụ thể. Thánh Gióng là một đứa trẻ phi thường, không phải
qua cách sinh sản thông thường. Điều này phản ánh yếu tố siêu nhiên, thường thấy 17
trong tư tưởng Đạo giáo. Khi hoàn thành sứ mệnh đánh giặc, Gióng không chết mà
cưỡi ngựa sắt bay về trời, biểu tượng cho sự trường sinh và bất tử, phù hợp với quan
niệm của Đạo giáo về việc trở về với thiên đạo. Ngựa sắt, áo giáp sắt và roi sắt mà
Thánh Gióng sử dụng đều mang tính chất huyền bí, đại diện cho sức mạnh phi
thường. Những vật này được thần linh hóa và không thuộc về thế giới thường nhật,
điều này phù hợp với quan niệm Đạo giáo về pháp bảo và khí cụ siêu nhiên. Thánh
Gióng không chỉ là một người anh hùng chống giặc mà còn là hiện thân của sức
mạnh trời đất, được phái xuống để bảo vệ nhân gian, thể hiện tư tưởng Đạo giáo về
mối liên kết giữa thiên giới và con người.
Mang tính phổ biến trong Đạo giáo thần tiên ở Việt Nam là phái nội tu. Người Việt
thờ Chử Đồng Tử (người thời vua Hùng, tương truyền đã từng lên núi tu luyện, học
Phật, được ban gậy, nón thần và sách ước, sau thành tiên bay lên Trời) làm ông tổ của
Đạo giáo Việt Nam, gọi là Chử Đạo Tổ. Dù có yếu tố Phật giáo nhưng xét ra sẽ thấy
nặng yếu tố Đạo giáo hơn: Cây gậy thần thì trong Phật giáo nước ta có cây gậy Cà la
xà lê truyền cho Man nương để chống hạn; cây gậy đầu sanh đầu từ của Thái Bạch
Kim Tinh cho Nguyễn Tuấn là của Đạo giáo. Gậy và nón là công cụ thần của Lý
Thiết Quải dùng trong chuyện Bát tiên quá hải. Đắc đạo bay lên trời trường sinh bất
tử là mơ ước của người tu tiên.
Những học giả sùng tín đạo Mẫu, cố gắng chứng minh đạo Mẫu là tín ngưỡng thuần
Việt, từ chối sự ảnh hưởng của Đạo giáo với hệ thống tín ngưỡng này. Thế nhưng,
nếu xem xét lại sự tích về Mẫu Liễu Hạnh, vị thánh mẫu quan trọng nhất, và cuộc
chiến Sòng Sơn được ghi chép lại trong “Tang Thương Ngẫu Lục” giữa Liễu Hạnh và
Nội Đạo Tràng sẽ thấy rằng khó có thể chối bỏ các dấu vết Đạo giáo. Sự tích về Mẫu
Liễu Hạnh cho thấy Liễu Hạnh có 3 lần giáng sinh và cả 3 lần này đều chịu sự điều
tiết của Ngọc Hoàng, vị thần tối cao trong quan niệm thần tiên Trung Quốc. Trong
trận chiến ở Sòng Sơn, phái Nội Đạo Tràng được triều đình phái tới để tiêu diệt Liễu
Hạnh. Ban đầu, cho pháp lực thua kém các cao nhân của Nội Đạo Tràng nên Liễu
Hạnh đấu phép thua phải bỏ chạy, chỉ đến khi quy y Phật giáo Liễu Hạnh mới có thể
lật ngược tình. Một số thuyết cho rằng Mẫu Thượng Thiên chính là Cửu Thiên Huyền
Nữ của Đạo giáo Trung Quốc. Liễu Hạnh không đơn thuần là trường hợp thánh hóa
các vị thần địa phương mà là trường hợp Đạo giáo phù thủy bị đồng cốt hóa.
3.2. Đức Thánh Trần Hưng Đạo
Việc thánh hóa các vị thần bản địa chính là các yếu tố Đạo giáo được chính quyền
phong kiến sử dụng để thống nhất tín ngưỡng của các địa phương; hoặc khi các nhà
truyền đạo muốn tạo ảnh hưởng tới một địa phương nào đó. Trần Hưng Đạo là một
trường hợp đặc biệt trong quá trình “bị thánh hóa”, bản thân Trần Hưng Đạo là người
am hiểu các thuật trong Đạo giáo dù cho giữ vững tư tưởng trung quân của Nho giáo. 18
Sau khi Trần Hưng Đạo qua đời, dân gian bắt đầu hình thành tín ngưỡng hầu đồng
Đức Thánh Trần. Về gốc tích ra đời của ông, dân gian truyền lại, ông chính là Thanh
tiên đồng từ trên Thiên Đình phụng lệnh Ngọc Hoàng đầu thai xuống hạ giới mang
theo phi thân kiếm, cờ ấn, tam bảo của Lão Tử, Ngũ Tài của Thái Công.
Nguyên nhân dẫn đến việc Trần Hưng Đạo được tôn thờ như một vị thánh trong tín
ngưỡng không phải xuất phát từ chiến công đánh thắng quân Mông Nguyên của ông,
mà từ chiến công huyền thoại chặt đầu tướng giặc Phạm Nhan. Phạm Nhan biết phép
thuật, có thể chặt đầu này mọc đầu khác, nhưng Trần Hưng Đạo lại có thể chém chết.
Truyền thống hầu đồng Đức Thánh Trần không dùng để cầu phúc như chúng ta thấy
ngày nay mà chủ yếu là để trừ tà ma. Tín ngưỡng thờ cúng nhà Trần gắn liền với
những huyền tích về Đức Thánh Trần và con cái, tướng lĩnh hầu cận tạo nên một hệ
thống thờ tự chặt chẽ, lề lối với đủ các cấp bậc. Tuy nhiên, Nhà Trần không thuộc Tứ
Phủ có lối thờ phụng riêng và phép tắc khác bên Tứ Phủ - nhưng Thần Chủ của Tứ
Phủ và của bên Nhà Trần đều thuộc dòng Thiên Tiên, giáng phàm để cứu dân độ thế, khuyến Thiện phạt Ác.
Nét đặc sắc khi hầu nhà Trần là phép lên đai thượng, xiên lình, lấy dấu mặn. Dấu mặn
lấy bằng cách thanh đồng lấy lình hoặc mảnh bát vỡ lúc thượng đồng rạch vào phần
lưỡi để lấy huyết phù lên các mảnh bùa với ý nghĩa là dấu tích phép Thánh. Dân gian
tương truyền các lá bùa có dấu mặn thường là trấn yểm cho Đền to phủ lớn, trấn
những vùng long mạch lớn, nếu dùng máu Thánh để trấn thì khó mà phá được. Đặc
biệt, tà ma không dám xâm phạm nên cực kỳ thiêng liêng. Phép lên đai thượng là
Thanh đồng dùng tấm vải đỏ thắt chặt vào cổ hai người đứng hai bên kéo dây thít
chặt, lúc này mắt ngầu đỏ lộn tròng, mặt hổ phù, để thị uy ra oai, tạo sự uy nghi của diện Thánh khi làm lễ.
3.3. Các vị thần Đạo giáo được thờ ở đạo quán và chùa ở Việt Nam
Ở Việt Nam, sự giao thoa giữa Đạo giáo, Phật giáo và tín ngưỡng dân gian đã tạo nên
hệ thống thờ tự đa dạng. Các vị thần Đạo giáo thường được thờ ở đạo quán (đền,
miếu Đạo giáo) và đôi khi tại các chùa Việt, dù không phải là trung tâm tín ngưỡng
chính của chùa. Dưới đây là một số vị thần tiêu biểu:
Tam Thanh Giáo Chủ: gồm có Nguyên Thủy Thiên Tôn - Thượng Thanh Linh
Bảo Thiên Tôn - Thái Thanh Đạo Đức Thiên Tôn, thường được thờ trong các đạo quán.
Ngọc Hoàng Thượng Đế - Nam Tào - Bắc Đẩu: Là vị thần tối cao trong hệ
thống Đạo giáo, cai quản thiên giới và mọi thần linh. Hai vị thần kía được thờ trong
chung với Ngọc Hoàng và có vai trò quan trọng trong việc định đoạt số phận. 19