Trường Đại học Ngoại ngữ - ĐHQGHN
Bộ môn Ngôn ngữ và Văn hóa Việt Nam
BÁO CÁO KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU NHÓM
Tên vấn đề nghiên cứu: Đối chiếu hiện tượng đồng âm trong tiếng Việt và tiếng Anh.
Danh sách nhóm:
STT Họ và tên MSV STT theo
ca học Đánh giá kết quả làm việc
1 Lê Vũ Hồng Anh 24040002 51 Hoàn thành xuất sắc
2 Ngô Phương Anh 24042283 56 Hoàn thành tốt
3 Trần Linh Anh 24040016 127 Hoàn thành tốt
4 Vũ Kim Anh 24040021 143 Hoàn thành tốt
5Vũ Thuỳ Dung
(nhóm trưởng) 24040035 237 Hoàn thành xuất sắc
6 Nguyễn Ngọc Hoa 24040057 443 Hoàn thành tốt
7 Lê Đào Hạnh Linh 24040071 612 Hoàn thành tốt
8Nguyễn Hương
Linh 24040079 641 Hoàn thành tốt
9Nguyễn Dũng
Minh 24040093 771 Hoàn thành xuất sắc
10 Vương Phương
Thuỳ 24040132 1091 Hoàn thành tốt
MỤC LỤC
PHẦN 1: MỞ ĐẦU......................................................................................................4
1. Lí do chọn đề tài...................................................................................................4
2. Mục tiêu nghiên cứu.............................................................................................4
3. Phương pháp nghiên cứu.....................................................................................4
4. Giới hạn vấn đề nghiên cứu.................................................................................5
PHẦN 2: NỘI DUNG NGHIÊN CỨU........................................................................5
I. Hiện tượng đồng âm trong tiếng Việt..................................................................5
1. Khái niệm...........................................................................................................5
2. Đặc điểm............................................................................................................5
2.1. Từ nào đồng âm với nhau thì luôn đồng âm trong mọi hoàn cảnh được
sử dụng...............................................................................................................5
2.2. Đồng âm giữa từ và từ là kết quả của đồng âm tiếng với tiếng...............6
3. Phân loại............................................................................................................6
3.1. Đồng âm từ với từ.......................................................................................7
3.2. Đồng âm từ với tiếng...................................................................................7
4. Nguồn gốc..........................................................................................................7
4.1. Những từ hoặc nhóm từ đồng âm không tìm được lý do hình thành......7
4.2. Những từ hoặc nhóm từ đồng âm tìm được lý do hình thành.................8
5. Vai trò và thách thức của hiện tượng đồng âm trong tiếng Việt...................9
II. Hiện tượng đồng âm trong tiếng Anh....................................................................9
1. Khái niệm...........................................................................................................9
2. Đặc điểm............................................................................................................9
2.1. Các nhóm đồng âm đa số được tạo thành bởi các từ................................9
2.2. Ý nghĩa của từ đồng âm thường phụ thuộc vào ngữ cảnh trong câu....10
2.3. Các từ có thể đồng âm với nhau ở một hoặc vài dạng thức chứ không
nhất thiết đồng âm ở mọi dạng thức...............................................................10
3. Phân loại:.........................................................................................................10
3.1. Homonym (đồng âm hoàn toàn)..............................................................10
3.2. Homophone (đồng âm âm học)................................................................11
3.3. Homograph (đồng âm ký tự)....................................................................11
4. Nguồn gốc:.......................................................................................................11
4.1. Sự tiến hóa của ngôn ngữ và phát triển ngữ âm qua các thời kỳ..........11
4.2. Ảnh hưởng của các nền văn hoá và sự vay mượn từ ngôn ngữ khác....12
4.3. Sự linh hoạt trong ứng dụng của các từ đa nghĩa...................................13
4.4. Tiếng lóng và ngôn ngữ hàng ngày..........................................................13
5. Vai trò và thách thức của homophones trong tiếng Anh..............................13
III. Đối chiếu hiện tượng đồng âm trong tiếng Việt và tiếng Anh (điểm tương
đồng và khác biệt)...................................................................................................14
1. Điểm tương đồng.............................................................................................14
1.1. Khái niệm chung về hiện tượng đồng âm................................................14
1.2. Phát âm giống nhau nhưng nghĩa khác nhau.........................................14
1.3. Vai trò của ngữ cảnh.................................................................................14
2. Điểm khác biệt.................................................................................................15
2.1. Về mặt khái niệm......................................................................................15
2.2. Về mặt ngữ nghĩa......................................................................................15
2.3. Về mặt phân loại.......................................................................................16
2.4. Về mặt hình thái........................................................................................16
TÀI LIỆU THAM KHẢO.........................................................................................18
PHẦN 1: MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Thứ nhất, lý do chọn đề tài này xuất phát từ sự quan tâm sâu sắc đến đồng âm -
một hiện tượng ngữ âm quan trọng trong tiếng Việt và tiếng Anh. Việc so sánh hiện
tượng đồng âm giữa hai ngôn ngữ không chỉ giúp người nghiên cứu soi chiếu, làm rõ
để từ đó nắm vững về hiện tượng này trong tiếng Việt mà còn trau dồi thêm kiến thức
về từ đồng âm trong Tiếng Anh. Qua đó, người học sẽ mở rộng kiến thức về ngôn ngữ
học nói chung.
Thứ hai, việc sử dụng các từ đồng âm khi không nắm rõ bản chất có thể dễ gây
ra hiểu lầm và khó khăn trong giao tiếp. Vì vậy, đối chiếu hiện tượng này giữa tiếng
Việt và tiếng Anh sẽ tạo điều kiện cho người học có cơ hội hiểu sâu hơn về đồng âm,
từ đó hạn chế mắc lỗi khi giao tiếp với người khác.
2. Mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu của đề tài trước hết là chỉ ra sự tương đồng và khác biệt của hiện tượng
đồng âm giữa tiếng Việt và ngôn ngữ khác (cụ thể là tiếng Anh). Qua đó, nghiên cứu
giúp làm sáng tỏ việc sử dụng từ đồng âm trong ngôn ngữ gốc là tiếng Việt và mở
rộng hiểu biết về hiện tượng ngữ pháp này trong ngôn ngữ khác là tiếng Anh.
Bên cạnh đó, đề tài làm sáng tỏ những hiện tượng đồng âm dễ gây nhầm lẫn
trong hai ngôn ngữ, từ đó giúp người học phân biệt và tránh mắc lỗi khi sử dụng trong
học tập và giao tiếp.
3. Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp tổng hợp, phân loại, phân tích: Tổng hợp các tài liệu chứa nội dung
cần nghiên cứu về đến hiện tượng đồng âm trong tiếng Việt và tiếng Anh qua các
nguồn uy tín như Google Scholar, từ điển tiếng Việt và tiếng Anh trực tuyến, các tài
liệu trên hệ thống LMS, wikipedia. Từ đó phân loại tài liệu phù hợp và đưa vào từng
mục để nghiên cứu.
Phương pháp đối chiếu, so sánh: Từ những tài liệu đã thu thập, so sánh hiện
tượng đồng âm giữa tiếng Việt và tiếng Anh để tìm ra điểm tương đồng và khác biệt.
Các khía cạnh so sánh bao gồm định nghĩa, đặc điểm về phát âm, ngữ nghĩa và nguồn
gốc.
4. Giới hạn vấn đề nghiên cứu
Phạm vi ngôn ngữ: Nghiên cứu sẽ chỉ tập trung vào hiện tượng đồng âm ở hai ngôn
ngữ là tiếng Việt và tiếng Anh.
Phạm vi nội dung: Nghiên cứu chủ yếu đi sâu phân tích một số dạng từ đồng âm
phổ biến và dễ gây nhầm lẫn trong tiếng Việt và tiếng Anh. Bài tập này sẽ không đi
sâu vào các yếu tố ngữ pháp nâng cao hoặc ngữ cảnh chi tiết. Thay vào đó, nghiên cứu
chỉ tập trung vào đối chiếu để chỉ ra điểm tương đồng và khác biệt về đặc điểm của
hiện tượng đồng âm trong hai ngôn ngữ để giúp người học hiểu sâu hơn về hiện tượng
ngữ pháp này.
PHẦN 2: NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
I. Hiện tượng đồng âm trong tiếng Việt
1. Khái niệm
Theo Mai et al. (2014), từ đồng âm là những từ trùng nhau về hình thức ngữ âm
nhưng khác nhau về nghĩa. Như vậy, nhìn chung, hiện tượng đồng âm là hiện tượng
khi hai đơn vị trở lên giống nhau về hình thức ngữ âm nhưng khác nhau về nghĩa cùng
xuất hiện trong một bối cảnh.
Ví dụ 1: yêu (yêu quái); yêu (yêu thương); yêu (yêu kiều); yêu (yêu cầu)1 2 3 4
Ví dụ 2: tương (tương tác), tương (tương trợ)1 2
Hiện tượng đồng âm là hiện tượng tất yếu do khả năng tạo lập và ghi nhớ âm
thanh của con người có giới hạn nhưng số lượng đơn vị ngôn ngữ lại quá lớn. Vì vậy,
con người đã cố tập hợp những đơn vị ngôn ngữ khác nhau với các ý nghĩa khác nhau
trong cùng một vỏ ngữ âm giống nhau.
2. Đặc điểm
2.1. Từ nào đồng âm với nhau thì luôn đồng âm trong mọi hoàn cảnh được sử
dụng (Mai et al., 2014)
Nguyên nhân: Tiếng Việt là ngôn ngữ đơn lập, trong đó các từ không thay đổi
hình thái (dạng thức) khi mang nghĩa khác nhau, thời gian khác nhau hoặc vị trí ngữ
pháp khác nhau trong câu. Điều này khác với các ngôn ngữ biến hình, như tiếng Anh,
nơi các từ có thể biến đổi (như thêm đuôi “-ed” cho thì quá khứ).
Ví dụ 1:
Hôm qua, trời mưa to.
Hôm nay, trời mưa to.
Từ “mưa” trong câu “Hôm qua, trời mưa to.” và “Hôm nay, trời mưa to.” có
nghĩa giống nhau, nhưng cách diễn đạt về thời gian được xác định qua từ chỉ thời gian
như “hôm qua” (quá khứ) và “hôm nay” (hiện tại).
Ví dụ 2:
Hôm qua, mẹ đưa tôi đến trường.
Hôm nay, tôi quét nhà giúp mẹ.
Hôm nay, mẹ tôi đi chợ từ sớm.
“Hôm qua, mẹ đưa tôi đến trường.” – “tôi” là tân ngữ, đối tượng được hành động
"đưa" hướng đến.
“Hôm nay, tôi quét nhà giúp mẹ” – “tôi” là chủ ngữ, thực hiện hành động “quét
nhà”.
“Hôm nay, mẹ tôi đi chợ từ sớm.” – “tôi” là bổ ngữ, xác định mối quan hệ (mẹ
của tôi).
Như vậy, dù vai trò và vị trí thay đổi, hình thức của từ “tôi” không biến đổi, thể
hiện tính chất đơn lập của tiếng Việt.
2.2. Đồng âm giữa từ và từ là kết quả của đồng âm tiếng với tiếng (Mai et al.,
2014)
Nguyên nhân: Trong tiếng Việt, các từ được hình thành từ một tiếng hoặc kết
hợp nhiều tiếng, có sự phân biệt giữa gốc từ và phụ tố. Điều này tạo ra nhiều từ đồng
âm, khi hai từ giống nhau về hình thức nhưng khác về nghĩa. Ví dụ:
“Con ruồi đậu mâm xôi đậu”
Trong đó: đậu (động từ): Hành động dừng lại, ở đây là con ruồi dừng lại.1
đậu2 (danh từ): Loại hạt, ám chỉ đĩa mâm xôi có hạt đậu.
3. Phân loại
3.1. Đồng âm từ với từ (Mai et al., 2014)
Đây là loại đồng âm phổ biến nhất, trong đó các đơn vị tham gia vào một nhóm
đồng âm đều thuộc cùng một cấp độ từ, được chia thành hai loại chính:
3.1.1. Đồng âm từ vựng
Các từ trong nhóm này hoàn toàn giống nhau về từ loại và âm, nhưng khác nhau
về nghĩa.
Ví dụ 1: chạy (chạy bộ) - chạy (chạy xe) - chạy (chạy trốn) …1 2 3
Ví dụ 2: cất (cất giọng) - cất (cất giữ) - cất (cất bước) …1 2 3
3.1.2. Đồng âm từ vựng - ngữ pháp
Các từ trong nhóm này giống nhau về âm, nhưng khác nhau về từ loại.
Ví dụ 1: câu (câu giờ) - câu (câu chuyện) - câu (câu hỏi) …1 2 3
Ví dụ 2: cô (cô gái) - cô (cô đơn) …1 2
Ví dụ 3: bàn (bàn tay) - bàn (bàn bạc) …1 2
3.2. Đồng âm từ với tiếng (Mai et al., 2014)
Khác với dạng Đồng âm từ với từ, ở đây các đơn vị tham gia vào nhóm đồng âm
thuộc các cấp độ khác nhau, và kích thước ngữ âm của chúng đều không vượt quá một
tiếng.
Ví dụ 1: khách (cười khanh khách) - khách (khách mời) …1 2
Ví dụ 2: đá (đá bóng) - đá (hòn đá) …1 2
4. Nguồn gốc
Trong Tiếng Việt, phần lớn các từ đồng âm xuất hiện mà con người không thể
giải thích nguồn gốc chúng hình thành. Chỉ một số từ hoặc nhóm từ mà con người có
thể phát hiện con đường hình thành của chúng.
4.1. Những từ hoặc nhóm từ đồng âm không tìm được lý do hình thành
Ví dụ 1: kệ (mặc kệ), kệ (kệ nệ), kệ (kệ sách)1 2 3
Ví dụ 2: rủ (rủ bạn đi chơi), rủ (sau cơn mưa, lá cây rủ xuống)1 2
4.2. Những từ hoặc nhóm từ đồng âm tìm được lý do hình thành
4.2.1. Do tiếp thu và vay mượn các từ của các ngôn ngữ khác
Cùng với quá trình lịch sử của đất nước, Tiếng Việt cũng tăng vốn từ vựng thông
qua việc mượn từ của nước Ngoài. Khi đó, từ vay mượn và từ thuần Việt có cùng cách
đọc tạo thành nhóm từ đồng âm.
Ví dụ 1: (hoa lan – nguồn gốc Việt), lan (lan can – nguồn gốc Pháp)2
Ví dụ 2: sách (cuốn sách – nguồn gốc Việt), sách (sách lược – nguồn gốc Hán)1 2
4.2.2. Do tiếp thu và vay mượn các từ địa phương dùng trong ngôn ngữ toàn dân
Ví dụ 1: răng (răng hàm), răng (mô tê răng rứa ở miền Trung)
Ví dụ 2: thơm (hương vị), thơm (quả dứa ở miền Nam) (Q. H. Nguyễn & Ý. N.
Nguyễn, 2014)
4.2.3. Do sự tách biệt nghĩa của từ đa nghĩa
Một nghĩa cụ thể có thể tách ra khỏi cấu trúc nghĩa chung, tạo thành một từ mới
đồng âm với từ gốc. Trong trường hợp này, thực sự đã xảy ra sự đứt gãy trong mối liên
hệ về nghĩa, dẫn đến sự hình thành các cặp từ đồng âm. Ví dụ:
Ví dụ 1: bông1 (hoa)
Ví dụ 2: bông (chất sợi lấy từ quả của bông hoặc của một số cây khác)2
4.2.4. Do sự chuyển đổi từ loại
Theo tác giả Trần Hoàng Anh (2018), hiện tượng chuyển từ từ loại này sang từ
loại khác là một đặc điểm phổ biến trong các ngôn ngữ đơn lập như tiếng Việt. Trong
quá trình này, từ chuyển loại sẽ giữ nguyên vỏ âm thanh của từ gốc nhưng thay đổi về
chức năng ngữ pháp, giúp mở rộng ý nghĩa và khả năng ứng dụng của từ trong câu.
Đây là một phương thức cấu tạo từ quan trọng, giúp tạo ra nhiều nghĩa mới mà không
cần thay đổi hình thức của từ gốc, tăng tính linh hoạt và sáng tạo trong ngôn ngữ. Ví
dụ:
Ví dụ 1: bàn (danh từ): đồ thường làm bằng gỗ, có mặt phẳng và chân đỡ, dùng 1
để bày đồ đạc hay để làm việc, làm nơi ăn uống, v.v; lần tính được, thua trong trận đấu
bóng.
Ví dụ 2: bàn (động từ): trao đổi ý kiến về một vấn đề nào đớ.2
5. Vai trò và thách thức của hiện tượng đồng âm trong tiếng Việt
Trong ngôn ngữ giao tiếp thường ngày cũng như trong văn chương, hiện tượng
đồng âm thường được sử dụng như một hiện tượng chơi chữ đặc biệt, tạo ra hiệu ứng
hài hước và châm biếng. Ví dụ, trong câu "Em ngồi bên cầu câu cá, câu chuyện tình
yêu vẫn còn dang dở.", từ "câu" đầu tiên là động từ, có nghĩa là "hành động bắt cá.",
"câu" thứ hai là danh từ, chỉ một phần của "câu chuyện". Hai từ "câu" có âm giống hệt
nhau, nhưng mỗi từ lại có nghĩa và chức năng khác nhau trong câu. Bên cạnh đó, từ
đồng âm cũng có thể tạo nên những hình ảnh mới mẻ và độc đáo, làm phong phú thêm
cho ngôn ngữ tiếng Việt và hình tượng trong văn học.
Sự có mặt các từ đồng âm trong ngôn ngữ là một hiện tượng tất yếu, nhất là đối
với loại hình ngôn ngữ đơn lập như tiếng Việt, tiếng Hán. Tuy nhiên, hiện tượng này
cũng đã gây ra những khó khăn nhất định cho việc giao tiếp của con người do tính mơ
hồ về ngữ nghĩa của nó. Nếu sử dụng một từ đồng âm không chính xác, điều này có
thể gây ra sự hiểu lầm trong giao tiếp do người nghe bị hiểu nhầm ý nguyên bản.
II. Hiện tượng đồng âm trong tiếng Anh
1. Khái niệm
Trong tiếng Anh, từ đồng âm là những từ có hình thức ngữ âm giống nhau nhưng
có sự khác biệt về nghĩa. Có thể nói đây là một hiện tượng phổ biến do hệ thống âm vị
học tiếng Anh khá phong phú, đặc biệt là khi ngôn ngữ này phát triển từ nhiều nguồn
gốc khác nhau như tiếng Latin, tiếng Pháp, và tiếng Đức (Mai et al., 2014; Yule,
2020).
2. Đặc điểm
2.1. Các nhóm đồng âm đa số được tạo thành bởi các từ
Hiện tượng đồng âm trong tiếng Anh chủ yếu xảy ra giữa các từ đơn giản, với
cấu trúc âm tiết ngắn gọn. Điều này có nghĩa là các từ có âm thanh giống nhau nhưng
mang nghĩa khác nhau thường gặp hơn là đồng âm giữa từ và cụm từ, hoặc giữa các
cụm từ với nhau. Sự xuất hiện của từ đồng âm trong tiếng Anh không chỉ phong phú
mà còn phản ánh tính đa dạng ngữ nghĩa của ngôn ngữ này, đồng thời tạo ra nhiều
thách thức trong việc sử dụng đúng ngữ cảnh.
2.2. Ý nghĩa của từ đồng âm thường phụ thuộc vào ngữ cảnh trong câu
Vì phát âm của các nhóm từ đồng âm có thể trùng lặp hoặc gần giống nhau, để sử
dụng từ chính xác cần dựa vào cách người nói hoặc người viết diễn đạt thông tin. Ví
dụ, trong câu “I went to the supermarket to buy flour.” nếu không chú ý, người nghe
có thể nhầm với “flower” (hoa) nếu không dựa vào ngữ cách và thông tin liên quan.
2.3. Các từ có thể đồng âm với nhau ở một hoặc vài dạng thức chứ không nhất
thiết đồng âm ở mọi dạng thức
Trong một ngôn ngữ biến hình như tiếng Anh, một từ có thể tham gia vào nhóm
đồng âm nào đó ở dạng thức này mà lại không đồng âm ở dạng thức khác. Ví dụ, động
từ (to) “meet” nguyên dạng, đồng âm với danh từ “meat”, nhưng dạng thức quá khứ
của động từ này (met) thì lại không (Mai et al., 2014).
3. Phân loại:
Loại từ Cách phát âm Cách viết
Homonym Giống nhau Có thể giống hoặc khác nhau
Homophone Giống nhau Khác nhau
Homograph Có thể giống hoặc khác nhau Giống nhau
Bảng so sánh các loại từ đồng âm.
3.1. Homonym (đồng âm hoàn toàn)
Từ đồng âm hoàn toàn là những từ được viết và phát âm giống nhau hoàn toàn
nhưng khác nhau về nghĩa (Ton, N. T. T., 2003).
Ví dụ 1: The band will play in the concert tonight, so he wore his new wrist band.
(Ban nhạc sẽ biểu diễn tại buổi hòa nhạc tối nay, nên anh ấy đeo chiếc vòng tay mới.).
Ở đây, từ “band” đều được viết và phát âm giống nhau (/bænd/), thậm chí là cùng là
danh từ, nhưng chúng lại mang hai nghĩa khác hoàn toàn nhau, từ “band” đầu tiên
được hiểu là “ban nhạc” trong khi từ “band” đứng sau được hiểu là “vòng (tay)”.
Ví dụ 2: She will book a table for dinner, then read a book while waiting. (Cô ấy
sẽ đặt bàn ăn tối, sau đó đọc một cuốn sách trong lúc chờ.). Tương tự, từ “book” đều
được viết và phát âm giống nhau (/b k/) nhưng mang hai nghĩa khác hoàn toàn nhau, ʊ
từ “book” đầu tiên là động từ, được hiểu là “đặt trước một cái gì đó” trong khi từ
“book” đứng sau là danh từ được hiểu là “quyển sách”.
3.2. Homophone (đồng âm âm học)
Từ đồng âm âm học là những từ có phát âm giống nhau nhưng gốc nghĩa và viết
khác nhau (Ton, N. T. T., 2003).
Ví dụ 1: They won an award at the fair. (Họ đã giành được một giải thưởng tại
hội chợ.) Ở đây, từ “won” và “one” đều phát âm giống nhau (/w n/) nhưng “won” là ʌ
động từ, nghĩa là “giành chiến thắng” còn “one” là số đếm “một”.
Ví dụ 2: The sun was shining while her son played. (Mặt trời chiếu sáng trong
khi con trai cô ấy chơi.). Từ “sun” (mặt trời) và “son” (con trai) đều được phát âm là
/s n/ nhưng có nghĩa khác nhau hoàn toàn.ʌ
3.3. Homograph (đồng âm ký tự)
Từ đồng âm ký tự là những từ có chữ viết giống nhau nhưng khác nhau về nguồn
gốc ý nghĩa và đôi khi khác nhau về cách phát âm (Ton, N. T. T., 2003).
Ví dụ 1: He wound the clock after treating his wound. (Anh ấy lên dây cót đồng
hồ sau khi điều trị vết thương.). Từ “wound” đầu tiên là động từ, có phiên âm là
/wa nd/ có nghĩa là “lên dây,” trong khi từ “wound” thứ hai là danh từ, phiên âm là ʊ
/wund/, mang nghĩa là “vết thương”.
Ví dụ 2: They decided to record a song, hoping to set a new record. (Họ quyết
định thu âm một bài hát với hy vọng lập kỷ lục mới.) Từ “record” đầu tiên là động từ,
có phiên âm là /r k rd/, nghĩa là “thu âm” còn “record” thứ hai là danh từ, phiên âm làɪˈɔ
/ r kərd/, nghĩa là “kỷ lục”.ˈɛ
4. Nguồn gốc:
Hiện tượng đồng âm trong tiếng Anh xuất phát từ nhiều yếu tố:
4.1. Sự tiến hóa của ngôn ngữ và phát triển ngữ âm qua các thời kỳ
Tiếng Anh đã trải qua nhiều thay đổi ngữ âm qua nhiều giai đoạn kể từ Old
English (tiếng Anh cổ), Middle English (tiếng Anh trung đại) và Modern English
(tiếng Anh hiện đại). Sự thay đổi về ngữ âm đã làm cho một số từ có cách phát âm
tương đồng, mặc dù chúng bắt nguồn từ những từ khác nhau (Yule, 2020).
4.1.1. Great Vowel Shift (GVS): (Đại biến đổi nguyên âm)
Đây là sự thay đổi cách phát âm của những nguyên âm dài trong tiếng Anh, xảy
ra tại Vương quốc Anh từ khoảng thế kỉ XV đến thế kỉ XVIII. GVS là nguyên nhân
chính dẫn đến những sự thay đổi trong cách phát âm, khiến cho những từ vốn được
phát âm khác nhau bắt đầu nghe giống nhau, dẫn đến sự hình thành các từ đồng âm.
Thuật ngữ này được đặt ra bởi nhà ngôn ngữ học người Đan Mạch Otto Jespersen
(1860 – 1943) để mô tả sự chuyển đổi từ Middle English (tiếng Anh trung đại) qua
Modern English (tiếng Anh hiện đại). Ví dụ, do sự thay đổi nguyên âm nên động từ
“meet” trước GVS có phiên âm là /’me tən/, danh từ “meat” trước GVS có phiên âm làː
/m t/. Tuy nhiên, sau GVS, phiên âm của chúng có sự thay đổi, đều phát âm là /mi:t/, ɛː
từ đó trở thành cặp từ đồng âm.
4.1.2. Các quá trình âm vị học
Theo thời gian, âm thanh trong ngôn ngữ tự nhiên thay đổi và phát triển. Những
thay đổi này có thể dẫn đến việc các từ có phát âm giống nhau nhưng nghĩa khác nhau.
Ví dụ, từ great (tuyệt vời) và grate (cái vỉ, cái rãnh) đều có nguồn gốc từ tiếng Anh cổ,
nhưng chúng mang những ý nghĩa khác nhau. Qua thời gian, do quá trình đơn giản hóa
âm vị, các âm cuối của hai từ này đã dần trở nên giống nhau, dẫn đến việc phát âm
giống hệt nhau / re t/.ɡɪ
4.2. Ảnh hưởng của các nền văn hoá và sự vay mượn từ ngôn ngữ khác
4.2.1. Ảnh hưởng của các nền văn hoá
Những cuộc chinh phục của người La Mã, Anglo-Saxon, Đan Mạch, Viking, và
Norman đã góp phần đáng kể vào việc mở rộng từ vựng tiếng Anh (Tulloch, 2017). Có
những từ có phát âm tương tự với các từ tiếng Anh gốc nhưng lại có khác nhau về
nghĩa, từ đó tạo ra các cặp từ đồng âm trong tiếng Anh. Ví dụ, “cell” và “sell” đều có
phiên âm là /sel/, trong đó “cell” có nguồn gốc từ tiếng Latin (ngôn ngữ của đế chế La
Mã) “cella”, nghĩa là “phòng”, “sell” có nguồn gốc từ tiếng Anh cổ “sella”, nghĩa là
“bán”.
4.2.2. Vay mượn từ ngôn ngữ khác
Tiếng Anh có truyền thống vay mượn nhiều từ các ngôn ngữ khác nhau, đặc biệt
là tiếng Pháp và tiếng Latin. Khi các từ mới được thêm vào, chúng có thể có cách phát
âm giống với các từ đã có sẵn trong tiếng Anh, tạo ra hiện tượng đồng âm (Crystal,
2003). Ví dụ, “right” và “write” đều có phát âm là /ra t/, trong đó “right” xuất phát từ ɪ
tiếng Anh cổ còn “write” có nguồn gốc từ tiếng Bắc Âu cổ.
4.3. Sự linh hoạt trong ứng dụng của các từ đa nghĩa
Ngữ cảnh là rất quan trọng trong tiếng Anh để xác định nghĩa của những từ đồng
âm. Ví dụ, từ "bark" có thể ám chỉ tiếng sủa của chó trong câu như "The dog’s bark
was loud." hoặc chỉ vỏ cây trong câu "The tree's bark is rough.". Việc đặt từ này trong
từng ngữ cảnh cụ thể giúp người nghe dễ dàng phân biệt được ý nghĩa mà người nói
muốn truyền đạt, cho thấy sự linh hoạt và đa nghĩa của từ trong giao tiếp.
4.4. Tiếng lóng và ngôn ngữ hàng ngày
Tiếng lóng và các hình thức ngôn ngữ sử dụng hàng ngày khác thường dẫn đến
sự sáng tạo ngôn ngữ, bao gồm việc tạo ra từ đồng âm. Từ đồng âm càng trở nên phổ
biến khi được sử dụng trong các câu đùa và câu nói hài hước với nhiều tầng ý nghĩa
dựa trên biện pháp chơi chữ (Cook, 1997).
5. Vai trò và thách thức của homophones trong tiếng Anh
Các từ đồng âm thường được sử dụng trong chơi chữ hoặc tạo ra sự hài hước
trong văn bản, làm tăng tính hài hước và sự phong phú trong cách sử dụng từ ngữ. Khi
sử dụng đúng và hợp lí các từ đồng âm, người nói và người viết có thể thể hiện ý
tưởng của mình một cách hiệu quả, tăng khả năng diễn đạt tới người nghe và người
đọc.
Tuy nhiên, hiện tượng đồng âm có thể gây khó khăn trong việc học và sử dụng
tiếng Anh, đặc biệt đối với người học ngoại ngữ. Nó không chỉ yêu cầu người học phải
nắm vững cách phát âm mà còn phải xác định đúng ngữ cảnh để hiểu chính xác nghĩa
của từ. Một số homophones phổ biến dễ gây nhầm lẫn trong giao tiếp có thể kể tới là
ba từ “to”, “two”, và “too” bởi chúng đều phát âm là /tu /, hoặc “there”, “their”, và ː
“they’re” đều phát âm là /ð r/.ɛ
Không chỉ dừng lại ở đó, hiện tượng đồng âm cũng có thể dẫn đến sai sót trong
văn viết, khiến người viết có thể gặp khó khăn khi lựa chọn từ phù hợp để diễn đạt ý.
Trong các văn bản, từ đồng âm còn có thể khiến cho câu văn trở nên lưỡng nghĩa, khó
hiểu, vì người đọc không thể xác định được nghĩa chính xác của từ nếu không có ngữ
cảnh cụ thể.
III. Đối chiếu hiện tượng đồng âm trong tiếng Việt và tiếng Anh (điểm tương
đồng và khác biệt).
1. Điểm tương đồng
1.1. Khái niệm chung về hiện tượng đồng âm
Cả tiếng Việt và tiếng Anh đều tồn tại hiện tượng đồng âm, được hiểu là khi hai
từ có cách phát âm giống nhau nhưng nghĩa khác nhau, một hiện tượng ngữ nghĩa xuất
hiện trong hầu hết các ngôn ngữ trên thế giới, bao gồm cả tiếng Anh và tiếng Việt
(Fromkin et al., 2018).
1.2. Phát âm giống nhau nhưng nghĩa khác nhau
Trong cả hai ngôn ngữ, các từ đồng âm đều có chung đặc điểm là phát âm giống
nhau nhưng nghĩa hoàn toàn khác nhau. Điều này có thể dẫn đến sự nhầm lẫn, đặc biệt
khi không có ngữ cảnh rõ ràng. Ví dụ:
Trong tiếng Việt: cá (động vật) và cá (cược).
đường (đường tàu) và đường (mua cân đường).
Trong tiếng Anh: bank (bờ sông) and bank (ngân hàng).
bark (tiếng chó sủa) and bark (vỏ cây).
1.3. Vai trò của ngữ cảnh
Cả hai ngôn ngữ đều phụ thuộc rất lớn vào ngữ cảnh để phân biệt nghĩa của các
từ đồng âm. Ngữ cảnh đóng vai trò then chốt trong việc giúp người nghe và người đọc
nhận biết nghĩa của từ trong trường hợp đồng âm. Nếu không có ngữ cảnh, việc hiểu
sai hoặc nhầm lẫn có thể xảy ra, đặc biệt trong các cuộc đối thoại hoặc văn bản.
2. Điểm khác biệt
2.1. Về mặt khái niệm
2.1.1. Tiếng Việt
Ngoài khái niệm giống nhau trong ngữ âm, từ đồng âm còn có sự ràng buộc về
hình thức chữ viết.
Ví dụ 1: má (rau má) & má (mẹ)
Ví dụ 2: cất (cất rượu) & cất (cất đồ)
Tiếng Việt cũng có thể có từ phát âm giống nhau do tính chất phát âm tùy địa
phương, nhưng không được tính là từ đồng âm.
2.1.2. Tiếng Anh
So với tiếng Việt, từ đồng âm trong tiếng Anh có sự xuất hiện của những từ đồng
âm khác nhau về mặt chữ viết. Từ đồng âm được phân vào ba loại khác nhau:
- Homonym (đồng âm hoàn toàn): Viết và phát âm giống nhau hoàn toàn nhưng
khác nghĩa. Ví dụ: pen (bút) & pen (chuồng); phát âm /pen/ cho cả hai từ.
- Homophone (đồng âm âm học): Phát âm giống nhau nhưng gốc nghĩa và viết
khác nhau. Ví dụ: to (tới) & two (hai)
- Homograph (đồng âm ký tự): Viết giống nhau nhưng khác nhau về nguồn gốc ý
nghĩa và đôi khi khác nhau về cách phát âm. Ví dụ: bow (nơ) & bow (cúi chào); phát
âm lần lượt là /ba / và /bə /.ʊʊ
2.2. Về mặt ngữ nghĩa
Các từ đồng âm trong tiếng Anh thường không có sự liên kết về ngữ nghĩa, ví dụ
“knight” (hiệp sĩ) và “night” (ban đêm). Chúng là các từ có nguồn gốc từ các từ gốc
khác nhau, và không có liên hệ về ý nghĩa hay nguồn gốc văn hóa. Do đó, từ đồng âm
trong tiếng Anh thường là các từ khác nghĩa và cách viết để phân biệt.
Trong tiếng Việt, từ đồng âm thường có một số liên kết ngữ nghĩa nhất định do
tính chất ngữ nghĩa học của các từ đơn âm tiết. Các từ đồng âm có thể xuất phát từ
cùng một gốc từ và được phát triển để mang thêm nghĩa mới.
Ví dụ 1: đường (đắp đường), đường (đường phèn).
Ví dụ 2: cất (cất tiền vào tủ) - cất (cất rượu)
Do tiếng Việt không biến hình, các từ đồng âm luôn giữ nguyên cách phát âm
trong mọi bối cảnh. Ngược lại, trong tiếng Anh và các ngôn ngữ biến hình thuộc hệ
Ấn-Âu, một từ có thể là đồng âm ở dạng thức này nhưng lại không còn đồng âm ở
dạng thức khác (Mai et al., 2014). Ví dụ: Động từ “meet” nguyên dạng đồng âm với từ
“meat” nhưng dạng thức quá khứ của nó “met” thì lại không.
2.3. Về mặt phân loại
2.3.1. Tiếng Việt
Tiếng Việt là ngôn ngữ đơn âm tiết và có hệ thống thanh điệu phong phú, vì vậy
hiện tượng đồng âm thường chịu ảnh hưởng của các thanh điệu và cấu trúc âm tiết. Về
mặt phân loại, hiện tượng đồng âm trong tiếng Việt ít phức tạp hơn so với tiếng Anh, ít
biến đổi về mặt phát âm hay chữ viết. Ví dụ, ma (ma quỷ), má (má/cái má), mà (nhưng
mà), mạ (cây mạ), và mã (mã số hoặc con ngựa) đều có cấu trúc âm giống nhau, nhưng
khác về thanh điệu, vì vậy có nghĩa hoàn toàn khác nhau
2.3.2 Tiếng Anh
Tiếng Anh, không giống tiếng Việt, là ngôn ngữ không có hệ thống thanh điệu,
và thay vào đó sử dụng trọng âm và cấu trúc âm tiết để nhấn mạnh và phân biệt nghĩa.
Các loại đồng âm trong tiếng Anh thường được phân loại như sau:
- Homophone: "see" và "sea" có cách phát âm giống nhau nhưng ý nghĩa khác
nhau hoàn toàn (một từ chỉ việc nhìn, còn một từ chỉ biển).
- Homograph: "lead" (chỉ nguyên tố chì) và "lead" (dẫn dắt) có cách viết giống
nhau nhưng phát âm và nghĩa khác nhau.
- Homonym: Các từ như "night" và "knight" phát âm giống nhau nhưng có cách
viết và ý nghĩa hoàn toàn khác.
2.4. Về mặt hình thái
2.4.1. Tiếng Việt
Tiếng Việt là ngôn ngữ đơn lập, các từ không thay đổi hình thái dù ngữ pháp có
thay đổi. Ví dụ: "đậu" trong câu “Con ruồi đậu mâm xôi đậu” giữ nguyên hình thức dù
nó vừa là động từ vừa là danh từ.
2.4.2. Tiếng Anh
So với tiếng Việt, tiếng Anh là ngôn ngữ biến hình, hình thái từ có thể thay đổi
theo thì, số lượng hoặc chức năng ngữ pháp. Ví dụ: "bow" có thể được phát âm là
/bə / (cái nơ) và /ba / (cúi chào) dù có cách viết giống nhau.ʊʊ
PHẦN 3: KẾT LUẬN
Bằng việc phân tích khái niệm, đặc điểm, nguồn gốc, phân loại, vai trò và ảnh
hưởng của từ đồng âm trong tiếng Việt và tiếng Anh, chúng tôi đã chỉ ra những điểm
tương đồng và khác biệt của hiện tượng ngôn ngữ này ở hai ngôn ngữ. Cả hai loại từ
đồng âm đều có đặc điểm chung là có cách phát âm giống nhau nhưng nghĩa khác
nhau. Tuy nhiên, từ đồng âm trong tiếng Việt thường mang những nghĩa gần nhau do
cùng một gốc từ, và chúng cần trùng nhau về hình thức chữ viết. Điều này có nghĩa là
trong nhiều trường hợp, người nghe có thể dễ dàng đoán được nghĩa dựa trên ngữ
cảnh. Trong khi đó, từ đồng âm trong tiếng Anh có sự phức tạp hơn rất nhiều, khi mà
đa số các từ này không có bất kỳ sự liên kết nào về ngữ nghĩa. Chúng được phân loại
thành ba dạng khác nhau: homonym (đồng âm hoàn toàn), homophone (đồng âm âm
học) và homograph (đồng âm ký tự), mỗi dạng có những đặc điểm riêng biệt. Ví dụ,
homonym có thể có nghĩa hoàn toàn khác nhau và cùng một cách phát âm, trong khi
homograph có thể viết giống nhau nhưng phát âm khác nhau và mang nghĩa khác
nhau.
Qua các dẫn chứng trên, có thể thấy rằng độ phức tạp của từ đồng âm trong
tiếng Anh cao hơn nhiều so với tiếng Việt. Điều này gây ra không ít khó khăn cho học
sinh, sinh viên Việt Nam khi họ học và sử dụng tiếng Anh trong giao tiếp và học tập.
Việc hiểu và sử dụng đúng từ đồng âm trong tiếng Anh đòi hỏi người học không chỉ có
kiến thức ngữ pháp vững vàng mà còn phải nhạy bén trong việc cảm nhận ngữ cảnh.
Những khó khăn này có thể dẫn đến việc hiểu sai ý nghĩa của câu nói, ảnh hưởng đến
khả năng giao tiếp hiệu quả trong các tình huống thực tế. Do đó, việc nghiên cứu và
hiểu rõ hiện tượng đồng âm không chỉ giúp người học ngôn ngữ nhận thức tốt hơn mà
còn hỗ trợ họ trong việc giao tiếp chính xác và tự tin hơn.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Cook, G. (1997). . ELT Journal, (3), 224–231. Language play, language learning 51
https://doi.org/10.1093/elt/51.3.224
Crystal, D. (2008). A Dictionary of Linguistics and Phonetics. Wiley-Blackwell.
Fromkin, V., Rodman, R., & Hyams, N. (2017). (11th An introduction to language
ed.). Thomson/Heinle.
https://ukhtt3nee.wordpress.com/wp-content/uploads/2019/04/an_introduction_to_lang
uage.pdf
Fromkin, V., Rodman, R., & Hyams, N. (2018). . An Introduction to Language
Cengage Learning.
Mai, C. N., Vũ, N. Đ., & Hoàng, P. T. (2014). . NXBCơ sở ngôn ngữ học và tiếng Việt
Giáo dục Việt Nam.
Nguyễn, Q. H., & Nguyễn, Ý. N. (2014). . NXB Giáo dục Từ điển đồng âm tiếng Việt
Việt Nam.
Ton, N. T. T. (2003). Thuận lợi của người nước ngoài học từ đồng âm tiếng Việt và
khó khăn của người Việt Nam học từ đồng âm tiếng Anh. VNU Journal of Foreign
Studies, 19(4).
Trần, A. H. (2018). Chuyển loại - Một phương thức cấu tạo từ trong tiếng Việt. Tạp
chí Khoa học - Đại học Quảng Nam, 5-13.
https://scholar.dlu.edu.vn/thuvienso/bitstream/DLU123456789/214400/1/
CVv472S62018005.pdf
Tulloch, A. (2017). Understanding English homonyms: Their origins and usage. Hong
Kong University Press.
https://hkupress.hku.hk/image/catalog/pdf-preview/9789888390649.pdf
Yule, G. (2020). (7th ed.). Cambridge University Press.The Study of Language

Preview text:

Trường Đại học Ngoại ngữ - ĐHQGHN
Bộ môn Ngôn ngữ và Văn hóa Việt Nam
BÁO CÁO KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU NHÓM
Tên vấn đề nghiên cứu: Đối chiếu hiện tượng đồng âm trong tiếng Việt và tiếng Anh. Danh sách nhóm: STT Họ và tên MSV STT theo ca học
Đánh giá kết quả làm việc 1 Lê Vũ Hồng Anh 24040002 51 Hoàn thành xuất sắc 2 Ngô Phương Anh 24042283 56 Hoàn thành tốt 3 Trần Linh Anh 24040016 127 Hoàn thành tốt 45 Vũ Kim Anh Vũ Thuỳ Dung 24040021 143 Hoàn thành tốt (nhóm trưởng) 24040035 237 Hoàn thành xuất sắc 6 Nguyễn Ngọc Hoa 24040057 443 Hoàn thành tốt 7 Lê Đào Hạnh Linh 24040071 612 Hoàn thành tốt 8Nguyễn Hương Linh 24040079 641 Hoàn thành tốt 9Nguyễn Dũng Minh 24040093 771 Hoàn thành xuất sắc 10 Vương Phương Thuỳ 24040132 1091 Hoàn thành tốt MỤC LỤC
PHẦN 1: MỞ ĐẦU......................................................................................................4
1. Lí do chọn đề tài...................................................................................................4
2. Mục tiêu nghiên cứu.............................................................................................4
3. Phương pháp nghiên cứu.....................................................................................4
4. Giới hạn vấn đề nghiên cứu.................................................................................5
PHẦN 2: NỘI DUNG NGHIÊN CỨU........................................................................5
I. Hiện tượng đồng âm trong tiếng Việt..................................................................5
1. Khái niệm...........................................................................................................5
2. Đặc điểm............................................................................................................5
2.1. Từ nào đồng âm với nhau thì luôn đồng âm trong mọi hoàn cảnh được
sử dụng...............................................................................................................5
2.2. Đồng âm giữa từ và từ là kết quả của đồng âm tiếng với tiếng...............6
3. Phân loại............................................................................................................6
3.1. Đồng âm từ với từ.......................................................................................7
3.2. Đồng âm từ với tiếng...................................................................................7
4. Nguồn gốc..........................................................................................................7
4.1. Những từ hoặc nhóm từ đồng âm không tìm được lý do hình thành......7
4.2. Những từ hoặc nhóm từ đồng âm tìm được lý do hình thành.................8
5. Vai trò và thách thức của hiện tượng đồng âm trong tiếng Việt...................9
II. Hiện tượng đồng âm trong tiếng Anh....................................................................9
1. Khái niệm...........................................................................................................9
2. Đặc điểm............................................................................................................9
2.1. Các nhóm đồng âm đa số được tạo thành bởi các từ................................9
2.2. Ý nghĩa của từ đồng âm thường phụ thuộc vào ngữ cảnh trong câu....10
2.3. Các từ có thể đồng âm với nhau ở một hoặc vài dạng thức chứ không
nhất thiết đồng âm ở mọi dạng thức...............................................................10
3. Phân loại:.........................................................................................................10
3.1. Homonym (đồng âm hoàn toàn)..............................................................10
3.2. Homophone (đồng âm âm học)................................................................11
3.3. Homograph (đồng âm ký tự)....................................................................11
4. Nguồn gốc:.......................................................................................................11
4.1. Sự tiến hóa của ngôn ngữ và phát triển ngữ âm qua các thời kỳ..........11
4.2. Ảnh hưởng của các nền văn hoá và sự vay mượn từ ngôn ngữ khác....12
4.3. Sự linh hoạt trong ứng dụng của các từ đa nghĩa...................................13
4.4. Tiếng lóng và ngôn ngữ hàng ngày..........................................................13
5. Vai trò và thách thức của homophones trong tiếng Anh..............................13
III. Đối chiếu hiện tượng đồng âm trong tiếng Việt và tiếng Anh (điểm tương
đồng và khác biệt)...................................................................................................14
1. Điểm tương đồng.............................................................................................14
1.1. Khái niệm chung về hiện tượng đồng âm................................................14
1.2. Phát âm giống nhau nhưng nghĩa khác nhau.........................................14
1.3. Vai trò của ngữ cảnh.................................................................................14
2. Điểm khác biệt.................................................................................................15
2.1. Về mặt khái niệm......................................................................................15
2.2. Về mặt ngữ nghĩa......................................................................................15
2.3. Về mặt phân loại.......................................................................................16
2.4. Về mặt hình thái........................................................................................16
TÀI LIỆU THAM KHẢO.........................................................................................18 PHẦN 1: MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Thứ nhất, lý do chọn đề tài này xuất phát từ sự quan tâm sâu sắc đến đồng âm -
một hiện tượng ngữ âm quan trọng trong tiếng Việt và tiếng Anh. Việc so sánh hiện
tượng đồng âm giữa hai ngôn ngữ không chỉ giúp người nghiên cứu soi chiếu, làm rõ
để từ đó nắm vững về hiện tượng này trong tiếng Việt mà còn trau dồi thêm kiến thức
về từ đồng âm trong Tiếng Anh. Qua đó, người học sẽ mở rộng kiến thức về ngôn ngữ học nói chung.
Thứ hai, việc sử dụng các từ đồng âm khi không nắm rõ bản chất có thể dễ gây
ra hiểu lầm và khó khăn trong giao tiếp. Vì vậy, đối chiếu hiện tượng này giữa tiếng
Việt và tiếng Anh sẽ tạo điều kiện cho người học có cơ hội hiểu sâu hơn về đồng âm,
từ đó hạn chế mắc lỗi khi giao tiếp với người khác.
2. Mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu của đề tài trước hết là chỉ ra sự tương đồng và khác biệt của hiện tượng
đồng âm giữa tiếng Việt và ngôn ngữ khác (cụ thể là tiếng Anh). Qua đó, nghiên cứu
giúp làm sáng tỏ việc sử dụng từ đồng âm trong ngôn ngữ gốc là tiếng Việt và mở
rộng hiểu biết về hiện tượng ngữ pháp này trong ngôn ngữ khác là tiếng Anh.
Bên cạnh đó, đề tài làm sáng tỏ những hiện tượng đồng âm dễ gây nhầm lẫn
trong hai ngôn ngữ, từ đó giúp người học phân biệt và tránh mắc lỗi khi sử dụng trong học tập và giao tiếp.
3. Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp tổng hợp, phân loại, phân tích: Tổng hợp các tài liệu chứa nội dung
cần nghiên cứu về đến hiện tượng đồng âm trong tiếng Việt và tiếng Anh qua các
nguồn uy tín như Google Scholar, từ điển tiếng Việt và tiếng Anh trực tuyến, các tài
liệu trên hệ thống LMS, wikipedia. Từ đó phân loại tài liệu phù hợp và đưa vào từng mục để nghiên cứu.
Phương pháp đối chiếu, so sánh: Từ những tài liệu đã thu thập, so sánh hiện
tượng đồng âm giữa tiếng Việt và tiếng Anh để tìm ra điểm tương đồng và khác biệt.
Các khía cạnh so sánh bao gồm định nghĩa, đặc điểm về phát âm, ngữ nghĩa và nguồn gốc.
4. Giới hạn vấn đề nghiên cứu
Phạm vi ngôn ngữ: Nghiên cứu sẽ chỉ tập trung vào hiện tượng đồng âm ở hai ngôn
ngữ là tiếng Việt và tiếng Anh.
Phạm vi nội dung: Nghiên cứu chủ yếu đi sâu phân tích một số dạng từ đồng âm
phổ biến và dễ gây nhầm lẫn trong tiếng Việt và tiếng Anh. Bài tập này sẽ không đi
sâu vào các yếu tố ngữ pháp nâng cao hoặc ngữ cảnh chi tiết. Thay vào đó, nghiên cứu
chỉ tập trung vào đối chiếu để chỉ ra điểm tương đồng và khác biệt về đặc điểm của
hiện tượng đồng âm trong hai ngôn ngữ để giúp người học hiểu sâu hơn về hiện tượng ngữ pháp này.
PHẦN 2: NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
I. Hiện tượng đồng âm trong tiếng Việt 1. Khái niệm
Theo Mai et al. (2014), từ đồng âm là những từ trùng nhau về hình thức ngữ âm
nhưng khác nhau về nghĩa. Như vậy, nhìn chung, hiện tượng đồng âm là hiện tượng
khi hai đơn vị trở lên giống nhau về hình thức ngữ âm nhưng khác nhau về nghĩa cùng
xuất hiện trong một bối cảnh.
Ví dụ 1: yêu (yêu quái); yêu 1 (yêu thương); yêu 2 (yêu kiều); yêu 3 (yêu cầu) 4
Ví dụ 2: tương (tương tác), tương 1 (tương trợ) 2
Hiện tượng đồng âm là hiện tượng tất yếu do khả năng tạo lập và ghi nhớ âm
thanh của con người có giới hạn nhưng số lượng đơn vị ngôn ngữ lại quá lớn. Vì vậy,
con người đã cố tập hợp những đơn vị ngôn ngữ khác nhau với các ý nghĩa khác nhau
trong cùng một vỏ ngữ âm giống nhau. 2. Đặc điểm
2.1. Từ nào đồng âm với nhau thì luôn đồng âm trong mọi hoàn cảnh được sử
dụng (Mai et al., 2014)
Nguyên nhân: Tiếng Việt là ngôn ngữ đơn lập, trong đó các từ không thay đổi
hình thái (dạng thức) khi mang nghĩa khác nhau, thời gian khác nhau hoặc vị trí ngữ
pháp khác nhau trong câu. Điều này khác với các ngôn ngữ biến hình, như tiếng Anh,
nơi các từ có thể biến đổi (như thêm đuôi “-ed” cho thì quá khứ). Ví dụ 1: Hôm qua, trời mưa to. Hôm nay, trời mưa to.
Từ “mưa” trong câu “Hôm qua, trời mưa to.” và “Hôm nay, trời mưa to.” có
nghĩa giống nhau, nhưng cách diễn đạt về thời gian được xác định qua từ chỉ thời gian
như “hôm qua” (quá khứ) và “hôm nay” (hiện tại). Ví dụ 2:
Hôm qua, mẹ đưa tôi đến trường.
Hôm nay, tôi quét nhà giúp mẹ.
Hôm nay, mẹ tôi đi chợ từ sớm.
“Hôm qua, mẹ đưa tôi đến trường.” – “tôi” là tân ngữ, đối tượng được hành động "đưa" hướng đến.
“Hôm nay, tôi quét nhà giúp mẹ” – “tôi” là chủ ngữ, thực hiện hành động “quét nhà”.
“Hôm nay, mẹ tôi đi chợ từ sớm.” – “tôi” là bổ ngữ, xác định mối quan hệ (mẹ của tôi).
Như vậy, dù vai trò và vị trí thay đổi, hình thức của từ “tôi” không biến đổi, thể
hiện tính chất đơn lập của tiếng Việt.
2.2. Đồng âm giữa từ và từ là kết quả của đồng âm tiếng với tiếng (Mai et al., 2014)
Nguyên nhân: Trong tiếng Việt, các từ được hình thành từ một tiếng hoặc kết
hợp nhiều tiếng, có sự phân biệt giữa gốc từ và phụ tố. Điều này tạo ra nhiều từ đồng
âm, khi hai từ giống nhau về hình thức nhưng khác về nghĩa. Ví dụ:
“Con ruồi đậu mâm xôi đậu”
Trong đó: đậu (động từ): Hành động dừng lại, ở đây l 1 à con ruồi dừng lại.
đậu2 (danh từ): Loại hạt, ám chỉ đĩa mâm xôi có hạt đậu. 3. Phân loại
3.1. Đồng âm từ với từ (Mai et al., 2014)
Đây là loại đồng âm phổ biến nhất, trong đó các đơn vị tham gia vào một nhóm
đồng âm đều thuộc cùng một cấp độ từ, được chia thành hai loại chính:
3.1.1. Đồng âm từ vựng
Các từ trong nhóm này hoàn toàn giống nhau về từ loại và âm, nhưng khác nhau về nghĩa.
Ví dụ 1: chạy (chạy bộ) - chạy 1 (chạy xe) - chạy 2 (chạy trốn) … 3
Ví dụ 2: cất (cất giọng) - cất 1 (cất 2
giữ) - cất3 (cất bước) …
3.1.2. Đồng âm từ vựng - ngữ pháp
Các từ trong nhóm này giống nhau về âm, nhưng khác nhau về từ loại.
Ví dụ 1: câu (câu giờ) - câu 1 (câu chuyện) - câu 2 (câu hỏi 3 ) …
Ví dụ 2: cô (cô gái) - cô 1 (cô đơn) … 2
Ví dụ 3: bàn (bàn tay) - bàn 1 (bàn bạc) … 2
3.2. Đồng âm từ với tiếng (Mai et al., 2014)
Khác với dạng Đồng âm từ với từ, ở đây các đơn vị tham gia vào nhóm đồng âm
thuộc các cấp độ khác nhau, và kích thước ngữ âm của chúng đều không vượt quá một tiếng.
Ví dụ 1: khách (cười khanh khách) - khách 1 (khách mời) … 2
Ví dụ 2: đá (đá bóng) - đá 1 (hòn đá) … 2 4. Nguồn gốc
Trong Tiếng Việt, phần lớn các từ đồng âm xuất hiện mà con người không thể
giải thích nguồn gốc chúng hình thành. Chỉ một số từ hoặc nhóm từ mà con người có
thể phát hiện con đường hình thành của chúng.
4.1. Những từ hoặc nhóm từ đồng âm không tìm được lý do hình thành
Ví dụ 1: kệ (mặc kệ), kệ 1
2 (kệ nệ), kệ (kệ sách) 3
Ví dụ 2: rủ (rủ bạn đi chơi), rủ 1 (sau cơn mưa, l 2 á cây rủ xuống)
4.2. Những từ hoặc nhóm từ đồng âm tìm được lý do hình thành
4.2.1. Do tiếp thu và vay mượn các từ của các ngôn ngữ khác
Cùng với quá trình lịch sử của đất nước, Tiếng Việt cũng tăng vốn từ vựng thông
qua việc mượn từ của nước Ngoài. Khi đó, từ vay mượn và từ thuần Việt có cùng cách
đọc tạo thành nhóm từ đồng âm.
Ví dụ 1: (hoa lan – nguồn gốc Việt), lan (lan can – nguồn gố 2 c Pháp)
Ví dụ 2: sách (cuốn sách – nguồn gốc Việt), sá 1
ch (sách lược – nguồn gốc H 2 án)
4.2.2. Do tiếp thu và vay mượn các từ địa phương dùng trong ngôn ngữ toàn dân
Ví dụ 1: răng (răng hàm), răng (mô tê răng rứa ở miền Trung)
Ví dụ 2: thơm (hương vị), thơm (quả dứa ở miền Nam) (Q. H. Nguyễn & Ý. N. Nguyễn, 2014)
4.2.3. Do sự tách biệt nghĩa của từ đa nghĩa
Một nghĩa cụ thể có thể tách ra khỏi cấu trúc nghĩa chung, tạo thành một từ mới
đồng âm với từ gốc. Trong trường hợp này, thực sự đã xảy ra sự đứt gãy trong mối liên
hệ về nghĩa, dẫn đến sự hình thành các cặp từ đồng âm. Ví dụ: Ví dụ 1: bông1 (hoa)
Ví dụ 2: bông (chất sợi lấy từ quả củ 2
a bông hoặc của một số cây khác)
4.2.4. Do sự chuyển đổi từ loại
Theo tác giả Trần Hoàng Anh (2018), hiện tượng chuyển từ từ loại này sang từ
loại khác là một đặc điểm phổ biến trong các ngôn ngữ đơn lập như tiếng Việt. Trong
quá trình này, từ chuyển loại sẽ giữ nguyên vỏ âm thanh của từ gốc nhưng thay đổi về
chức năng ngữ pháp, giúp mở rộng ý nghĩa và khả năng ứng dụng của từ trong câu.
Đây là một phương thức cấu tạo từ quan trọng, giúp tạo ra nhiều nghĩa mới mà không
cần thay đổi hình thức của từ gốc, tăng tính linh hoạt và sáng tạo trong ngôn ngữ. Ví dụ:
Ví dụ 1: bàn1 (danh từ): đồ thường làm bằng gỗ, có mặt phẳng và chân đỡ, dùng
để bày đồ đạc hay để làm việc, làm nơi ăn uống, v.v; lần tính được, thua trong trận đấu bóng.
Ví dụ 2: bàn2 (động từ): trao đổi ý kiến về một vấn đề nào đớ.
5. Vai trò và thách thức của hiện tượng đồng âm trong tiếng Việt
Trong ngôn ngữ giao tiếp thường ngày cũng như trong văn chương, hiện tượng
đồng âm thường được sử dụng như một hiện tượng chơi chữ đặc biệt, tạo ra hiệu ứng
hài hước và châm biếng. Ví dụ, trong câu "Em ngồi bên cầu câu cá, câu chuyện tình
yêu vẫn còn dang dở.", từ "câu" đầu tiên là động từ, có nghĩa là "hành động bắt cá.",
"câu" thứ hai là danh từ, chỉ một phần của "câu chuyện". Hai từ "câu" có âm giống hệt
nhau, nhưng mỗi từ lại có nghĩa và chức năng khác nhau trong câu. Bên cạnh đó, từ
đồng âm cũng có thể tạo nên những hình ảnh mới mẻ và độc đáo, làm phong phú thêm
cho ngôn ngữ tiếng Việt và hình tượng trong văn học.
Sự có mặt các từ đồng âm trong ngôn ngữ là một hiện tượng tất yếu, nhất là đối
với loại hình ngôn ngữ đơn lập như tiếng Việt, tiếng Hán. Tuy nhiên, hiện tượng này
cũng đã gây ra những khó khăn nhất định cho việc giao tiếp của con người do tính mơ
hồ về ngữ nghĩa của nó. Nếu sử dụng một từ đồng âm không chính xác, điều này có
thể gây ra sự hiểu lầm trong giao tiếp do người nghe bị hiểu nhầm ý nguyên bản.
II. Hiện tượng đồng âm trong tiếng Anh 1. Khái niệm
Trong tiếng Anh, từ đồng âm là những từ có hình thức ngữ âm giống nhau nhưng
có sự khác biệt về nghĩa. Có thể nói đây là một hiện tượng phổ biến do hệ thống âm vị
học tiếng Anh khá phong phú, đặc biệt là khi ngôn ngữ này phát triển từ nhiều nguồn
gốc khác nhau như tiếng Latin, tiếng Pháp, và tiếng Đức (Mai et al., 2014; Yule, 2020). 2. Đặc điểm
2.1. Các nhóm đồng âm đa số được tạo thành bởi các từ
Hiện tượng đồng âm trong tiếng Anh chủ yếu xảy ra giữa các từ đơn giản, với
cấu trúc âm tiết ngắn gọn. Điều này có nghĩa là các từ có âm thanh giống nhau nhưng
mang nghĩa khác nhau thường gặp hơn là đồng âm giữa từ và cụm từ, hoặc giữa các
cụm từ với nhau. Sự xuất hiện của từ đồng âm trong tiếng Anh không chỉ phong phú
mà còn phản ánh tính đa dạng ngữ nghĩa của ngôn ngữ này, đồng thời tạo ra nhiều
thách thức trong việc sử dụng đúng ngữ cảnh.
2.2. Ý nghĩa của từ đồng âm thường phụ thuộc vào ngữ cảnh trong câu
Vì phát âm của các nhóm từ đồng âm có thể trùng lặp hoặc gần giống nhau, để sử
dụng từ chính xác cần dựa vào cách người nói hoặc người viết diễn đạt thông tin. Ví
dụ, trong câu “I went to the supermarket to buy flour.” nếu không chú ý, người nghe
có thể nhầm với “flower” (hoa) nếu không dựa vào ngữ cách và thông tin liên quan.
2.3. Các từ có thể đồng âm với nhau ở một hoặc vài dạng thức chứ không nhất
thiết đồng âm ở mọi dạng thức
Trong một ngôn ngữ biến hình như tiếng Anh, một từ có thể tham gia vào nhóm
đồng âm nào đó ở dạng thức này mà lại không đồng âm ở dạng thức khác. Ví dụ, động
từ (to) “meet” nguyên dạng, đồng âm với danh từ “meat”, nhưng dạng thức quá khứ
của động từ này (met) thì lại không (Mai et al., 2014). 3. Phân loại: Loại từ Cách phát âm Cách viết Homonym Giống nhau
Có thể giống hoặc khác nhau Homophone Giống nhau Khác nhau Homograph
Có thể giống hoặc khác nhau Giống nhau
Bảng so sánh các loại từ đồng âm.
3.1. Homonym (đồng âm hoàn toàn)
Từ đồng âm hoàn toàn là những từ được viết và phát âm giống nhau hoàn toàn
nhưng khác nhau về nghĩa (Ton, N. T. T., 2003).
Ví dụ 1: The band will play in the concert tonight, so he wore his new wrist band.
(Ban nhạc sẽ biểu diễn tại buổi hòa nhạc tối nay, nên anh ấy đeo chiếc vòng tay mới.).
Ở đây, từ “band” đều được viết và phát âm giống nhau (/bænd/), thậm chí là cùng là
danh từ, nhưng chúng lại mang hai nghĩa khác hoàn toàn nhau, từ “band” đầu tiên
được hiểu là “ban nhạc” trong khi từ “band” đứng sau được hiểu là “vòng (tay)”.
Ví dụ 2: She will book a table for dinner, then read a book while waiting. (Cô ấy
sẽ đặt bàn ăn tối, sau đó đọc một cuốn sách trong lúc chờ.). Tương tự, từ “book” đều
được viết và phát âm giống nhau (/b k/) nhưng mang hai nghĩa khác hoàn toàn nhau, ʊ
từ “book” đầu tiên là động từ, được hiểu là “đặt trước một cái gì đó” trong khi từ
“book” đứng sau là danh từ được hiểu là “quyển sách”.
3.2. Homophone (đồng âm âm học)
Từ đồng âm âm học là những từ có phát âm giống nhau nhưng gốc nghĩa và viết
khác nhau (Ton, N. T. T., 2003).
Ví dụ 1: They won an award at the fair. (Họ đã giành được một giải thưởng tại
hội chợ.) Ở đây, từ “won” và “one” đều phát âm giống nhau (/w n/) nhưng “won” là ʌ
động từ, nghĩa là “giành chiến thắng” còn “one” là số đếm “một”.
Ví dụ 2: The sun was shining while her son played. (Mặt trời chiếu sáng trong
khi con trai cô ấy chơi.). Từ “sun” (mặt trời) và “son” (con trai) đều được phát âm là
/s n/ nhưng có nghĩa khác nhau hoàn toàn. ʌ
3.3. Homograph (đồng âm ký tự)
Từ đồng âm ký tự là những từ có chữ viết giống nhau nhưng khác nhau về nguồn
gốc ý nghĩa và đôi khi khác nhau về cách phát âm (Ton, N. T. T., 2003).
Ví dụ 1: He wound the clock after treating his wound. (Anh ấy lên dây cót đồng
hồ sau khi điều trị vết thương.). Từ “wound” đầu tiên là động từ, có phiên âm là
/waʊnd/ có nghĩa là “lên dây,” trong khi từ “wound” thứ hai là danh từ, phiên âm là
/wund/, mang nghĩa là “vết thương”.
Ví dụ 2: They decided to record a song, hoping to set a new record. (Họ quyết
định thu âm một bài hát với hy vọng lập kỷ lục mới.) Từ “record” đầu tiên là động từ, có phiên âm là /r k
ɪˈɔ rd/, nghĩa là “thu âm” còn “record” thứ hai là danh từ, phiên âm là / r
ˈɛ kərd/, nghĩa là “kỷ lục”. 4. Nguồn gốc:
Hiện tượng đồng âm trong tiếng Anh xuất phát từ nhiều yếu tố:
4.1. Sự tiến hóa của ngôn ngữ và phát triển ngữ âm qua các thời kỳ
Tiếng Anh đã trải qua nhiều thay đổi ngữ âm qua nhiều giai đoạn kể từ Old
English (tiếng Anh cổ), Middle English (tiếng Anh trung đại) và Modern English
(tiếng Anh hiện đại). Sự thay đổi về ngữ âm đã làm cho một số từ có cách phát âm
tương đồng, mặc dù chúng bắt nguồn từ những từ khác nhau (Yule, 2020).
4.1.1. Great Vowel Shift (GVS): (Đại biến đổi nguyên âm)
Đây là sự thay đổi cách phát âm của những nguyên âm dài trong tiếng Anh, xảy
ra tại Vương quốc Anh từ khoảng thế kỉ XV đến thế kỉ XVIII. GVS là nguyên nhân
chính dẫn đến những sự thay đổi trong cách phát âm, khiến cho những từ vốn được
phát âm khác nhau bắt đầu nghe giống nhau, dẫn đến sự hình thành các từ đồng âm.
Thuật ngữ này được đặt ra bởi nhà ngôn ngữ học người Đan Mạch Otto Jespersen
(1860 – 1943) để mô tả sự chuyển đổi từ Middle English (tiếng Anh trung đại) qua
Modern English (tiếng Anh hiện đại). Ví dụ, do sự thay đổi nguyên âm nên động từ
“meet” trước GVS có phiên âm là /’me tən/, ː
danh từ “meat” trước GVS có phiên âm là
/mɛːt/. Tuy nhiên, sau GVS, phiên âm của chúng có sự thay đổi, đều phát âm là /mi:t/,
từ đó trở thành cặp từ đồng âm.
4.1.2. Các quá trình âm vị học
Theo thời gian, âm thanh trong ngôn ngữ tự nhiên thay đổi và phát triển. Những
thay đổi này có thể dẫn đến việc các từ có phát âm giống nhau nhưng nghĩa khác nhau.
Ví dụ, từ great (tuyệt vời) và grate (cái vỉ, cái rãnh) đều có nguồn gốc từ tiếng Anh cổ,
nhưng chúng mang những ý nghĩa khác nhau. Qua thời gian, do quá trình đơn giản hóa
âm vị, các âm cuối của hai từ này đã dần trở nên giống nhau, dẫn đến việc phát âm giống hệt nhau / re ɡɪ t/.
4.2. Ảnh hưởng của các nền văn hoá và sự vay mượn từ ngôn ngữ khác
4.2.1. Ảnh hưởng của các nền văn hoá
Những cuộc chinh phục của người La Mã, Anglo-Saxon, Đan Mạch, Viking, và
Norman đã góp phần đáng kể vào việc mở rộng từ vựng tiếng Anh (Tulloch, 2017). Có
những từ có phát âm tương tự với các từ tiếng Anh gốc nhưng lại có khác nhau về
nghĩa, từ đó tạo ra các cặp từ đồng âm trong tiếng Anh. Ví dụ, “cell” và “sell” đều có
phiên âm là /sel/, trong đó “cell” có nguồn gốc từ tiếng Latin (ngôn ngữ của đế chế La
Mã) “cella”, nghĩa là “phòng”, “sell” có nguồn gốc từ tiếng Anh cổ “sella”, nghĩa là “bán”.
4.2.2. Vay mượn từ ngôn ngữ khác
Tiếng Anh có truyền thống vay mượn nhiều từ các ngôn ngữ khác nhau, đặc biệt
là tiếng Pháp và tiếng Latin. Khi các từ mới được thêm vào, chúng có thể có cách phát
âm giống với các từ đã có sẵn trong tiếng Anh, tạo ra hiện tượng đồng âm (Crystal,
2003). Ví dụ, “right” và “write” đều có phát âm là /ra t/, trong đó “right” xuất phát từ ɪ
tiếng Anh cổ còn “write” có nguồn gốc từ tiếng Bắc Âu cổ.
4.3. Sự linh hoạt trong ứng dụng của các từ đa nghĩa
Ngữ cảnh là rất quan trọng trong tiếng Anh để xác định nghĩa của những từ đồng
âm. Ví dụ, từ "bark" có thể ám chỉ tiếng sủa của chó trong câu như "The dog’s bark
was loud." hoặc chỉ vỏ cây trong câu "The tree's bark is rough.". Việc đặt từ này trong
từng ngữ cảnh cụ thể giúp người nghe dễ dàng phân biệt được ý nghĩa mà người nói
muốn truyền đạt, cho thấy sự linh hoạt và đa nghĩa của từ trong giao tiếp.
4.4. Tiếng lóng và ngôn ngữ hàng ngày
Tiếng lóng và các hình thức ngôn ngữ sử dụng hàng ngày khác thường dẫn đến
sự sáng tạo ngôn ngữ, bao gồm việc tạo ra từ đồng âm. Từ đồng âm càng trở nên phổ
biến khi được sử dụng trong các câu đùa và câu nói hài hước với nhiều tầng ý nghĩa
dựa trên biện pháp chơi chữ (Cook, 1997).
5. Vai trò và thách thức của homophones trong tiếng Anh
Các từ đồng âm thường được sử dụng trong chơi chữ hoặc tạo ra sự hài hước
trong văn bản, làm tăng tính hài hước và sự phong phú trong cách sử dụng từ ngữ. Khi
sử dụng đúng và hợp lí các từ đồng âm, người nói và người viết có thể thể hiện ý
tưởng của mình một cách hiệu quả, tăng khả năng diễn đạt tới người nghe và người đọc.
Tuy nhiên, hiện tượng đồng âm có thể gây khó khăn trong việc học và sử dụng
tiếng Anh, đặc biệt đối với người học ngoại ngữ. Nó không chỉ yêu cầu người học phải
nắm vững cách phát âm mà còn phải xác định đúng ngữ cảnh để hiểu chính xác nghĩa
của từ. Một số homophones phổ biến dễ gây nhầm lẫn trong giao tiếp có thể kể tới là
ba từ “to”, “two”, và “too” bởi chúng đều phát âm là /tu /, hoặc “there”, “their”, và ː
“they’re” đều phát âm là /ð r/. ɛ
Không chỉ dừng lại ở đó, hiện tượng đồng âm cũng có thể dẫn đến sai sót trong
văn viết, khiến người viết có thể gặp khó khăn khi lựa chọn từ phù hợp để diễn đạt ý.
Trong các văn bản, từ đồng âm còn có thể khiến cho câu văn trở nên lưỡng nghĩa, khó
hiểu, vì người đọc không thể xác định được nghĩa chính xác của từ nếu không có ngữ cảnh cụ thể.
III. Đối chiếu hiện tượng đồng âm trong tiếng Việt và tiếng Anh (điểm tương
đồng và khác biệt).
1. Điểm tương đồng
1.1. Khái niệm chung về hiện tượng đồng âm
Cả tiếng Việt và tiếng Anh đều tồn tại hiện tượng đồng âm, được hiểu là khi hai
từ có cách phát âm giống nhau nhưng nghĩa khác nhau, một hiện tượng ngữ nghĩa xuất
hiện trong hầu hết các ngôn ngữ trên thế giới, bao gồm cả tiếng Anh và tiếng Việt (Fromkin et al., 2018).
1.2. Phát âm giống nhau nhưng nghĩa khác nhau
Trong cả hai ngôn ngữ, các từ đồng âm đều có chung đặc điểm là phát âm giống
nhau nhưng nghĩa hoàn toàn khác nhau. Điều này có thể dẫn đến sự nhầm lẫn, đặc biệt
khi không có ngữ cảnh rõ ràng. Ví dụ:
Trong tiếng Việt: cá (động vật) và cá (cược).
đường (đường tàu) và đường (mua cân đường).
Trong tiếng Anh: bank (bờ sông) and bank (ngân hàng).
bark (tiếng chó sủa) and bark (vỏ cây).
1.3. Vai trò của ngữ cảnh
Cả hai ngôn ngữ đều phụ thuộc rất lớn vào ngữ cảnh để phân biệt nghĩa của các
từ đồng âm. Ngữ cảnh đóng vai trò then chốt trong việc giúp người nghe và người đọc
nhận biết nghĩa của từ trong trường hợp đồng âm. Nếu không có ngữ cảnh, việc hiểu
sai hoặc nhầm lẫn có thể xảy ra, đặc biệt trong các cuộc đối thoại hoặc văn bản. 2. Điểm khác biệt
2.1. Về mặt khái niệm 2.1.1. Tiếng Việt
Ngoài khái niệm giống nhau trong ngữ âm, từ đồng âm còn có sự ràng buộc về hình thức chữ viết.
Ví dụ 1: má (rau má) & má (mẹ)
Ví dụ 2: cất (cất rượu) & cất (cất đồ)
Tiếng Việt cũng có thể có từ phát âm giống nhau do tính chất phát âm tùy địa
phương, nhưng không được tính là từ đồng âm. 2.1.2. Tiếng Anh
So với tiếng Việt, từ đồng âm trong tiếng Anh có sự xuất hiện của những từ đồng
âm khác nhau về mặt chữ viết. Từ đồng âm được phân vào ba loại khác nhau:
- Homonym (đồng âm hoàn toàn): Viết và phát âm giống nhau hoàn toàn nhưng
khác nghĩa. Ví dụ: pen (bút) & pen (chuồng); phát âm /pen/ cho cả hai từ.
- Homophone (đồng âm âm học): Phát âm giống nhau nhưng gốc nghĩa và viết
khác nhau. Ví dụ: to (tới) & two (hai)
- Homograph (đồng âm ký tự): Viết giống nhau nhưng khác nhau về nguồn gốc ý
nghĩa và đôi khi khác nhau về cách phát âm. Ví dụ: bow (nơ) & bow (cúi chào); phát
âm lần lượt là /baʊ/ và /bə ʊ /.
2.2. Về mặt ngữ nghĩa
Các từ đồng âm trong tiếng Anh thường không có sự liên kết về ngữ nghĩa, ví dụ
“knight” (hiệp sĩ) và “night” (ban đêm). Chúng là các từ có nguồn gốc từ các từ gốc
khác nhau, và không có liên hệ về ý nghĩa hay nguồn gốc văn hóa. Do đó, từ đồng âm
trong tiếng Anh thường là các từ khác nghĩa và cách viết để phân biệt.
Trong tiếng Việt, từ đồng âm thường có một số liên kết ngữ nghĩa nhất định do
tính chất ngữ nghĩa học của các từ đơn âm tiết. Các từ đồng âm có thể xuất phát từ
cùng một gốc từ và được phát triển để mang thêm nghĩa mới.
Ví dụ 1: đường (đắp đường), đường (đường phèn).
Ví dụ 2: cất (cất tiền vào tủ) - cất (cất rượu)
Do tiếng Việt không biến hình, các từ đồng âm luôn giữ nguyên cách phát âm
trong mọi bối cảnh. Ngược lại, trong tiếng Anh và các ngôn ngữ biến hình thuộc hệ
Ấn-Âu, một từ có thể là đồng âm ở dạng thức này nhưng lại không còn đồng âm ở
dạng thức khác (Mai et al., 2014). Ví dụ: Động từ “meet” nguyên dạng đồng âm với từ
“meat” nhưng dạng thức quá khứ của nó “met” thì lại không.
2.3. Về mặt phân loại 2.3.1. Tiếng Việt
Tiếng Việt là ngôn ngữ đơn âm tiết và có hệ thống thanh điệu phong phú, vì vậy
hiện tượng đồng âm thường chịu ảnh hưởng của các thanh điệu và cấu trúc âm tiết. Về
mặt phân loại, hiện tượng đồng âm trong tiếng Việt ít phức tạp hơn so với tiếng Anh, ít
biến đổi về mặt phát âm hay chữ viết. Ví dụ, ma (ma quỷ), má (má/cái má), mà (nhưng
mà), mạ (cây mạ), và mã (mã số hoặc con ngựa) đều có cấu trúc âm giống nhau, nhưng
khác về thanh điệu, vì vậy có nghĩa hoàn toàn khác nhau 2.3.2 Tiếng Anh
Tiếng Anh, không giống tiếng Việt, là ngôn ngữ không có hệ thống thanh điệu,
và thay vào đó sử dụng trọng âm và cấu trúc âm tiết để nhấn mạnh và phân biệt nghĩa.
Các loại đồng âm trong tiếng Anh thường được phân loại như sau:
- Homophone: "see" và "sea" có cách phát âm giống nhau nhưng ý nghĩa khác
nhau hoàn toàn (một từ chỉ việc nhìn, còn một từ chỉ biển).
- Homograph: "lead" (chỉ nguyên tố chì) và "lead" (dẫn dắt) có cách viết giống
nhau nhưng phát âm và nghĩa khác nhau.
- Homonym: Các từ như "night" và "knight" phát âm giống nhau nhưng có cách
viết và ý nghĩa hoàn toàn khác.
2.4. Về mặt hình thái 2.4.1. Tiếng Việt
Tiếng Việt là ngôn ngữ đơn lập, các từ không thay đổi hình thái dù ngữ pháp có
thay đổi. Ví dụ: "đậu" trong câu “Con ruồi đ
ậu mâm xôi đậu” giữ nguyên hình thức dù
nó vừa là động từ vừa là danh từ. 2.4.2. Tiếng Anh
So với tiếng Việt, tiếng Anh là ngôn ngữ biến hình, hình thái từ có thể thay đổi
theo thì, số lượng hoặc chức năng ngữ pháp. Ví dụ: "bow" có thể được phát âm là /bə / (cái nơ) và /ba ʊʊ
/ (cúi chào) dù có cách viết giống nhau. PHẦN 3: KẾT LUẬN
Bằng việc phân tích khái niệm, đặc điểm, nguồn gốc, phân loại, vai trò và ảnh
hưởng của từ đồng âm trong tiếng Việt và tiếng Anh, chúng tôi đã chỉ ra những điểm
tương đồng và khác biệt của hiện tượng ngôn ngữ này ở hai ngôn ngữ. Cả hai loại từ
đồng âm đều có đặc điểm chung là có cách phát âm giống nhau nhưng nghĩa khác
nhau. Tuy nhiên, từ đồng âm trong tiếng Việt thường mang những nghĩa gần nhau do
cùng một gốc từ, và chúng cần trùng nhau về hình thức chữ viết. Điều này có nghĩa là
trong nhiều trường hợp, người nghe có thể dễ dàng đoán được nghĩa dựa trên ngữ
cảnh. Trong khi đó, từ đồng âm trong tiếng Anh có sự phức tạp hơn rất nhiều, khi mà
đa số các từ này không có bất kỳ sự liên kết nào về ngữ nghĩa. Chúng được phân loại
thành ba dạng khác nhau: homonym (đồng âm hoàn toàn), homophone (đồng âm âm
học) và homograph (đồng âm ký tự), mỗi dạng có những đặc điểm riêng biệt. Ví dụ,
homonym có thể có nghĩa hoàn toàn khác nhau và cùng một cách phát âm, trong khi
homograph có thể viết giống nhau nhưng phát âm khác nhau và mang nghĩa khác nhau.
Qua các dẫn chứng trên, có thể thấy rằng độ phức tạp của từ đồng âm trong
tiếng Anh cao hơn nhiều so với tiếng Việt. Điều này gây ra không ít khó khăn cho học
sinh, sinh viên Việt Nam khi họ học và sử dụng tiếng Anh trong giao tiếp và học tập.
Việc hiểu và sử dụng đúng từ đồng âm trong tiếng Anh đòi hỏi người học không chỉ có
kiến thức ngữ pháp vững vàng mà còn phải nhạy bén trong việc cảm nhận ngữ cảnh.
Những khó khăn này có thể dẫn đến việc hiểu sai ý nghĩa của câu nói, ảnh hưởng đến
khả năng giao tiếp hiệu quả trong các tình huống thực tế. Do đó, việc nghiên cứu và
hiểu rõ hiện tượng đồng âm không chỉ giúp người học ngôn ngữ nhận thức tốt hơn mà
còn hỗ trợ họ trong việc giao tiếp chính xác và tự tin hơn. TÀI LIỆU THAM KHẢO
Cook, G. (1997). Language play, language learning. ELT Journal, (3), 224–231. 51
https://doi.org/10.1093/elt/51.3.224
Crystal, D. (2008). A Dictionary of Linguistics and Phonetics. Wiley-Blackwell.
Fromkin, V., Rodman, R., & Hyams, N. (2017). An introduction to language (11th ed.). Thomson/Heinle.
https://ukhtt3nee.wordpress.com/wp-content/uploads/2019/04/an_introduction_to_lang uage.pdf
Fromkin, V., Rodman, R., & Hyams, N. (2018). An Introduction to Language. Cengage Learning.
Mai, C. N., Vũ, N. Đ., & Hoàng, P. T. (2014). Cơ sở ngôn ngữ học và tiếng Việt. NXB Giáo dục Việt Nam.
Nguyễn, Q. H., & Nguyễn, Ý. N. (2014). Từ điển đồng âm tiếng Việt. NXB Giáo dục Việt Nam.
Ton, N. T. T. (2003). Thuận lợi của người nước ngoài học từ đồng âm tiếng Việt và
khó khăn của người Việt Nam học từ đồng âm tiếng Anh. VNU Journal of Foreign Studies, 19(4).
Trần, A. H. (2018). Chuyển loại - Một phương thức cấu tạo từ trong tiếng Việt. Tạp
chí Khoa học - Đại học Quảng Nam, 5-13.
https://scholar.dlu.edu.vn/thuvienso/bitstream/DLU123456789/214400/1/ CVv472S62018005.pdf
Tulloch, A. (2017). Understanding English homonyms: Their origins and usage. Hong Kong University Press.
https://hkupress.hku.hk/image/catalog/pdf-preview/9789888390649.pdf
Yule, G. (2020). The Study of Language (7th ed.). Cambridge University Press.