



















Preview text:
ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN KHOA LỊCH SỬ
____________________________________
TIỂU LUẬN CUỐI KỲ ĐỀ TÀI
SỰ KẾT HỢP GIỮA ĐẤU TRANH QUÂN SỰ
VÀ ĐẤU TRANH NGOẠI GIAO TRONG
KHÁNG CHIẾN CHỐNG MỸ, CỨU NƯỚC (1968-1975)
Học phần: Đặc điểm chiến tranh cách mạng Việt Nam
GVHD: PGS. TS. Hà Minh Hồng
SVTH: Nguyễn Văn Hoài – 2056040064
TP. Hồ Chí Minh, tháng 12 năm 2022 1 MỤC LỤC
MỞ ĐẦU............................................................................................................................4
1. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI..........................................................................................4
2. TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU.........................................................5
3. MỤC ĐÍCH, NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU.............................................................6
4. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU........................................................6
5. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU.....................................7
6. Ý NGHĨA LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỂ TÀI.........................................7
7. BỐ CỤC ĐỀ TÀI...................................................................................................7
NỘI DUNG.........................................................................................................................8
CHƯƠNG 1........................................................................................................................8
TỔNG QUAN VỀ CUỘC KHÁNG CHIẾN CHỐNG MỸ, CỨU NƯỚC.........................8
VÀ CHỦ TRƯƠNG CỦA ĐẢNG VỀ ĐẤU TRANH QUÂN SỰ.....................................8
KẾT HỢP VỚI ĐẤU TRANH NGOẠI GIAO...................................................................8
1. 1. BỐI CẢNH CUỘC KHÁNG CHIẾN CHỐNG MỸ, CỨU NƯỚC...................8
1. 1. 1. Thuận lợi.....................................................................................................8
1. 1. 2. Khó khăn.....................................................................................................8
1. 2. ĐƯỜNG LỐI VÀ CHỦ TRƯƠNG CỦA ĐẢNG..............................................9
Tiểu kết chương........................................................................................................14
CHƯƠNG 2......................................................................................................................15
SỰ KẾT HỢP ĐẤU TRANH QUÂN SỰ VỚI ĐẤU TRANH NGOẠI GIAO................15
TRONG GIAI ĐOẠN CUỐI CUỘC KHÁNG CHIẾN CHỐNG MỸ, CỨU NƯỚC
(1968 - 1975)....................................................................................................................15
2. 1. BỐI CẢNH TÌNH HÌNH VÀ CHỦ TRƯƠNG CỦA ĐẢNG..........................15
2. 2. QUÁ TRÌNH KẾT HỢP VỪA ĐÁNH VỪA ĐÀM TỪ NĂM 1968 ĐẾN NĂM
1975.......................................................................................................................... 21
2. 2. 1. Giai đoạn từ năm 1968 đến năm 1973.......................................................21
2. 2. 2. Giai đoạn từ năm 1973 đến năm 1975.......................................................34
Tiểu kết chương........................................................................................................40
CHƯƠNG 3......................................................................................................................42
ĐÁNH GIÁ VÀ MỘT SỐ BÀI HỌC KINH NGHIỆM...................................................42
3. 1. ĐÁNH GIÁ......................................................................................................42
3. 1. 1 Ưu điểm.....................................................................................................42 2
3. 1. 2. Hạn chế.....................................................................................................45
3.2. MỘT SỐ BÀI HỌC KINH NGHIỆM...............................................................47
Tiểu kết chương........................................................................................................50
KẾT LUẬN......................................................................................................................52
TÀI LIỆU THAM KHẢO................................................................................................54 3 MỞ ĐẦU
1. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của nhân dân ta đã ghi vào lịch sử dân
tộc một chiến công chói lọi, rực rỡ trong thế kỷ XX. Mỹ bàng hoàng, kinh ngạc trước
sức mạnh của Việt Nam. Để đánh bại đế quốc Mỹ, quân dân ta đã kiên trì và giữ vững
chiến lược kết hợp đấu tranh quân sự với đấu tranh ngoại giao. Chủ tịch Hồ Chí Minh
đã từng khẳng định tầm quan trọng của đấu tranh quân sự và sự kết hợp giữa đấu tranh
quân sự với đấu tranh ngoại giao rằng: “Phải trông ở thực lực. Thực lực mạnh, ngoại
giao sẽ thắng lợi. Thực lực là cái chiêng mà ngoại giao là cải tiếng. Chiêng có to thì
tiếng mới lớn”. Quân và dân ta đã vận dụng chiến lược đó thích hợp với hoàn cảnh và
đặc điểm mỗi loại chiến lược chiến tranh mà đế quốc Mỹ tiến hành.
Đấu tranh quân sự của ta là nhằm tiêu diệt và làm tan rã quân chủ lực, địa
phương địch, phá hủy các phương tiện chiến tranh và dự trữ hậu cần của chúng, hỗ trợ
đắc lực cho đấu tranh ngoại giao phát huy hiệu quả. Khi cuộc chiến tranh cách mạng
giành được những thắng lợi to lớn thì cuộc kháng chiến của nhân dân ta không chỉ có
đấu tranh vũ trang kết hợp với đấu tranh chính trị mà còn phải kết hợp với đấu tranh
ngoại giao để khẳng định thắng lợi của cách mạng trên trường quốc tế, tranh thủ sự
đồng tình ủng hộ của nhân dân thế giới với cuộc đấu tranh chính nghĩa của nhân dân
ta, cô lập kẻ thù, tạo sức mạnh mới để ta chủ động kết thúc chiến tranh theo ý định và
kế hoạch chiến lược của mình.
Đảng nhận thấy để đánh thắng Mỹ trong cuộc chiến tranh này, đồng thời với
các mũi tiến công quân sự cần mở thêm mặt trận tiến công ngoại giao nhằm tố cáo
mạnh mẽ tội ác của Mỹ và tay sai, vạch trần thủ đoạn hòa bình lừa bịp của Mỹ, đề cao
chính nghĩa, thế thắng của ta. Đảng xác định: Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu
nước của nhân dân ta hiện nay, đấu tranh 3 quân sự ở miền Nam là nhân tố chủ yếu
quyết định thắng lợi trên chiến trường, làm cơ sở cho thắng lợi trên mặt trận ngoại
giao. Chúng ta chỉ có thể giành được trên bàn hội nghị những cái mà chúng ta đã giành
được trên chiến trường. Tuy nhiên đấu tranh ngoại giao không chỉ đơn thuần phản ánh
cuộc đấu tranh trên chiến trường, mà trong tình hình quốc tế hiện nay với tính chất
cuộc chiến tranh giữa ta và địch, đấu tranh ngoại giao giữ một vai trò quan trọng, tích cực và chủ động.
Vận dụng sách lược ngoại giao linh hoạt, khôn khéo; thắng lợi trên chiến
trường sẽ quyết định thắng lợi của đấu tranh ngoại giao và trên bàn đàm phán. Nhờ có
sự kết hợp chặt chẽ đấu tranh quân sự với đấu tranh ngoại giao ta đã giành được thắng
lợi toàn diện, tạo ra bước nhảy vọt lớn của cuộc kháng chiến để tiến lên giành thắng lợi
hoàn toàn kết thúc chiến tranh.
Sự kết hợp giữa đấu tranh quân sự với đấu tranh ngoại giao là hết sức cần thiết.
Thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước cho thấy sự kết hợp đó của Đảng 4
là đúng đắn, sáng tạo. Chính bởi vì những lý dó trên, nên tôi quyết định chọn “Sự kết
hợp giữa đấu tranh quân sự với đấu tranh ngoại giao trong kháng chiến chống Mỹ, cứu
nước (1968-1975)” làm đề tài tiểu luận cuối kì môn “Đặc điểm chiến tranh cách mạng Việt Nam”.
2. TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
Kết hợp đấu tranh quân sự với đấu tranh ngoại giao trong kháng chiến chống
Mỹ, cứu nước thể hiện nghệ thuật lãnh đạo của Đảng, đó là nhân tố hợp thành sức
mạnh Việt Nam thắng Mỹ, là một bài học kinh nghiệm trong các văn kiện Đảng, và
được đề cập, bàn luận sâu sắc trong các bài nói, bài viết của Chủ tịch Hồ Chí Minh và
các đồng chí lãnh đạo Đảng và Nhà nước.
Đã có một số bài viết của các nhà nghiên cứu, đề cập từ những góc độ khác
nhau, nhưng nhìn chung, vấn đề kết hợp đấu tranh quân sự với đấu tranh ngoại giao
trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước được bàn tới một cách có hệ thống không nhiều.
Có một số công trình tiêu biểu:
Cuốn sách Lịch sử quân sự Việt Nam, tập 12, do Viện Lịch sử quân sự Việt
Nam, Bộ Quốc phòng biên soạn, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011, đã có một
phần đề cập đến sự kết hợp đấu tranh quân sự với đấu tranh ngoại giao trong kháng
chiến chống Mỹ, cứu nước.
Cuốn sách Ngoại giao Việt Nam 1945 - 2000, do Bộ Ngoại giao biên soạn,
Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2002 đã trình bày một số nội dung về kết hợp đấu
tranh quân sự với đấu tranh ngoại giao trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước.
Cuốn sách Chiến thắng của sức mạnh tổng hợp, sức mạnh dân tộc và thời đại,
Nxb. Sự thật, Hà Nội, 1985 của Tổng Bí thư Lê Duẩn đã đề cập đến sự kết hợp giữa
đấu tranh quân sự với đấu tranh ngoại giao.
Cuốn sách Về sức mạnh tổng hợp của cách mạng Việt Nam, Nxb. Sự thật, Hà
Nội, 1978; Cuốn Tổng hành dinh trong mùa xuân toàn thắng, Nxb. Chính trị quốc gia,
Hà Nội, 2000 của Đại tướng Võ Nguyên Giáp bàn nhiều về sự kết hợp giữa đấu tranh
quân sự với đấu tranh ngoại giao.
Còn một số công trình khác ít nhiều đề cập đến lĩnh vực mà người viết đang
nghiên cứu. Tiêu biểu là các công trình: “Chiến tranh cách mạng Việt Nam 1945 -
1975, thắng lợi và bài học”, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000. “Tổng kết cuộc
kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, thắng lợi và bài học”, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà
Nội, 1996, đều do Ban tổng kết chiến tranh trực thuộc Bộ Chính trị biên soạn.
Cuốn sách “Các cuộc thương lượng Lê Đức Thọ - Kisinger tại Paris” của hai
tác giả Lưu Văn Lợi và Nguyễn Anh Vũ, Nxb. Công an nhân dân, Hà Nội, 1996. 5
Cuốn sách “Lịch sử kháng chiến chống Mỹ, cứu nước 1954 - 1975” tập IV:
Cuộc đụng đầu lịch sử, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1999.
Cuốn sách “Tịch sử kháng chiến chống Mỹ, cứu nước 1954 - 1975” tập V:
Tổng tiến công và nổi dậy năm 1968, Nxb.Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2001.
Cuốn sách “Lịch sử kháng chiến chống Mỹ, cứu nước 1954 - 1975” tập VI:
Thắng Mỹ trên chiến trường ba nước Đông Dương, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2003.
Cuốn sách “Lịch sử kháng chiến chống Mỹ, cứu nước 1954 - 1975 ” tập VII:
Thắng lợi quyết định năm 1972, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2007.
Các cuốn sách trên đều do Viện Lịch sử Quân sự Việt Nam - Bộ Quốc phòng
biên soạn. Các công trình nghiên cứu về vấn đề này có nhiều cách tiếp cận khác nhau,
nhưng chưa đi sâu phân tích việc kết hợp đấu tranh quân sự với đấu tranh ngoại giao
trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước. Ngoài ra, còn có một số bài viết đăng trên các
tạp chí đề cập đến vấn đề này. Song, đó là những tư liệu quý báu mà tác giả kế thừa và
phát triển để thực hiện thành công đề tài này.
3. MỤC ĐÍCH, NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU
* Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu, làm rõ những thành công trong việc Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh
đạo phối hợp đấu tranh quân sự và đấu tranh ngoại giao trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước.
* Nhiệm vụ nghiên cứu
- Làm rõ nhân tố chủ quan, khách quan và sự phù hợp lợi ích dân tộc, mục tiêu
của cách mạng Việt Nam với xu thế của thời đại.
- Làm rõ vai trò và sự lãnh đạo của Đảng trong việc kết hợp đấu tranh quân sự
với đấu tranh ngoại giao trong từng giai đoạn của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước.
- Đưa ra một số nhận xét, đánh giá về ưu điểm, hạn chế và kinh nghiệm trong
việc kết hợp đấu tranh quân sự với đấu tranh ngoại giao trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước.
4. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
* Đối tượng nghiên cứu
Nghiên cứu chủ trương, đường lối, sự lãnh đạo của Đảng trong việc phối hợp
đấu tranh quân sự với đấu tranh ngoại giao trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước. 6
* Phạm vi nghiên cứu
- Về nội dung: Nghiên cứu nội dung đấu tranh quân sự và đấu tranh ngoại giao,
và sự phối hợp giữa hai mặt đấu tranh đó trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước là chủ yếu.
- Về thời gian: Trong thời gian diễn ra cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước
từ năm 1954 đến năm 1975.
- Về không gian: Trên cả hai miền Nam - Bắc Việt Nam, các nước Mỹ, Pháp, Liên Xô, Trung Quốc...
5. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
- Đề tài được thực hiện trên cơ sở vận dụng lý luận của chủ nghĩa Mác- Lênin,
các văn kiện của Đảng Cộng sản Việt Nam, các tác phẩm của Chủ tịch Hồ Chí Minh
và các đồng chí lãnh đạo của Đảng và Nhà nước bàn về đấu tranh quân sự và đấu tranh ngoại giao.
- Phương pháp lịch sử và phương pháp lôgic là hai phương pháp chính mà tác
giả sử dụng trong quá trình thực hiện đề tài. Ngoài ra đề tài còn sử dụng các phương pháp bổ trợ khác.
- Nguồn tài liệu gồm các văn kiện của Đảng, Nhà nước, các sách báo, công
trình, luận văn, luận án liên quan trực tiếp đến đề tài.
6. Ý NGHĨA LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỂ TÀI
Kết quả mà đề tài nghiên cứu đạt đuợc góp phần làm rõ thêm đường lối quân sự
và đường lối ngoại giao của Đảng, và sự kết hợp giữa quân sự với ngoại giao không
những trong chiến tranh mà còn cả trong hòa bình; góp phần hệ thống hóa bài học kinh
nghiệm về kết hợp đấu tranh quân sự với đấu tranh ngoại giao.
Đề tài có thể làm tài liệu tham khảo cho việc nghiên cứu, học tập lịch sử cuộc
kháng chiến chống Mỹ, cứu nước...
7. BỐ CỤC ĐỀ TÀI
Ngoài phan mở đầu, kết luận, mục lục và danh mục tài liệu tham khảo, phần nội
dung của đề tài được kết cấu gồm 3 chương:
Chương 1. Tổng quan về cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước và chủ trương
của đảng về đấu tranh quân sự kết hợp với đấu tranh ngoại giao
Chương 2. Sự kết hợp giữa đấu tranh quân sự với đấu tranh ngoại giao trong
giai đoạn cuối cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước (1968 - 1975) 7
Chương 3. Đánh giá và một số bài học kinh nghiệm 8 NỘI DUNG CHƯƠNG 1
TỔNG QUAN VỀ CUỘC KHÁNG CHIẾN CHỐNG MỸ, CỨU NƯỚC
VÀ CHỦ TRƯƠNG CỦA ĐẢNG VỀ ĐẤU TRANH QUÂN SỰ
KẾT HỢP VỚI ĐẤU TRANH NGOẠI GIAO
1. 1. BỐI CẢNH CUỘC KHÁNG CHIẾN CHỐNG MỸ, CỨU NƯỚC
Cuộc kháng chiến bền bỉ, anh dũng của nhân dân Việt Nam, mà đỉnh cao là
chiến thắng Điện Biên Phủ, đã buộc Chính phủ Pháp phải ký Hiệp định Genève. Đây
là bước ngoặt quan trọng trong lịch sử đấu tranh giành độc lập của nhân dân ta. Thắng
lợi này mở đường cho cách mạng Việt Nam bước vào một thời kỳ phát triển mới, với
những điều kiện thuận lợi mới, nhưng cũng đầy những khó khăn, phức tạp. 1. 1. 1. Thuận lợi
Sự lớn mạnh của Liên Xô, Trung Quốc và của hệ thống xã hội chủ nghĩa cùng
với sự giúp đỡ, hợp tác của hệ thống ấy là một thuận lợi cho Việt Nam. Cùng với sự
phát triển của phong trào cộng sản và công nhân quốc tế là sự phát triển mạnh mẽ của
phong trào giải phóng dân tộc. Việt Nam đã tranh thủ được sự đồng tình ủng hộ ngày
càng rộng lớn của nhân dân thế giới để tăng cường thế và lực của mình.
Sau chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ, Hiệp định Genève được ký kết, cách
mạng nước ta chuyển sang một thời kỳ mới - thời kỳ tiến hành đồng thời hai chiến
lược cách mạng: cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc và tiếp tục hoàn thành cách
mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở miền Nam, do Đảng Lao động Việt Nam lãnh đạo.
Sau 9 năm kháng chiến trưởng kỳ, nhân dân ta ở miền Bắc hoàn toàn làm chủ xí
nghiệp, hầm mỏ, đất nước, tải nguyên và cuộc sống của mình. Miền Bắc được giải
phóng, trở thành hậu phương lớn của cả nước, có quân đội lớn mạnh, chính quyền có
kinh nghiệm điều hành, quản lý, mặt trận dân tộc thống nhất rộng rãi. Miền Nam, nhân
dân giác ngộ chính trị cao, đã cùng cả nước kháng chiến chống thực dân Pháp thắng
lợi. Nhân dân ta có một Đảng vững mạnh, có Chủ tịch Hồ Chí Minh dày dạn kinh
nghiệm lãnh đạo, với đội ngũ đảng viên, đoàn viên hơn một triệu người, lại được nhân
dân tiến bộ thế giới đồng tình ủng hộ. Thuận lợi đó sẽ được nhân lên thành sức mạnh
to lớn để chiến thắng. 1. 1. 2. Khó khăn
Tình trạng bất hòa giữa Liên Xô, Trung Quốc và trong phong trào cộng sản
quốc tế cuối những năm 50 của thế kỷ XX là nhân tố tiêu cực mới, tạo điều kiện khách
quan cho Mỹ rảnh tay hơn để đàn áp phong trào giải phóng dân tộc. Xu thế chung của
nhiều nước trên thế giới lúc này là giải quyết các vấn đề tranh chấp bằng thương lượng 9
hòa bình. Đế quốc Mỹ đã lợi dụng tình trạng bất hòa trong phong trào cộng sản quốc
tế, lợi dụng cuộc khủng hoảng về đường lỗi phong trào cách mạng thế giới, lợi dụng
lợi ích dân tộc riêng rẽ của từng nước và lợi dụng tâm lý sợ Mỹ, sợ chiến tranh của
nhân dân thế giới để tiến hành chiến tranh xâm lược Việt Nam và đàn áp phong trào giải phóng dân tộc.
Ở trong nước, cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược kết thúc thắng
lợi nhưng sự nghiệp thống nhất nước nhà chưa thực hiện được. Đất nước tạm thời chia
thành hai miền với hai chế độ chính trị khác nhau. Miền Bắc được hoàn toàn giải
phóng đi lên chủ nghĩa xã hội, miền Nam còn nằm dưới sự thống trị của đế quốc Mỹ
và tay sai. Cuộc đấu tranh để giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước tiếp tục bằng
nhiều hình thức và phương pháp khác nhau trong điều kiện có pháp lý của Hiệp định Genève.
Ở miền Bắc, sau khi quân đội Pháp rút đi, nhân dân ta phải tập trung hàn gắn
vết thương chiến tranh, khôi phục kinh tế, bảo đảm đời sống, củng cố, xây dựng miền
Bắc thành hậu phương chiến lược của cả nước, làm cơ sở cho cuộc đấu tranh thực hiện
một nước Việt Nam hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh. Trước mắt,
miền Bắc phải đối mặt với những khó khăn chồng chất, hậu quả của gần một thế kỷ
thuộc địa và chín năm chiến tranh.
Miền Nam tạm thời thuộc quyền kiểm soát của đế quốc Mỹ và chính quyền
thân Mỹ. Từ chỗ có chính quyền, có quân đội, có vùng giải phóng, giờ đây phần lớn
cán bộ, bộ đội miền Nam tập kết ra Bắc, toàn bộ hoạt động của cách mạng phải chuyển
sang phương thức vừa hợp pháp vừa không hợp pháp, vừa công khai lại vừa bí mật.
Đó là một đảo lộn lớn, một tình thế nguy hiểm đối với cách mạng ở miền Nam. Sự
thay đổi đó tác động mạnh tới tâm tư, tình cảm của đồng bào, đồng chí miền Nam và
đặt ra cho cách mạng Việt Nam những nhiệm vụ mới vô cùng khó khăn.
1. 2. ĐƯỜNG LỐI VÀ CHỦ TRƯƠNG CỦA ĐẢNG
Quá trình hoạch định đường lối cách mạng của Đảng sau khi kết thúc cuộc
kháng chiến chống Pháp là một quá trình tìm tòi, thử nghiệm, học tập kinh nghiệm lịch
sử, thu thập ý kiến trong nước và thăm dò dư luận ngoài nước, hết sức công phu, gian
khổ, với sự đầu tư trí tuệ cao nhất.
Từ ngày 15 đến ngày 18 - 7 - 1954, tại Việt Bắc, Hội nghị lần thứ 6 Ban Chấp
hành Trung ương Đảng (khóa II) họp dưới sự chủ trì của Chủ tịch Hồ Chí Minh, đã
xem xét, đánh giá tình hình mới và vạch ra những chuyển hướng trong đường lối của
Đảng. Tại Hội nghị, Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc bản báo cáo Tình hình mới và nhiệm vụ mới. 10
Báo cáo nhận định thế ta ngày càng mạnh, thế địch ngày càng yếu. Nhưng “thế
mạnh và yếu ấy là tương đối, không phải tuyệt đối. Ta chớ chủ quan khinh địch”1. Báo
cáo khẳng định kẻ thù chính, nguy hiểm nhất trước mắt của nhân dân ta là đế quốc Mỹ.
“Hiện nay đế quốc Mỹ là kẻ thù chính của nhân dân thế giới, và nó đang trở thành kẻ
thù chính và trực tiếp của nhân dân Đông Dương, cho nên mọi việc của ta đều nhằm
chống đế quốc Mỹ. Bất kỳ người nào, nước nào không thân Mỹ đều có thể làm mặt
trận thống nhất (dù là tạm thời) với ta” . 2
Báo cáo vạch rõ: “Hiện nay tình hình đã đổi mới, nhiệm vụ của ta do đó cũng
thay đổi, chính sách và khẩu hiệu cũng phải thay đổi cho phù hợp với tình hình mới”3.
Người nêu lên ba nhiệm vụ, các công tác trước mắt gồm: Tranh thủ và củng cố hòa
bình, thực hiện thống nhất, hoàn thành độc lập, dân chủ trong cả nước; Tăng cường lực
lượng quân đội nhân dân, xây dựng một quân đội nhân dân mạnh mẽ và thích hợp với
yêu cầu của tình hình mới; Tiếp tục thực hiện người cày có ruộng, ra sức phục hồi sản
xuất, chuẩn bị điều kiện kiến thiết nước nhà.
Ba nhiệm vụ đó định ra các công tác cụ thể:
Thống nhất tư tưởng, đấu tranh ngoại giao; tăng cường lực lượng của quân đội;
tiếp quản vùng giải phóng; chuyển hướng công tác ở miền Nam; củng cố vùng tự do
cũ; cải cách ruộng đất; phục hồi kinh tế; củng cố Đảng. Công tác then chốt là làm cho
toàn Đảng, toàn quân, toàn dân nhận rõ tình hình và nhiệm vụ mới, nhận rõ tính chất,
nội dung thay đổi của nhiệm vụ trong giai đoạn mới.
Báo cáo Để hoàn thành nhiệm vụ và đẩy mạnh công tác trước mắt của đồng chí
Trường Chinh đã cụ thể hóa những quan điểm và phương hướng cơ bản trong báo cáo
của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Đồng chí Trường Chinh trình bày nhiệm vụ của nhân dân
ta hiện nay là đấu tranh lập lại hòa bình ở Đông Dương.
Những chuyển hướng của Hội nghị lần thứ 6 Ban Chấp hành Trung ương Đảng
tuy mới là một số nét chung, nhưng có ý nghĩa rất quan trọng đối với cách mạng nước
ta trong giai đoạn mới. Nghị quyết Hội nghị lần thứ 6 của Trung ương Đảng mở đường
đi lên một giai đoạn mới của cách mạng nước ta.
Sau Hội nghị lần thứ 6, Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng đã ra
bản Nghị quyết cụ thể hóa và bổ sung thêm Nghị quyết Hội nghị lần thứ 6 của Trung
ương Đảng. Nghị quyết vạch ra năm đặc điểm của thời kỳ mới, mà đặc điểm quan
trọng nhất là đất nước tạm thời phân chia làm hai miền. Vì thế, cuộc đấu tranh giải
phóng dân tộc phải tiếp tục dưới hình thức mới. Cuộc đấu tranh của nhân dân miền
Nam phải chuyển từ đấu tranh vũ trang sang đấu tranh chính trị. Nhiệm vụ của Đảng ở
miền Nam là lãnh đạo nhân dân miền Nam đấu tranh thực hiện hiệp định đình chiến,
1 Hồ Chí Minh (2000), Toàn Tập, tập 6, Nxb. CTQG, Hà Nội, tr. 581.
2 Hồ Chí Minh (2000), Toàn Tập, tập 6, Nxb. CTQG, Hà Nội, tr. 589.
3 Hồ Chí Minh (2000), Toàn Tập, tập 6, Nxb. CTQG, Hà Nội, tr. 584. 11
củng cố hòa bình, thực hiện tự do dân chủ, cải thiện dân sinh, thực hiện thống nhất và
tranh thủ độc lập, chống khủng bố, giữ lấy những quyền lợi quần chúng đã giành được
trong thời kỳ kháng chiến. Lập mặt trận thống nhất rộng rãi các tầng lớp nhân dân.
Tiếp theo Hội nghị Bộ Chính trị tháng 9 - 1954, Hội nghị lần thứ 7 (3 - 1955)
và Hội nghị lần thứ 8 (8 - 1955) của Trung ương Đảng (khóa II) nhận định muốn
chống đế quốc Mỹ và tay sai, củng cố hòa bình, thực hiện thống nhất, hoàn thành độc
lập và dân chủ. Chủ trương của các Hội nghị 6, 7, 8 của Trung ương Đảng và của Bộ
Chính trị trong những năm 1954 - 1955 là những phương hướng soi đường cho cuộc
cách mạng dân tộc dân chủ ở miền Nam và cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc trong giai đoạn mới.
Ngày 4 - 3 - 1956, Mỹ và chính quyền Ngô Đình Diệm tổ chức tuyển cử riêng
rẽ, bầu quốc hội. Hiệp định Genève bị chúng xé toạc, tập trung mũi nhọn, dùng bạo lực
tàn khốc khủng bố nhân dân.
Cách mạng đi lên bằng con đường nào? Đấu tranh vũ trang hay vừa chính trị,
vừa vũ trang? Những phương hướng, chủ trương của các hội nghị trên cần được bổ
sung để đáp ứng nhu cầu bức thiết nảy sinh từ thực tiễn.
Trước tình hình đó, Hội nghị Bộ Chính trị tháng 6 - 1956 nhận định: khả năng
giằng co kéo dài, tình trạng chia cắt đang tồn tại ở miền Nam. Hình thức đấu tranh
trong toàn quốc hiện nay là đấu tranh chính trị, không phải đấu tranh vũ trang. Nói như
thế không có nghĩa là tuyệt đối không dùng vũ trang tự vệ trong những hoàn cảnh nhất
định hoặc không tận dụng những lực lượng vũ trang của giáo phái chống Diệm. Cần
củng cố các lực lượng vũ trang và bán vũ trang hiện có và xây dựng căn cứ làm chỗ
dựa. Nghị quyết của Bộ Chính trị đã khẳng định một hướng mới: đấu tranh chính trị
kết hợp với vũ trang tự vệ. Thực tiễn đòi hỏi Đảng ta phải giải đáp những vấn đề vừa
trước mắt, vừa cơ bản lâu dài. Đó là: con đường cơ bản để đánh đổ chính quyền Mỹ -
Diệm, giành quyền làm chủ cho nhân dân là gì? Nếu khởi nghĩa nổ ra, làm thế nào giữ
được quyền làm chủ của nhân dân? Nếu khởi nghĩa biến thành chiến tranh cách mạng,
làm sao hạn chế được chiến tranh, không để lan ra cả nước. Khi cuộc chiến tranh cách
mạng đã không thể tránh được, phải chuẩn bị những gì cho cuộc chiến tranh ấy?
Đáp ứng yêu cầu cấp thiết đó, từ mùa Thu năm 1955 đến mùa Thu năm 1956,
đồng chí Lê Duẩn, khi ấy là Ủy viên Bộ Chính trị phụ trách miền Nam, đã dự thảo Bản
đề cương cách mạng miền Nam, đưa xuống các đảng bộ nghiên cứu và góp ý kiến. Đề
cương cách mạng miền Nam nhận định, một cuộc xung đột đấu tranh gay gắt giữa các
tầng lớp nhân dân với chính quyền Mỹ - Diệm không thể tránh khỏi và Đề cương đã
nêu ra xu thế phát triển tất yếu của xã hội miền Nam “muốn chống Mỹ - Diệm, ngoài
con đường cách mạng, nhân dân miền Nam không có con đường nào khác”.
Dưới ách thống trị độc tài, phát xít và trong điều kiện lực lượng so sánh tạ -
địch đã thay đổi, con đường cách mạng ấy là con đường gì? Cuộc đấu tranh vũ trang 12
trường kỳ chống Pháp đã kết thúc. Đấu tranh chính trị đòi tổng tuyển cử không có khả
năng thực hiện. Vận dụng kinh nghiệm của Cách mạng tháng Tám, Đề cương cách
mạng miền Nam đã nêu ra phương hướng “dựa vào lực lượng cách mạng chính trị của
quần chúng làm căn bản” để đánh đổ chính quyền Mỹ - Diệm.
Tháng 1 - 1959, Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng lần thứ 15 được
triệu tập. Về nhiệm vụ cách mạng miền Nam, Nghị quyết Hội nghị chỉ rõ:
“1. Nhiệm vụ cơ bản là giải phóng miền Nam khỏi ách thống trị của đế quốc và
phong kiến, thực hiện độc lập dân tộc và người cày có ruộng, hoàn thành cách mạng
dân tộc dân chủ nhân dân ở miền Nam, xây dụng một nước Việt Nam hòa bình, thống
nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh. 2. Nhiệm vụ trước mắt là đoàn kết toàn dân, kiên
quyết đấu tranh chống đế quốc Mỹ xâm lược và gây chiến, đánh đổ tập đoàn thống trị
độc tài Ngô Đình Diệm, tay sai của đế quốc Mỹ, thành lập một chính quyền liên hợp
dân tộc dân chủ ở miền Nam, thực hiện độc lập dân tộc và các quyền tự do dân chủ,
cải thiện đời sống của nhân dân, giữ vững hòa bình, thực hiện thống nhất nước nhà
trên cơ sở độc lập và dân chủ, tích cực góp phần bảo vệ hòa bình ở Đông Nam Á và thế giới” . 4
Phương hướng phát triển của cách mạng miền Nam: ngoài con đường cách
mạng, nhân dân miền Nam không còn con đường nào khác, cho nên con đường phát
triển cơ bản của cách mạng miền Nam là “khởi nghĩa giành chính quyền về tay nhân
dân... đó là lấy sức mạnh của quần chúng, dựa vào lực lượng chính trị của quần chúng
là chủ yếu, kết hợp với lực lượng vũ trang để đánh đổ quyền thống trị của đế quốc và
phong kiến, dựng lên chính quyền cách mạng của nhân dân”.
Tháng 9 - 1960, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III của Đảng họp tại Thủ đô
Hà Nội. Báo cáo Chính trị của Đại hội đã phân tích tình hình ở hai miền Nam, Bắc,
xác định vai trò, vị trí của cách mạng ở mỗi miền: nhiệm vụ tiến hành cách mạng xã
hội chủ nghĩa ở miền Bắc là “nhiệm vụ quyết định nhất đối với sự phát triển của toàn
bộ cách mạng nước ta, đối với sự nghiệp thống nhất nước nhà của nhân dân ta” .5 Miền
Bắc là căn cứ địa chung của cách mạng cả nước. Cách mạng miền Nam:
“Có tác dụng quyết định trực tiếp đối với sự nghiệp giải phóng miền Nam khỏi
ách thống trị của đế quốc Mỹ và bè lũ tay sai, thực hiện hòa bình thống nhất nước nhà,
hoàn thành nhiệm vụ cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân trong cả nước” . “Nhiệm vụ 6
trước mắt của cách mạng ở miền Nam là đoàn kết toàn dân, kiên quyết đấu tranh
chống đế quốc Mỹ xâm lược và gây chiến, đánh đổ tập đoàn thống trị độc tài Ngô
Đình Diệm tay sai của đế quốc Mỹ, thành lập một chính quyền liên hợp dâm tộc dân
chủ ở miền Nam, thực hiện độc lập dân tộc, các quyền tự do dân chủ và cải thiện đời
4 Đảng Cộng sản Việt Nam (2006), Chặng đường qua hai thế kỷ, Nxb CTQG, Hà Nội, tr. 280.
5 Đảng Cộng sản Việt Nam (2011), Văn kiện Đảng Toàn tập, tập 20, Nxb CTQG, Hà Nội, tr. 510.
6 Đảng Cộng sản Việt Nam (2011), Văn kiện Đảng Toàn tập, tập 20, Nxb CTQG, Hà Nội, tr. 511. 13
sống nhân dân, giữ vững hòa bình, thực hiện thống nhất nước nhà trên cơ sở độc lập và
dân chủ, tích cực góp phần bảo vệ hòa bình ở Đông Nam Á và thế giới” . 7
Trước yêu cầu nhiệm vụ cách mạng trong tình hình mới, Hội nghị lần thứ ba
Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa III (1 - 1961), chủ trương thành lập Trung
ương Cục miền Nam. Đồng thời, Bộ Chính trị đã đề ra phương hướng, nhiệm vụ công
tác, chủ trương trước mắt của cách mạng miền Nam: “kiên quyết đẩy mạnh đấu tranh
chính trị, quân sự, giành và giữ vững thế chủ động, đẩy địch vào thế bị động hơn nữa,
tích cực xây dựng lực lượng về mọi mặt...”.
Tháng 12 - 1963, Hội nghị lần thứ chín Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa
III quyết định nhiều vấn đề quan trọng về đường lối cách mạng Việt Nam và một số
vấn đề quốc tế. Hội nghị chủ trương trong khi đánh lâu dài, phải biết kiềm chế và
thắng địch trong cuộc “chiến tranh đặc biệt”. Về đường lối quốc tế của Đảng, Hội nghị
cho rằng cách mạng thế giới ở thế tiến công và tiến công liên tục vào chủ nghĩa đế
quốc. Đi đôi với cuộc đấu tranh đó, cần chống chủ nghĩa xét lại hiện đại, cơ hội và
giáo điều, tăng cường đoàn kết quốc tế, bảo vệ sự trong sáng của chủ nghĩa Mác -
Lênin. Đảng và nhân dân ta phải kết hợp được sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời
đại, đánh thắng đế quốc Mỹ xâm lược, làm tròn nghĩa vụ quốc tế, vì hòa bình, độc lập
dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội.
Sau Nghị quyết Hội nghị Trung ương lần thứ chín, quan hệ giữa Việt Nam và
Liên Xô có nhiều khó khăn. Việt Nam buộc phải rút lưu học sinh học tập các ngành
khoa học xã hội ở Liên Xô về nước. Dưới sự lãnh đạo của Chủ tịch Hồ Chí Minh,
Đảng và Nhà nước ta đã khôn khéo giữ cho quan hệ Việt - Xô bớt xấu thêm. Đến
tháng 10 - 1964, Liên Xô thay đổi lãnh đạo cấp cao nhất, đã điều chỉnh chính sách,
quan hệ Việt - Xô trở lại hữu nghị.
Hội nghị lần thứ 11 Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa III) họp tháng 3 -
1965, chủ trương: “Tích cực kiềm chế và thắng địch trong cuộc chiến tranh đặc biệt ở
mức cao nhất ở miền Nam, ra sức tranh thủ thời cơ, tập trung lực lượng của cả nước
giành thắng lợi quyết định ở miền Nam trong thời gian tương đối ngắn, đồng thời
chuẩn bị sẵn sàng đối phó và quyết thắng cuộc chiến tranh cục bộ ở miền Nam nếu địch gây ra” .8
Đến Hội nghị lần thứ 12 Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa III) họp tháng
12 - 1965, Đảng đã phân tích một cách toàn diện chiến lược mới của Mỹ chi ra một
cách khoa học và toàn diện lực lượng so sánh giữa ta và địch, và cho rằng “sức mạnh
mà Mỹ có thể sử dụng trong cuộc chiến tranh ở Việt Nam vẫn là một sức mạnh bị hạn
chế”, “chỗ yếu cơ bản nhất của địch từ trước đến nay vẫn là về chính trị”. Hội nghị hạ
quyết tâm chiến lược: “Động viên lực lượng của cả nước, kiên quyết đánh bại cuộc
chiến tranh xâm lược của đế quốc Mỹ trong bất cứ tình huống nào, để bảo vệ miền
7 Đảng Cộng sản Việt Nam (2011), Văn kiện Đảng Toàn tập, tập 20, Nxb CTQG, Hà Nội, tr. 524.
8 Đảng Cộng sản Việt Nam (2011), Văn kiện Đảng Toàn tập, tập 26, Nxb CTQG, Hà Nội, tr. 109. 14
Bắc, giải phóng miền Nam, hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân trong cả
nước, tiến tới thực hiện hòa bình thống nhất nước nhà. Toàn đảng, toàn quân và toàn
dân ta cần cố gắng vượt bậc, tập trung lực lượng của cả nước, kiên quyết đẩy mạnh
đấu tranh quân sự và đấu tranh chính trị, đánh bại đế quốc Mỹ và bè lũ tay sai trên
chiến trưởng chính là miền Nam”9.
Kết hợp với những thắng lợi về chính trị và quân sự, tháng 1 - 1967, Hội nghị
lần thứ 13 Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa III) đã quyết định mở mặt trận
ngoại giao nhằm tranh thủ sự ủng hộ của quốc tế, bạn bè, mở ra cục diện vừa đánh,
vừa đàm, phát huy sức mạnh tổng hợp để đánh Mỹ. Tiểu kết chương
Cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước diễn ra trong bối cảnh tình hình cả
trong nước và quốc tế mặc dù chứa đựng những thuận lợi cơ bản nhưng vẫn tồn tại
những khó khăn vô cùng gay go, phức tạp. Mặc dù Việt Nam đã cố gắng sử dụng các
phương pháp đấu tranh để đòi Mỹ cam kết thi hành hiệp định Gieneve, song không
được chấp nhận, trái lại là thái độ ngoan cố và gây hứng của của Mỹ cũng như chính
quyền tay sai. Chính vì vậy, chúng ta phải tiến hành chiến tranh trong hoàn cảnh bắt
buộc. Kế thừa và phát huy các bài học trong cuộc kháng chiến chống Pháp, Bộ Chính
trị và Chủ tich Hồ Chí Minh đã vạch ra đường lối kháng chiến đúng đắn, sáng tạo phù
hợp với thực tiễn lịch sử Việt Nam lúc bấy giờ. Đồng thời đánh đich trên nhiều
phương diện trong đó có đấu tranh quân sự kết hợp với đấu tranh ngoại giao, làm nền
tảng cơ sở vững chắc cho sự kết hợp giữa hai hình thức đấu tranh ấy trong giai đoạn
sau phát huy mạnh mẽ, tạo sức mạnh tổng hợp để chống lại kẻ thù.
9 Đảng Cộng sản Việt Nam (2011), Văn kiện Đảng Toàn tập, tập 26, Nxb CTQG, Hà Nội, tr. 643 - 635. 15 CHƯƠNG 2
SỰ KẾT HỢP ĐẤU TRANH QUÂN SỰ VỚI ĐẤU TRANH NGOẠI GIAO
TRONG GIAI ĐOẠN CUỐI CUỘC KHÁNG CHIẾN CHỐNG MỸ, CỨU NƯỚC (1968 - 1975)
2. 1. BỐI CẢNH TÌNH HÌNH VÀ CHỦ TRƯƠNG CỦA ĐẢNG
Vào cuối năm 1967, trên chiến trường miền Nam chúng ta đã thắng địch cả về
chiến lược lẫn chiến thuật, thế và lực của ta phát triển mạnh mẽ hơn bao giờ hết. Phát
huy những thắng lợi trên chiến trường, tháng 12 - 1967, Bộ Chính trị Ban Chấp hành
Trung ương Đảng ra Nghị quyết về “tổng công kích, tổng khởi nghĩa” và nhận định:
lúc này Mỹ đang ở thế ngập ngừng về chiến lược, giới cầm quyền Mỹ đã dao động và
trong thời điểm rất nhạy cảm của năm bầu cử tổng thống, vì vậy cần phải tạo ra một
bước chuyển biến lớn để chuyển cách mạng và chiến tranh cách mạng miền Nam sang
một thời kỳ mới, thời kỳ giành thắng lợi quyết định. Tháng 1 - 1968, Hội nghị lần thứ
14 Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa III) đã nhất trí thông qua những nội dung
Nghị quyết Bộ Chính trị họp vào cuối năm 1967.
Hội nghị đã đánh giá âm mưu cơ bản và những thất bại của đế quốc Mỹ trong
chiến tranh cục bộ và nhận định: điểm cơ bản của tình hình vẫn là ta đang ở thế thắng,
thế chủ động và thuận lợi, địch đang ở thế thua, thế bị động và khó khăn. Trên cơ sở
phân tích toàn diện tình hình ta và địch, Trung ương Đảng hạ quyết tâm “chuyển cuộc
chiến tranh cách mạng của nhân dân ta ở miền Nam sang một thời kỳ mới, thời kỳ tiến
công và nổi dậy giành thắng lợi quyết định”. Nhiệm vụ trọng đại của toàn Đảng, toàn
dân và toàn quân ở cả hai miền Nam - Bắc là thực hiện cuộc tổng tiến công và nổi dậy
trên toàn miền Nam, giành thắng lợi chiến lược mới.
Hướng tiến công chủ yếu là đô thị, trọng điểm là Sài Gòn, Đà Nẵng, Huế, nơi
địch đang sơ hở; mục tiêu tiến công chủ yếu là nhằm vào các cơ quan đầu não chiến
tranh của Mỹ và ngụy quyền Sài Gòn, các trung tâm chỉ huy, các hậu cứ, vừa tiêu diệt
sinh lực địch, vừa phá hủy phương tiện chiến tranh; tiến hành đồng loạt trên quy mô
rộng lớn nhất từ trước tới nay, thời gian tiến công là vào giữa Tết Nguyên Đán, đúng
lúc bất ngờ nhất; phương châm là kết hợp tiến công quân sự với nổi dậy quần chúng
nhưng trên diện rộng ở cả ba vùng chiến lược trong toàn miền, thực hiện tổng công
kích với tổng khởi nghĩa.
Để giành thắng lợi trong cuộc tổng công kích, tổng khởi nghĩa, Hội nghị đã
vạch ra những nhiệm vụ cụ thể cho toàn Đảng, toàn dân hai miền trên các mặt:
Về quân sự: chuẩn bị và tiến hành tổng công kích (kết hợp với tổng khởi nghĩa)
đến thắng lợi và nhanh chóng tăng cường lực lượng vũ trang cách mạng. 16
Về chính trị: chuẩn bị và phát động quần chúng nổi dậy tổng khởi nghĩa cho
đến thành công, đập tan ngụy quyền và các tổ chức chính trị phản động khác, xây dựng chính quyền cách mạng.
Về công tác ngụy vận, địch vận: phải góp phần làm tan rã quân ngụy, gây
phong trào khởi nghĩa trong ngụy quân, thực hiện khẩu hiệu “công nông binh liên
hiệp”, gây phong trào phản chiến trong quân Mỹ và quân chư hầu.
Về hoạt động quốc tế và đấu tranh ngoại giao: phải phối hợp chặt chẽ và nhịp
nhàng với đấu tranh quân sự và đấu tranh chính trị ở trong nước, tích cực phục vụ cho
cuộc tổng công kích và tổng khởi nghĩa giành được thắng lợi...
Hội nghị lần thứ 14 Ban Chấp hành Trung ương Đảng đã nhận định đúng tình
hình và chủ trương chiến lược xác định, sáng tạo và táo bạo đã đưa đến cuộc tổng tiến
công và nổi dậy đồng loạt Tết Mậu Thân 1968.
Thực hiện theo phương hướng đó, để thu hút vây hãm và giam chân tiêu diệt
một bộ phận quân cơ động Mỹ, tạo thế cho các chiến trường khác tiến công và nổi dậy,
đêm 20 rạng 21 - 1 - 1968, quân ta tiến hành mở mặt trận Khe Sanh, đánh vào hầu hết
các vị trí của địch trên Đường số 9. Tư lệnh quân Mỹ ở Nam Việt Nam là W.
Westmoreland đã vội vã tăng cường tập trung quân chống giữ và ném bom Khe Sanh
và khu vực giới tuyến. Nhà Trắng và Bộ Quốc phòng Mỹ đã dự đoán: tiến tới có khả
năng cách mạng miền Nam có thể tập trung lực lượng tạo ra “một Điện Biên Phủ” ở Khe Sanh.
Giữa lúc địch đang dồn sức chống đỡ với ta ở mặt trận Đường số 9 - Khe Sanh
thì đêm 30 rạng ngày 31 - 1 - 1968 (đêm giao thừa rạng ngày mùng 1 Tết Mậu Thân),
lực lượng vũ trang ta đồng loạt tiến công địch trên toàn miền Nam, đánh thẳng vào các
thành phố, thị xã, hàng trăm quận lỵ, căn cứ, kho tàng, sân bay, sở chỉ huy...của chúng.
Bị bất ngờ, Mỹ và chính quyền Sài Gòn choáng váng, hàng ngũ chúng trở nên rối loạn.
Nhiều đô thị bị đánh chiếm, nhiều tuyến giao thông chiến lược bị cắt đứt, mọi hoạt
động vận chuyển, liên lạc của địch bị tê liệt...
Tại Sài Gòn ta tấn công mãnh liệt vào các cơ quan đầu não của Mỹ và chính
quyền Sài Gòn, cùng lúc lực lượng tự vệ và nhân dân tiến công các cơ quan chính
quyền ngụy và đã làm chủ nhiều nơi. Trong khi đó, các căn cứ của quân ngụy và trụ sở
của chính quyền địch ở Biên Hòa, Bình Dương, Long An... cũng bị tiến công tới tấp.
Từ ngày 3 - 1 đến ngày 2 - 2 - 1968, ta tiến công địch ở nhiều nơi: Huế, Khu V, Tây
Nguyên, Đà Nẵng, Buôn Ma Thuột...
Trong gần hai tháng thực hiện quyết tâm chiến lược của Trung ương Đảng,
quân và dân miền Nam đã tiến công vào 4/6 thành phố, 37/42 thị xã và hàng trăm thị
trấn, quận lỵ trên khắp miền Nam. Hầu hết các cơ quan đầu não từ Trung ương đến địa
phương của địch đã bị đánh trúng, gần 20 vạn quân ngụy hoang mang đào rã ngũ. Hệ
thống ngụy quyền cùng bộ máy kim kẹp của chúng ở nhiều vùng nông thôn đồng
bằng, rừng núi đã bị phá vỡ. 17
Bằng cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân, lần đầu tiên ta đưa chiến
tranh tới tận hang ổ của kẻ thù trên quy mô rộng lớn từ Quảng Trị tới Cà Mau. Mặc dù
có trên 1 triệu quân với vũ khí, phương tiện chiến tranh hiện đại, trước sức tiến công
mạnh mẽ của quân và dân ta, kế hoạch chiến tranh và thế bố trí chiến lược của Mỹ và
chính quyền Sài Gòn bị đảo lộn, địch càng lún sâu hơn vào thế bị động về chiến lược.
Thắng lợi to lớn của cuộc tiến công và nổi dậy đồng loạt Tết Mậu Thân chứng tỏ khả
năng chỉ đạo chiến lược, chi đạo chiến tranh sắc bén, táo bạo của Đảng ta.
Cuộc tổng tiến công và nổi dậy đồng loạt Tết Mậu Thân của quân và dân ta ở
miền Nam đã dội nhanh về nước Mỹ, gây nên sự chấn động mạnh mẽ trong các tầng
lớp nhân dân khiến cho chính giới Mỹ choảng váng. Lần đầu tiên trong lịch sử gần 200
năm của Hợp chủng quốc Hoa Kỳ, quân đội Mỹ bị đánh bại trên một đất nước nhỏ và
ngheo. Cuộc Tổng tấn công Tết Mậu Thân đã làm thức tỉnh nhân dân Mỹ. Bức tưởng
bưng bít của chính quyền Giônxơn đã bị đập vỡ, phong trào phản đối chiến tranh đang
âm i nay bùng lên, một cuộc tập hợp lực lượng chống chiến tranh trong phạm vi toàn
quốc bắt đầu... Trong tình hình đó, ngày 31 - 3 - 1968, Tổng thống Giônxơn phải tuyên
bố: Đơn phương ngừng đánh phá miền Bắc từ vĩ tuyến 20 trở ra; Bỏ chiến lược tìm
diệt thay bằng chiến lược quét và giữ, Không ra tranh cử Tổng thống Mỹ nhiệm kỳ
hai; Chấp nhận đàm phán với ta. Với tuyên bố này, mặc nhiên Chính phủ Hoa Kỳ thừa
nhận thất bại sau ba năm tiến hành chiến lược chiến tranh cục bộ chống lại nhân dân Việt Nam.
Đảng ta nhận định, đế quốc Mỹ mặc dù bị thất bại nặng về chính trị, quân sự và
buộc phải xuống thang chiến tranh, nhưng vẫn rất ngoan cố và xảo quệt. Chúng mưu
dùng việc “ném bom hạn chế” để tránh sức ép nội bộ, giải quyết khó khăn trong nước;
chia rẽ phe xã hội chủ nghĩa, đồng thời vẫn ngăn chặn ta vận chuyển tăng viện cho miền Nam.
Để kịp thời tố cáo những thủ đoạn mới của địch, ngày 3 - 4 - 1968, Chính phủ
ta ra tuyên bố vạch rõ: Chính phủ Mỹ chưa đáp ứng nghiêm chỉnh và đầy đủ đòi hỏi
chính đáng của Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, của dư luận tiến bộ Mỹ và dư
luận thế giới. Chúng ta cũng tuyên bố sẵn sàng cử đại diện của mình tiếp xúc với đại
diện Mỹ nhằm xác định với phía Mỹ việc Mỹ chấm dứt không điều kiện việc ném bom
và mọi hành động chiến tranh khác chống nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa để có thể
bắt đầu cuộc nói chuyện. Bản tuyên bố là đòn tấn công rất kịp thời trên mặt trận ngoại
giao của ta mà đế quốc Mỹ không thể dự liệu trước và phải chấp nhận đàm phán với
Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.
Cuộc nói chuyện giữa Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Mỹ được mở ra ở Pari từ
ngày 13 - 5 - 1968. Từ đó cho đến 31 - 10 - 1968 diễn ra cuộc đàm phán của giai đoạn
1. Hội nghị Pari hình thành cục diện “vừa đánh vừa đàm” như dự kiến của Hội nghị
lần thứ 12, 13 của Trung ương Đảng: “đến một thời gian nào đó, ta có thể áp dụng
sách lược vừa đánh vừa đàm để hỗ trợ cho đấu tranh quân sự...”. 18
Để có thể thực hiện chủ trương chống Mỹ trên mặt trận ngoại giao với điểm
trung tâm là Hội nghị Pari, Ban Chấp hành Trung ương Đảng ta đã triển khai nhiều
hoạt động đối ngoại nhằm giải quyết nhiều mối quan hệ quốc tế khác phức tạp đối với
cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của nhân dân ta. Bằng cách giải thích, thuyết
phục, Đảng và Chính phủ ta đã tranh thủ tới mức cao nhất sự đồng tình, ủng hộ của
bạn bè quốc tế đối với cuộc đấu tranh ngoại giao của nhân dân ta trong sự nghiệp chống Mỹ, cứu nước.
Đảng nhận định thắng lợi to lớn và toàn diện của đợt một cuộc tổng tiến công
và nổi dậy đã tạo nên bước ngoặt mới trong cục diện chiến tranh có lợi cho ta, bất lợi
cho địch. Đế quốc Mỹ tuy bị thất bại nặng nề, ý chí xâm lược đã bị lung lay, nhưng
vẫn chưa chịu từ bỏ âm mưu thống trị miền Nam bằng chủ nghĩa thực dân kiểu mới.
Mục tiêu trước mắt của chúng là tập trung lực lượng giữ các đô thị và căn cứ quân sự,
trọng điểm là Sài Gòn, Huế và vùng I chiến thuật. Chúng sẽ cố gắng tăng thêm quân
Mỹ vào miền Nam, khôi phục và ổn định ngụy quân, ngụy quyền, tăng cường đánh
phá miền Bắc bằng không quân, hải quân. Tuy nhiên, trên chiến trường miền Nam và
ở ngay trong nước Mỹ chúng đang gặp những khó khăn về nhiều mặt. Đảng chủ
trương “động viên toàn Đảng, toàn quân và toàn dân phát huy khi thế chiến thắng, tiếp
tục phát triển tiến công toàn diện giành thắng lợi ngày càng to lớn hơn nữa, nhanh
chóng mở rộng lực lượng vũ trang và lực lượng chính trị của cách mạng, cảng đánh
càng mạnh, đẩy kẻ địch vào thế thất bại liên tiếp, ngày càng suy yếu, tan rã, không sao
gượng dậy được nhằm đi tới thắng lợi quyết định”.
Cuộc đấu tranh buộc Mỹ phải ngồi vào bàn đàm phán với ta là một thắng lợi to
lớn của nhân dân ta, đánh dấu một bước phát triển mới trong việc kết hợp chặt chẽ
giữa đấu tranh quân sự với đấu tranh ngoại giao của ta.
Ngày 1 - 11 - 1968, đế quốc Mỹ phải tuyên bố xuống thang chiến tranh, chấm
dứt không điều kiện việc ném bom và mọi hành động chiến tranh khác chống Việt
Nam dân chủ cộng hòa, rút dần quân chiến đấu Mỹ và quân các nước đồng minh ra
khỏi miền Nam. Có thể coi đây là việc thừa nhận công khai sự phá sản của chiến lược
chiến tranh cục bộ của Mỹ.
Về phía địch, mặc dù bị giáng một đòn quyết định, ý chí xâm lược bị lung lay
buộc phải đơn phương xuống thang chiến tranh, song với bản chất hiếu chiến và ngoan
cố, Mỹ vẫn khẩn trương tăng cường sức mạnh quân sự để tiếp tục bám giữ miền Nam
Việt Nam, giành thế mạnh chiến trường để ép ta trên bàn hội nghị. Tháng 1 - 1969,
Nichxơn nhận chức Tổng thống Mỹ, đề ra Học thuyết Nichxơn về châu Á, triển khai
thực hiện chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh” thay cho chiến lược chiến tranh cục
bộ đã bị thất bại. Mỹ và chính quyền Sài Gòn ra sức bắt lính đôn quân, khẩn trương
hiện đại hóa vũ khí và trang bị cho quân đội Sài Gòn.
Khai thác triệt để những khó khăn của cách mạng miền Nam từ giữa năm 1968,
bước vào năm 1969, địch tập trung một bộ phận lực lượng và phương tiện chiến tranh
liên tiếp mở các cuộc phản công quyết liệt nhằm tiêu diệt và đẩy lực lượng vũ trang, 19
lùng sục, triệt phá các cơ sở bí mật của ta ở thành phố, thị xã, thị trấn, đẩy mạnh tốc độ
và quy mô các cuộc hành quân càn quét chiếm đất, giành dân, mở rộng địa bàn chiếm
đóng ở các vùng nông thôn; đồng thời điều một số đơn vị về phòng thủ các thành phố,
thị xã, các địa bàn chiến lược trọng yếu. Đặc biệt, đối với vòng ngoài, các đơn vị quân
Mỹ và quân đội Sài Gòn tổ chức các cuộc hành quân ngăn chặn các đơn vị ta rút ra
khỏi thành phố, thị xã, kết hợp mở những trận đột kích sâu vào các căn cứ, các khu
vực kho tàng, bến bãi, hành lang tiếp tế và ngăn chặn quyết liệt tuyến vận tải chiến lược 559 của ta...
Sau cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân 1968, bên cạnh việc giành
được những thắng lợi có ý nghĩa chiến lược rất quan trọng, mở ra bước ngoặt quyết
định trong cục diện của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, ta cũng gặp những khó
khăn, gay gắt. Đến cuối năm 1968 và năm 1969, cách mạng miền Nam đứng trước thử
thách vô cùng nghiêm trọng. Quân số, vũ khí, trang bị của các đơn vị lực lượng vũ
trang và bán vũ trang bị tiêu hao rất nhiều, nguồn bổ sung hầu như không có. Bên cạnh
đó là tình trạng thiếu đói về lương thực, thuốc men diễn ra trong nhiều ngày... Nhiều
đơn vị bộ đội ta phải rút lên căn cứ. Thế trận chiến tranh nhân dân bị suy giảm. Cục
diện thực tế trên chiến trường tạm thời có lợi cho địch. Đây cũng là một thời điểm khó
khăn nhất của cách mạng miền Nam.
Để tháo gỡ tình hình khó khăn, từng bước khôi phục thế trận và lực lượng cho
cách mạng miền Nam, tháng 4 - 1969, Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung trong Đảng
đã họp bàn về tình hình và nhiệm vụ mới. Bộ Chính trị nhận định: Đế quốc Mỹ đã bị
những thất bại nặng nề về mọi mặt, ý chí xâm lược bị lung lay rõ rệt, chúng không thể
duy trì cuộc chiến tranh xâm lược với quy mô như hiện nay (1969) trong một thời gian
dài mà phải tìm cách xuống thang chiến tranh.
Tháng 1 - 1970, Hội nghị lần thứ 18 Ban Chấp hành Trung ương Đảng đã đánh
giá cục diện kháng chiến, đề ra phương hướng, nhiệm vụ và giải pháp đưa cuộc kháng chiến tiến lên.
Hội nghị xác định: nhiệm vụ trước mắt của cách mạng là kiên trì và đẩy mạnh
cuộc kháng chiến, tiếp tục phát triển chiến lược tiến công một cách toàn diện, liên tục
và mạnh mẽ; đẩy mạnh tiến công quân sự và chính trị, kết hợp với tiến công ngoại
giao; vừa tiến công địch, vừa ra sức xây dựng lực lượng quân sự và chính trị của ta
ngày càng lớn mạnh; đánh bại âm mưu “Việt Nam hóa chiến tranh” của đế quốc Mỹ
tạo điều kiện cơ bản để thực hiện một miền Nam độc lập, dân chủ, hòa bình, trung lập,
tiến tới thống nhất đất nước.
Tháng 5 - 1971, Bộ Chính trị họp và đề ra nhiệm vụ:
“Kịp thời nắm lấy thời cơ lớn, trên cơ sở phương châm chiến lược đánh lâu dài,
đẩy mạnh tiến công quân sự, chính trị và ngoại giao, phát triển thế chiến lược tiến
công mới trên toàn chiến trường miền Nam và cả trên chiến trường Đông Dương... 20