TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TPHCM
KHOA LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ TIỂU LUẬN KẾT THÚC HỌC PHẦN MÔN LỊCH SỬ
ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM Sinh viên : Phạm Hồng Quyên MSSV : 31211023949 Mã lớp HP : 22C1HIS51002626 – ST6 N2-507 Tên học phần : HIS510026 Giảng viên : Phạm Thăng
TPHCM, ngày 9 tháng 10 năm 2022 1 ĐỀ BÀI:
Câu 1: Anh, chị hãy trình bày những thành tựu, ý nghĩa lịch sử và kinh nghiệm lãnh đạo
của Đảng Cộng sản Việt Nam trong sự nghiệp đổi mới đất nước ( từ năm 1986 đến nay).
Câu 2: Phân tích nhân tố quyết định dẫn đến thắng lợi của công cuộc đổi mới ( 1986-
nay). Từ vấn đề lịch sử trên, bạn có thể rút ra bài học gì cho cuộc sống của bản thân? BÀI LÀM: Câu 1:
Công cuộc đổi mới mang tầm vóc và ý nghĩa cách mạng, là quá trình cải biến sâu
sắc, toàn diện, triệt để; là sự nghiệp cách mạng to lớn của toàn Đảng, toàn dân vì mục tiêu
“dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”. Việt Nam đã đạt được những
thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử. Đồng thời cũng còn nhiều vấn đề lớn, phức tạp,
nhiều hạn chế, yếu kém cần phải tập trung giải quyết, khắc phục để đưa đất nước phát
triển nhanh và bền vững.
Thành tựu nổi bật trước hết là về phát triển kinh tế. Kinh tế tăng trưởng khá, thực lực
của nền kinh tế tăng lên; kinh tế vĩ mô cơ bản ổn định; lạm phát được kiểm soát; tăng
trưởng kinh tế được duy trì hợp lý và được đánh giá là thuộc nhóm nước có mức tăng
trưởng khá cao trên thế giới. Đất nước đã ra khỏi tình trạng kém phát triển, trở thành
nước đang phát triển có thu nhập trung bình. Môi trường đầu tư được cải thiện, đa dạng
hóa được nhiều nguồn vốn đầu tư phát triển. Một số thành tựu cụ thể như: Thời kỳ 2001-
2005 đạt tốc độ tăng trưởng GDP bình quân năm là 7,5%; 2006-2010 đạt 7%; 2011-2015
đạt 5,9%; 2018 đạt 6,7%.
Những năm 2016 – 2019, Mặc dù năm cuối nhiệm kỳ, đại dịch Covid-19 và thiên tai, bão
lũ nghiêm trọng liên tiếp xảy ra ở các tỉnh miền Trung đã tác động nặng nề tới mọi mặt
của đời sống kinh tế - xã hội, nhưng tốc độ tăng trưởng GDP bình quân giai đoạn 2016 –
2020 vẫn đạt khoảng 6%/năm (riêng năm 2020 tăng trưởng GDP vẫn đạt 2,91%, là mức
tăng trưởng thuộc nhóm cao nhất thế giới). Quy mô nền kinh tế và thu nhập bình quân
đầu người tăng lên (năm 2020, GDP đạt 271,2 tỉ USD và thu nhập bình quân đầu người
đạt 2.779 USD). Chất lượng tăng trưởng được cải thiện, năng suất lao động tăng từ
4,3%/năm giai đoạn 2011 - 2015 lên khoảng 6%/năm giai đoạn 2016 – 2020.
Một thành tựu rất quan trọng của công cuộc đổi mới là “Giáo dục và đào tạo,
khoa học và công nghệ tiếp tục được đổi mới và có bước phát triển
”. Chú trọng đổi mới
chương trình, sách giáo khoa giáo dục phổ thông, đổi mới phương pháp giảng dạy và học
tập. Quản lý, quản trị đại học có bước đổi mới, chất lượng giáo dục đại học từng bước
được nâng lên. Giáo dục nghề nghiệp có nhiều chuyển biến.
Về văn hóa, xã hội: “Phát triển văn hóa, xã hội, con người đạt nhiều kết quả
quan trọng”. Xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc được Đảng chủ
trương từ năm 1998; quan điểm đó không ngừng được bổ sung, phát triển. Thực tiễn đổi
mới cho thấy, nhận thức về văn hóa, xã hội, con người ngày càng toàn diện, sâu sắc hơn. 1
Nhiều giá trị văn hóa truyền thống và di sản văn hóa được kế thừa, bảo tồn và phát huy.
Văn hóa trong chính trị và trong kinh tế bước đầu được coi trọng và phát huy hiệu quả
tích cực. Văn hóa gắn liền với xây dựng con người. “Phát triển toàn diện con người Việt
Nam đang từng bước trở thành trung tâm của chiến lược phát triển kinh tế - xã hội”, xây
dựng cái tốt, cải thiện, đồng thời phê phán, đấu tranh chống cái xấu, cái ác, cái lạc hậu.
Về Chính trị- xã hội ổn định, Quốc phòng, an ninh được giữ vững và tăng
cường; Quan hệ đối ngoại, hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, đạt nhiều thành tựu nổi
bật. “Quan hệ đối ngoại và hội nhập quốc tế tiếp tục mở rộng và đi vào chiều sâu, tạo
khung khổ quan hệ ổn định và bền vững với các đối tác”.
Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu to lớn trên vẫn còn đâu đó những hạn chế cần
phải khắc phục. Những hạn chế, khuyết điểm trên đây có cả nguyên nhân khách quan và nguyên nhân chủ quan:
Về khách quan: Đổi mới là một sự nghiệp to lớn, toàn diện, lâu dài, rất khó khăn, phức
tạp, chưa có tiền lệ trong lịch sử. Tình hình thế giới và khu vực có những mặt tác động
không thuận lợi; sự chống phá quyết liệt của các thế lực thù địch và cơ hội chính trị.
Về chủ quan: Công tác nghiên cứu lý luận, tổng kết thực tiễn chưa được quan tâm đúng
mức, đổi mới tư duy lý luận chưa kiên quyết, mạnh mẽ, có mặt còn lạc hậu, hạn chế so
với chuyển biến nhanh của thực tiễn. Dự báo tình hình chậm và thiếu chính xác làm ảnh
hưởng đến chất lượng các quyết sách, chủ trương, đường lối của Đảng. Nhận thức và giải
quyết tám mối quan hệ lớn còn hạn chế. Đổi mới thiếu đồng bộ, lúng túng trên một số
lĩnh vực. Đây là nguyên nhân chủ yếu.
Từ những hạn chế trên, Đảng ta rút ra một số kinh nghiệm lãnh đạo của Đảng
Cộng sản Việt Nam trong sự nghiệp đổi mới đất nước như sau:
Một là, trong quá trình đổi mới phải chủ động, không ngừng sáng tạo trên cơ sở kiên
định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, vận dụng sáng tạo và phát triển chủ
nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, kế thừa và phát huy truyền thống dân tộc, tiếp
thu tinh hoa văn hóa nhân loại, vận dụng kinh nghiệm quốc tế phù hợp với Việt Nam.
Hai là, đôi mới phải luôn luôn quán triệt quan điểm “dân là gốc”, vì lợi ích của nhân
dân, dựa vào nhân dân, phát huy vai trò làm chủ tinh thần trách nhiệm, sức sáng tạo và
mọi nguồn lực của nhân dân phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc.
Ba là, đổi mới phải toàn diện, đồng bộ, có bước đi phù hợp; phải tôn trọng quy luật
khách quan, xuất phát từ thực tiễn, bám sát thực tiễn, coi trọng tổng kết thực tiễn, nghiên
cứu lý luận, tập trung giải quyết kịp thời, hiệu quả những vấn đề do thực tiễn đặt ra.
Bốn là, phải đặt lợi ích quốc gia - dân tộc lên trên hết; kiên định độc lập, tự chủ, đồng
thời chủ động và tích cực hội nhập quốc tế trên cơ sở bình đẳng, cùng có lợi; kết hợp phát
huy sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại để xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc
Việt Nam xã hội chủ nghĩa. 2
Năm là, phải thường xuyên tự đổi mới, tự chỉnh đốn, nâng cao năng lực lãnh đạo và
sức chiến đấu của Đảng; xây dựng đội ngũ cán bộ, nhất là đội ngũ cán bộ cấp chiến lược,
đủ năng lực và phẩm chất, ngang tầm nhiệm vụ; nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động
của Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị - xã hội và của cả hệ thống chính
trị; tăng cường mối quan hệ mật thiết với nhân dân. Câu 2:
Sự lãnh đạo của Đảng - nhân tố quyết định thắng lợi công cuộc đổi mới.
(ĐHXIII) – Sau 35 năm đổi mới, dưới sự lãnh đạo của Đảng, “Đất nước ta chưa bao giờ
có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay”. Đó là thành quả lãnh đạo
của một chính đảng cầm quyền đầy bản lĩnh, độc lập, sáng tạo - một đảng vì dân - Đảng
Cộng sản Việt Nam. Để viết tiếp những bản anh hùng ca thực hiện khát vọng tự cường
dân tộc, xây dựng Tổ quốc Việt Nam XHCN “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng,
văn minh”, Đại hội XIII đã khẳng định tiếp tục nâng cao năng lực lãnh đạo, năng lực cầm
quyền và sức chiến đấu của Đảng “có ý nghĩa quyết định thành công” sự nghiệp xây
dựng, phát triển đất nước và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN.
Kể từ mùa Xuân năm 1930 đến nay, 91 mùa Xuân có Đảng, cách mạng Việt Nam
đã giành được những thắng lợi có ý nghĩa lịch sử to lớn: từ một nước thuộc địa nửa
phong kiến đã trở thành một quốc gia độc lập, tự do, phát triển theo con đường xã hội chủ
nghĩa, có quan hệ quốc tế rộng rãi, có vị thế ngày càng quan trọng trong khu vực và trên
thế giới. Việt Nam từ một nền kinh tế nghèo nàn, lạc hậu, đã vươn lên trở thành quốc gia
có thu nhập trung bình, phấn đấu sớm trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại
vào thập niên tới và trở thành nước phát triển vào dịp kỷ niệm 100 năm Quốc khánh
(1945 - 2045). Trong tiến trình lịch sử dân tộc, vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt
Nam đã khẳng định là nhân tố hàng đầu quyết định mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam.
Có được những thành tựu to lớn về kinh tế, giáo dục, đào tạo, khoa học - công nghệ,
văn hóa, xã hội, chính trị, quốc phòng, an ninh, đối ngoại như trên là kết quả của quá
trình phấn đấu liên tục, bền bỉ của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân, qua nhiều nhiệm kỳ
đại hội; là sự lãnh đạo, chỉ đạo đúng đắn, có hiệu quả của Trung ương Đảng, sự quản lý,
điều hành quyết liệt của Chính phủ và chính quyền các cấp; sự tham gia tích cực của Mặt
trận và các tổ chức chính trị - xã hội; sự phối hợp đồng bộ của cả hệ thống chính trị.
Mọi người Việt Nam đều biết, vai trò, sứ mệnh lịch sử của Đảng đối với vận
mệnh và tương lai của dân tộc là tất yếu khách quan, do chính lịch sử của dân tộc Việt
Nam lựa chọn và do chính bản chất cách mạng và tính tiền phong của Đảng mới có được.
Vai trò đó đó được khẳng định trong thực tiễn lịch sử Việt Nam suốt gần tám thập kỷ
qua, không chỉ trên phương diện giữ nước mà còn cả trên phương diện dựng nước, trong
sự nghiệp đổi mới đất nước của nhân dân ta hơn hai mươi năm qua do chính Đảng ta khởi
xướng, lãnh đạo đã đạt được những “thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử” và hiện nay, sự
nghiệp đó đang tiếp tục phát triển. 3