TIỂU LUẬN KẾT THÚC HỌC PHẦN
LỊCH SỬ ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM
Sinh viên thực hiện: Đoàn Phi Hoàng MSSV: 31211027184
Mã lớp học phần: 23D1HiS51002615-S3
Tên học phần: Lịch sử Đảng Cộng Sản Việt Nam
Giảng viên giảng dạy: TS. Phạm Thành Tâm
Tp. Hồ Chí Minh, ngày 1 tháng 6 năm 2023 1 Lời mở đầu
Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định, là cả một
pho lịch sử bằng vàng. Kho tàng lịch sử quý giá đó không chỉ gồm những sự kiện lịch sử
oanh liệt, hào hùng của Đảng và dân tộc mà điều có ý nghĩa lớn lao là những kinh
nghiệm, những bài học lịch sử, những vấn đề lý luận cách mạng Việt Nam được tổng kết
từ hiện thực lịch sử với những sự kiện oanh liệt hào hùng đó. Vì vậy, học tập, nghiên cứu
lịch sử Đảng là trách nhiệm và quyền lợi của mỗi chúng ta. Đề bài
Bằng những kiến thức đã học từ học phần Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam tại
UEH, anh, chị hãy trả lời các vấn đề sau:
1. Trình bày tóm tắt quá trình Đảng lãnh đạo công cuộc xây dựng CNXH ở miền
Bắc giai đoạn 1954 – 1975. (4 điểm)
2. Phân tích vai trò của hậu phương miền Bắc đối với tiền tuyến miền Nam trong
cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954 – 1975). Trong cuộc sống, bạn rút ra được
cho bản thân mình những bài học kinh nghiệm gì giữa vai trò của hậu phương và tiền
tuyến từ vấn đề lịch sử trên? (6 điểm) 2
1. Tóm tắt quá trình Đảng lãnh đạo công cuộc xây dựng CNXH ở miền Bắc giai đoạn (1954 – 1975).
Với chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ và việc ký kết Hiệp định Genève năm 1954,
Việt Nam bị chia cắt thành 2 miền. Miền Bắc được hoàn toàn giải phóng và bắt đầu
chuyển sang công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội. Miền Nam còn bị đế quốc Mỹ và bè
lũ tay sai thống trị chiếm đóng nên dân nhân ta vẫn tiếp tục cách mạng. Chính vì vậy
miền Bắc được coi là hậu phương lớn và miền Nam được coi là tiền tuyến lớn.
Trong giai đoạn từ năm 1954 đến năm 1975, Đảng đã lãnh đạo thành công công cuộc
xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc. Nhiệm vụ chiến lược của cách mạng miền Bắc là
khôi phục kinh tế, hàn gắn vết thương chiến tranh; tiến hành công cuộc cải tạo và xây
dựng chủ nghĩa xã hội, làm cho miền Bắc vững mạnh, trở thành hậu phương vững chắc
cho miền Nam và là căn cứ địa cách mạng của cả nước.
Để đáp ứng yêu cầu xây dựng CNXH ở miền Bắc, Đảng đã tiến hành các biện pháp cải
cách đất nước, tập trung vào việc tái cơ cấu kinh tế và xây dựng cơ sở hạ tầng, đặc biệt là
tập trung vào ngành nông nghiệp và công nghiệp. Đồng thời, Đảng cũng đã đưa ra các
chính sách xã hội nhằm nâng cao mức sống của dân chúng, đặc biệt là trong lĩnh vực giáo dục và y tế.
Ngoài ra, Đảng cũng đã tổ chức và lãnh đạo các hoạt động nhằm đẩy mạnh phong trào
sản xuất và xây dựng CNXH. Đặc biệt, việc thành lập các hợp tác xã trong lĩnh vực nông
nghiệp đã giúp nâng cao hiệu quả sản xuất và tăng cường sức mạnh kinh tế cho đất nước.
Điểm mốc quan trọng nhất trong giai đoạn này là thực hiện chính sách cải cách ruộng
đất, thu hút đại đoàn kết toàn dân để xóa đói giảm nghèo, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân.
Cụ thể, Đảng lãnh đạo đã thực hiện các biện pháp như hợp tác xã, liên kết sản xuất,
đánh bài đỏ, hoán đổi lao động, tiếp viên chiến sự, thu hút giải phóng quân, tập hợp
người dân vào các địa phương mới, đưa sản phẩm ra thị trường, xây dựng các cơ sở vật
chất, giáo dục tuyên truyền, đào tạo cán bộ v.v...
Đồng thời, Đảng cũng tập trung xây dựng các ngành công nghiệp như điện, thép, khai
khoáng, dệt may, thực phẩm... để phát triển kinh tế và củng cố quốc phòng.
Thực hiện kế hoạch 3 năm lần thứ nhất (1955-1957) và 3 năm lần thứ hai (1958-1960)
đã làm diện mạo miền Bắc thay đổi với sự phục hồi, phát triển của nhiều thành phần kinh
tế, đời sống nhân dân dần được nâng cao, trong đó thành phần kinh tế toàn dân và tập thể
đóng vai trò chủ đạo trong cơ cấu kinh tế quốc dân.
Tuy nhiên, khi chiến tranh xâm lược của Mỹ và chế độ Sài Gòn lên ngôi, miền Bắc đã
phải đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức. Tuy vậy, với tinh thần quyết tâm, đoàn kết
và phát huy vai trò lãnh đạo của Đảng, toàn dân miền Bắc đã cùng nhau chiến đấu thành
công để giành được chiến thắng lịch sử vào ngày 30/4/1975, đánh dấu sự thống nhất của
đất nước và tiếp tục xây dựng chủ nghĩa xã hội. 2.
a. Phân tích vai trò của hậu phương miền Bắc đối với tiền tuyến miền Nam trong
cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954 – 1975)
Sau Hiệp định Geneve 1954 về Đông Dương, do âm mưu và những hành động phá hoại
Hiệp định Geneve của Mỹ và chính quyền tay sai Ngô Đình Diệm, đất nước ta tạm thời
bị chia cắt thành hai miền với hai chế độ chính trị - xã hội khác nhau: miền Bắc được 3
hoàn toàn giải phóng, miền Nam trở thành thuộc địa kiểu mới và căn cứ quân sự của Mĩ ở Đông Dương.
Căn cứ vào đặc điểm tình hình nước ta – tạm thời bị chia cắt thành 2 miền với 2 chế độ
chính trị khác nhau, Đảng Lao động Việt Nam đã đề ra cho mỗi miền những chiến lược
cách mạng khác nhau, phù hợp với từng miền:
- Nhiệm vụ chiến lược của cách mạng miền Bắc là khôi phục kinh tế, hàn gắn vết thương
chiến tranh; tiến hành công cuộc cải tạo và xây dựng chủ nghĩa xã hội, làm cho miền Bắc
vững mạnh, trở thành hậu phương vững chắc cho miền Nam và là căn cứ địa cách mạng của cả nước.
- Miền Nam tiếp tục thực hiện cuộc cách mạng dân tộc dân chủ, đánh đổ ách thống trị của
Mỹ và tay sai, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước.
Đại hội toàn quốc lần thứ III của Đảng Lao động Việt Nam (9/1960) xác định cách
mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc có vai trò quyết định nhất đối với sự phát triển của
cách mạng cả nước. Vai trò này được thể hiện ở các nội dung sau:
- Miền Bắc đã hoàn thành xuất sắc nghĩa vụ hậu phương lớn đối với tiền tuyến lớn miền Nam:
+ Miền Bắc chi viện cho miền Nam bằng tuyến đường vận chuyển chiến lược Bắc – Nam
mang tên Hồ Chí Minh trên bộ và trên biển bắt đầu được khai thông từ năm 1959, dài hàng nghìn km.
+ Khẩu hiệu của miền Bắc là “Tất cả cho tiền tuyến, tất cả để đánh thắng giặc Mỹ xâm
lược”, “Thóc không thiếu một cân, quân không thiếu một người” …
+ Trong 5 năm (1961 – 1965), một khối lượng lớn vũ khí, đạn dược, thuốc men… được
chuyển vào chiến trường. Ngày càng có nhiều đơn vị vũ trang, cán bộ quân sự và cán bộ
các ngành được đưa vào miền Nam tham gia chiến đấu, phục vụ chiến đấu và xây dựng
vùng giải phóng. Sự chi viện của miền Bắc trong thời gian này là nhân tố quyết định đến
thắng lợi của nhân dân miền Nam đánh bại chiến lược “Chiến tranh đặc biệt” của Mỹ.
+ Trong 4 năm (1965 – 1968), miền Bắc đã đưa vào miền Nam hơn 30 vạn cán bộ, chiến
sĩ tham gia chiến đấu, phục vụ chiến đấu và xây dựng vùng giải phóng cùng hàng chục
vạn tấn vũ khí, đạn dược, lương thực, thuốc men… Tính chung, trong 4 năm, sức người,
sức của từ miền Bắc chuyển vào chiến trường miền Nam tăng gấp 10 lần so với giai đoạn trước.
+ Trong thời gian Mỹ ngừng ném bom sau chiến tranh phá hoại lần thứ nhất và cả trong
chiến tranh phá hoại lần thứ hai, miền Bắc đã khắc phục kịp thời hậu quả của những trận
đánh phá khốc liệt, vượt qua những cuộc bao vây phong toả gắt gao của địch, bảo đảm
tiếp nhận tốt hàng viện trợ từ bên ngoài và tiếp tục chi viện theo yêu cầu của chiến trường
miền Nam, cũng như làm nghĩa vụ quốc tế đối với chiến trường Lào và Campuchia.
+ Trong 3 năm (1969 – 1971), hàng chục vạn thanh niên miền Bắc được gọi nhập ngũ,
trong số đó có 60% lên đường bổ sung cho các chiến trường miền Nam, Lào, Campuchia.
Khối lượng vật chất đưa vào các chiến trường tăng gấp 1,6 lần so với 3 năm trước đó.
+ Riêng năm 1972, miền Bắc đã động viên hơn 22 vạn thanh niên bổ sung cho lực lượng
vũ trang, đưa vào chiến trường 3 nước Đông Dương nhiều đơn vị bộ đội được huấn luyện,
trang bị đầy đủ; còn khối lượng vật chất đưa vào chiến trường tăng gấp 1,7 lần so với năm 1971.
+ Trong hai năm 1973 – 1974, miền Bắc đưa vào chiến trường miền Nam, Lào,
Campuchia gần 20 vạn bộ đội, hàng vạn thanh niên xung phong, cán bộ chuyên môn,
nhân viên kỹ thuật. Đột xuất trong năm 1975, miền Bắc đưa vào miền Nam 57.000 bộ đội.
Về vật chất – kỹ thuật, miền Bắc có nỗ lực phi thường, đáp ứng đầy đủ nhu cầu to lớn và
cấp bách của cuộc tổng tiến công chiến lược ở miền Nam. Từ đầu mùa khô 1973 – 1974 4