ĐẠI HỌC UEH
KHOA LUẬN CHÍNH TRỊ
BÀI TIỂU LUẬN
HỌC PHẦN: LỊCH SỬ ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM
CHỦ ĐỀ 2: ĐẢNG LÃNH ĐẠO CUỘC KHÁNG CHIẾN CHỐNG
MỸ CỨU NƯỚC, THỰC HIỆN HOÀ BÌNH, THỐNG NHẤT
NƯỚC NHÀ (1954 1975)
Hồ Chí Minh, Ngày 30 tháng 04 năm 2023
STT Họ Tên Công việc được phân công
Mức độ hoàn
thành (%)
1
2
3
4
5
6
7
8
9
10
11
12
13
14
15
16
17
MỤC LỤC
II. Lãnh đạo xây dựng chủ nghĩa hội miền Bắc kháng chiến chống đế quốc
Mỹ xâm lược, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước (1954-1975)..................4
1. Sự lãnh đạo của Đảng với cách mạng hai miền Nam Bắc (1954-1965).........4
1.1. Khôi phục kinh tế, cải tạo hội chủ nghĩa miền Bắc, chuyển cách mạng
miền Nam từ thế giữ gìn lực lượng sang thế tiến công (1954-1960)..................4
1.2. Đại hội III:....................................................................................................7
1.3. Ý nghĩa lịch sử của Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III của Đảng (tháng
9/1960):................................................................................................................8
2. Lãnh đạo cách mạng cả nước giai đoạn 1965-1975...........................................9
2.1. Đường lối kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của Đảng...............................9
2.2. Xây dựng hậu phương, chống chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ miền
Bắc; giữ vững thế chiến lược tiến công, đánh bại chiến lược Chiến tranh cục bộ
của đế quốc Mỹ 1965-1968:..............................................................................11
2.3. Khôi phục kinh tế, bảo vệ miền Bắc, đẩy mạnh cuộc chiến đấu giải phóng
miền Nam, thống nhất Tổ quốc (1969-1975)....................................................13
3. Ý nghĩa lịch sử kinh nghiệm lãnh đạo của Đảng thời kỳ 1954-1975..........15
3.1. Ý nghĩa lịch sử............................................................................................16
3.2. Nguyên nhân...............................................................................................16
3.3. Kinh nghiệm...............................................................................................17
TÀI LIỆU THAM KHẢO.......................................................................................18
II. Lãnh đạo xây dựng chủ nghĩa hội miền Bắc kháng chiến chống đế
quốc Mỹ xâm lược, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước (1954-1975)
1. Sự lãnh đạo của Đảng với cách mạng hai miền Nam Bắc (1954-1965)
1.1. Khôi phục kinh tế, cải tạo hội chủ nghĩa miền Bắc, chuyển cách
mạng miền Nam từ thế giữ gìn lực lượng sang thế tiến công (1954-1960)
Hoàn cảnh lịch sử của cách mạng Việt Nam sau tháng 7-1954:
miền Bắc:
Thuận lợi: Hệ thống XHCN tiếp tục lớn mạnh; phong trào giải phóng dân tộc tiếp
tục phát triển; phong trào hòa bình, dân chủ lên cao; miền Bắc được hoàn toàn giải
phóng; thế lực của cách mạng đã lớn mạnh hơn sau 9 năm kháng chiến.
Khó khăn: đất nước bị chia cắt thành hai miền, miền Nam bị biến thành thuộc địa
kiểu mới của đế quốc Mỹ, miền Bắc nền kinh tế sau chiến tranh còn rất nghèo nàn,
lạc hậu; thế giới bước vào thời kỳ chiến tranh lạnh; xuất hiện sự bất đồng trong hệ
thống XHCN. Tình hình trên đã đặt Đảng ta trước một u cầu bức thiết phải
vạch ra đường lối chiến lược đúng đắn để đưa cách mạng Việt Nam tiến lên.
Về chủ trương đưa miền Bắc quá độ lên chủ nghĩa hội:
Tháng 9-1954 Bộ Chính trị đề ra nhiệm vụ chủ yếu trước mắt để sớm đưa miền
Bắc trở lại bình thường sau 9 năm chiến tranh, hàn gắn vết thương chiến tranh,
phục hồi kinh tế quốc dân.
Hội nghị lần thứ 7 (3-1955) lần thứ 8 (8-1955) Ban Chấp hành Trung ương
Đảng (khóa II) đã nhận định: Mỹ tay sai đã hất cẳng Pháp miền Nam, công
khai lập nhà nước riêng chống phá Hiệp định Giơnevơ, đàn áp phong trào cách
mạng.
Thực hiện Hiệp định Giơnevơ, ngay sau khi hoà bình được lập lại, Đảng đã lãnh
đạo nhân dân miền Bắc đấu tranh đòi đối phương phải rút quân khỏi miền Bắc theo
đúng lịch trình quy định. Ngoài ra, Đảng Nhà nước còn huy động hàng vạn cán
bộ, bộ đội đến giúp đỡ các địa phương, tuyên truyền, vận động quần chúng đấu
tranh chống địch cưỡng ép di nhằm ổn định tình hình. Trước tinh thần đấu tranh
của nhân dân ta, địch đã phải rút quân theo đúng Hiệp định. Ngày 10-10-1954,
người lính Pháp cuối cùng rút khỏi Nội, ngày 16-5-1955, toàn bộ quân đội viễn
chinh Pháp tay sai đã phải rút khỏi miền Bắc.
Nhận kinh tế miền Bắc bản nông nghiệp, Đảng đã chỉ đạo việc khôi phục
sản xuất nông nghiệp, cải cách ruộng đất, chăm lo xây dựng sở vật chất cho
nông nghiệp. Việc khôi phục công nghiệp, giao thông vận tải cũng hoàn thành.
Công cuộc giảm tô, giảm tức cải cách ruộng đất được tiếp tục đẩy mạnh. Đến
tháng 7-1956, cải cách ruộng đất đã căn bản hoàn thành đồng bằng, trung du
miền núi. Tuy nhiên, trong quá trình cải cách ruộng đất, ta đã phạm phải một số sai
lầm nghiêm trọng. Nguyên nhân do chủ quan, giáo điều, không xuất phát từ tình
hình thực tiễn, nhất những thay đổi quan trọng về quan hệ giai cấp, hội
nông thôn miền Bắc. Đảng chỉ đạo công tác sửa sai trong năm 1956-1957, nên
từng bước đã khắc phục được những sai lầm đã xảy ra.
Tháng 11-1958, Ban Chấp hành Trung ương Đảng họp Hội nghị lần thứ 14 đề ra
kế hoạch ba năm phát triển kinh tế, văn hóa cải tạo hội chủ nghĩa đối với
kinh tế thể kinh tế bản doanh (1958-1960). Kết quả đã tạo nên những
chuyển biến cách mạng trong nền kinh tế hội miền Bắc nước ta. Miền Bắc
được củng cố, từng bước đi lên CNXH trở thành hậu phương ổn định, vững
mạnh đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp cách mạng Việt Nam.
miền Nam:
Từ năm 1954 đế quốc Mỹ thiết lập bộ máy chính quyền Việt Nam Cộng hòa do
Ngô Đình Diệm làm Tổng thống, ráo riết thi hành quốc sách “tố cộng, diệt cộng”,
lập “khu trù mật”, “khu dinh điền” nhằm mục đích bắt bớ, trả thù tất cả những
người yêu nước kháng chiến cũ, thẳng tay đàn áp phong trào đấu tranh đòi thi hành
Hiệp định Giơnevơ của các tầng lớp nhân dân. Mục đích của Mỹ muốn chia cắt
lâu dài đất nước Việt Nam, biến miền Nam thành căn cứ chống phe XHCN
thuộc địa kiểu mới của Mỹ.
Xuất phát từ bối cảnh đó, Đảng quyết định thay đổi phương thức đấu tranh quân sự
sang đấu tranh chính trị, đòi đối phương phải thi hành Hiệp định Giơnevơ, tiếp tục
thực hiện cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân miền Nam. Hội nghị lần thứ 6
Ban Chấp hành Trung ương Đảng (từ ngày 15 đến ngày 17-7-1954) xác định Mỹ
kẻ thù chính trực tiếp của nhân dân Đông Dương. Tháng 10-1954, Xứ ủy Nam
bộ được thành lập, do Duẩn làm thư. Từ thực tiễn cuộc đấu tranh cách mạng
của nhân dân miền Nam, tháng 8-1956, Duẩn đã dự thảo Đường lối cách mạng
miền Nam, chỉ con đường cứu nước ngoài con đường cách mạng không một
con đường khác.
Tháng 3-1959, chính quyền Ngô Đình Diệm tuyên bố “đặt miền Nam trong tình
trạng chiến tranh”. Với luật 10/59, máy chém đi khắp miền Nam, dùng Tòa án
quân sự đặc biệt để đưa thẳng người bị bắt ra xét xử bắn giết tại chỗ.
Tháng 1-1959, Ban Chấp hành Trung ương Đảng đã họp Hội nghị lần thứ 15 ra
Nghị quyết về cách mạng miền Nam, xác định Nhiệm vụ bản: giải phóng miền
Nam khỏi ách thống trị của đế quốc phong kiến, thực hiện độc lập dân tộc
người cày ruộng, hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân miền Nam.
tưởng chỉ đạo quan trọng cho cách mạng Việt Nam miền Nam phải dùng
cách mạng bạo lực để tự giải phóng mình. Phương hướng phát triển bản khởi
nghĩa giành chính quyền. Nghị quyết 15 mở đường cho cách mạng miền Nam tiến
lên; thể hiện năng lực bám sát thực tiễn cuộc sống, bản lĩnh độc lập, tự chủ, sáng
tạo của Đảng trong thời kỳ khó khăn của cách mạng.
Thực hiện Nghị quyết của Đảng, nhân dân miền Nam đã tiến hành một số cuộc
khởi nghĩa trang, hình thức khởi nghĩa đồng loạt (đồng khởi) bắt đầu bùng nổ
huyện Mỏ Cày, Bến Tre sau đó lan ra các huyện khác. Hệ thống kìm kẹp của
địch xã, ấp bị liệt tan vỡ từng mảng lớn. Thắng lợi của phong trào Đồng
Khởi bước nhảy vọt ý nghĩa lịch sử của cách mạng miền Nam, chuyển cách
mạng miền Nam từ thế giữ gìn lực lượng sang thế tiến công.
Từ thắng lợi của phong trào Đồng Khởi, ngày 20-12-1960, Mặt trận Dân tộc Giải
phóng miền Nam Việt Nam nhằm tập hợp rộng rãi quần chúng, nhân dân đoàn kết
đấu tranh theo chương trình hành động 10 điểm, hướng tới mục tiêu đánh đổ chế
độ thuộc địa trá hình của đế quốc Mỹ chính quyền độc tài Ngô Đình Diệm, xây
dựng một miền Nam độc lập, dân chủ, hòa bình, trung lập, tiến tới hòa bình thống
nhất nước nhà.
1.2. Đại hội III:
Bối cảnh lịch sử (vị trí)
Đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam III diễn ra trong bối cảnh miền Bắc Việt Nam
vừa hoàn thành khôi phục kinh tế sau Kháng chiến chống Pháp Cải cách ruộng
đất cùng với Cải tạo công thương nghiệp; trong khi miền Nam một phong trào
chống chính quyền Ngô Đình Diệm Mỹ đang diễn ra từ cuối năm 1959 trở
thành Phong trào Đồng Khởi từ đầu năm 1960.
Nhiệm vụ cách mạng miền Bắc
Sau khi hoàn thành việc khắc phục hậu quả do cuộc kháng chiến chống pháp để lại
thực hiện những nhiệm vụ bước đầu của chính quyền dân chủ nhân dân theo
kinh nghiệm của Liên Đông Âu sau Chiến tranh thế giới lần thứ 2, Đại hội
quyết định sẽ đưa miền Bắc đi lên cách mạng hội chủ nghĩa, đưa ra nhận định
về công cuộc cách mạng hội chủ nghĩa, ưu tiên phát triển công nghiệp nặng một
cách hợp lí, đồng thời ra sức phát triển nông nghiệp công nghiệp nhẹ miền
Bắc sẽ vai
trò quyết định nhất với sự phát triển của toàn bộ cách mạng Việt Nam với sự
nghiệp thống nhất nước nhà.
Đại hội khẳng định đưa miền Bắc tiến nhanh, tiến mạnh, tiến vững chắc lên chủ
nghĩa hội
Nhiệm vụ cách mạng miền Nam
Do Pháp không thực hiện Tổng tuyển cử theo Hiệp định việc vận động thực
hiện hiệp định bị chính quyền Diệm đàn áp, do sợ thất bại, nên Việt Nam chưa thể
thống nhất được. Do đó Đại hội đã quyết định sẽ tiến hành cách mạng dân tộc dân
chủ nhân dân miền Nam nhận định cuộc cách mạng này sẽ vai trò quyết
định trực tiếp với sự nghiệp giải phóng miền Nam.
Quan hệ cách mạng hai miền Nam - Bắc
Đại hội nhận định cách mạng hai miền quan hệ mật thiết, gắn tác động lẫn
nhau nhằm hoàn thành cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân trong cả nước,
thực hiện hòa bình thống nhất đất nước. Miền Bắc tăng gia sản xuất, hậu phương
cung cấp sức người sức của cho tiền tuyến miền Nam tiến lên hoàn thành thắng lợi
cách mạng, thống nhất toàn vẹn nước nhà.
1.3. Ý nghĩa lịch sử của Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III của Đảng (tháng
9/1960):
Đánh dấu bước phát triển trong quá trình xác định đường lối cách mạng hội chủ
nghĩa miền Bắc đường lối đấu tranh thống nhất đất nước.
Đại hội đã thảo luận đánh giá cách mạng hai miền Nam - Bắc nước ta đang
những bước tiến quan trọng. Từ nhận định đó, Đại hội đề ra nhiệm vụ chiến lược
của cách mạng cả nước nhiệm vụ của từng miền; chỉ vị trí, vai trò của cách
mạng từng miền mối quan hệ giữa cách mạng hai miền.
sở cho toàn dân đoàn kết chặt chẽ thành một khối thống nhất.
Đại hội đã rút ra những bài học kinh nghiệm chủ yếu của cách mạng nước ta trong
30 năm qua xác định việc xây dựng Đảng Mác-Lênin đoàn kết nhất trí, liên hệ
chặt chẽ với quần chúng, luôn luôn giữ vững quyền lãnh đạo cách mạng, tăng
cường đoàn kết toàn dân nhiệm vụ ưu tiên hàng đầu. Sự đoàn kết, nhất trí của
Đại hội hạt nhân đoàn kết nhân dân cả nước, nguồn sức mạnh dẫn đến các
phong trào cách mạng mới hai miền Nam - Bắc.
“nguồn ánh sáng mới, lực lượng mới cho toàn Đảng, toàn dân ta xây dựng
thắng lợi chủ nghĩa hội miền Bắc đấu tranh hòa bình thống nhất nước nhà.”
Đường lối cách mạng do Đại hội vạch ra ngọn đèn pha sáng ngời chiếu rọi con
đường của nhân dân ta tiến tới chủ nghĩa hội, tiến tới thống nhất nước nhà, tiến
tới một nước Việt Nam hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ giàu mạnh.
Thành công của Đại hội lần thứ III của Đảng sở cho “Toàn Đảng toàn dân
ta đoàn kết chặt chẽ thành một khối khổng lồ. Chúng ta sáng tạo. Chúng ta xây
dựng. Chúng ta tiến lên”.
2. Lãnh đạo cách mạng cả nước giai đoạn 1965-1975
2.1. Đường lối kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của Đảng
Thất bại trong “Chiến tranh đặc biệt”, Mỹ đã thực hiện chiến lược “Chiến tranh
cục bộ” miền Nam, đưa quân chiến đấu Mỹ quân các nước đồng minh của Mỹ
vào trực tiếp tham chiến; đồng thời, mở cuộc chiến tranh phá hoại bằng không
quân hải quân đánh phá miền Bắc Việt Nam.
Trước tình hình đó, Hội nghị lần thứ 11 (3-1965) Hội nghị lần thứ 12 (12-1965)
của Ban Chấp hành Trung ương Đảng với tinh thần “Quyết tâm đánh thắng giặc
Mỹ xâm lược”, Đảng quyết định phát động cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước
trong toàn quốc, coi chống Mỹ, cứu nước nhiệm vụ thiêng liêng của cả dân tộc
từ Nam chí Bắc.
Mục tiêu chiến lược: Kiên quyết đánh bại cuộc chiến tranh xâm lược của đế quốc
Mỹ trong bất kỳ tình huống nào, nhằm bảo vệ miền Bắc, giải phóng miền Nam,
hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân trong cả nước, tiến tới thực hiện
hòa bình thống nhất nước nhà.
Phương châm chiến lược: Đánh lâu dài, dựa vào sức mình chính, càng đánh càng
mạnh; cần phải cố gắng đến mức độ cao, tập trung lực lượng của cả hai miền để
mở những cuộc tiến công lớn, tranh thủ thời giành thắng lợi quyết định trong
thời gian tương đối ngắn trên chiến trường miền Nam.
tưởng chỉ đạo phương châm đấu tranh miền Nam: Giữ vững phát triển
thế tiến công, kiên quyết tiến công liên tục tiến công, đánh địch trên cả ba vùng
chiến lược. Trong giai đoạn này, đấu tranh quân sự tác dụng quyết định trực tiếp
giữ một vị trí ngày càng quan trọng.
tưởng chỉ đạo đối với miền Bắc: Chuyển hướng xây dựng kinh tế, bảo đảm tiếp
tục xây dựng miền Bắc vững mạnh về kinh tế quốc phòng trong điều kiện
chiến tranh, tiến hành cuộc chiến tranh nhân dân chống chiến tranh phá hoại của đế
quốc Mỹ bảo vệ vững chắc miền Bắc XHCN, động viên sức người, sức của mức
cao nhất để chi viện cho cuộc chiến tranh giải phóng miền Nam.
Nhiệm vụ mối quan hệ giữa cuộc chiến đấu hai miền: Trong cuộc chiến tranh
chống Mỹ của nhân dân cả nước, miền Nam tiền tuyến lớn, miền Bắc hậu
phương lớn. Hai nhiệm vụ trên đây không tách rời nhau, mật thiết gắn nhau.
Khẩu hiệu chung của nhân dân cả nước lúc này “Tất cả để đánh thắng giặc Mỹ
xâm lược”.
Ý nghĩa của đường lối: Đường lối kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của Đảng,
được thông qua tại Hội nghị Trung ương lần thứ 11 lần thứ 12, ý nghĩa hết
sức quan trọng: Thể hiện quyết tâm đánh Mỹ thắng Mỹ; nắm vững, giương cao
ngọn cờ độc lập dân tộc CNXH; thực hiện đường lối chiến tranh nhân dân, toàn
dân, toàn diện, lâu dài, dựa vào sức mình chính được phát triển trong hoàn cảnh
mới.
2.2. Xây dựng hậu phương, chống chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ
miền Bắc; giữ vững thế chiến lược tiến công, đánh bại chiến lược Chiến tranh
cục bộ của đế quốc Mỹ 1965-1968:
Sau khi dựng lên “sự kiện vịnh Bắc bộ” vào năm 1964, đế quốc Mỹ đã dùng không
quân hải quân đánh phá miền Bắc Việt Nam. Với mưu đồ đưa miền Bắc trở về
thời kỳ đồ đá, Mỹ đã huy động lực lượng lớn không quân hải quân, trút hàng
triệu tấn bom đạn, gây nên những tội ác tày trời với nhân dân ta.
Ban Chấp hành Trung ương Đảng đã kịp thời xác định chủ trương:
Một là, kịp thời chuyển hướng xây dựng kinh tế cho phù hợp với tình hình
chiến tranh phá hoại.
Hai là, tăng cường lực lượng quốc phòng cho kịp với sự phát triển tình hình cả
nước chiến tranh.
Ba là, ra sức chi viện cho miền Nam với mức cao nhất để đánh bại địch chiến
trường chính miền Nam
Bốn là, phải kịp thời chuyển hướng tưởng tổ chức cho phù hợp với tình
hình mới.
Thực hiện chủ trương của Đảng, quân dân miền Bắc đã dấy lên cao trào chống
Mỹ, cứu nước, vừa sản xuất, vừa chiến đấu: với các phong trào “Ba sẵn sàng”, “Ba
đảm đang”, “Tay cày tay súng”, “Tay búa, tay súng”, trong chiến đấu “Nhắm
thẳng quân thù bắn”, trong chi viện tiền tuyến “Thóc không thiếu một cân,
quân không thiếu một người”,trong bảo đảm giao thông vận tải “Xe chưa qua,
nhà không tiếc”.
Do bị thất bại nặng nề cả hai miền Nam - Bắc, tháng 3-1968, đế quốc Mỹ tuyên
bố hạn chế ném bom miền Bắc, ngày 1-11-1968, Mỹ buộc phải chấm dứt không
điều kiện đánh phá miền Bắc bằng không quân hải quân.
Sau bốn năm thực hiện chuyển hướng xây dựng phát triển kinh tế, miền Bắc đã
đạt được những thành tích đáng tự hào trên các mặt chính trị, kinh tế, văn hóa,
hội, chi viện tiền tuyến lớn miền Nam.
miền Nam, thực hiện cuộc “Chiến tranh cục bộ”, trong mùa khô năm 1965-1966,
Bộ Chỉ huy quân sự Mỹ đã huy động 70 vạn quân thực hiện mục tiêu “tìm diệt”
quân giải phóng “bình định” các vùng nông thôn đồng bằng quan trọng.
Quân dân miền Nam đã anh dũng chiến đấu chống lại cuộc “Chiến tranh cục bộ”
của Mỹ tay sai. Đánh thắng quân chiến đấu Mỹ Núi Thành (5-1965), Vạn
Tường (8-1965),...bẻ gãy cuộc phản công chiến, làm thất bại kế hoạch.
Cuối năm 1967, cuộc “Chiến tranh cục bộ” của Mỹ đã được đẩy đến đỉnh cao, mọi
thủ đoạn biện pháp chiến tranh đã được sử dụng, thế nhưng, đế quốc Mỹ vẫn
không sao thực hiện được các mục tiêu chính trị quân sự đã đề ra.
Ngày 28-1-1967, Hội nghị lần thứ 13 Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa III)
đã quyết định mở mặt trận ngoại giao nhằm tranh thủ sự ủng hộ của quốc tế,
bạn, mở ra cục diện vừa đánh, vừa đàm.
Đêm 30 rạng ngày 31-1-1968, cuộc tổng tiến công nổi dậy đợt một đã được phát
động trên toàn miền Nam. Chiến lược “Chiến tranh cục bộ” của đế quốc Mỹ phá
sản, phải chấp nhận đàm phán với Việt Nam từ ngày 13-5-1968 tại Pari
2.3. Khôi phục kinh tế, bảo vệ miền Bắc, đẩy mạnh cuộc chiến đấu giải phóng
miền Nam, thống nhất Tổ quốc (1969-1975)
Tháng 11-1968: Đảng đã lãnh đạo nhân dân miền Bắc thực hiện các kế hoạch ngắn
hạn nhằm khắc phục hậu quả chiến tranh, tiếp tục cuộc xây dựng miền Bắc tăng
cường lực lượng cho miền Nam.
2/9/1969, Chủ tịch Hồ Chí Minh qua đời, hưởng thọ 79 tuổi.
Nhân dân miền Bắc đã khẩn trương bắt tay khôi phục kinh tế, hàn gắn vết thương
chiến tranh đẩy mạnh sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa hội.
Từ 1969 - 1972: tình hình khôi phục kinh tế tiếp tục xây dựng chủ nghĩa hội
nhiều chuyển biến tốt đẹp trên nhiều mặt:
Trong nông nghiệp: năm 1969 diện tích các loại cây trồng đều vượt năm 1968,
chăn nuôi cũng phát triển mạnh.
Trong công nghiệp: hầu hết các nghiệp bị địch đánh phá được khôi phục, sửa
chữa. Hệ thống giao thông. cầu phà, bến bãi được khẩn trương khôi phục xây
dựng thêm
Trong y tế, giáo dục: bước phát triển tốt so với trước, nhất hệ thống giáo dục
đại học, tăng lên 36 trường phân hiệu với hơn 8 vạn sinh viên.
Những kết quả đạt được đã làm cho tiềm lực mọi mặt của hậu phương lớn miền
Bắc được tăng cường, cải thiện đời sống nhân dân, hồi sinh một bước cuộc sống
người bình thường, cho phép miền Bắc chi viện sức người, sức của cho tiền tuyến
ngày càng cao, góp phần quyết định tạo nên chiến thắng to lớn trên chiến trường
miền Nam.
Từ tháng 4/1972: đế quốc Mỹ đã cho máy bay, tàu chiến tiến hành cuộc chiến
tranh phá hoại miền Bắc lần thứ hai hết sức ác liệt, nhất đợt rải thảm bom 12
ngày đêm bằng pháo đài bay B.52 tại Nội, Hải Phòng một số địa phương
khác.
Từ 18 đến 30/12/1972: Quân dân miền Bắc đã vừa sản xuất vừa chiến đấu, trong
12 ngày đêm, lập nên trận “Điện Biên Phủ trên không”, đánh bại hoàn toàn cuộc
chiến tranh phá hoại của Mỹ
15-1-1973: Chính phủ Mỹ phải tuyên bố ngừng mọi hoạt động phá hoại miền Bắc
nước ta. Thắng lợi của ta đã buộc đế quốc Mỹ phải trở lại bàn đàm phán, kết
Hiệp định Paris (27-1-1973), công nhận độc lập chủ quyền, thống nhất của nước
Việt Nam, chấm dứt chiến tranh phá hoại miền Bắc.
miền Nam, từ đầu năm 1969: Mỹ đã thực hiện chiến lược “Việt Nam hóa chiến
tranh”, nhằm “dùng người Việt Nam đánh người Việt Nam”
1/1/1969 : Đảng ta đã đề ra quyết tâm chủ trương chiến lược, thể hiện trong Thư
chúc mừng năm mới của Hồ Chí Minh: “Vì độc lập, tự do, đánh cho Mỹ cút,
đánh cho ngụy nhào”
1/1970 : Hội nghị lần thứ 18 Ban Chấp hành Trung ương Đảng
6/1970 : Hội nghị Bộ Chính trị
2 hội nghị trên đã đề ra chủ trương mới nhằm chống lại chiến lược “Việt Nam
hóa chiến tranh”, lấy nông thôn làm hướng tiến công chính, tập trung ngăn chặn
đẩy lùi chương trình “bình định” của địch.
1970 - 1971 : ta đã tiến công địch trên cả ba vùng chiến lược, gây tổn thất to lớn
cho Mỹ trong “Việt Nam hóa chiến tranh” “Đông Dương hóa chiến tranh”.
1971 : quân dân Việt Nam phối hợp với quân dân Lào chủ động đánh bại
cuộc hành quân quy lớn “Lam Sơn 719” của Mỹ - ngụy đánh vào Đường 9 -
Nam Lào; cùng với quân dân Campuchia đập tan cuộc hành quân “Toàn thắng 1-
1971” của Mỹ-ngụy đánh vào các hậu cứ kháng chiến tại Đông-Bắc Campuchia.
Vào mùa Xuân - năm 1972 : quân ta đã mở cuộc tiến công chiến lược với quy
lớn Trị-Thiên, đánh thẳng vào tuyến phòng ngự của địch Đường 9
27/1/1973 : kết “Hiệp định về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình Việt
Nam”.
7/1973 : Hội nghị lần thứ 21 Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa III) đã nêu
con đường cách mạng của nhân dân miền Nam con đường bạo lực cách mạng
Cuối năm 1973 năm 1974 : quân dân ta miền Nam đã liên tiếp giành được
thắng lợi to lớn trên khắp các chiến trường, từ Trị-Thiên đến Tây Nam bộ vùng
ven Sài Gòn.
Cuối năm 1974 đầu năm 1975 : quân ta đánh chiếm thị Phước Long (ngày
6/1/1975), giải phóng hoàn toàn tỉnh Phước Long.
Hội nghị Bộ Chính trị đợt 1 (từ ngày 30/9 đến ngày 8/10/1974) đợt 2 (từ ngày
8/12/1974 đến ngày 7/1/1975) đã bàn về chủ trương giải phóng hoàn toàn miền
Nam
Mùa Xuân năm 1975 : Chiến dịch Tây Nguyên mở tiến công vào thị Buôn Ma
Thuột ngày 10/3/1975 đã giành được thắng lợi.
18/3/1975 : cuộc họp Bộ Chính trị đã quyết định giải phóng miền Nam trong năm
1975
Ngày 25/3/1975 : Bộ Chính trị bổ sung quyết tâm chiến lược: giải phóng miền
Nam trước mùa mưa
Ngày 26/4/1975 : Chiến dịch Hồ Chí Minh giải phóng Sài Gòn - Gia Định bắt đầu
11 giờ 30 phút ngày 30/4/1975, cờ chiến thắng đã được cắm trên dinh Độc Lập,
Sài Gòn được giải phóng, cuộc tổng tiến công nổi dậy Xuân 1975 của quân dân
ta đã toàn thắng
3. Ý nghĩa lịch sử kinh nghiệm lãnh đạo của Đảng thời kỳ 1954-1975
3.1. Ý nghĩa lịch sử.
Đối với Việt Nam
Thắng lợi đại tầm quan trọng quốc tế tính thời đại sâu sắc.
Kết thúc 21 năm chống đế quốc Mĩ, 30 năm chiến tranh cách mạng, 117 năm
chống lại đế quốc xâm lược, chấm dứt ách thống trị của đế quốc phong kiến,
hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, giành lại độc lập thống nhất toàn
vẹn lãnh thổ cho đất nước.
Kết thúc chiến tranh, mở ra kỷ nguyên mới cho dân tộc, thống nhất cùng đi lên
CNXH; nâng cao sức mạnh vật chất tinh thần cho cách mạng dân tộc Việt
Nam, cùng với việc tăng uy tín của Đảng dân tộc trên trường quốc tế.
Làm thất bại âm mưu thủ đoạn của chủ nghĩa đế quốc tiến công vào chủ nghĩa
hội cách mạng thế giới; đánh bại cuộc chiến tranh xâm lược quy lớn nhất,
dài ngày nhất của chủ nghĩa đế quốc kể từ sau Chiến tranh thế giới thứ hai; làm suy
yếu trận địa của chủ nghĩa đế quốc, phá vỡ phòng tuyến quan trọng khu vực
Đông Nam Á, mở ra sự sụp đổ của chủ nghĩa thực dân mới; cổ phong trào độc
lập dân tộc, dân chủ hòa bình thế giới.
Đối với Quốc Tế
Chiến thắng phản công chống lại cuộc xâm lược của đế quốc Mỹ, bảo vệ tiền đồ
chủ nghĩa hội Đông Nam Á mở rộng lãnh thổ cho chủ nghĩa hội.
Chiến thắng này đập tan cuộc phản kích lớn nhất của chủ nghĩa đế quốc làm suy
yếu trận địa của chủ nghĩa thực dân mới; cổ vũ, khích lệ phong trào độc lập, dân
chủ hòa bình thế giới.
3.2. Nguyên nhân
Kết quả chiến thắng của cuộc chiến tranh Việt Nam nhờ sự lãnh đạo đúng đắn
của Đảng Cộng sản Việt Nam Hồ chủ tịch với đường lối chính trị, quân sđộc
lập, tự chủ, sáng tạo; phương pháp đấu tranh linh hoạt, kết hợp đấu tranh quân s-
chính trị - ngoại giao
Nhân dân ta giàu lòng yêu nước, đoàn kết nhất trí, chiến đấu dũng cảm, lao động
cần tình đoàn kết chiến đấu của 3 nước Đông Dương
Hậu phương miền Bắc vững mạnh, chi viện kịp thời cho miền Nam
Sự giúp đỡ, ủng hộ của các lực lượng dân chủ, hoà bình trên thế giới nhất Liên
Xô, Trung Quốc các nước XHCN cùng sự phản đối của nhân dân thế giới
về việc chiến tranh xâm lược Việt Nam
3.3. Kinh nghiệm
Một huy động sức mạnh toàn dân đánh Mỹ, cả nước đánh Mỹ.
Hai sử dụng phương pháp cách mạng tổng hợp.
Ba thực hiện giành thắng lợi từng bước đến thắng lợi hoàn toàn.
Bốn tối đa hóa sự đồng tình, xây dựng lực lượng cách mạng chiến đấu trong
cả nước.
TÀI LIỆU THAM KHẢO

Preview text:

ĐẠI HỌC UEH
KHOA LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ BÀI TIỂU LUẬN
HỌC PHẦN: LỊCH SỬ ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM
CHỦ ĐỀ 2: ĐẢNG LÃNH ĐẠO CUỘC KHÁNG CHIẾN CHỐNG
MỸ CỨU NƯỚC, THỰC HIỆN HOÀ BÌNH, THỐNG NHẤT
NƯỚC NHÀ (1954 – 1975)
Hồ Chí Minh, Ngày 30 tháng 04 năm 2023
TỶ LỆ ĐÓNG GÓP CỦA CÁC THÀNH VIÊN Mức độ hoàn STT Họ và Tên
Công việc được phân công thành (%) 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 MỤC LỤC
II. Lãnh đạo xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và kháng chiến chống đế quốc
Mỹ xâm lược, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước (1954-1975)..................4
1. Sự lãnh đạo của Đảng với cách mạng hai miền Nam – Bắc (1954-1965).........4
1.1. Khôi phục kinh tế, cải tạo xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc, chuyển cách mạng
miền Nam từ thế giữ gìn lực lượng sang thế tiến công (1954-1960)..................4
1.2. Đại hội III:....................................................................................................7
1.3. Ý nghĩa lịch sử của Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III của Đảng (tháng
9/1960):................................................................................................................8
2. Lãnh đạo cách mạng cả nước giai đoạn 1965-1975...........................................9
2.1. Đường lối kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của Đảng...............................9
2.2. Xây dựng hậu phương, chống chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ ở miền
Bắc; giữ vững thế chiến lược tiến công, đánh bại chiến lược Chiến tranh cục bộ
của đế quốc Mỹ 1965-1968:..............................................................................11
2.3. Khôi phục kinh tế, bảo vệ miền Bắc, đẩy mạnh cuộc chiến đấu giải phóng
miền Nam, thống nhất Tổ quốc (1969-1975)....................................................13
3. Ý nghĩa lịch sử và kinh nghiệm lãnh đạo của Đảng thời kỳ 1954-1975..........15
3.1. Ý nghĩa lịch sử............................................................................................16
3.2. Nguyên nhân...............................................................................................16
3.3. Kinh nghiệm...............................................................................................17
TÀI LIỆU THAM KHẢO.......................................................................................18
II. Lãnh đạo xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và kháng chiến chống đế
quốc Mỹ xâm lược, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước (1954-1975)
1. Sự lãnh đạo của Đảng với cách mạng hai miền Nam – Bắc (1954-1965)
1.1. Khôi phục kinh tế, cải tạo xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc, chuyển cách
mạng miền Nam từ thế giữ gìn lực lượng sang thế tiến công (1954-1960)
Hoàn cảnh lịch sử của cách mạng Việt Nam sau tháng 7-1954:
Ở miền Bắc:
Thuận lợi: Hệ thống XHCN tiếp tục lớn mạnh; phong trào giải phóng dân tộc tiếp
tục phát triển; phong trào hòa bình, dân chủ lên cao; miền Bắc được hoàn toàn giải
phóng; thế và lực của cách mạng đã lớn mạnh hơn sau 9 năm kháng chiến.
Khó khăn: đất nước bị chia cắt thành hai miền, miền Nam bị biến thành thuộc địa
kiểu mới của đế quốc Mỹ, miền Bắc nền kinh tế sau chiến tranh còn rất nghèo nàn,
lạc hậu; thế giới bước vào thời kỳ chiến tranh lạnh; xuất hiện sự bất đồng trong hệ
thống XHCN. Tình hình trên đã đặt Đảng ta trước một yêu cầu bức thiết là phải
vạch ra đường lối chiến lược đúng đắn để đưa cách mạng Việt Nam tiến lên.
Về chủ trương đưa miền Bắc quá độ lên chủ nghĩa xã hội:
Tháng 9-1954 Bộ Chính trị đề ra nhiệm vụ chủ yếu trước mắt để sớm đưa miền
Bắc trở lại bình thường sau 9 năm chiến tranh, hàn gắn vết thương chiến tranh,
phục hồi kinh tế quốc dân.
Hội nghị lần thứ 7 (3-1955) và lần thứ 8 (8-1955) Ban Chấp hành Trung ương
Đảng (khóa II) đã nhận định: Mỹ và tay sai đã hất cẳng Pháp ở miền Nam, công
khai lập nhà nước riêng chống phá Hiệp định Giơnevơ, đàn áp phong trào cách mạng.
Thực hiện Hiệp định Giơnevơ, ngay sau khi hoà bình được lập lại, Đảng đã lãnh
đạo nhân dân miền Bắc đấu tranh đòi đối phương phải rút quân khỏi miền Bắc theo
đúng lịch trình quy định. Ngoài ra, Đảng và Nhà nước còn huy động hàng vạn cán
bộ, bộ đội đến giúp đỡ các địa phương, tuyên truyền, vận động quần chúng đấu
tranh chống địch cưỡng ép di cư nhằm ổn định tình hình. Trước tinh thần đấu tranh
của nhân dân ta, địch đã phải rút quân theo đúng Hiệp định. Ngày 10-10-1954,
người lính Pháp cuối cùng rút khỏi Hà Nội, ngày 16-5-1955, toàn bộ quân đội viễn
chinh Pháp và tay sai đã phải rút khỏi miền Bắc.
Nhận rõ kinh tế miền Bắc cơ bản là nông nghiệp, Đảng đã chỉ đạo việc khôi phục
sản xuất nông nghiệp, cải cách ruộng đất, chăm lo xây dựng cơ sở vật chất cho
nông nghiệp. Việc khôi phục công nghiệp, giao thông vận tải cũng hoàn thành.
Công cuộc giảm tô, giảm tức và cải cách ruộng đất được tiếp tục đẩy mạnh. Đến
tháng 7-1956, cải cách ruộng đất đã căn bản hoàn thành ở đồng bằng, trung du và
miền núi. Tuy nhiên, trong quá trình cải cách ruộng đất, ta đã phạm phải một số sai
lầm nghiêm trọng. Nguyên nhân là do chủ quan, giáo điều, không xuất phát từ tình
hình thực tiễn, nhất là những thay đổi quan trọng về quan hệ giai cấp, xã hội ở
nông thôn miền Bắc. Đảng chỉ đạo công tác sửa sai trong năm 1956-1957, nên
từng bước đã khắc phục được những sai lầm đã xảy ra.
Tháng 11-1958, Ban Chấp hành Trung ương Đảng họp Hội nghị lần thứ 14 đề ra
kế hoạch ba năm phát triển kinh tế, văn hóa và cải tạo xã hội chủ nghĩa đối với
kinh tế cá thể và kinh tế tư bản tư doanh (1958-1960). Kết quả đã tạo nên những
chuyển biến cách mạng trong nền kinh tế và xã hội ở miền Bắc nước ta. Miền Bắc
được củng cố, từng bước đi lên CNXH và trở thành hậu phương ổn định, vững
mạnh đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp cách mạng Việt Nam. Ở miền Nam:
Từ năm 1954 đế quốc Mỹ thiết lập bộ máy chính quyền Việt Nam Cộng hòa do
Ngô Đình Diệm làm Tổng thống, ráo riết thi hành quốc sách “tố cộng, diệt cộng”,
lập “khu trù mật”, “khu dinh điền” nhằm mục đích bắt bớ, trả thù tất cả những
người yêu nước kháng chiến cũ, thẳng tay đàn áp phong trào đấu tranh đòi thi hành
Hiệp định Giơnevơ của các tầng lớp nhân dân. Mục đích của Mỹ là muốn chia cắt
lâu dài đất nước Việt Nam, biến miền Nam thành căn cứ chống phe XHCN và là
thuộc địa kiểu mới của Mỹ.
Xuất phát từ bối cảnh đó, Đảng quyết định thay đổi phương thức đấu tranh quân sự
sang đấu tranh chính trị, đòi đối phương phải thi hành Hiệp định Giơnevơ, tiếp tục
thực hiện cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở miền Nam. Hội nghị lần thứ 6
Ban Chấp hành Trung ương Đảng (từ ngày 15 đến ngày 17-7-1954) xác định Mỹ là
kẻ thù chính và trực tiếp của nhân dân Đông Dương. Tháng 10-1954, Xứ ủy Nam
bộ được thành lập, do Lê Duẩn làm Bí thư. Từ thực tiễn cuộc đấu tranh cách mạng
của nhân dân miền Nam, tháng 8-1956, Lê Duẩn đã dự thảo Đường lối cách mạng
miền Nam, chỉ rõ con đường cứu nước ngoài con đường cách mạng không có một con đường khác.
Tháng 3-1959, chính quyền Ngô Đình Diệm tuyên bố “đặt miền Nam trong tình
trạng chiến tranh”. Với luật 10/59, lê máy chém đi khắp miền Nam, dùng Tòa án
quân sự đặc biệt để đưa thẳng người bị bắt ra xét xử và bắn giết tại chỗ.
Tháng 1-1959, Ban Chấp hành Trung ương Đảng đã họp Hội nghị lần thứ 15 ra
Nghị quyết về cách mạng miền Nam, xác định Nhiệm vụ cơ bản: giải phóng miền
Nam khỏi ách thống trị của đế quốc và phong kiến, thực hiện độc lập dân tộc và
người cày có ruộng, hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở miền Nam.
Tư tưởng chỉ đạo quan trọng cho cách mạng Việt Nam ở miền Nam là phải dùng
cách mạng bạo lực để tự giải phóng mình. Phương hướng phát triển cơ bản là khởi
nghĩa giành chính quyền. Nghị quyết 15 mở đường cho cách mạng miền Nam tiến
lên; thể hiện rõ năng lực bám sát thực tiễn cuộc sống, bản lĩnh độc lập, tự chủ, sáng
tạo của Đảng trong thời kỳ khó khăn của cách mạng.
Thực hiện Nghị quyết của Đảng, nhân dân miền Nam đã tiến hành một số cuộc
khởi nghĩa vũ trang, hình thức là khởi nghĩa đồng loạt (đồng khởi) bắt đầu bùng nổ
ở huyện Mỏ Cày, Bến Tre sau đó lan ra các huyện khác. Hệ thống kìm kẹp của
địch ở xã, ấp bị tê liệt và tan vỡ từng mảng lớn. Thắng lợi của phong trào Đồng
Khởi là bước nhảy vọt có ý nghĩa lịch sử của cách mạng miền Nam, chuyển cách
mạng miền Nam từ thế giữ gìn lực lượng sang thế tiến công.
Từ thắng lợi của phong trào Đồng Khởi, ngày 20-12-1960, Mặt trận Dân tộc Giải
phóng miền Nam Việt Nam nhằm tập hợp rộng rãi quần chúng, nhân dân đoàn kết
đấu tranh theo chương trình hành động 10 điểm, hướng tới mục tiêu đánh đổ chế
độ thuộc địa trá hình của đế quốc Mỹ và chính quyền độc tài Ngô Đình Diệm, xây
dựng một miền Nam độc lập, dân chủ, hòa bình, trung lập, tiến tới hòa bình thống nhất nước nhà. 1.2. Đại hội III:
Bối cảnh lịch sử (vị trí)
Đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam III diễn ra trong bối cảnh miền Bắc Việt Nam
vừa hoàn thành khôi phục kinh tế sau Kháng chiến chống Pháp và Cải cách ruộng
đất cùng với Cải tạo công thương nghiệp; trong khi ở miền Nam một phong trào
chống chính quyền Ngô Đình Diệm và Mỹ đang diễn ra từ cuối năm 1959 và trở
thành Phong trào Đồng Khởi từ đầu năm 1960.
Nhiệm vụ cách mạng miền Bắc
Sau khi hoàn thành việc khắc phục hậu quả do cuộc kháng chiến chống pháp để lại
và thực hiện những nhiệm vụ bước đầu của chính quyền dân chủ nhân dân theo
kinh nghiệm của Liên Xô và Đông Âu sau Chiến tranh thế giới lần thứ 2, Đại hội
quyết định sẽ đưa miền Bắc đi lên cách mạng xã hội chủ nghĩa, đưa ra nhận định
về công cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa, ưu tiên phát triển công nghiệp nặng một
cách hợp lí, đồng thời ra sức phát triển nông nghiệp và công nghiệp nhẹ ở miền Bắc sẽ có vai
trò quyết định nhất với sự phát triển của toàn bộ cách mạng Việt Nam và với sự
nghiệp thống nhất nước nhà.
Đại hội khẳng định đưa miền Bắc tiến nhanh, tiến mạnh, tiến vững chắc lên chủ nghĩa xã hội
Nhiệm vụ cách mạng miền Nam
Do Pháp không thực hiện Tổng tuyển cử theo Hiệp định và việc vận động thực
hiện hiệp định bị chính quyền Diệm đàn áp, do sợ thất bại, nên Việt Nam chưa thể
thống nhất được. Do đó Đại hội đã quyết định sẽ tiến hành cách mạng dân tộc dân
chủ nhân dân ở miền Nam và nhận định cuộc cách mạng này sẽ có vai trò quyết
định trực tiếp với sự nghiệp giải phóng miền Nam.
Quan hệ cách mạng hai miền Nam - Bắc
Đại hội nhận định cách mạng hai miền có quan hệ mật thiết, gắn bó và tác động lẫn
nhau nhằm hoàn thành cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân trong cả nước,
thực hiện hòa bình thống nhất đất nước. Miền Bắc tăng gia sản xuất, là hậu phương
cung cấp sức người sức của cho tiền tuyến miền Nam tiến lên hoàn thành thắng lợi
cách mạng, thống nhất toàn vẹn nước nhà.
1.3. Ý nghĩa lịch sử của Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III của Đảng (tháng 9/1960):
Đánh dấu bước phát triển trong quá trình xác định đường lối cách mạng xã hội chủ
nghĩa ở miền Bắc và đường lối đấu tranh thống nhất đất nước.
Đại hội đã thảo luận và đánh giá cách mạng hai miền Nam - Bắc nước ta đang có
những bước tiến quan trọng. Từ nhận định đó, Đại hội đề ra nhiệm vụ chiến lược
của cách mạng cả nước và nhiệm vụ của từng miền; chỉ rõ vị trí, vai trò của cách
mạng từng miền và mối quan hệ giữa cách mạng hai miền.
Là cơ sở cho toàn dân đoàn kết chặt chẽ thành một khối thống nhất.
Đại hội đã rút ra những bài học kinh nghiệm chủ yếu của cách mạng nước ta trong
30 năm qua và xác định việc xây dựng Đảng Mác-Lênin đoàn kết nhất trí, liên hệ
chặt chẽ với quần chúng, luôn luôn giữ vững quyền lãnh đạo cách mạng, tăng
cường đoàn kết toàn dân là nhiệm vụ ưu tiên hàng đầu. Sự đoàn kết, nhất trí của
Đại hội là hạt nhân đoàn kết nhân dân cả nước, là nguồn sức mạnh dẫn đến các
phong trào cách mạng mới ở hai miền Nam - Bắc.
Là “nguồn ánh sáng mới, lực lượng mới cho toàn Đảng, toàn dân ta xây dựng
thắng lợi chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và đấu tranh hòa bình thống nhất nước nhà.”
Đường lối cách mạng do Đại hội vạch ra là ngọn đèn pha sáng ngời chiếu rọi con
đường của nhân dân ta tiến tới chủ nghĩa xã hội, tiến tới thống nhất nước nhà, tiến
tới một nước Việt Nam hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh.
Thành công của Đại hội lần thứ III của Đảng là cơ sở cho “Toàn Đảng và toàn dân
ta đoàn kết chặt chẽ thành một khối khổng lồ. Chúng ta sáng tạo. Chúng ta xây
dựng. Chúng ta tiến lên”.
2. Lãnh đạo cách mạng cả nước giai đoạn 1965-1975
2.1. Đường lối kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của Đảng
Thất bại trong “Chiến tranh đặc biệt”, Mỹ đã thực hiện chiến lược “Chiến tranh
cục bộ” ở miền Nam, đưa quân chiến đấu Mỹ và quân các nước đồng minh của Mỹ
vào trực tiếp tham chiến; đồng thời, mở cuộc chiến tranh phá hoại bằng không
quân và hải quân đánh phá miền Bắc Việt Nam.
Trước tình hình đó, Hội nghị lần thứ 11 (3-1965) và Hội nghị lần thứ 12 (12-1965)
của Ban Chấp hành Trung ương Đảng với tinh thần “Quyết tâm đánh thắng giặc
Mỹ xâm lược”, Đảng quyết định phát động cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước
trong toàn quốc, coi chống Mỹ, cứu nước là nhiệm vụ thiêng liêng của cả dân tộc từ Nam chí Bắc.
Mục tiêu chiến lược: Kiên quyết đánh bại cuộc chiến tranh xâm lược của đế quốc
Mỹ trong bất kỳ tình huống nào, nhằm bảo vệ miền Bắc, giải phóng miền Nam,
hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân trong cả nước, tiến tới thực hiện
hòa bình thống nhất nước nhà.
Phương châm chiến lược: Đánh lâu dài, dựa vào sức mình là chính, càng đánh càng
mạnh; cần phải cố gắng đến mức độ cao, tập trung lực lượng của cả hai miền để
mở những cuộc tiến công lớn, tranh thủ thời cơ giành thắng lợi quyết định trong
thời gian tương đối ngắn trên chiến trường miền Nam.
Tư tưởng chỉ đạo và phương châm đấu tranh ở miền Nam: Giữ vững và phát triển
thế tiến công, kiên quyết tiến công và liên tục tiến công, đánh địch trên cả ba vùng
chiến lược. Trong giai đoạn này, đấu tranh quân sự có tác dụng quyết định trực tiếp
và giữ một vị trí ngày càng quan trọng.
Tư tưởng chỉ đạo đối với miền Bắc: Chuyển hướng xây dựng kinh tế, bảo đảm tiếp
tục xây dựng miền Bắc vững mạnh về kinh tế và quốc phòng trong điều kiện có
chiến tranh, tiến hành cuộc chiến tranh nhân dân chống chiến tranh phá hoại của đế
quốc Mỹ bảo vệ vững chắc miền Bắc XHCN, động viên sức người, sức của ở mức
cao nhất để chi viện cho cuộc chiến tranh giải phóng miền Nam.
Nhiệm vụ và mối quan hệ giữa cuộc chiến đấu ở hai miền: Trong cuộc chiến tranh
chống Mỹ của nhân dân cả nước, miền Nam là tiền tuyến lớn, miền Bắc là hậu
phương lớn. Hai nhiệm vụ trên đây không tách rời nhau, mà mật thiết gắn bó nhau.
Khẩu hiệu chung của nhân dân cả nước lúc này là “Tất cả để đánh thắng giặc Mỹ xâm lược”.
Ý nghĩa của đường lối: Đường lối kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của Đảng,
được thông qua tại Hội nghị Trung ương lần thứ 11 và lần thứ 12, có ý nghĩa hết
sức quan trọng: Thể hiện quyết tâm đánh Mỹ và thắng Mỹ; nắm vững, giương cao
ngọn cờ độc lập dân tộc và CNXH; thực hiện đường lối chiến tranh nhân dân, toàn
dân, toàn diện, lâu dài, dựa vào sức mình là chính được phát triển trong hoàn cảnh mới.
2.2. Xây dựng hậu phương, chống chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ ở
miền Bắc; giữ vững thế chiến lược tiến công, đánh bại chiến lược Chiến tranh
cục bộ của đế quốc Mỹ 1965-1968:
Sau khi dựng lên “sự kiện vịnh Bắc bộ” vào năm 1964, đế quốc Mỹ đã dùng không
quân và hải quân đánh phá miền Bắc Việt Nam. Với mưu đồ đưa miền Bắc trở về
thời kỳ đồ đá, Mỹ đã huy động lực lượng lớn không quân và hải quân, trút hàng
triệu tấn bom đạn, gây nên những tội ác tày trời với nhân dân ta.
Ban Chấp hành Trung ương Đảng đã kịp thời xác định chủ trương:
Một là, kịp thời chuyển hướng xây dựng kinh tế cho phù hợp với tình hình có chiến tranh phá hoại.
Hai là, tăng cường lực lượng quốc phòng cho kịp với sự phát triển tình hình cả nước có chiến tranh.
Ba là, ra sức chi viện cho miền Nam với mức cao nhất để đánh bại địch ở chiến trường chính miền Nam
Bốn là, phải kịp thời chuyển hướng tư tưởng và tổ chức cho phù hợp với tình hình mới.
Thực hiện chủ trương của Đảng, quân và dân miền Bắc đã dấy lên cao trào chống
Mỹ, cứu nước, vừa sản xuất, vừa chiến đấu: với các phong trào “Ba sẵn sàng”, “Ba
đảm đang”, “Tay cày tay súng”, “Tay búa, tay súng”, trong chiến đấu có “Nhắm
thẳng quân thù mà bắn”, trong chi viện tiền tuyến có “Thóc không thiếu một cân,
quân không thiếu một người”,trong bảo đảm giao thông vận tải có “Xe chưa qua, nhà không tiếc”.
Do bị thất bại nặng nề ở cả hai miền Nam - Bắc, tháng 3-1968, đế quốc Mỹ tuyên
bố hạn chế ném bom miền Bắc, và ngày 1-11-1968, Mỹ buộc phải chấm dứt không
điều kiện đánh phá miền Bắc bằng không quân và hải quân.
Sau bốn năm thực hiện chuyển hướng xây dựng và phát triển kinh tế, miền Bắc đã
đạt được những thành tích đáng tự hào trên các mặt chính trị, kinh tế, văn hóa, xã
hội, chi viện tiền tuyến lớn miền Nam.
Ở miền Nam, thực hiện cuộc “Chiến tranh cục bộ”, trong mùa khô năm 1965-1966,
Bộ Chỉ huy quân sự Mỹ đã huy động 70 vạn quân thực hiện mục tiêu “tìm diệt”
quân giải phóng và “bình định” các vùng nông thôn đồng bằng quan trọng.
Quân dân miền Nam đã anh dũng chiến đấu chống lại cuộc “Chiến tranh cục bộ”
của Mỹ và tay sai. Đánh thắng quân chiến đấu Mỹ ở Núi Thành (5-1965), Vạn
Tường (8-1965),...bẻ gãy cuộc phản công chiến, làm thất bại kế hoạch.
Cuối năm 1967, cuộc “Chiến tranh cục bộ” của Mỹ đã được đẩy đến đỉnh cao, mọi
thủ đoạn và biện pháp chiến tranh đã được sử dụng, thế nhưng, đế quốc Mỹ vẫn
không sao thực hiện được các mục tiêu chính trị và quân sự đã đề ra.
Ngày 28-1-1967, Hội nghị lần thứ 13 Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa III)
đã quyết định mở mặt trận ngoại giao nhằm tranh thủ sự ủng hộ của quốc tế, bè
bạn, mở ra cục diện vừa đánh, vừa đàm.
Đêm 30 rạng ngày 31-1-1968, cuộc tổng tiến công và nổi dậy đợt một đã được phát
động trên toàn miền Nam. Chiến lược “Chiến tranh cục bộ” của đế quốc Mỹ phá
sản, phải chấp nhận đàm phán với Việt Nam từ ngày 13-5-1968 tại Pari
2.3. Khôi phục kinh tế, bảo vệ miền Bắc, đẩy mạnh cuộc chiến đấu giải phóng
miền Nam, thống nhất Tổ quốc (1969-1975)
Tháng 11-1968: Đảng đã lãnh đạo nhân dân miền Bắc thực hiện các kế hoạch ngắn
hạn nhằm khắc phục hậu quả chiến tranh, tiếp tục cuộc xây dựng miền Bắc và tăng
cường lực lượng cho miền Nam.
2/9/1969, Chủ tịch Hồ Chí Minh qua đời, hưởng thọ 79 tuổi.
Nhân dân miền Bắc đã khẩn trương bắt tay khôi phục kinh tế, hàn gắn vết thương
chiến tranh và đẩy mạnh sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội.
Từ 1969 - 1972: tình hình khôi phục kinh tế và tiếp tục xây dựng chủ nghĩa xã hội
có nhiều chuyển biến tốt đẹp trên nhiều mặt:
Trong nông nghiệp: năm 1969 diện tích các loại cây trồng đều vượt năm 1968,
chăn nuôi cũng phát triển mạnh.
Trong công nghiệp: hầu hết các xí nghiệp bị địch đánh phá được khôi phục, sửa
chữa. Hệ thống giao thông. cầu phà, bến bãi được khẩn trương khôi phục và xây dựng thêm
Trong y tế, giáo dục: có bước phát triển tốt so với trước, nhất là hệ thống giáo dục
đại học, tăng lên 36 trường và phân hiệu với hơn 8 vạn sinh viên.
➔ Những kết quả đạt được đã làm cho tiềm lực mọi mặt của hậu phương lớn miền
Bắc được tăng cường, cải thiện đời sống nhân dân, hồi sinh một bước cuộc sống
người bình thường, cho phép miền Bắc chi viện sức người, sức của cho tiền tuyến
ngày càng cao, góp phần quyết định tạo nên chiến thắng to lớn trên chiến trường miền Nam.
Từ tháng 4/1972: đế quốc Mỹ đã cho máy bay, tàu chiến tiến hành cuộc chiến
tranh phá hoại miền Bắc lần thứ hai hết sức ác liệt, nhất là đợt rải thảm bom 12
ngày đêm bằng pháo đài bay B.52 tại Hà Nội, Hải Phòng và một số địa phương khác.
Từ 18 đến 30/12/1972: Quân dân miền Bắc đã vừa sản xuất vừa chiến đấu, trong
12 ngày đêm, lập nên trận “Điện Biên Phủ trên không”, đánh bại hoàn toàn cuộc
chiến tranh phá hoại của Mỹ
15-1-1973: Chính phủ Mỹ phải tuyên bố ngừng mọi hoạt động phá hoại miền Bắc
nước ta. Thắng lợi của ta đã buộc đế quốc Mỹ phải trở lại bàn đàm phán, ký kết
Hiệp định Paris (27-1-1973), công nhận độc lập chủ quyền, thống nhất của nước
Việt Nam, chấm dứt chiến tranh phá hoại miền Bắc.
Ở miền Nam, từ đầu năm 1969: Mỹ đã thực hiện chiến lược “Việt Nam hóa chiến
tranh”, nhằm “dùng người Việt Nam đánh người Việt Nam”
1/1/1969 : Đảng ta đã đề ra quyết tâm và chủ trương chiến lược, thể hiện trong Thư
chúc mừng năm mới của Hồ Chí Minh: “Vì độc lập, vì tự do, đánh cho Mỹ cút, đánh cho ngụy nhào”
1/1970 : Hội nghị lần thứ 18 Ban Chấp hành Trung ương Đảng
6/1970 : Hội nghị Bộ Chính trị
➔ 2 hội nghị trên đã đề ra chủ trương mới nhằm chống lại chiến lược “Việt Nam
hóa chiến tranh”, lấy nông thôn làm hướng tiến công chính, tập trung ngăn chặn và
đẩy lùi chương trình “bình định” của địch.
1970 - 1971 : ta đã tiến công địch trên cả ba vùng chiến lược, gây tổn thất to lớn
cho Mỹ trong “Việt Nam hóa chiến tranh” và “Đông Dương hóa chiến tranh”.
1971 : quân và dân Việt Nam phối hợp với quân và dân Lào chủ động đánh bại
cuộc hành quân quy mô lớn “Lam Sơn 719” của Mỹ - ngụy đánh vào Đường 9 -
Nam Lào; cùng với quân dân Campuchia đập tan cuộc hành quân “Toàn thắng 1-
1971” của Mỹ-ngụy đánh vào các hậu cứ kháng chiến tại Đông-Bắc Campuchia.
Vào mùa Xuân - hè năm 1972 : quân ta đã mở cuộc tiến công chiến lược với quy
mô lớn ở Trị-Thiên, đánh thẳng vào tuyến phòng ngự của địch ở Đường 9
27/1/1973 : ký kết “Hiệp định về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam”.
7/1973 : Hội nghị lần thứ 21 Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa III) đã nêu rõ
con đường cách mạng của nhân dân miền Nam là con đường bạo lực cách mạng
Cuối năm 1973 và năm 1974 : quân và dân ta ở miền Nam đã liên tiếp giành được
thắng lợi to lớn trên khắp các chiến trường, từ Trị-Thiên đến Tây Nam bộ và vùng ven Sài Gòn.
Cuối năm 1974 đầu năm 1975 : quân ta đánh chiếm thị xã Phước Long (ngày
6/1/1975), giải phóng hoàn toàn tỉnh Phước Long.
Hội nghị Bộ Chính trị đợt 1 (từ ngày 30/9 đến ngày 8/10/1974) và đợt 2 (từ ngày
8/12/1974 đến ngày 7/1/1975) đã bàn về chủ trương giải phóng hoàn toàn miền Nam
Mùa Xuân năm 1975 : Chiến dịch Tây Nguyên mở tiến công vào thị xã Buôn Ma
Thuột ngày 10/3/1975 đã giành được thắng lợi.
18/3/1975 : cuộc họp Bộ Chính trị đã quyết định giải phóng miền Nam trong năm 1975
Ngày 25/3/1975 : Bộ Chính trị bổ sung quyết tâm chiến lược: giải phóng miền Nam trước mùa mưa
Ngày 26/4/1975 : Chiến dịch Hồ Chí Minh giải phóng Sài Gòn - Gia Định bắt đầu
11 giờ 30 phút ngày 30/4/1975, lá cờ chiến thắng đã được cắm trên dinh Độc Lập,
Sài Gòn được giải phóng, cuộc tổng tiến công và nổi dậy Xuân 1975 của quân dân ta đã toàn thắng
3. Ý nghĩa lịch sử và kinh nghiệm lãnh đạo của Đảng thời kỳ 1954-1975
3.1. Ý nghĩa lịch sử.
Đối với Việt Nam
Thắng lợi vĩ đại có tầm quan trọng quốc tế và có tính thời đại sâu sắc.
Kết thúc 21 năm chống đế quốc Mĩ, 30 năm chiến tranh cách mạng, 117 năm
chống lại đế quốc xâm lược, chấm dứt ách thống trị của đế quốc và phong kiến,
hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, giành lại độc lập thống nhất toàn
vẹn lãnh thổ cho đất nước.
Kết thúc chiến tranh, mở ra kỷ nguyên mới cho dân tộc, thống nhất cùng đi lên
CNXH; nâng cao sức mạnh vật chất và tinh thần cho cách mạng và dân tộc Việt
Nam, cùng với việc tăng uy tín của Đảng và dân tộc trên trường quốc tế.
Làm thất bại âm mưu và thủ đoạn của chủ nghĩa đế quốc tiến công vào chủ nghĩa
xã hội và cách mạng thế giới; đánh bại cuộc chiến tranh xâm lược quy mô lớn nhất,
dài ngày nhất của chủ nghĩa đế quốc kể từ sau Chiến tranh thế giới thứ hai; làm suy
yếu trận địa của chủ nghĩa đế quốc, phá vỡ phòng tuyến quan trọng ở khu vực
Đông Nam Á, mở ra sự sụp đổ của chủ nghĩa thực dân mới; cổ vũ phong trào độc
lập dân tộc, dân chủ và hòa bình thế giới.
Đối với Quốc Tế
Chiến thắng phản công chống lại cuộc xâm lược của đế quốc Mỹ, bảo vệ tiền đồ
chủ nghĩa xã hội ở Đông Nam Á và mở rộng lãnh thổ cho chủ nghĩa xã hội.
Chiến thắng này đập tan cuộc phản kích lớn nhất của chủ nghĩa đế quốc và làm suy
yếu trận địa của chủ nghĩa thực dân mới; cổ vũ, khích lệ phong trào độc lập, dân
chủ và hòa bình thế giới. 3.2. Nguyên nhân
Kết quả chiến thắng của cuộc chiến tranh Việt Nam là nhờ sự lãnh đạo đúng đắn
của Đảng Cộng sản Việt Nam và Hồ chủ tịch với đường lối chính trị, quân sự độc
lập, tự chủ, sáng tạo; phương pháp đấu tranh linh hoạt, kết hợp đấu tranh quân sự - chính trị - ngoại giao
Nhân dân ta giàu lòng yêu nước, đoàn kết nhất trí, chiến đấu dũng cảm, lao động
cần cù và tình đoàn kết chiến đấu của 3 nước Đông Dương
Hậu phương miền Bắc vững mạnh, chi viện kịp thời cho miền Nam
Sự giúp đỡ, ủng hộ của các lực lượng dân chủ, hoà bình trên thế giới nhất là Liên
Xô, Trung Quốc và các nước XHCN cùng sự phản đối của nhân dân Mĩ và thế giới
về việc chiến tranh xâm lược Việt Nam 3.3. Kinh nghiệm
Một là huy động sức mạnh toàn dân đánh Mỹ, cả nước đánh Mỹ.
Hai là sử dụng phương pháp cách mạng tổng hợp.
Ba là thực hiện giành thắng lợi từng bước đến thắng lợi hoàn toàn.
Bốn là tối đa hóa sự đồng tình, xây dựng lực lượng cách mạng và chiến đấu trong cả nước.
TÀI LIỆU THAM KHẢO