






Preview text:
TRƯỜNG ĐẠI HỌC UEH
KHOA LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ TIỂU LUẬN
Môn học: Lịch sử Đảng Cộng Sản Việt Nam ĐỀ BÀI
Bằng những kiến thức đã học từ học phần Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam, anh,
chị hãy trả lời các câu hỏi sau:
1. Anh, chị hãy trình bày những thành tựu, ý nghĩa lịch sử và kinh nghiệm lãnh đạo
của Đảng Cộng sản Việt Nam trong sự nghiệp đổi mới đất nước (từ năm 1986 đến nay).
2. Phân tích nhân tố quyết định đưa đến thắng lợi của công cuộc đổi mới (1986 –
nay). Từ vấn đề lịch sử trên, bạn có thể rút ra bài học gì cho cuộc sống của bản thân?
TP. Hồ Chí Minh, ngày 9 tháng 10 năm 2022
1. Những thành tựu, ý nghĩa lịch sử và kinh nghiệm lãnh đạo của Đảng Cộng sản
Việt Nam trong sự nghiệp đổi mới đất nước (từ năm 1986 đến nay):
1.1. Thành tựu: Về kinh tế:
Nổi bật nhất là kinh tế tăng trưởng khá, thực lực của nền kinh tế tăng lên khá ấn tượng.
Làn gió đổi mới của Đảng từ Đại hội VI đã bắt kịp thời cơ, phù hợp với thực tiễn phát
triển và hợp lòng dân. Từ một nước phải nhập khẩu gạo, Việt Nam đã trở thành một
trong những nước xuất khẩu gạo lớn nhất thế giới chỉ vài năm sau khi đổi mới. Cũng
từ một nước mà tình trạng lạm phát tới vài trăm %, thì nhờ đổi mới, lạm phát quay trở
về một con số. Từ một nền kinh tế tập trung quan liêu, bao cấp, chỉ có một thành phần,
Việt Nam đã hoàn thành thể chế kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa
với tốc độ tăng trưởng cao. Cũng chính từ đây, ta thấy rằng kinh tế vĩ mô cơ bản ổn
định; lạm phát được kiểm soát; tăng trưởng kinh tế được duy trì hợp lý và được đánh
giá là thuộc nhóm nước có mức tăng trưởng khá cao trên thế giới. Đất nước đã ra khỏi
tình trạng kém phát triển, bước vào nhóm nước đang phát triển có thu nhập trung bình.
Mặc dù năm cuối nhiệm kỳ khóa XII, đại dịch Covid-19 và thiên tai, bão lụt nghiêm
trọng liên tiếp xảy ra ở các tỉnh miền Trung, tác động nặng nề tới mọi mặt của đời
sống kinh tế - xã hội, nhưng tốc độ tăng GDP bình quân giai đoạn 2016-2020 vẫn đạt
6%/năm; quy mô nền kinh tế và thu nhập bình quân đầu người tăng lên. Năm 2020,
GDP đạt 271,2 tỉ USD, thu nhập bình quân đầu người đạt 2.779 USD. Chất lượng tăng
trưởng được cải thiện, năng suất lao động tăng từ 4,3%/năm giai đoạn 2011-2015 lên
khoảng 6%/năm giai đoạn 2016-2020. Việt Nam là một trong những nước có tốc độ
tăng trưởng kinh tế nhanh so với các nước trong khu vực và thế giới, trở thành nước
đang phát triển có thu nhập trung bình trên thế giới.
Về văn hóa, xã hội:
Nhà nước ta luôn coi con người là nguồn lực phát triển quan trọng nhất, cũng là mục
tiêu chủ yếu của sự phát triển kinh tế - xã hội. Vì vậy, nhà nước ta luôn quan tâm đến
các hoạt động văn hóa tinh thần nhằm đạt đến chất lượng cuộc sống do con người, vì
con người. Từ đó, cuộc sống của người dân ngày càng ấm no, hạnh phúc. Chính vì thế,
văn hoá - xã hội có nhiều bước phát triển mới, đạt được nhiều kết quả quan trọng; bảo
đảm cơ bản an sinh xã hội, tiếp tục cải thiện chính sách tiền lương, mở rộng bảo hiểm
xã hội, bảo hiểm y tế đạt trên 90%. Tỷ lệ hộ nghèo theo chuẩn nghèo đa chiều còn
dưới 3%, hoàn thành các mục tiêu phát triển Thiên niên kỷ của Liên Hợp Quốc bao
gồm xoá bỏ tình trạng nghèo cùng cực, phổ cập giáo dục tiểu học, tăng cường bình
đẳng giới và vị thế cho phụ nữ cũng như những tiêu chuẩn về chăm sóc y tế cộng đồng.
Bên cạnh đó, trình độ dân trí và mức hưởng thụ văn hóa của người dân ngày một nâng
cao. Hoạt động giáo dục, đào tạo, y tế, văn hóa, văn nghệ, thể dục, thể thao, thông tin
đại chúng, kế hoạch hóa gia đình và nhiều hoạt động xã hội khác có những mặt phát
triển và tiến bộ. Người lao động được giải phóng khỏi những ràng buộc của nhiều cơ
chế bất hợp lý, khuyến khích tinh thần trách nhiệm cá nhân và sự năng động sáng tạo,
tích cực hơn trong việc tìm kiếm việc làm, nâng cao thu nhập và tham gia các hoạt
động cộng đồng. Lòng tin của nhân dân vào chế độ và tiền đồ của đất nước, vào Đảng
và Nhà nước được nâng lên. 1
Về chính trị, xã hội:
Chính trị, xã hội ổn định; quốc phòng, an ninh được giữ vững và tăng cường. Đảng và
nhân dân ta đã luôn kiên quyết, kiên trì đấu tranh bảo vệ và giữ vững độc lập, chủ
quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc; bảo vệ lợi ích quốc gia - dân tộc;
bảo vệ Đảng, Nhà nước và nhân dân. Về quan hệ đối ngoại, Đảng ta xác định là trọng
tâm, được triển khai thực hiện chủ động, tích cực, hiệu quả, hội nhập quốc tế ngày
càng sâu rộng, đạt nhiều thành tựu nổi bật. Từ đấy, mở ra nhiều bước phát triển mới,
triển khai đồng bộ cả song phương và đa phương nên chúng ta đã ký kết và triển khai
thực hiện nhiều hiệp định thương mại tự do thế hệ mới. Chủ động tham gia xây dựng
các nguyên tắc, chuẩn mực trong các thể chế đa phương, khu vực và toàn cầu; xử lý
đúng đắn, hiệu quả quan hệ với các nước láng giềng, các nước lớn, các đối tác chiến
lược, đối tác toàn diện và đối tác khác.
1.2. Ý nghĩa lịch sử:
Những thành tựu to lớn trong sự nghiệp đổi mới đất nước (từ 1986 đến nay) đã đánh
dấu một bước tiến chưa từng thấy trên con đường xây dựng và phát triển đất nước, là
minh chứng thuyết phục cho tính chất ưu việt của chế độ xã hội xã hội chủ nghĩa mà
nhân dân ta đang xây dựng. Sự đổi mới kịp thời không chỉ giúp nước ta giải quyết
được những khó khăn, vướng mắc trong quá khứ mà còn chủ động, nắm bắt thời cơ để
phát triển và hoàn thiện đất nước một cách tích cực và kịp thời;… Và điều đặc biệt
quan trọng là tạo động lực cho nền kinh tế - xã hội phát triển vượt bậc và hướng tới
dân chủ hóa xã hội một cách mạnh mẽ, đề cao hơn nữa là tôn trọng quyền công dân.
Bên cạnh đó, an ninh quốc phòng ngày càng được củng cố, vững chắc hơn. Quan hệ
hợp tác với các nước trên thế giới rộng mở, đẩy mạnh thêm. Không những thế, ý nghĩa
to lớn của những thành tựu đó không chỉ nằm ở những con số mà quan trọng hơn là sự
nỗ lực cao nhất mà Đảng và Nhà nước ta đã tập trung một cách hiệu quả trong một
thời gian không dài, trong những điều kiện rất khó khăn, phức tạp, để cải thiện và
không ngừng nâng cao đời sống mọi mặt cho nhân dân. Đó cũng là cơ sở niềm tin để
khơi dậy khát vọng của nhân dân ta về một xã hội xã hội chủ nghĩa phồn vinh, hạnh
phúc, vì hạnh phúc của nhân dân.
1.3. Kinh nghiệm lãnh đạo:
Một là, công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng phái được triển khai quyết liệt, toàn diện,
đồng bộ, thường xuyên cả về chính trị, tư tưởng, đạo đức, tổ chức và cán bộ. Kiên
định, vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh;
nâng cao năng lực lãnh đạo, cầm quyền và sức chiến đấu của Đảng; thường xuyên
củng cố, tăng cường đoàn kết trong Đảng và hệ thống chính trị; thực hiện nghiêm các
nguyên tắc xây dựng Đảng, thường xuyên đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng.
Xây dựng Nhà nước và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh, toàn diện; hoàn
thiện cơ chế kiểm soát chặt chẽ quyền lực; kiên quyết, kiên trì đấu tranh phòng, chống
suy thoái, “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá” trong nội bộ. Đẩy mạnh đấu tranh phòng,
chống tham nhũng, lãng phí. Công tác cán bộ phải thực sự là “then chốt của then
chốt”, tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên phải thực hiện trách nhiệm nêu
gương theo phương châm chức vụ càng cao càng phải gương mẫu, nhất là Uỷ viên Bộ
Chính trị, Ủy viên Ban Bí thư, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương.
Hai là, trong mọi công việc của Đảng và Nhà nước, phải luôn quán triệt sâu sắc, thực
hiện nghiêm túc quan điểm “dân là gốc”; thật sự tin tưởng, tôn trọng và phát huy 2
quyền làm chủ của nhân dân, kiên trì thực hiện phương châm “dân biết, dân bàn, dân
làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”.
Ba là, trong lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành, tổ chức thực hiện phải có quyết tâm chính trị
cao, nỗ lực lớn, hành động quyết liệt, năng động, sáng tạo, tích cực, có bước đi phù
hợp, phát huy mọi nguồn lực, động lực và tính ưu việt của chế độ XHCN; kịp thời tháo
gỡ các điểm nghẽn; đề cao trách nhiệm người đứng đầu gắn liền với phát huy sức
mạnh đồng bộ của hệ thống chính trị, phát huy dân chủ đi đôi với giữ vững kỷ cương;
coi trọng tổng kết thực tiễn, nghiên cứu lý luận; coi trọng chất lượng và hiệu quả thực
tế; tạo đột phá để phát triển.
Bốn là, tập trung ưu tiên xây dựng đồng bộ thể chế phát triển, bảo đảm hài hòa giữa
kiên định và đổi mới, kế thừa và phát triển; giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị,
văn hóa, xã hội; giữa tuân theo các quy luật thị trường và đảm bảo định hướng XHCN;
giữa phát triển kinh tế, xã hội với đảm bảo quốc phòng, an ninh; giữa độc lập tự chủ
với hội nhập quốc tế.
Năm là, chủ động nghiên cứu, nắm bắt, dự báo đúng tình hình, không để bị động, bất
ngờ; kiên quyết, kiên trì đấu tranh bảo vệ độc lập, chủ quyền thống nhất và toàn vẹn
lãnh thổ của Tổ quốc đi đôi với giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để phát triển
đất nước; chủ động tích cực hội nhập quốc tế toàn diện và sâu rộng; xử lý đúng đắn,
linh hoạt mối quan hệ với các nước lớn và nước láng giềng, khai thác sử dụng hiệu quả
mọi nguồn lực đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới.
2. Phân tích nhân tố quyết định đưa đến thắng lợi của công cuộc đổi mới (1986 –
nay). Từ vấn đề lịch sử trên, bạn có thể rút ra bài học gì cho cuộc sống của bản thân?
2.1. Phân tích nhân tố quyết định đưa đến thắng lợi của công cuộc đổi mới (1986 – nay):
Sau hơn 35 năm đổi mới, đất nước ta đã có những bước phát triển trên tất cả các lĩnh
vực; đời sống nhân dân được cải thiện, nền kinh tế hội nhập sâu rộng với thế giới, có
những chuyển biến tích cực, đạt được vị thế, tiềm lực, uy tín quốc tế tốt. Tất cả những
điều đó là do sự lãnh đạo đúng đắn, sáng tạo của Đảng cầm quyền Việt Nam, đó là
Đảng Cộng sản Việt Nam.
Đảng và nhà nước ta hiểu rằng để tiếp tục giữ vững được vị thế này, cần phải nâng cao
vai trò lãnh đạo, điều hành, phát huy tối đa vai trò của Đảng, đó là chìa khóa của sự
phát triển đất nước ngày càng đi lên. Cụ thể trong đại hội XIII, một Đại hội đánh dấu
phát triển mới trong công tác tư tưởng, chỉnh đốn Đảng, Đảng đã nêu lên một số mục
tiêu quan trọng, trong đó then chốt phải kể đến là: "Nâng cao năng lực lãnh đạo, năng
lực cầm quyền và sức chiến đấu của Đảng; xây dựng Đảng và hệ thống chính trị trong
sạch, vững mạnh toàn diện; củng cố, tăng cường niềm tin của nhân dân đối với Đảng,
Nhà nước, chế độ xã hội chủ nghĩa". Có thể khẳng định, đây là sự nhìn nhận biện
chứng, thực tiễn và khoa học, xuất phát từ mối quan hệ thống nhất giữa hoạt động lãnh
đạo, năng lực chỉ đạo, sức chiến đấu với hoạt động cầm quyền, năng lực cầm quyền
của Đảng Cộng sản Việt Nam. Điều đó thể hiện được rằng Đảng ta luôn tìm cách khắc
phục những mặt hạn chế, thay đổi để năng lực lãnh đạo đáp ứng được với sự phát triển
không ngừng của thời đại. 3
Qua mỗi kỳ Đại hội Đảng, Đảng ta đã có những thay đổi và điều chỉnh kịp thời cho
thời đại chính là đổi mới các đường lối, chính sách, pháp luật của Nhà nước, bổ sung
và hoàn thiện theo từng thời kỳ. Đường lối, chính sách luôn gắn liền đến quá trình
hoạch định và phát triển của đất nước trên con đường quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Đây
chính là điều kiện cơ bản nhất, then chốt nhất, mang tính tất yếu lịch sử và đòi hỏi có
tính quyết định đến sự tồn vong của chế độ nước ta trong thời đại ngày nay.
Bên cạnh đó, Đảng luôn khắc phục những mặt yếu kém, hạn chế, vận dụng sáng tạo,
phù hợp chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh vào hoàn cảnh đất nước ở từng
giai đoạn phát triển. Từ Đại hội VI (1986), kì đại hội đánh dấu bước đổi mới trong
công cuộc lãnh đạo của Đảng, Đại hội nêu rõ: “Muốn đổi mới tư duy, Đảng ta phải
nắm vững bản chất cách mạng và khoa học của chủ nghĩa Mác - Lênin, kế thừa di sản
quý báu về tư tưởng và lý luận cách mạng của Chủ tịch Hồ Chí Minh”. Và trong kì
Đại hội mới nhất, Đại hội XIII đã nêu rõ quan điểm “Tư tưởng chỉ đạo xuyên suốt của
toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta là phải kiên định và vận dụng, phát triển sáng
tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh”. Đảng ta xác định Chủ nghĩa Mác
- Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh là kim chỉ nam dẫn đường cho Đảng lãnh đạo đất
nước. Nhờ có tư duy và sự lãnh đạo của Đảng, chúng ta đã nhận thức đúng đắn và đưa
chủ nghĩa Mác - Lênin vào thực tiễn dân tộc một cách thành công và sâu sắc.
Đồng thời, Đảng có những đường lối, chính sách công nghiệp hoá, hiện đại hoá vô
cùng đúng đắn, khai thác tốt hiệu quả nguồn lực một cách có hiệu quả. Chưa hết, Đảng
ta không ngừng ra sức thực hiện nhất đường lối, chính sách đối ngoại rộng mở, đa
dạng hoá về mọi mặt; tích cực tham gia, hội nhập quốc tế sâu rộng với các nước trên
toàn cầu để đất nước không ngừng phát triển kinh tế - xã hội, góp phần rút ngắn thời
gian, công sức cho quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.
Để Đảng được vững mạnh thì phải có đội ngũ cán bộ giỏi, có năng lực. Chính vì thế,
sự lãnh đạo thành công và đúng đắn của Đảng phụ thuộc rất nhiều vào trình độ, năng
lực của mỗi đội ngũ cán bộ. Đảng luôn nêu cao, nêu gương những cán bộ, đảng viên,
luôn tăng cường xây dựng Đảng về đạo đức. Sự đổi mới, cải cách cơ cấu chỉ tập trung
vào người lãnh đạo, cán bộ, đảng viên mà không có sự tham gia của quần chúng sẽ
không thành công. Vì vậy, bên cạnh sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng thì với lịch sử hào
hùng dựng nước và giữ nước hàng nghìn năm, không thể không kể đến lòng yêu nước
nồng nàn và niềm tự hào về quê hương đất nước của nhân dân. Ngoài ra, còn có sự
giúp đỡ của bạn bè quốc tế giúp nước ta phát triển, đẩy nhanh quá trình đổi mới. Đồng
thời, mọi người Việt Nam cần có lòng yêu nước, yêu Đảng, yêu nước, đoàn kết, tin
tưởng tuyệt đối vào sự lãnh đạo của Đảng trước các thế lực thù địch tìm cách chống
phá, chia rẽ, “diễn biến hòa bình” thâm độc.
2.2. Từ vấn đề lịch sử trên, em có thể rút ra bài học gì cho cuộc sống của bản thân là:
Qua những thành tựu cũng như kinh nghiệm lãnh đạo của Đảng trong công cuộc đổi
mới (từ năm 1986 đến nay), bản thân sinh viên như em đã rút ra được một số bài học
kinh nghiệm cho bản thân mình là:
Luôn yêu nước, yêu Đảng, đoàn kết, tin tưởng tuyệt đối vào sự lãnh đạo của Đảng
Cộng sản Việt Nam. Trang bị những kiến thức đầy đủ về Đảng, về dân tộc. Sẵn sàng
đứng lên bảo vệ đất nước vì độc lập, tự do. 4
Bên cạnh đó, không ngừng trau dồi kiến thức, cố gắng học tập, hoàn thiện bản thân, có
ý chí phấn đấu vươn lên, tiếp thu những cái tốt, cái hay. Luôn tạo cho bản thân mục
tiêu sống để nâng cao chất lượng cuộc sống, sắp xếp thời gian biểu một cách có kế
hoạch để loại bỏ những thói quen xấu, luôn tiết kiệm, không hoang phí.
Tuyên truyền về thành tựu, ý nghĩa to lớn,… về sự lãnh đạo của Đảng cho nhân dân
qua phương tiện thông tin đại chúng một cách đa dạng và hiệu quả. Đồng thời, lên án,
phê bình và bài trừ tham nhũng, quan liêu cũng như những thù địch chống phá, chia rẽ,
đặc biệt là “diễn biến hoà bình”.
Không những thế, luôn thành thật với bản thân và mọi người, giúp đỡ và nhìn nhận
những khuyết điểm của nhau để hoàn thiện hơn. Luôn tỉnh táo, tâm lí vững vàng để
bản thân không mắc phải những điều xấu, những tệ nạn xã hội.
Có thể nói, sau hơn 35 năm trong công cuộc đổi mới (từ năm 1986 đến nay) đã thu
được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa rất quan trọng. Con đường đi lên chủ nghĩa xã
hội ở nước ta ngày càng được xác định rõ hơn. Nhìn chung, việc hoạch định và thực
hiện chính sách cải tạo trong thời gian qua về cơ bản là đúng theo định hướng xã hội
chủ nghĩa. Nhờ vậy, đời sống của nhân dân ngày càng được nâng cao, đất nước phát triển, phồn vinh.
Qua môn học Lịch sử Đảng Cộng Sản Việt Nam, em xin chân thành cảm ơn cô Phan
Thị Lệ Hương đã giúp chúng em hiểu rõ hơn về môn học này, cùng với đó là những
bài học vô cùng bổ ích và thú vị. Em xin chân thành cảm ơn cô và chúc cô luôn thành
công trong sự nghiệp của mình! 5
Tài liệu tham khảo:
1. Khoa lý luận chính trị Trường Đại học UEH (2022), Tài liệu hướng dẫn ôn tập
môn Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam, Nxb Trường Đại học UEH.
2. Thiếu tướng, PGS, TS, NGND. Nguyễn Bá Dương (Thứ bẩy 23/01/2021 -
06:00), Những thành tựu nổi bật của đất nước sau 35 năm đổi mới, báo Thái
Nguyên. https://baothainguyen.vn/tin-tuc/chinh-tri/nhung-thanh-tuu-noi-bat-
cua-dat-nuoc-sau-35-nam-doi-moi-280728-97.html?fbclid=IwAR0g-
upGBEri0gXinNAgsjIaAAjyE4dIT9VigTl3rAGQ14v9Gy9lwIy_OeY
3. Mai Trung Dũng (Trưởng Ban Tuyên giáo - Đảng uỷ Khối các cơ quan tỉnh Phú
Thọ) (31/1/2021), Cổng thông tin điện tử tỉnh Phú Thọ, Một số thành tựu nổi
bật sau 35 năm đổi mới đất nước. https://phutho.gov.vn/vi/mot-so-thanh-tuu-
noi-bat-sau-35-nam-doi-moi-dat-nuoc
4. BAN CHẤP HÀNH TRUNG ƯƠNG (Thứ Ba, 23/3/2021 15:44'), Báo cáo
chính trị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá XII tại Đại hội đại biểu
toàn quốc lần thứ XIII của Đảng, Báo điện tử Đảng Cộng sản Việt Nam – Hệ
thống tư liệu-văn kiện Đảng. https://tulieuvankien.dangcongsan.vn/ban-chap-
hanh-trung-uong-dang/dai-hoi-dang/lan-thu-xiii/bao-cao-chinh-tri-cua-ban-
chap-hanh-trung-uong-dang-khoa-xii-tai-dai-hoi-dai-bieu-toan-quoc-lan-thu- xiii-cua-3734