








Preview text:
ĐẠI HỌC UEH
TRƯỜNG KINH TẾ, LUẬT VÀ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC KHOA KINH TẾ TIỂU LUẬN
Môn học: LỊCH SỬ ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM Giảng viên : ThS. Bùi Thị Huyền Mã Lớp học phần : 23D1HIS51002641 Lớp – khóa : ARLM1 – K47
Họ và tên sinh viên : Trần Huyền Diễm MSSV : 31211027909
TP Hồ Chí Minh, ngày 02 tháng 06 năm 2023 0 MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN....................................................................................................................3
I. QUÁ TRÌNH ĐẢNG LÃNH ĐẠO CÔNG CUỘC XÂY DỰNG CNXH Ở MIỀN BẮC
GIAI ĐOẠN 1954 – 1975..................................................................................................5
1.1. Bối cảnh lịch sử.......................................................................................................5
1.2 Quá trình Đảng lãnh đạo công cuộc xây dựng CNXH ở miền Bắc...........................5
1.2.1. Khôi phục kinh tế, cải tạo xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc (1954-1960)...............5
1.2.2. Chủ trương đưa miền Bắc quá độ lên chủ nghĩa xã hội.....................................6
1.3. Sự lãnh đạo của Đảng đối với cách mạng miền Bắc giai đoạn 1965 -1975..............6
1.3.1. Xây dựng hậu phương, chống chiến tranh phá hoạt của đế quốc Mỹ ở miền
Bắc; giữ vững chiến lược tiến công, đánh bại chiến lược “Chiến tranh cục bộ” của đế
quốc Mỹ (1965-1968)..................................................................................................6
1.3.2. Khôi phục kinh tế, bảo vệ miền Bắc (1969-1975).............................................7
II. VAI TRÒ CỦA HẬU PHƯƠNG MIỀN BẮC ĐỐI VỚI TIỀN TUYẾN MIỀN NAM
TRONG CUỘC KHÁNG CHIẾN CHỐNG MỸ , CỨU NƯỚC (1954 - 1975).................7
2.1. Vai trò của hậu phương miền Bắc đối với tiền tuyến miền Nam trong cuộc kháng
chiến chống Mỹ, cứu nước (1954-1975).........................................................................7
2.2. Bài học kinh nghiệm................................................................................................9
TÀI LIỆU THAM KHẢO................................................................................................10 1 LỜI CẢM ƠN
Đầu tiên, em xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến Trường Đại học UEH đã đưa bộ môn Lịch sử
Đảng Cộng sản Việt Nam vào chương trình giảng dạy. Đặc biệt em xin bày tỏ lòng biết
ơn sâu sắc đến giảng viên bộ môn – cô Bùi Thị Huyền. Cô chính là người dùng hết tâm
huyết để giảng dạy và truyền đạt những kiến thức quý báu cho em trong suốt học kì vừa
qua. Trong thời gian tham dự lớp học của cô, em đã được tiếp cận với nhiều kiến thức bổ
ích và rất cần thiết cho quá trình học tập, làm việc sau này.
Bộ môn Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam là một môn học thú vị và vô cùng bổ ích. Tuy
nhiên, những kiến thức và kỹ năng về môn học này của em vẫn còn nhiều hạn chế. Do
đó, bài tiểu luận của em khó tránh khỏi những sai sót. Kính mong cô xem xét và góp ý
giúp bài tiểu luận của em được hoàn thiện hơn. 2
I. Quá trình Đảng lãnh đạo công cuộc xây dựng CNXH ở miền Bắc giai đoạn 1954 – 1975
1.1. Bối cảnh lịch sử
Sau chiến thắng Điện Biên Phủ (1954) “chấn động địa cầu”, Đảng Cộng sản Việt Nam đã
ngày càng chứng minh được thực lực, giành được sự tín nhiệm hơn khi có sự dẫn dắt tài
tình, đúng đắn với khẩu hiệu “tất cả cho mặt trận, tất cả để chiến thắng”. Tuy nhiên, khó
khăn trước mắt vẫn còn đó khi đất nước lâm vào tình trạng chia cắt hai miền Bắc – Nam.
Sau ngày giải phóng, nhân dân miền Bắc dưới sự dẫn dắt của Đảng đã bắt đầu thực hiện
những cải cách về kinh tế, miệt mài tham gia vào lao động, xây dựng chế độ mới, tạo tiền
đề cơ bản để miền Bắc tiến vào thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Tuy nhiên, lúc bấy
giờ, miền Bắc phải mang trong mình nhiều gánh nặng khi vừa phải có nhiệm vụ xây dựng
tiềm lực đất nước, mặt khác phải bảo vệ căn cứ, hậu thuẫn cho cách mạng miền Nam, giữ
vai trò quyết định đối với sự phát triển của toàn bộ cách mạng Việt Nam và sự nghiệp
thống nhất đất nước.
1.2 Quá trình Đảng lãnh đạo công cuộc xây dựng CNXH ở miền Bắc
1.2.1. Khôi phục kinh tế, cải tạo xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc (1954-1960)
Năm 1954, Bộ chính trị đã đưa ra nhiệm vụ cấp yếu cho nhân dân miền Bắc phải sớm
đưa nơi đây trở lại bình thường sau gần một thập kỷ chiến tranh, ổn định xã hội, vật giá,
thị trường, làm cho mọi hoạt động của thành phố và nông thôn trở lại bình thường, sau đó
tiến hành những cải cách cần thiết, từng bước một, thận trọng, vững chắc. Song, Đảng
cũng nhận thức rõ nền kinh tế miền Bắc cơ bản là nông nghiệp, Đảng đã đưa ra chỉ đạo
mới về sản xuất nông nghiệp, kết hợp cả cách ruộng đất, vận động đổi công, hỗ trợ nhau
sản xuất, đồng thời xây dựng cơ sở vật chất cho nông nghiệp. Bên cạnh đó, nhiệm vụ hàn
gắn vết thương chiến tranh cũng dần được thực hiện hóa với phục hồi nền kinh tế quốc
dân, phục hồi và phát triển sản xuất nông nghiệp cùng phục hồi giao thông vận tải. Sau
hơn 2 năm thực hiện (1954 – 1956) qua 5 đợt cải cách ruộng đất, miền Bắc đã tịch thu,
trưng thu, trưng mua khoảng 81 vạn ha ruộng đất, 10 vạn trâu bò và 1,8 triệu nông cụ
chia cho 2 triệu hộ nông dân lao động. Khẩu hiệu “Người cày có ruộng” đã trở thành hiện
thực. Tuy nhiên việc cải cách cũng phạm một số sai lầm không đáng có như đấu tố tràn
lan cả những địa chủ kháng chiến có công với cách mạng. Quy nhầm một số nông dân,
cán bộ, đảng viên thành địa chủ. Nhờ có sự phát hiện kịp thời, Đảng, Chính phủ sửa chữa
ngay trong năm 1957 nên hậu quả đã được kiểm soát và ý nghĩa thắng lợi của cải cách
ruộng đất vẫn to lớn, khối công nông liên minh được củng cố, vững chắc. Một trong
những nhiệm vụ khác nữa là đấu tranh chống âm mưu địch dụ dỗ, cưỡng ép đồng bào ta
di cư vào Nam, xóa bỏ những tin đồn như “Chính phủ Việt Minh cấm đạo”, “Chúa đã
vào Nam” của Mỹ - Pháp. 3
Tháng 04/1959, Hội nghị trung ương lần thứ 16 của Đảng đã thông qua Nghị quyết về
vấn đề hợp tác hóa nông nghiệp, xác định hình thức và bước đi của hợp tác xã. Nhìn
chung, kế hoạch của Đảng đã giành được thắng lợi về mặt cải tạo xã hội chủ nghĩa, tạo
nên những chuyển biến cách mạng trong nền kinh tế và xã hội ở miền Bắc nước ta. Miền
Bắc từ đó được củng cố, trở thành hậu phương ổn định, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp cách mạng miền Nam.
1.2.2. Chủ trương đưa miền Bắc quá độ lên chủ nghĩa xã hội
Tháng 9/1960, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III của Đảng họp tại Thủ đô Hà Nội.
Trong diễn văn khai mạc, Chủ tịch Hồ Chí Minh nêu rõ: “Đại hội lần này là Đại hội xây
dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và đấu tranh hòa bình thống nhất nước nhà”
Đại hội lần thứ III của Đảng cũng chỉ ra đường lối chung trong thời kỳ quá độ lên chủ
nghĩa xã hội ở miền Bắc ta là: “Đoàn kết toàn dân, phát huy truyền thống yêu nước, lao
động cần cù của nhân dân ta và đoàn kết với các nước xã hội chủ nghĩa, đưa miền Bắc
tiến nhanh, tiến mạng, tiến vững chắc lên chủ nghĩa xã hội, xây dựng đời sống ấm no,
hạnh phúc ở miền Bắc và cũng cố miền Bắc trở thành cơ sở vững mạng cho cuộc đấu
tranh thống nhất đất nước”
Kế hoạch 5 năm (1961-1965) xây dựng miền Bắc cũng thu được nhiều thành tựu trên tất
cả các mặt văn hóa – xã hội, quốc phòng – an ninh, hoạt động đối ngoại. Nhiệm vụ xây
dựng CNXH trên miền Bắc, đấu tranh giải phóng miền Nam và đoàn kết quốc tế đặt ra
những yêu cầu mới về xây dựng Đảng, tăng cường sự lãnh đạo của Đảng. Đến cuối năm
1964, kế hoạch 5 năm lần thứ nhất đã giành được những thắng lợi quan trọng, miền Bắc
trở thành hậu phương vững chắc cho cả nước.
1.3. Sự lãnh đạo của Đảng đối với cách mạng miền Bắc giai đoạn 1965 -1975
1.3.1. Xây dựng hậu phương, chống chiến tranh phá hoạt của đế quốc Mỹ ở miền Bắc;
giữ vững chiến lược tiến công, đánh bại chiến lược “Chiến tranh cục bộ” của đế quốc Mỹ (1965-1968)
Trước nguy cơ thất bại hoàn toàn của chiến lược “Chiến tranh đặc biệt”, đế quốc Mỹ đã
mở ra cuộc chiến tranh phá hoại bằng không quân và hải quân để đánh phá miền Bắc Việt
Nam, làm suy yếu miền Bắc và ngăn chặn sự chi viện của miền Bắc cho cách mạng miền
Nam. Với tình hình này, theo tinh thần của Nghị quyết Hội nghị lần thứ 11 và lần thứ 12,
Ban Chấp hành Trung ương Đảng đã kịp thời xác định chủ trương, nhiệm vụ trong hoàn
cảnh cả nước có chiến tranh: Một là, kịp thời chuyển hướng xây dựng kinh tế cho phù
hợp tình hình có chiến tranh phá hoại. Hai là, tăng cường lực lượng quốc phòng cho kịp
với sự phát triển tình hình cả nước có chiến tranh. Ba là, ra sức chi viện cho miền Nam.
Bốn là, phải kịp thời chuyển hướng tư tưởng và tổ chức cho phù hợp với tình hình mới. 4
Quyết tâm loại bỏ giặc thù cũng được Hồ Chí Minh nếu cao trong lời kêu gọi “Không có
gì quý hơn độc lập, tự do”. Thực hiện nghị quyết, quân và dân miền Bắc đã dấy lên cao
trào chống Mỹ, cứu nươc, vừa sản xuất, vừa chiến đấu với niềm tin tưởng và quyết tâm
cao độ với các phong trào “Ba sẵn sàng”, “Ba đảm đang”, “Tay cày tay súng”, “Tay búa,
tay súng”, trong chiến đấu có “Nhắm thẳng quân thù mà bắn”, trong chi viện tiền tuyến
có “Thóc không thiếu một cân, quân không thiếu một người, trong đảm bảo giao thông
vận tải có “Xe chưa qua, nhà không tiếc”.
1.3.2. Khôi phục kinh tế, bảo vệ miền Bắc (1969-1975)
Tranh thủ những thuận lợi mới do Mỹ vừa chấm dứt chiến tranh, tháng 11/1968, Đảng đã
lãnh đảo nhân dân miền Bắc thực hiện kế hoạch ngắn hạn nhằm khắc phục hậu quả chiến
tranh, tiếp tục công cuộc xây dựng miền Bắc và tăng cường lực lượng cho miền Nam.
Sau 3 năm (1969-1972) cùng những kết quả đạt được đáng tiêu biểu, miền Bắc đã dần
khôi phục nền kinh tế, hàn gắn vết thương chiến tranh cùng với sự chuyển biến tích cực
từ nhiều mặt như y tế, giao thông, khoa học kỹ thuật,…
Trong 12 ngày đếm từ 18 đến 30/12/1972, quân dân ta đã kiên cường, đánh bại cuộc tập
chiến lược bằng máy bay B52 của Mỹ trên bầu trời miền Bắc. Từ thắng lợi này, ta đã
buộc Mỹ phải ngồi vào bàn đàm phán và chấp nhận những điều khoản cơ bản của bản dự
thảo Hiệp định tháng 10/1972.
Sau ngày kí kết Hiệp đình Paris, miền Bắc có hòa bình, Trung ương Đảng đã đề ra kế
hoạch 2 năm khôi phục và hát triển kinh tế 1974-1975. Với khí thế của chiến thắng, nhân
dân miền Bắc hoạt động hăng hái, sự nghiệp phát triển toàn diện được đẩy lên mức cao
cùng hàng chục vạn thanh niên dũng cảm, nô nức tòng quân lên đường ra mặt trận, hăng
hái vào Nam tiếp viện cho quân dân làm nhiệm vụ kháng chiến chống Mỹ. Miền Bắc còn
hoàn thành nghĩa vụ quốc tế đối với cách mạng Lào và Campuchia.
II. VAI TRÒ CỦA HẬU PHƯƠNG MIỀN BẮC ĐỐI VỚI TIỀN TUYẾN MIỀN
NAM TRONG CUỘC KHÁNG CHIẾN CHỐNG MỸ , CỨU NƯỚC (1954 - 1975).
2.1. Vai trò của hậu phương miền Bắc đối với tiền tuyến miền Nam trong cuộc
kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954-1975)
Đại hội toàn quốc lần thứ III của Đảng Lao động Việt Nam (9/1960) đã xác định cách
mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc có vai trò quyết định nhất đối với sự phát triển cách
mạng của cả nước. Vai trò được thể hiện như sau:
Miền Bắc đã hoàn thành xuất sắc nghĩa vụ hậu phương lớn đối với tiền tuyến lớn miền
Nam: miền Bắc chi viện cho miền Nam bằng tuyến đường vận chuyển chiến lược Bắc –
Nam mang tên Hồ Chí Minh trên bộ và trên biển bắt đầu được khai thông từ năm 1959,
dài hàng nghìn ki-lô-mét với khẩu hiệu “Tất cả cho tiền tuyến, tất cả để đánh thắng giặc
Mỹ xâm lược”,“Thóc không thiếu một cân, quân không thiếu một người”,.. 5
Trong 5 năm (1961 – 1965) một khối lượng khổng lồ về vũ khí, đạn dược, thuốc men,…
được chuyển vào chiến trường. Bên cạnh đó, sự tiếp viện quân dân ngày càng nhiều khi
những đơn vị vũ trang, cán bộ quân sự và cán bộ các ngành được đưa vào miền Nam
tham gia chiến đấu, phục vụ chiến đấu và xây dựng vùng giải phóng. Sự chi viện của
miền Bắc trong thời gian này là nhân tố quyết định đến thắng lợi của nhân dân miền Nam
đánh bại chiến lược “Chiến tranh đặc biệt” của Mỹ.
Trong 4 năm (1965 – 1968), miền Bắc đã đưa vào miền Nam hơn 30 vạn cán bộ, chiến sĩ
tham gia chiến đấu, phục vụ chiến đấu và xây dựng vùng giải phóng với hàng chục vạn
tấn vũ khí, đạn dược, lương thực, thuốc men,… Tính chung, trong 4 năm, sức người, sức
của từ miền Bắc chuyển vào chiến trường miền Nam tăng gấp 10 lần so với giai đoạn trước.
Trong thời gian Mỹ ngừng ném bom sau chiến tranh phá hoại lần thứ nhất và chiến tranh
phá hoại lần thứ hai, miền Bắc đã kịp thời khắc phục hậu quả của những trận đánh phá
khốc liệt, vượt qua vô vàn cuộc bao vây phong toả gắt gao của địch, bảo đảm tiếp nhận
tốt hàng viện trợ từ bên ngoài và tiếp tục chi viện theo yêu cầu của chiến trường miền
Nam, hoàn thành trọn vẹn nghĩa vụ quốc tế đối với chiến trường Lào và Campuchia.
Trong 3 năm (1969 – 1971), hàng chục vạn thanh niên miền Bắc được gọi nhập ngũ,
trong số đó có đến 60% lên đường bổ sung cho các chiến trường miền Nam, Lào,
Campuchia. Khối lượng vật chất đưa vào các chiến trường tăng gấp 1,6 lần so với 3 năm trước đó.
Riêng năm 1972, miền Bắc đã động viên hơn 22 vạn thanh niên bổ sung cho lực lượng vũ
trang, đưa vào chiến trường 3 nước Đông Dương nhiều đơn vị bộ đội được huấn luyện,
trang bị đầy đủ; khối lượng vật chất đưa vào chiến trường tăng gấp 1,7 lần so với năm 1971.
Trong hai năm 1973 – 1974, miền Bắc đưa vào chiến trường miền Nam, Lào, Campuchia
gần 20 vạn bộ đội, hàng vạn thanh niên xung phong, cán bộ chuyên môn, nhân viên kĩ
thuật. Đến năm 1975, miền Bắc đưa vào miền Nam 57.000 bộ đội. Về vật chất – kỹ thuật,
miền Bắc có sự nỗ lực phi thường, đáp ứng đầy đủ nhu cầu to lớn và cấp bách của cuộc
tổng tiến công chiến lược ở miền Nam. Từ đầu mùa khô 1973 – 1974 đến đầu mùa khô
1974 – 1975, miền Bắc đưa vào chiến trường hơn 26 vạn tấn vũ khí, đạn dược, quân
trang, quân dụng, xăng dầu, thuốc men, lương thực, thực phẩm,…
Nguồn chi viện cùng với thắng lợi trong chiến đấu và sản xuất của quân dân miền Bắc đã
góp phần quyết định vào thắng lợi của quân dân miền Nam trong cuộc chiến đấu đánh bại
các chiến lược chiến tranh xâm lược của Mỹ và giải phóng hoàn toàn miền Nam. Miền
Bắc còn làm nghĩa vụ quốc tế đối với cách mạng Lào và Campuchia, thường xuyên chi
viện sức người, sức của cho chiến trường hai nước bạn; góp phần củng cố và tăng cường
khối đoàn kết liên minh ba dân tộc ở Đông Dương trong cuộc chiến đấu chống kẻ thù 6
chung. Khối liên minh chiến đấu giữa ba nước Đông Dương trong cuộc chiến đấu chống
kẻ thù chung đã tạo ra một nhân tố quan trọng để đưa đến thắng lợi của mỗi nước trong
cuộc kháng chiến chống Mỹ.
Không chỉ là hậu phương, miền Bắc còn là chiến trường trực tiếp đánh Mỹ. Quân dân
miền Bắc đã chiến đấu, đánh thắng hai lần chiến tranh phá hoại bằng không quân và hải
quân của Mỹ, đặcbiệt làm nên trận “Điện Biên Phủ trên không”, đập tan cuộc tập kích
chiến lược bằng B52 của Mỹ vào Hà Nội, Hải Phòng cuối năm 1972. Chiến thắng của
quân dân miền Bắc trong chiến đấu chống chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ, góp
phần đập tan ý chí xâm lược của Mỹ, buộc họ phải ngồi vào bàn đàm phán, kí Hiệp định
Paris về chấm dứt chiến tranh, lập lại hoà bình ở Việt Nam.
Những thành tựu của miền Bắc trong công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội cùng với uy
tín của Đảng, của Chủ tịch Hồ Chí Minh còn là nguồn động viên về tinh thần to lớn đối
với nhân dân miền Nam trong cuộc kháng chiến chống Mỹ. Từ đó góp phần vào nâng cao
tinh thân chiến đấu của quân dân, tạo sự đoàn kết, chiến đấu hết mình vì độc lập, tự do, vì
một đất nước Việt Nam vững mạnh, hòa bình.
2.2. Bài học kinh nghiệm
Miền Bắc đã thành công xuất sắc trong vai trò là hậu phương với tiền tuyến miền Nam
trong công cuộc đấu tranh, kháng chiến chống Mỹ để giành lại độc lập dân tộc. Theo Mác
– Lenin, hậu phương là nhân tố thường xuyên quyết định thắng lợi của một cuộc chiến
tranh. Thực vậy, hậu phương vững mạnh sẽ giúp cung cấp nhân lực, tài lực cho tiền
tuyến, hậu phương còn là nơi dừng chân để nghỉ ngơi, đúc rút kinh nghiệm chiến trường,
bồi dưỡng sức mạnh. Nhận thức rõ tầm quan trọng ấy của hậu phương, Đảng, Chính phủ
và Hồ Chủ tịch đã quan tâm, xây dựng hậu phương vững mạnh về mọi mặt. Tuy nhiên,
hình ảnh “hậu phương” và “tiền tuyến” không chỉ xuất hiện trong những cuộc chiến tranh
mà còn xuất hiện ở đời sống, hậu phương được ẩn dụ như một chỗ dựa vững chắc cho
một người nào đó trong xã hội, còn “tiền tuyến” lại là hình ảnh đầy cạm bẫy, khó khăn
mà con người phải chiến đấu, vượt qua để tồn tại. Trong đời sống, hậu phương có thể là
gia đình, vợ chồng, con cái, bạn bè,… Trong y tế, hậu phương lại là bác sĩ, y tá,... Có thể
thấy. hậu phương tồn tại theo nhiều hình thể, có thể là hữu hình hoặc vô hình, nhưng nó
luôn luôn song song và tồn tại trong đời sống con người. Vai trò của hậu phương là duy
trì sự ổn định của cộng đồng từ phía sau, trong khi tiền tuyến được coi là những người
trực tiếp đứng ra giải quyết vấn đề. Vì vậy, mặc dù hậu phương và tiền tuyến là hai phạm
trù ý nghĩa trái ngược nhau nhưng lại luôn đi với nhau, mối liên hệ sâu sắc này còn thể
hiện qua nhiều khía cạnh khác trong đời sống như tình bằng hữu, tình cảm gia đình, công
việc, trách nhiệm xã hội. Qua những điều trên, em cũng nhận thức được tầm quan trọng
của “hậu phương” và “tiền tuyến” trong những cuộc chiến tranh và cả trong đời sống. Từ
đó, cố gắng học tập, phát triển bản thân, trở thành một “hậu phương nhỏ” trong “hậu 7
phương lớn” của đất nước, góp ít sức mình vào công cuộc đưa Việt Nam thành một quốc
gia “dân giàu, nước mạnh” và tiến tới một thế giới độc lập, tự do, dân chủ. TÀI LIỆU THAM KHẢO
[1] Tài liệu hướng dẫn ôn tập môn Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam – Khoa lý luận
chính trị - Trường Đại học kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh năm 2022
[2] Tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng và phát huy vai trò hậu hương quân đội – Tạp chí
cộng sản. Truy cập tại:
https://www.tapchicongsan.org.vn/nghien-cu/-/2018/17926/tu-tuong-ho-chi-minh-ve-
xay-dung--va-phat-huy-vai-tro-hau-phuong-quan-doi.aspx
[3] Hậu phương quân đội và xây dựng hậu phương quân đội trong tình hình mới –
QĐND. Truy cập tại: https://www.qdnd.vn/quoc-phong-an-ninh/xay-dung-quan-doi/hau-
phuong-quan-doi-va-xay-dung-hau-phuong-quan-doi-trong-tinh-hinh-moi-699420
[4] Sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng là nhân tố quyết định thắng lợi của cách mạng Việt
Nam – Đảng Ủy Khối Các Cơ quan TW. Truy cập tại: http://dukcqtw.dcs.vn/su-lanh-dao-
dung-dan-cua-dang-la-nhan-to-quyet-dinh-thang-loi-cua-cach-mang-viet-nam- duk15482.aspx 8