MỞ ĐẦU
Những năm qua, nền kinh tế thị trường Việt Nam đã bắt nhịp được với kinh tế
khu vực thế giới. Tốc độ tăng trưởng kinh tế đã những bước tiến tích cực kể từ
năm 2000 đến nay. Đặc biệt năm 2009 được đánh giá năm thứ ba đánh dấu sự hội
nhập khá toàn diện với kinh tế thế giới.
Một trong những đặc trưng của nền kinh tế thị trường nước ta nhiều thành
phần kinh tế cùng tồn tại song song, cụ thể Hiến pháp 2013 quy định “Nền kinh tế Việt
Nam nền kinh tế thị trường định hướng hội chủ nghĩa với nhiều hình thức sở
hữu, nhiều thành phần kinh tế; kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo”.Mặc Đảng
Nhà nước chủ trương ưu tiên phát triển các thành phần kinh tế nhà nước, song tốc độ
tăng trưởng của thành phần này lại thấp hơn so với kinh tế nhân kinh tế vốn
đầu nước ngoài. Báo cáo “2 năm thực hiện nghị quyết trung ương 5, khóa XII về
phát triển kinh tế nhân trở thành một động lực quan trọng của nền kinh tế thị trường
định hướng hội chủ nghĩa” đã cho thấy sự chênh lệch lớn giữa khu vực kinh tế
2016-2018, khu vực kinh tế nhân luôn chiếm hơn 40% GDP. Đến năm 2018, ước
tính kinh tế nhân đóng góp 42,1% GDP con snày dấu hiệu tăng lên.
Sự đóng góp của khu vực kinh tế nhân, một khu vực kinh tế được đánh giá
trẻ trung năng động đã khiến cho các nhà hoạch định chính sách nói chung chính
sách pháp luật nói riêng phải gấp rút hoàn thiện chính sách của mình.
Với cách loại hình doanh nghiệp lịch sử hình thành phát triển lâu đời
trên thế giới, hình công ty hợp danh được các nhà lập pháp quy định trong các
thấy, kể từ khi được quy định trong Luật Doanh nghiệp qua các thời kỳ thì hình
này không được các nhà đầu lựa chọn để khởi sự kinh doanh. Theo số liệu của Cục
quản đăng kinh doanh, Bộ Kế hoạch đầu (2017) thì số lượng các nhà đầu
thực hiện đăng thành lập công ty hợp danh mới chiếm tỉ lệ rất thấp (0.03%) trên
tổng các loại hình doanh nghiệp theo quy định của Luật Doanh nghiệp năm 2014 .Có
yếu dẫn đến hiện tượng trên môi trường pháp chưa thuận lợi, cthể những quy
sự phát triển của chúng.
1
Xuất phát từ những do trên, tôi đã chọn chủ đề "Hoàn thiện pháp luật vcông
ty hợp danh Việt Nam" với mong muốn làm sáng tỏ những đặc điểm, bản chất pháp
của loại hình công ty này, từ đó đưa ra những kiến nghị nhằm góp phần xây dựng
hoàn thiện pháp luật doanh nghiệp nói chung công ty hợp danh nói riêng.
2
Chương 1
KHÁI QUÁT CHUNG VỀ CÔNG TY HỢP DANH
1.1. SỰ HÌNH THÀNH PHÁT TRIỂN CÔNG TY HỢP DANH TRÊN
THẾ GIỚI VIỆT NAM
1.1.1. Lịch sử hình thành công ty hợp danh trên thế giới
Bất kỳ một hiện tượng kinh tế o cũng đều quá trình hình thành phát
triển. Thời gian tồn tại thể ngắn hoặc dài tùy thuộc điều kiện lịch sử kinh tế -
hội. Công ty một sản phẩm tất yếu của nền kinh tế, một hiện tượng kinh tế đặc
biệt ra đời từ rất lâu và đem lại rất nhiều lợi ích quan trọng cho loài người.
Một trong những loại hình công ty mặt sớm nhất trong lịch sử đó công ty
hợp danh. Người ta đã tìm thấy những quy định về sự hợp danh theo nghĩa rộng trong
các bộ luật thời cổ đại như Bộ luật Hammurabi của Babylon vào khoảng năm 2300
trước Công nguyên. Thuật ngữ shutolin chỉ một dạng hợp danh phi thương mại (not a
commercial) xuất hiện từ năm 2000 trước Công nguyên, sau đó hình thành hợp danh
thương mại từ những đoàn hội buôn Do Thái. Trong Bộ luật Justinian của đế chế La
thế kỷ VI, những quy định về hợp danh rất gần gũi luật hiện đại như nguyên tắc
delectus personas - sự lựa chọn của nhân, một nguyên tắc xác định sự lựa chọn tự
nguyện của các thương nhân khi cộng tác với nhau, hay nguyên tắc người thực hiện
hành vi thông qua hành vi của người khác cho bản thân người đó (qui facit per alium
facit per se).
châu Âu, Châu Á, tập quán kinh doanh của các thương nhân, sự liênkết
những phường, hội người buôn tiền đề ban đầu hình thành nên những hình thức hợp
danh sau này.
Từ việc kinh doanh độc lập, nhỏ lẻ, các thương nhân nhận thấy rằng để thích
ứng được với sđòi hỏi của nền sản xuất ngày càng lớn mạnh, đểvươn tới chinh phục
những thị trường rộng lớn sôi động thì cách hay nhất làm rộng quy kinh
doanh. Muốn làm được điều này cần phải sự liên kếtvới nhiều người, vừa đáp ứng
được nhu cầu phát triển vừa chia sẻ được rủi ro. Những nhà đầu riêng lẻ bắt đầu tìm
cách liên kết kinh doanh để nhanh chóng tập hợp một số vốn lớn để phục vụ cho nhu
cầu phát triển sản xuất - kinh doanh, thể giảm chi phí sản xuất thu lợi nhuận cao
hơn, khả năng cạnh tranh tốt hơn, phân tán được rủi ro. Công ty hình kinh
doanh nhiều chủ bắt đầu được hình thành.
3
Ban đầu, công ty chỉ những liên kết giản đơn của các thương nhân quen biết
nhau. Sự quen biết dựa trên yếu tố nhân thân tạo nên sự tin cậy về mặt tâm lý. Do đó,
loại hình công ty đầu tiên ra đời trên thế giới công ty đối nhân, tức công ty gồm
các thành viên quen biết tin cẩn nhau liên kết lại,yếu tố con người quan trọng hơn yếu
tố vốn.
Tuy vậy, hạn chế của công ty đối nhân không thể tạo ra hìnhkinh doanh
với quymô lớn, như vậy sẽ phá vỡ yếu tố nhân thân của thànhviên. Chính vậy
một loại hình công ty khác đã ra đời đáp ứng đượcyêu cầu trên, đó công ty đối
vốn. Đây loại hình công ty trong đó các thành viên chỉ quan tâm đến phần vốn góp
của mỗi người ít quan tâm đến nhân thân của nhau. Đặc điểm quan trọng của công
ty đối vốn đượcchia thành hai loại: Công ty trách nhiệm hữu hạn công ty cphần.
Đặc điểm bản của công ty đối nhân không sự tách bạch tài sản công ty
với tài sản nhân. Các dạng của công ty đối nhân gồm công ty hợp danh, công ty hợp
vốn đơn giản công ty hợp vốn theo cphần.
Như vậy công ty hợp danh loại hình đặc trưng của công ty đối nhân. Các nhà
nghiên cứu cho rằng đây loại hình công ty ra đời sớm nhất trên thế giới.
Yếu tố nhân thân của thành viên hợp danh được coi trọng hàng đầu khi thành
lập công ty, trong đó người ta thường chú tâm tới tổng tài sản dân sự hơn số vốn góp
vào công ty. Đối với bên thứ ba, việc định danh các thành viên rất quan trọng khi
thực hiện các giao dịch với công ty. Điều đó giải tại sao người ta gọi công ty hợp
danh
1.1.2. Lịch sử hình thành công ty hợp danh Việt Nam
Lịch sử phát triển kinh tế nước ta mang đặc trưng kinh tế nông nghiệp chiếm
giữ vị trí chủ đạo, hoạt động thương mại vốn không phải thế mạnh. Thương mại
Việt Nam chủ yếu diễn ra các chợ, tổ chức sài, quan hệ kinh doanh mang tính
chất gia đình. Bởi vậy, các loại hình công ty ra đời muộn so với các nước trên thế giới,
trong đó công ty hợp danh. Mãi đến tận thế kỷ XIX, theo chân thực dân Pháp,
người dân Việt Nam được làm quenvới các hình công ty. Cùng với luật dân s
thương mại, người Pháp đã mang luật công ty của họ vào Việt Nam như một sự cấy
ghép pháp luật cưỡng bức trong điều kiện bóc lột phân biệt đối xử khắc của kẻ
xâm lược với người bị thống trị. thế, "chỉ một bộ phận rất nhỏ các nhà kinh doanh
các đô thị lớn, chủ yếu người nước ngoài, mới được biết đến luật công tythời
Pháp thuộc". Các tòa án Nam Kỳ sử dụng Bộ luật Thương mại(1987), Luật Công ty
trách nhiệm hữu hạn (1925) làm nguồn khi giải quyết các vụ án kinh tế.
Các bộ Dân luật: Dân luật Bắc Kỳ (1931), Dân luật Trung Kỳ (1936) đã dịch
các hình công ty dưới tên gọi "hội buôn", "hội người", "hội vốn","hội đồng lợi"…
nhằm phân biệt chúng với các hội khác không kinh doanh. Theo "Dân luật thi hành tại
các tòa Nam án Bắc Kỳ" năm 1931, công ty hợp danh dưới tên gọi "Hội người" được
chia làm hai loại Hội hợp danh Hội hợp tư. "Hội người" tức hình thức công ty
4
chú trọng yếu tố con người, khácvới "hội vốn" quan tâm đến vốn góp nhiều hơn. Hội
người được chia thành hai loại hội hợp danh hội hợp tư. Hội hợp danh hội gồm
những hội viên chịu trách nhiệm hạn liên đới đối với mọi nghĩa vụ của hội. Hội
hợp hội do một hay nhiều hội viên chịu trách nhiệm hạn liên đới kết hợp
với một hoặc nhiều hội viên chịu trách nhiệm hữu hạn trong phạm vi svốn đóng góp
viên chịu trách nhiệm hữu hạn gọi hội viên xuất ".
Tuy nhiên, "với chính sách bóc lột nặng nề của thực dân Pháp cộngvới việc độc
quyền kinh doanh khiến cho người dân Việt Nam không được hưởng lợi từ những sản
phẩm pháp luật du nhập từ phương tây này. Một số công ty do người Việt làm chủ
xuất hiện khá hiếm hoi". Dưới thời chính quyền vua Bảo Đại, Bộ luật thương mại
Trung phần năm 1944 được ban hành áp dụng tại miền Trung, tuy sửa đổi bổ
sung nhưng về bản những quy định về công ty hợp danh vẫn giống so với quy định
trong luật Thương mại Pháp áp dụng tại Việt Nam. Điều 42, Bộ luật Thương mại
danh, trong đó tất cả các hội viên đều phải chịu trách nhiệm liên đới, giới hạn trên
sản nghiệp của mình về công nợ của hội”. Còn hội cấp vốn là hội:
hai thứ hội viên, hội viên xuất vốn hội viên nhận vốn. Hội viên nhận vốn
gồm những hội viên đứng liên đới giữ trách nhiệm hạn đối với người ngoài cũng
hợp người nhưng chỉ mất phần vốn góp cùng.
Hơn nữa, Luật còn quy định hội viên nhận vốn sẽ đảm nhận vị trí quản trị
công ty. Tên của hội sẽ bao gồm tên những hội viên nhận vốn, bên xuất vốn không
quyền tham gia quản trị cũng như đứng tên hội.
Như vậy, pháp luật dưới thời kỳ Pháp thuộc hay trong chính quyền Bảo Đại,
công ty hợp danh chưa được gọi tên chính thức công ty hợp danh, nhưng về bàn chất
đã mang những đặc điểm pháp của nó.
Trước năm 1975, miền Nam Việt Nam áp dụng Bộ luật thương mại Sài Gòn,
định trong luật thương mại Pháp. Công ty hợp danh một hội đoàn thương sự (nhằm
phân biệt với hội đoàn dân sự) được thành lập giữa hai người, hay một số người nhiều
hơn để làm thương mại dưới một hội danh, "các thành viên trong công ty phải
cách thương nhân, các thành viên chịu trách nhiệm hạn liên đới đối với các
khoản nợ của công ty". Miền Bắc Việt Nam được giải phóng sau năm 1954, chủ
trương của Nhà nước thực hiện nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung, lấy kinh tế quốc
doanh làm chủ đạo nên các thành phần kinh tế ngoài quốc doanh không được thừa
nhận. Bắt đầu từ Hiến pháp 1959, hình kinh tế Xô-viết được từng bước áp dụng
ởViệt Nam. Ngoài các công ty của sản mại bản, tay sai phản động được quốc
hữu hóa, thì các công ty sở kinh doanh nhân của người Việt Nam (chủ yếu
hình thành sau năm 1954 khi thực dân Pháp rút về nước) được chuyển sang hình thức
công ty công- hợp doanh. Nhưng do nhiều nguyên nhân, "các sở kinh doanh trên
5
việc không công nhận sở hữu nhân, bên cạnh đó quan hệ sản xuất chưa phù hợp với
tính chất trình độ phát triển của lực lượng sản xuất, nên cấu ngành nghề không
đa dạng, kém phát triển cả về chất lượng. Thuật ngữ "công ty" vẫn được dùng để
chỉ một số nhà máy, nghiệp quốc doanh. Các loại hình công ty theo đúng nghĩa
thương mại đã bị lãng quên trong các văn bản pháp luật không xuất hiện trong giai
đoạn từ sau năm 1960 đến trước năm 1990.
Sau Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ sáu tổ chức vào tháng 12 năm 1986, nghị
quyết của Đảng đã định hướng lại chủ trương phát triển kinh tế đất nước, đó chuyển
nền kinh tế từ tập trung bao cấp sang nền kinh tế thị trường theo định hướng hội
chủ nghĩa, mở rộng các thành phần kinh tế, ghi nhận hình thức sở hữu nhân. Sau
Ban đầu, pháp luật mới chỉ cónhững quy định chung chung về hình thức hộ kinh
doanh thể, hộ tiểu công nghiệp nghiệp liên doanh, chưa quy định về công
ty nói chung công ty hợp danh nói riêng.
Sự ra đời của Luật Công ty Luật Doanh nghiệp nhân năm 1990 đánh dấu
sự ghi nhận chính thức của pháp luật về công ty. Tuy nhiên, Luật công ty năm 1990
nhiều hạn chế do được ban hành trong những năm đầu của công cuộc đổi mới. Các
quy định về công ty chưa cụ thể, chưa công ty hợp danh trong các văn bản pháp
luật trên. Tại nghị định 66/HĐBT ngày 2/3/1992 quy định về nhân nhóm kinh
doanh vốn pháp định thấp hơn vốn pháp định quy định trong nghị định 221/HĐBT
ngày 23/7/1991, những đặc điểm pháp theo quan điểm của nhiều người đó
đặc điểm của công ty hợp danh, hay nói cách khác đó công ty hợp danh tồn tại
dướidạng các nhóm kinh doanh. dụ như "quy định nhóm kinh doanh bao gồm sự
liên kết của hai thành viên trở lên cùng tiến hành các hoạt động kinh doanh, cũng chịu
trách nhiệm hạn về các khoản nợ của nhóm".
Luật Doanh nghiệp 1999 trên sở tiếp thu chọn lọc kinh nghiệm trên thế
giới, đồng thời khắc phục những hạn chế của các văn bản luật trước đó, đã sự phát
triển vượt bậc về chất lượng. Một trong những điểm mớinhất của văn bản này ghi
nhận sự tồn tại của hai loại hình công ty mới, công ty hợp danh công ty trách nhiệm
hữu hạn một thành viên. Kể từ thời điểm này nhà đầu được thêm sự lựa chọn loại
hình công ty thích hợp để tiến hành hoạt động kinh doanh. Công ty hợp danh mặc
thức của nhà nước Việt Nam ghi nhận với đúng tên gọi của nó.
loại hình công ty chưa phổ biến Việt Nam (ngược lại rất phổ biến trên
thế giới) nên ban đầu các quy định của luật dành cho công ty hợp danh còn chung
chung chưa đầy đủ. Trong Luật Doanh nghiệp 1999 chỉ 4 điều luật quy định về
công ty hợp danh (từ Điều 95 đến Điều 98), những quy định này chưa đáp ứng được sự
phát triển cũng như quy chế quản của pháp luật đối với công ty.
Luật Doanh nghiệp 2005 thay thế Luật Doanh nghiệp 1999, tiếp theo đó Luật
Doanh nghiệp 2014, Luật Doanh nghiệp 2020, những tưởng về tự do kinh doanh
của phương Tây đã được tiếp nhận mạnh mẽ. được thể hiện qua các quy định thông
thoáng về quyền thủ tục thành lập, góp vốn vào doanh nghiệp; ngành, nghề kinh
6
doanh; quản trị công ty; quyền tự định đoạt, quyền của công ty thành viên. đã hoàn
thiện hơn. Song song với điều đó s hoàn thiện các quy định về công ty hợp danh,
kiện thuận lợi hơn cho việc phát triển loại hình công ty vốn kén chọn ngành nghề đầu
cả người đầu này.
1.2. KHÁI NIỆM, ĐẶC ĐIỂM
1.2.1. Khái niệm
Công ty hợp danh theo Khoản 1 Điều 177 Luật Doanh nghiệp 2020 doanh
nghiệp trong đó:
Phải ít nhất hai thành viên chủ sở hữu chung của công ty, cùng nhau kinh
doanh dưới một tên chung (sau đây gọi thành viên hợp danh), ngoài các thành viên
hợp danh thể thành viên góp vốn;
Thành viên hợp danh phải nhân, chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của
mình về các nghĩa vụ của công ty;
Thành viên góp vốn tổ chức, nhân chỉ chịu trách nhiệm về các khoản
nợ của công ty trong phạm vi số vốn đã góp vào công ty.
Khái niệm trên chỉ cho chúng ta thấy hai loại công ty hợp danh đó công ty
hợp danh chỉ các thành viên hợp danh công ty hợp danh cả các thành viên
hợp danh thành viên góp vốn. Cách phân loại này tương tự như luật Mỹ hoặc Thái
lan, nhưng chúng ta không gọi tên hợp danh phổ thông hay hợp danh hữu hạn,
gọi chung công ty hợp danh. Việc quy định chung về quy chế pháp cho hai loại
công ty hợp danh của Việt Nam không giống như luật các nước khác. Hầu hết các
nước trên thế giới đều phân biệt hai loại hình công ty hợp danh có quy chế pháp
chất hợp danh tuyệt đối, còn hợp danh tương đối (tức cả thành viên góp vốn)
được gọi công ty hợp vốn đơn giản. dụ, công ty hợp vốn đơn giản Pháp loại
hình công ty bao gồm thành viên hợp danh (có thể chỉ 1 thành viên hợp danh duy
nhất trong công ty), địa vị pháp tương tự như thành viên hợp danh của công ty
hợp danh. Họ phải cách thương nhân, quyền rất lớn trong việc quản công ty
phải chịu trách nhiệm hạn liên đới đối với mọi khoản nợ của công ty. Ngược
lại, "thành viên góp vốn một vị trí thứ hai trong công ty bởi lẽ họ gánh chịu ít rủi ro
hơn. Họ không phải cách thương nhân trách nhiệm của họ chỉ giới hạn trong
phạm vi vốn góp của mình".
Công ty hợp danh hữu hạn tại Mỹ cũng chỉ yêu cầu một thành viên hợp danh,
còn yêu cầu bắt buộc hai thành viên hợp danh chỉ công ty hợp danh phổ thông.
Luật pháp Mỹ can thiệp chặt chẽ hơn với hợp danh hữu hạn cởi mở với hợp danh
phổ thông.
Như vậy, việc quy định gộp hai loại công ty hợp danh vào một khái niệm chung
như Điều 177 luật Doanh nghiệp đã dẫn đến sự bất cập, trước hết việc quy định số
lượng thành viên bắt buộc để công ty hoạt động tồn tại. Đối với loại hình công ty
7
hợp danh tuyệt đối thì việc giải thể khi không đảm bảo điều kiện hai thành viên hợp
danh hoàn toàn hợp đây "s liên kết giữa các thương nhân đơn lẻ để kinh
doanh dưới một tên hãng chung", nếu không đủ hai thành viên thì sự liên kết này
Nhưng đối với công ty hợp danh hữu hạn thì điều này không thỏa đáng, yếu tố vốn
góp đây cũng gần như tương đương với yếu tố "danh", nghĩa loại hình này chỉ cần
một thành viên nhận vốn một thành viên góp vốn đủ, không nhất thiết phải hai
góp vốn nào vẫn đủ điều kiện về thành viên hợp danh, nghĩa công ty vẫn được
phép tồn tại nhưng bản chất công ty không còn hợp danh hữu hạn nữa. Tất nhiên
công ty hợp danh, chung quy chế pháp lý, cho chuyển đổi bản chất hợp danh
tuyệt đối hay hữu hạn thì cũng vẫn quy chế pháp ấy, nhưng xét về thực tế, việc gộp
chung như vậy tạo nên sự kém linh hoạt cho hoạt động của công ty. Trái với lẽ thường
pháp luật phải tạo sự thông thoáng hơn, tạo ra nhiều sự lựa chọn hơn cho các nhà
đầu thì quy định tại điều 177 lại làm điều ngược lại.
1.2.2. Đặc điểm
Công ty hợp danh theo pháp luật Việt nam những đặc điểm như sau:
Mang bản chất đối nhân như các công ty hợp danh trên thế giới. Yếu tố nhân
thân của các thành viên luôn được coi trọng, được đặt lên hàng đầu trong các tiêu chí
để hợp tác kinh doanh. c thành viên hợp danh chủ sở hữu chung của công ty.
Về cách thành viên, trong công ty hợp danh thành viên chịu trách nhiệm
thành viên góp vốn. Mỗi loại thành viên quy chế pháp riêng. Như vậy công ty
hợp danh Việt Nam cả thành viên góp vốn.
Về số lượng thành viên, công ty hợp danh Việt Nam quy định số thànhviên hợp
danh tối thiểu hai, quy định này giống như hầu hết các quốc gia (Có một số ngoại lệ
như Singapore, Malaysia quy định số thành viên tối đa). Đối với công ty hợp danh
hợp danh không quan tâm đến số lượng thành viên góp vốn.
Công ty hợp danh Việt Nam cũng phải hoạt động dưới tên gọi riêng, tên gọi
mang ý nghĩa đặc trưng của loại hình công ty đối nhân. Tên gọi của công ty ngoài việc
loại hình kinh doanh thành viên sáng lập. Thông thường các công ty hay ghép tên
của các thành viên, hoặc tên của thành viên uy tín nhất, nổi tiếng nhất hoặc vai vế
nhất.
Đặc điểm cuối cùng công ty hợp danh Việt Nam cách pháp nhân, chủ
thể độc lập trước pháp luật, tuy nhiên không sự tách bạch giữa tài sản của công ty
với tài sản của thành viên hợp danh, nên không độc lập trong việc chịu trách nhiệm về
8
các khoản nợ của công ty. Công ty hợp danh không quyền phát hành bất kỳ loại
chứng khoán nào.
9
Chương 2
PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ CÔNG TY HỢP DANH
2.1. NHỮNG VẤN ĐỀ PHÁP CHỦ YẾU CỦA CÔNG TY HỢP DANH
2.1.1. Thành lập công ty hợp danh
Pháp luật Việt Nam quy định điều kiện thành lập công ty hợp danh cũng điều
kiện chung cho các doanh nghiệp khác. Những yếu tố liên quan đến nhân thân người
thành lập như độ tuổi, năng lực hành vi dân sự, nghề nghiệp được quy định cụ thể
thành niên; người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự hoặc bị mất năng lực hành vi dân
sự; người đang chấp hành hình phạt hoặc đang bị Tòa án cấm hành nghề kinh doanh
không được phép tham gia thành lập doanh nghiệp.
Độ tuổi theo quy định của pháp luật đầy đủ khả năng chịu trách nhiệm trước
các hợp đồng do mình kết 18 tuổi. Đây độ tuổi được xác định đầy đủ năng
lực hành vi dân sự. Đây độ tuổi hợp cho một nhân đã hoàn thiện sự phát
triển về cả thể chất trí lực, cũng phù hợp với thông lệ quốc tế. Tuy nhiên trên thực
tế, số lượng người thành lập doanh nghiệp độ tuổi này không nhiều, chủ yếu rơi vào
độ tuổi từ 22 trở lên. Pháp luật Singapore trước đây quy định công dân 21 tuổi trở lên
mới được phép thành lập doanh nghiệp, Bộ tài chính nước này đã quyết định giảm
độ tuổi này xuống 18 tuổi.
Trong điều kiện về nghề nghiệp, người thành lập phải không thuộc một trong
bảy nhóm đối tượng nêu tại khoản 2 Điều 17 luật Doanh nghiệp2020 gồm: quan
nhà nước, đơn vị lực lượng trang nhân dân Việt Nam sử dụng tài sản nhà nước để
thành lập doanh nghiệp kinh doanh thu lợi riêng cho quan, đơn vị mình; Cán bộ,
công chức theo quy định của pháp luật về cán bộ, công chức; quan, hạ quan, quân
nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng trong các quan, đơn vị thuộc Quân đội
nhân dân Việt Nam; quan, hạ quan chuyên nghiệp trong các quan, đơn vị thuộc
Công an nhândân Việt Nam; cán bộ lãnh đạo, quản nghiệp vụ trong các doanh
nghiệp100% vốn sở hữu nhà nước, trừ những người được cử làm đại diện theo
ủyquyền để quản phần vốn góp của Nhà nước tại doanh nghiệp khác; các trường
hợp khác theo quy định của pháp luật vphá sản. Quy định trên cũng phù hợp với Luật
Cán bộ công chức 2008 Luật phòng chống tham nhũng 2018.
Người thành lập công ty phải làm hồ đăng kinh doanh, chịu trách nhiệm
về tính trung thực, chính xác của nội dung hồ sơ, sau đó nộp tạicơ quan đăng kinh
doanh thẩm quyền, người đăng kinh doanh thể lựa chọn nộp trực tiếp tại
phòng đăng kinh doanh cấp tỉnh hoặc đăng kýqua mạng điện tử. Để thực hiện thủ
tục đăng doanh nghiệp qua mạng điện tử, người thành lập doanh nghiệp hoặc người
đại diện theo ủy quyền truy cập vào Cổng thông tin đăng doanh nghiệp quốc gia,
điền đầy đủ chính xác các thông tin theo yêu cầu. Thông qua Cổng thông tin đăng
doanh nghiệp quốc gia, Hệ thống thông tin đăng doanh nghiệp quốc gia tiếp
10
nhận hồ đăng điện tử Phòng Đăng kinh doanh cấp tỉnh sẽ xử hồ đăng
doanh nghiệp qua mạng điện tử trên hệ thống thông tin đăng doanh nghiệp quốc
gia. Thời gian gửi, nhận các văn bản điện tử trong hồ đăng điện tử đượcxác định
căn cứ theo thời gian ghi lại trên máy chủ của Hệ thống thông tin đăng doanh
nghiệp quốc gia.
Doanh nghiệp được cấp Giấy chứng nhận đăng kinh doanh khi đủ các
điều kiện theo quy định tại Điều 27 Luật Doanh nghiệp 2020, gồm:
1. Ngành, nghề đăng kinh doanh không thuộc lĩnh vực cấm kinh doanh;
2. Tên của doanh nghiệp được đặt theo đúng quy địnhtại các điều 37, 38, 39
41 của Luật này;
3. hồ đăng doanh nghiệp hợp lệ;
4. Nộp đủ lệ phí đăng doanh nghiệp theo quy định của pháp luật về phí lệ
phí.
Trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày nhận hồ sơ, quan đăng kinh
doanh nghiệp; trường hợp hồ chưa hợp lệ, quan đăng kinh doanh phải
thông o bằng văn bản nội dung cần sửa đổi, bổ sung cho người thành lập doanh
nghiệp. Trường hợp từ chối đăng doanh nghiệp thì phải thông báo bằng văn bản
cho người thành lập doanh nghiệp nêu do. Pháp luật Việt Nam yêu cầu một
trình tự thủ tục thành lập chặt chẽ đối với cả hailoại hình công ty hợp danh, công ty
hợp danh chỉ thành viên hợp danh công ty hợp danh cả thành viên góp vốn
nhằm tăng cường sự quản của Nhà nước đối với các doanh nghiệp.
2.1.2. Thành viên
Luật Doanh nghiệp quy định công ty hợp danh hai loại thành viên với quy
chế pháp khác nhau hoàn toàn, đó thành viên hợp danh thành viên góp vốn.
2.1.2.1. Thành viên hợp danh
Số lượng thành viên hợp danh tối thiểu trong công ty hai. Điểm b Khoản 1
Điều 177 Luật Doanh nghiệp 2020 quy định: "Thành viên hợp danh phải nhân,
chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về các nghĩa vụ của công ty".
Như vậy, điều kiện bắt buộc để trở thành thành viên hợp danh cách
thành viên hợp danh. Tuy nhiên pháp luật Việt Nam không yêu cầu cách thương gia
của thành viên hợp danh.
Các ngành nghề khác đòi hỏi thành viên hợp danh phải được đào tạo đúng theo
ngành nghề đăng kinh doanh
Trách nhiệm của thành viên hợp danh đối với các nghĩa vụ của công ty trách
nhiệm hạn liên đới. Quy định này cũng giống như pháp luật các nước trên thế
giới, cũng đặc điểm để phân biệt thành viên hợp danh với thành viên góp vốn trong
11
công ty hợp danh hay thành viên các loại hình côngty khác. Xuất phát từ do công ty
hợp danh mang bản chất đối nhân, các thành viên hợp tác với nhau trên sở uy tín
nhân, những ngành nghề kinh doanh của loại hình công ty này chủ yếu cung cấp
các dịch vụ liên quan trực tiếp tới sức khỏe, tính mạng, quyền lợi nhân thân của người
tiêu dùng họ không thể kiểm tra được chất lượng cung ứng trước khi sử dụng. Do
đó pháp luật quy định chế độ trách nhiệm hạn cho thành viên hợp danh nhằm buộc
họ phải cẩn trọng khi hành nghề.
Chế độ trách nhiệm hạn còn nguyên nhân dẫn đến những hạn chế đối với
quyền của thành viên hợp danh quy định tại Điều 180 Luật Doanh nghiệp 2020:
"1. Thành viên hợp danh không được làm chủ doanh nghiệp nhân; không
được làm thành viên hợp danh của công ty hợp danh khác trừ trường hợp được sự
nhất trí của các thành viên hợp danh còn lại.". Thành viên hợp danh đã chịu trách
doanh nghiệp nhân hay trong một công ty hợp danh khác, bởi lẽ một nhân chỉ
một khối tài sản riêng không thể sửdụng khối tài sản đó cho hai lần trách nhiệm
hạn. Tuy nhiên pháp luật vẫn tôn trọng sự thỏa thuận của các bên. Công ty hợp danh
doanh nghiệp nhân loại nh doanh nghiệp pháp luật ít can thiệp đến nội bộ
của nhất so với các loại hình doanh nghiệp khác. Do đó luật chỉ quy định những
nguyên tắc khung, còn lại để cho các thành viên tự thỏa thuận về tổ chức nội bộ cũng
như quản lý. Nếu như các thành viên hợp danh còn lại đã đồng ý tức họ đã chấp
nhận rủi ro về mình luật tôn trọng sự thỏa thuận của các bên.
"2. Thành viên hợp danh không được nhân danh nhân hoặc nhân danh
người khác kinh doanh cùng ngành, nghề kinh doanh của công ty để lợi hoặc phục
vụ lợi ích của tổ chức, nhân khác". Pháp luật dự liệu trước khả ng tranh chấp về
quyền lợi giữa các thành viên hợp danh, nhất sau khi công ty tiến hành các hoạt
động kinh doanh hiệu quả, nên quy định trong quá trình quản hay thực hiện các hoạt
động kinh doanh, các thành viên phải thể hiện sự trung thành mẫn cán với công ty,
từ chế độ trách nhiệm hạn, còn do đặc thù củacông ty hợp danh kinh doanh
trong các lĩnh vực đòi hỏi uy tín nghề nghiệp, trình độ chuyên môn cao của các thành
viên, nên bất kỳ một hoạt động kinh doanh mang ý nghĩa nhân nào của thành viên
còn lại, thậm chí gây thiệt hại cho cả công ty các thành viên.
Xuất phát từ vị trí quan trọng của thành viên hợp danh, chế độ trách nhiệm
hạn liên đới, nên tại khoản 2 Điều 184 Luật Doanh nghiệp quyđịnh "Trong điều
hành hoạt động kinh doanh của công ty, thành viên hợp danh phân công nhau đảm
nhiệm các chức danh quản kiểm soát công ty.". Mỗi thành viên hợp danh đều
các quyền của chủ công ty, đó quyền điều hành, quản lý, kiểm soát hoạt động kinh
doanh, quyền sử dụng con dấu, tài sản của công ty để tiến hành các hoạt động kinh
doanh của công ty. Được nhận thông tin nội bộ, xem sổ sách kế toán, hồ của công
ty. Khi tham gia vào thảo luận quyết định các vấn đề nội bộ của công ty, số phiếu
12
biểu quyết của mỗi thành viên hợp danh ngang nhau không phụ thuộc vào vốn góp ít
hay nhiều.
Các thành viên hợp danh nghĩa vụ tiến hành quản thực hiện công việc
cho công ty tất cả thành viên; không được sử dụng tài sản của công ty để lợi hoặc
bồi thường thiệt hại gây ra đốivới công ty trong trường hợp nhân danh công ty,
nhân danh nhân hoặc nhân danh người khác để nhận tiền hoặc tài sản khác từ hoạt
động kinh doanh các ngành, nghề đã đăng của công ty không đem nộp cho công
ty; Liên đới chịu trách nhiệm thanh toán hết số nợ còn lại của công ty nếu tài sản của
công ty không đủ để trang trải số nợ của công ty. Hoạt động do thành viên hợp danh
thực hiện ngoài phạm vi hoạt động kinh doanh các ngành, nghề kinh doanh đã đăng
của công ty đều không thuộc trách nhiệm của công ty, trừ trường hợp hoạt động đó đã
được các thành viên còn lại chấp thuận.
Trách nhiệm của thành viên hợp danh phát sinh ngay từ khi đăng trở thành
thành viên công ty, chịu trách nhiệm kể cả khi chưa được hưởng lợi nhuận kéo dài
đến khi thực hiện xong các nghĩa vụ, kể cả khi đã chấm dứt cách thành viên (chịu
viên).
Trách nhiệm liên đới được hiểu chủ nợ quyền yêu cầu bất cứ ai trong số
các thành viên hợp danh thực hiện nghĩa vụ đã cam kết kể cả nghĩa vụ đó do thành
viên hợp danh khác cam kết thực hiện. Tuy nhiên, những cam kết đó phải phát sinh từ
hoạt động kinh doanh của công ty, nhân danh công tychứ không phải xuất phát từ mục
đích nhân thành viên nào.
cách thành viên hợp danh trong công ty chấm dứt khi thành viên đó chết
hoặc bị tòa án tuyên đã chết. mất tích hay bị hạn chế năng lực hành vi dân sự. ngoài ra,
khi thành viên hợp danh rút vốn được sự đồng ý của các thành viên còn lại, hoặc bị
khai trừ khỏi công ty, cách thành viên cũng chấm dứt. cách thành viên hợp danh
không thể chuyển nhượng hay thừa kế.
2.1.2.2. Thành viên góp vốn
Luật Doanh nghiệp không quy định thành viên góp vốn phải nhân, do đó
ngoài nhân, thì các tổ chức, pháp nhân, các hội đều quyền góp vốn trở thành
Doanh nghiệp 2020 gồm: quan nhà nước, đơn vị lực lượng trang nhân dân Việt
Nam sử dụng tài sản nhà nước góp vốn vào doanh nghiệp để thu lợi riêng cho quan,
Cán bộ, công chức, Luật Viên chức, Luật Phòng, chống tham nhũng.).
Không mang bản chất đối nhân, không góp vào công ty bằng uy tín nghề nghiệp
phạm vi số vốn đã góp vào công ty, tức chịu tráchnhiệm hữu hạn, không liên đới.
Các chủ nợ không quyền kiện đòi nợ trực tiếp đối với các thành viên góp vốn, đây
13
điểm khác hoàn toàn so với thành viên hợp danh. thể nói rằng khi các thành viên
mình.
Thành viên góp vốn cũng không cần phải chứng chỉ hành nghề hay phải qua
đào tạo đúng chuyên ngành thuộc lĩnh vực linh doanh của công ty. Sở pháp luật quy
định sự góp mặt của thành viên góp vốn trong công ty hợp danh nhằm thu hút một
lượng vốn nhà rỗi từ những người vốn nhưng không khả năng trực tiếp kinh
doanh hoặc không muốn mạo hiểm trong kinh doanh. Sự kết hợp giữa những người ít
vốn nhưng nghề những người nhiều vốn nhưng không biết nghề tạo nên một
hội kinh doanh đầy hiệu quả, từ đó việc cung cấp dịch vụ tới tay người tiêu dùng cũng
hoàn hảo hơn cả về chất lượng.
Xuất phát từ tính chịu trách nhiệm hữu hạn của thành viên góp vốn, nên Luật
không trao quyền quản điều hành công ty cho họ. Điều này hoàn toàn hợp bởi lẽ
đóng góp cái "danh" của mình chịu trách nhiệm về cái "danh" đó bằng toàn bộ tài
sản nhân. Để bảo vệ phát triển hơn nữa cái "danh" ấy, cũng như bảo vệ gia sản
của mình thành viên hợp danh phải hếtsức cẩn trọng khi tiến hành các hoạt động
kinh doanh. Họ hiểu hơn bất kỳ ai cách thức tiến hành khai thác yếu tố "danh" để biến
do nữa khiến pháp luật không cho phép thành viên góp vốn tham gia quản công
ty hoặc tiến hành các hoạt động kinh doanh nhân danh công ty tránh tình trạng họ
thao túng các thành viên hợp danh, nhất đối với những người phụ thuộc hoàn toàn
về vốn.
Trong quan hệ với bên thứ ba, thành viên góp vốn cũng không quyền tiến
hành các hoạt động kinh doanh nhân danh công ty. Pháp luật chỉ thừa nhận quyền đại
diện của thành viên hợp danh. vậy pháp luật cũng không cấm thành viên góp vốn
được nhân danh nhân tiến hành các hoạt động kinh doanh trùng với lĩnh vực kinh
doanh của công ty, thậm chí cạnh tranh, nhưng thành viên hợp danh thì không được
phép.
Luật Doanh nghiệp Việt Nam chỉ quy định nghĩa vụ của thành viên góp vốn
hợp Điều lệ công ty không đề cập đến vấn đề trên thì sẽ khó để yêu cầu trách nhiệm
của thành viên góp vốn.
cách thành viên góp vốn trong công ty hợp danh phát sinh từ khi đăng
góp vốn kết thúc khi họ rút vốn góp hoặc chuyển nhượng vốn góp cho người khác.
Pháp luật không hạn chế quyền định đoạt phần vốn góp của thành viên góp vốn, họ
thể để thừa kế, tặng cho, thế chấp, cầm cố các hình thức khác theo quy định của
thừa kế thay thế thành viên đã chết trở thành thành viên góp vốn của công ty. Sự ra đi
của thành viên góp vốn sẽ ảnh hưởng đến quy của công ty, nhưng không phải
yếu tố dẫn đến giải thể công ty như sự ra đi của thành viên hợp danh.
14
Pháp luật cũng không quy định cụ thể các trường hợp chấm dứt cách thành
viên như đối với thành viên hợp danh. Như vậy việc chấm dứt cách thành viên góp
vốn hầu như do họ tự quyết định như chuyển nhượng, rútvốn, để thừa kế, không
quy định về trường hợp bị khai trừ khỏi công ty (trừ trường hợp tại khoản 3 Điều 178
luật Doanh nghiệp: thành viên góp vốn không góp đủ đúng hạn s vốn đã cam kết
thì số vốn chưa góp đủ được coi khoản nợ của thành viên đó đối với công ty; trong
trường hợp này, thành viên góp vốn liên quan thể bị khai trừ khỏi công ty theo
quyết định của Hội đồng thành viên)
Về số lượng thành viên góp vốn, không quy định nào về số lượng tối thiểu
tối đa, quyền quyết định thuộc vhội đồng thành viên công ty.
2.1.3. Vốn trong công ty hợp danh
Góp vốn việc đưa tài sản vào công ty để trở thành chủ sở hữu hoặc các chủ
sở hữu chung của công ty. Tài sản góp vốn thể tiền Việt nam, ngoại tệ tự do
chuyển đổi, vàng, giá trị quyền sử dụng đất, giá trị quyền sở hữu trí tuệ, công nghệ,
quyết kỹ thuật, các tài sản khác ghi trong Điều lệ công ty do thành viên góp vốn để tạo
thành vốn của công ty.
2.1.3.1. Vốn điều lệ huy động vốn
Vốn điều lệ số vốn do tất cả thành viên góp hoặc cam kết góp trong một thời
hạn nhất định được ghi vào Điều lệ công ty (khoản 18, điều 4 Luật doanh nghiệp).
Vốn điều lệ ý nghĩa sự cam kết mức trách nhiệm vật chất của các thành viên với
khách hàng, đối tác; vốn đầu cho hoạt động của doanh nghiệp sở để
phân chia lợi nhuận cũng như rủi ro trong kinh doanh đối với thành viên góp vốn vào
công ty.
Vốn góp thể tiền Việt Nam, ngoại tệ tự do chuyển đổi, vàng, giá trị quyền
sử dụng đất, giá trị quyền sở hữu trí tuệ, công nghệ, quyết kỹ thuật, các tài sản khác
ghi trong Điều lệ công ty do thành viên góp để tạo thành vốn của công ty. Vốn điều lệ
do các thành viên tự thỏa thuận cam kết góp vốn. Trên sở đó doanh nghiệp
khai đăng với quan đăng kinh doanh.
một loại hình công ty mang bản chất đối nhân, lại tồn tại hai loại thành viên
với quy chế pháp khác nhau, nên vốn góp trong công ty hợp danh điểm khác so
với các công ty đối vốn. Vốn góp của thành viên hợp danh ngoài các yếu tố vật chất
tồn tại dưới dạng tiền, tài sản như vốn góp của các loại hình công ty khác hay như vốn
góp của thành viên góp vốn, còn tồn tại dưới dạng phi vật chất, đó những yếu tố như
thân thành viên, chỉ thể thành viên hợp danh. Loại vốn góp này tạo nên nét
đặc trưng riêng biệt của công ty hợp danh.
Đối với các loại vốn góp bằng tài sản đăng hoặc giá trị quyền sử dụng
đất, thì người góp vốn phải làm thủ tục chuyển quyền sở hữu tài sản đó hoặc quyền sử
dụng đất cho công ty tại quan nhà nước thẩm quyền.Việc chuyển quyền sở hữu
đối với tài sản góp vốn không phải chịu lệ phí trước bạ; Đối với tài sản không đăng
15
quyền sở hữu, việc góp vốn phải được thực hiện bằng việc giao nhận tài sản góp vốn
xác nhận bằng biên bản. Biên bản giao nhận phải các nội dung chủ yếu: tên
địa chỉ trụ sở chính của công ty; tên địa chỉ người góp vốn; loại tài sản số đơn vị
tài sản góp vốn; tổng giá trị các tài sản góp vốn tỷ lệ của tổng giá trị tài sản đó trong
vốn điều lệ của công ty; ngày giao nhận; chữ của người góp vốn người đại diện
theo pháp luật của công ty.
Theo quy định của Luật Doanh nghiệp, tài sản của công ty hợp danh bao gồm:
Tài sản góp vốn của các thành viên đã được chuyển quyền sở hữu chocông ty;
Tài sản tạo lập được mang tên công ty; tài sản thu được từ hoạt động kinh
doanh do các thành viên hợp danh thực hiện nhân danh công ty từ các hoạt động
kinh doanh các ngành, nghề kinh doanh đã đăng của công ty do các thành viên hợp
danh nhân danh nhân thực hiện; các tài sản khác theo quy định của pháp luật.
Khi đã cam kết góp vốn, các thành viên phải tuân thủ quy định của pháp luật.
Điều 178 luật Doanh nghiệp 2020 quy định:
1. Thành viên hợp danh thành viên góp vốn phải góp đủ đúng hạn số vốn
như đã cam kết.
2. Thành viên hợp danh không góp đủ đúng hạn số vốn đã cam kết gây thiệt
hại cho công ty phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại cho công ty.
3. Trường hợp thành viên góp vốn không góp đủ đúng hạn svốn đã cam
kết thì số vốn chưa góp đủ được coi khoản nợ của thành viên đó đối với công ty;
trong trường hợp này, thành viên góp vốn liên quan thể bị khai trừ khỏi công ty
theo quyết định của Hội đồng thành viên.
Thành viên sẽ được cấp giấy chứng nhận phần vốn góp tại thời điểm góp đủ
vốn như đã cam kết.
Việc huy động vốn của công ty hợp danh không được pháp luật trao quyền rộng
rãi như công ty cổ phần. Khoản 3 Điều 177 Luật Doanh nghiệp 2020 quy định: "Công
hoàn toàn hợp với những loại hình công ty mang bản chất đối nhân, nếu được
phép phát hành chứng khoán chào bán ra công chúng để huy động vốn đồng nghĩa
với việc kết nạp thêm thành viên mới không cần các yếu tố nhân thân của họ. Việc
tham gia của người lạ vào công ty sẽ khiến cho sự liên kết giữa các thành viên hợp
danh bị phá vỡ, do đó bản chất đối nhân sẽ không còn tồn tại.
Không được phát hành chứng khoán huy động vốn, nhưng công ty hợp danh
thể huy động vốn bằng cách khác như tăng vốn góp của các thành viên trong công ty,
tiếp nhận thành viên mới, hoặc kêu gọi các tổ chức nhân đầu góp vốn. So với
công ty nhân thì công ty hợp danh huy động vốn dễ dàng hơn, còn so với công ty cổ
phần thì việc huy động vốn bị hạn chế hơn.
2.1.3.2. Vấn đề chuyển nhượng vốn, rút vốn
16
Việc thành lập công ty hợp danh cũng như các công ty đối nhân khác, căn cứ
trước hết vào sự tin cậy quen biết chặt chẽ giữa các thành viên, vào uy tín nhân của
họ. Lựa chọn những người cùng sáng lập công ty, cùng kinh doanh cùng chịu trách
nhiệm hạn, liên đới không phải việc đơn giản. Do đó việc một thành viên hợp
danh ra đi khỏi công ty sẽ gây xáo trộn, ảnh hưởng lớn đến hoạt động của công ty,
thậm chí thể dẫn đến sự phá sản hay giải thể công ty.
Sự chuyển nhượng vốn một phần hay toàn bộ đều dẫn đến hệ quả công ty
phải tiếp nhận thành viên mới. Nếu thành viên đã mối quan hệ thân quen từ trước
với các thành viên khác, thì sự xáo trộn trong công ty không lớn, thậm chí xu hướng
tốt lên. Nhưng nếu đó một người hoàn toàn xa lạ thì sẽ một khó khăn lớn không
chỉ cho các thành viên cho chính thành viên mới tham gia. Sẽ rất khó đạt được
sự đồng lòng, đồng thuận, cùng chung chí hướng phát triển công ty, từ đó dễ dẫn đến
chặt chẽ của pháp luật đối với việc chuyển nhượng của các viên hợp danh. Khoản 3
Điều 180 Luật Doanh nghiệp quy định: "Thành viên hợp danh không được chuyển một
phần hoặc toàn bộ phần vốn góp của mình tại công ty cho tổ chức, nhân khác nếu
không được sự chấp thuận của các thành viên hợp danh còn lại". Như vậy, một thành
viên muốn chuyển nhượng vốn góp cần phải được sự đồng ý của tất cả các thành viên
hợp danh còn lại. Nếu chuyển nhượng toàn bộ vốn góp, nghĩa người nhận chuyển
nhượng sẽ tiếp nhận luôn cách thành viên, các quyền nghĩa vụ của thành viên
chuyển nhượng tính đến thời điểm chuyển nhượng (loại trừ các nghĩa vụ phát sinh
trách nhiệm).
Việc rút vốn của thành viên hợp danh cũng phải tuân thủ theo các quy định chặt
đồng ý của Hội đồng thành viên, phải lựa chọn thời điểm hợp lý. Chỉ được rút vốn
sau khi kết thúc năm tài chính đã thông qua báo cáo tài chính của năm tài chính.
Sau khi rút khỏi công ty, phần vốn góp của thành viên hợp danh được hoàn trả theo
quy định tại điều lệ công ty, hoặc theo giá thỏa thuận giữa các thành viên. Nhằm bảo
vệ quyền lợi cho các thànhviên còn lại cũng như bảo đảm giao dịch cho bên thứ ba,
luật quy định thành viên hợp danh sau khi rút vốn vẫn phải liên đới chịu trách nhiệm
về các nghĩa vụ của công ty trước khi thực hiện việc đăng chấm dứt cách thành
viên với quan đăng kinh doanh.
Trái ngược với thành viên hợp danh, vấn đề chuyển nhượng hoặc rút vốn của
thành viên góp vốn không bị ràng buộc nhiều bởi pháp luật. Họ đượcquyền tự do
chuyển nhượng phần vốn góp của mình cho bất kỳ người nào nếu điều lệ công ty
do Hội đồng thành viên quyết định. Tuy nhiên việc thay đổi thành viên góp vốn trong
trường hợp chuyển nhượng không làm ảnh hưởng đến hoạt động của công ty.
Thành viên góp vốn quyền định đoạt phần vốn góp của mình bằng cách để
thừa kế, tặng cho, thế chấp, cầm cố các hình thức khác theo quy định của pháp luật
Điều lệ công ty, trường hợp chết hoặc bị Tòa tuyên bố đã chết thì người thừa kế
17
thay thế thành viên đã chết trở thành thành viên góp vốn của công ty. Khi chuyển
nhượng toàn bộ hoặc cho tặng vốn góp, cách thành viên của họ chấm dứt ngay,
không phải chịu bất kỳ nghĩa vụ nào của công ty. Khi chuyển nhượng phần vốn góp,
người nhận chuyển nhượng được công ty cấp giấy chứng nhận phần góp mới, công ty
thu lại giấy chứn gnhận phần vốn góp của người chuyển nhượng. Nếu người chuyển
nhượng vẫn còn phần vốn góp tại công ty thì công ty cấp Giấy chứng nhận phần vốn
góp mới phù hợp với phần vốn còn lại của thành viên đó.
2.1.4. cách pháp của công ty hợp danh
Công ty hợp danh cách pháp nhân kể từ ngày được cấp giấy chứng nhận
đăng kinh doanh (Khoản 2 Điều 177 Luật Doanh nghiệp 2020). Nvậy hiện nay,
chỉ doanh nghiệp nhân loại hình doanh nghiệp duy nhất không cách pháp
nhân. Quy định trên nhằm mục đích tạo sự bình đẳng về địa vị pháp của công ty hợp
danh so với các công ty khác khi tham gia vào môi trường cạnh tranh trong kinh doanh
(ví dụ, công ty hợp danh thể tham gia hoạt động trong lĩnh vực cho thuê tài chính).
Điều này, tạo điều kiện thuận lợi hơn cho hoạt động kinh doanh của loại hình doanh
nghiệp được coi khá mới và chưa phổ biến này Việt Nam.
2.1.5. cấu tổ chức, quản trong công ty hợp danh
Khoản 1 Điều 182 luật Doanh nghiệp quy định: "Hội đồng thành viên bao gồm
tất cả thành viên. Hội đồng thành viên bầu một thành viên hợp danh làm Chủ tịch Hội
đồng thành viên, đồng thời kiêm Giám đốc hoặc Tổng giám đốc công ty nếu Điều lệ
công ty không quy định khác". Như vậy, Hội đồng thành viên quan cao nhất
trong việc quản điều hành hoạt động của công ty hợp danh. Hội đồng thành viên
gồm tất cả các thành viên tham gia. Thành viên góp vốn được tham gia họp, thảo luận
biểu quyết tại Hội đồng thành viên về việc sửa đổi, bổ sung Điều lệ công ty, sửa
đổi, bổ sung các quyền nghĩa vụ của thành viên góp vốn, về tổ chức lại giải thể
công ty các nội dung khác của Điều lệ công ty liên quan trực tiếp đến quyền
nghĩa vụ của họ. Như vậy chỉ các thành viên hợp danh mới quyền tham gia thảo
luận những vấn đề quan trọng của công ty, quyền tham gia quản điều hành công
ty. Thành viên góp vốn mặt quan quản cao nhất công ty nhưng không
quyền quản lý.
Quyền biểu quyết của thành viên góp vốn cũng được ghi nhận tại Luật Doanh
nghiệp trong phạm vi những vấn đề liên quan trực tiếp đến quyền nghĩa vụ của họ,
hoặc việc sửa đổi bổ sung Điều lệ công ty. Tuy nhiên theo quy định tại khoản 3, 4
Điều 182, những vấn đề quan trọng khi lấy biểu quyết phải được ít nhất ba phần
ít nhất hai phần ba tổng số thành viên hợp danh. Như vậy, cho một vấn đề được tất
cả các thành viên góp vốn biểu quyết hay không được bất cứ thành viên góp vốn nào
thông qua.
18
Tuy thành phần trong Hội đồng thành viên bao gồm cả thành viên góp vốn,
hợp danh.
Điều 183. Triệu tập họp Hội đồng thành viên
1. Chủ tịch Hội đồng thành viên thể triệu tập họp Hộiđồng thành viên
tịch Hội đồng thành viên khôngtriệu tập họp theo yêu cầu của thành viên hợp danh thì
thành viênđó triệu tập họp Hội đồng thành viên.
Như vậy, nếu các thành viên góp vốn gặp những vấn đề liên quan đến quyền
hoặc phụ thuộc vào thành viên hợp danh để yêu cầu triệu tập cuộc họp bằng cách yêu
cầu chủ tịch Hội đồng thành viên hoặc thông qua một thành viên hợp danh nào đó đề
nghị triệu tập cuộc họp.
Hội đồng thành viên bầu một thành viên hợp danh làm chủ tịch Hội đồng thành
viên, đồng thời kiêm giám đốc, tổng giám đốc nếu điều lệ không quy định khác.Chủ
tịch hội đồng thành viên nhiệm vụ quản lý, điều hành công việc kinh doanh hàng
ngày của công ty với cách thành viên hợp danh. Thành viên này sẽ đại diện cho
công ty trong các mối quan hệ với quan nhà nước, hay đại diện nguyên đơn,bị
đơn trong các tranh chấp. Pháp luật hoàn toàn tôn trọng điều lệ của công ty, nên không
đưa ra các chế tài riêng đối với người quản công ty khi họ vi phạm quyền nghĩa
vụ, như lạm dụng quyền đại diện hay vượt quá quyền đại diện. Trong công ty hợp
danh,việc thuê tổng giám đốc, giám đốc điều hành không được pháp luật đề cập đến.
Thành viên đại diện cho công ty không quyền lực khác so với các thành viên hợp
danh khác, tất các các vấn đề liên quan đến hoạt động kinh doanh của công ty đều phải
đưa ra lấy ý kiến của Hội đồng thành viên.
Giám đốc nhiệm vụ phân công công việc kinh doanh giữa các thành viên
công ty. Khi một shoặc tất cả các thành viên hợp danh cùng thực hiện công việc kinh
doanh thì quyết định được thông qua theo nguyên tắc đa số.
Trong hoạt động kinh doanh của công ty, tất cả các thành viên hợp danh đều
quyền đại diện theo pháp luật tổ chức thực hiện hoạt động kinh doanh hàng ngày
của công ty.
Thành viên hợp danh phân công đảm nhiệm các chức danh quản lý, kiểm soát
hoạt động công ty.
Mỗi thành viên hợp danh đều quyền kiểm tra, giám sát, yêu cầu cung cấp
thông tin từ công ty thành viên hợp danh khác về tình hình kinh doanh, tài sản, sổ
sách kế toán các thông tin khác khi cần thiết.
2.1.6. Giải thể, phá sản công ty hợp danh
Công ty hợp danh ra đời do sự thỏa thuận của các thành viên, do đó việc kết
thúc thời hạn hoạt động của công ty ghi trong điều lệ công ty một trong các trường
19
hợp dẫn đến sự kiện pháp giải thể công ty. Theo quy định tại Điều 207 Luật
Doanh nghiệp, công ty hợp danh cũng thể giải thể không cần đợi đến khi hết
hạn trong điều lệ công ty, chỉ cần quyết định của tất cả các thành viên hợp danh.
Trường hợp này giải thể khi công ty đang hoạt động, một do nào đó như hiệu
quả kinh doanh không cao, các thành viên bất hợp tác với nhau hoặc bất kỳ do
nếu thấy sự tồn tại của công ty không cần thiết nữa. Điều này cho thấy vai trò quan
trọng của thành viên hợp danh trong việc quyết định sự tồn tại của công ty.Và cũng dễ
dàng nhận thấy sự "thiệt thòi" của các thành viên góp vốn trong trường hợp công ty
đang kinh doanh hiệu quả nhưng giải thể do các thành viên hợp danh mâu thuẫn với
nhau. ràng, pháp luật quy định quyền biểu quyết cho các thành viên góp vốn về
nghĩa nếu quyết định giải thể được tất cả các thành viên hợp danh hoặc được ít nhất
ba phần tổng số thành viên hợp danh chấp thuận. Pháp luật không quy định về
việc thời điểm giải thể của công ty, trong trường hợp sự giải thể này mang lại bất lợi
cho các thành viên hoặc nhằm mục đích lợi nhân, dụ một số thành viên muốn
giải thể nhằm thực hiện riêng c dự án công ty đang dự định.
Một trong những điều kiện thành lập công ty hợp danh phải ít nhất hai
thành viên hợp danh trở lên. Do đó, nếu trong quá trình hoạt động công ty không đủ số
thành viên theo quy định cũng sẽ phải giải thể. Điều nàyhoàn toàn hợp bởi hợp danh
trong hợp đồng không còn thì hợp đồng đó đương nhiên không thể tiếp tục thực hiện.
Tuy nhiên, doanh nghiệp vẫn thể tiếp tục hoạt động trong sáu tháng liên tục sau đó
kể từ thời điểm không đủ số thành viên nhằm điều chỉnh lại cấu thành viên. Quy
địnhnày tạo điều kiện cho doanh nghiệp thời gian để tiếp nhận thêm thành viên
tránh phải giải thể.
Cũng như các doanh nghiệp khác, công ty hợp danh bị giải thể khi bị quan
nhà nước thẩm quyền thu hồi giấy phép kinh doanh. Đây trường hợp giải thể bắt
buộc. Giấy phép kinh doanh của công ty hợp danh sẽ bị thu hồi khi: Nội dung khai
trong hồ đăng kinh doanh giả mạo; doanh nghiệp do những người bị cấm
thành lập doanh nghiệp; không đăng số thuế trong thời hạn một năm kể từ ngày
được cấp Giấy chứng nhận đăng kinh doanh; không hoạt động tại trụ sở đăng
trong thời hạn sáu tháng liên tục, kể từ ngày được cấp Giấy chứng nhận đăng kinh
doanh hoặc chứng nhận thay đổi trụ sở chính; không báo cáo về hoạt động kinh doanh
của doanh nghiệp với quan đăng kinh doanh trong mười hai tháng liên tục;
kinh doanh; doanh nghiệp không gửi báo cáo về tình hình kinh doanh của doanh
nghiệp khi xét thấy cần thiết cho việc thực hiện các quy định của Luật Doanh nghiệp
cầu bằng văn bản; kinh doanh ngành, nghề bị cấm.
Trình tự thủ tục giải thể công ty hợp danh được thực hiện theo trình tự giải thể
chung theo quy định tại Điều 208 Luật Doanh nghiệp cho tất cả các doanh nghiệp.
Bước một việc thông qua quyết định giải thể. Quyết định giải thể công ty phải
những nội dung chính như Tên, địa chỉ trụ sở chính của doanh nghiệp; do giải thể;
20

Preview text:

MỞ ĐẦU
Những năm qua, nền kinh tế thị trường Việt Nam đã bắt nhịp được với kinh tế
khu vực và thế giới. Tốc độ tăng trưởng kinh tế đã có những bước tiến tích cực kể từ
năm 2000 đến nay. Đặc biệt năm 2009 được đánh giá là năm thứ ba đánh dấu sự hội
nhập khá toàn diện với kinh tế thế giới.
Một trong những đặc trưng của nền kinh tế thị trường nước ta là có nhiều thành
phần kinh tế cùng tồn tại song song, cụ thể Hiến pháp 2013 quy định “Nền kinh tế Việt
Nam là nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa với nhiều hình thức sở
hữu, nhiều thành phần kinh tế; kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo”
.Mặc dù Đảng và
Nhà nước chủ trương ưu tiên phát triển các thành phần kinh tế nhà nước, song tốc độ
tăng trưởng của thành phần này lại thấp hơn so với kinh tế tư nhân và kinh tế có vốn
đầu tư nước ngoài. Báo cáo “2 năm thực hiện nghị quyết trung ương 5, khóa XII về
phát triển kinh tế tư nhân trở thành một động lực quan trọng của nền kinh tế thị trường
định hướng xã hội chủ nghĩa” đã cho thấy sự chênh lệch lớn giữa khu vực kinh tế tư
nhân và kinh tế nhà nước.Cụ thể, về đóng góp GDP, báo cáo cho hay trong 3 năm
2016-2018, khu vực kinh tế tư nhân luôn chiếm hơn 40% GDP. Đến năm 2018, ước
tính kinh tế tư nhân đóng góp 42,1% GDP và con số này có dấu hiệu tăng lên.
Sự đóng góp của khu vực kinh tế tư nhân, một khu vực kinh tế được đánh giá là
trẻ trung và năng động đã khiến cho các nhà hoạch định chính sách nói chung và chính
sách pháp luật nói riêng phải gấp rút hoàn thiện chính sách của mình.
Với tư cách là loại hình doanh nghiệp có lịch sử hình thành và phát triển lâu đời
trên thế giới, mô hình công ty hợp danh được các nhà lập pháp quy định trong các
phiên bản Luật Doanh nghiệp năm 1999, 2005, 2014, 2020. Tuy nhiên, thực tiễn cho
thấy, kể từ khi được quy định trong Luật Doanh nghiệp qua các thời kỳ thì mô hình
này không được các nhà đầu tư lựa chọn để khởi sự kinh doanh. Theo số liệu của Cục
quản lý đăng ký kinh doanh, Bộ Kế hoạch đầu tư (2017) thì số lượng các nhà đầu tư
thực hiện đăng ký thành lập công ty hợp danh mới chiếm tỉ lệ rất thấp (0.03%) trên
tổng các loại hình doanh nghiệp theo quy định của Luật Doanh nghiệp năm 2014 .Có
rất nhiều nguyên nhân khách quan và chủ quan, và một trong những nguyên nhân chủ
yếu dẫn đến hiện tượng trên là môi trường pháp lý chưa thuận lợi, cụ thể là những quy
định của pháp luật về công ty hợp danh chưa tạo được tiền đề, động lực để các nhà đầu
tư thấy sự hấp dẫn khi lựa chọn mô hình này. Thậm chí có những quy định còn cản trở
sự phát triển của chúng. 1
Xuất phát từ những lý do trên, tôi đã chọn chủ đề "Hoàn thiện pháp luật về công
ty hợp danh ở Việt Nam" với mong muốn làm sáng tỏ những đặc điểm, bản chất pháp
lý của loại hình công ty này, từ đó đưa ra những kiến nghị nhằm góp phần xây dựng và
hoàn thiện pháp luật doanh nghiệp nói chung và công ty hợp danh nói riêng. 2 Chương 1
KHÁI QUÁT CHUNG VỀ CÔNG TY HỢP DANH
1.1. SỰ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CÔNG TY HỢP DANH TRÊN
THẾ GIỚI VÀ VIỆT NAM
1.1.1. Lịch sử hình thành công ty hợp danh trên thế giới
Bất kỳ một hiện tượng kinh tế nào cũng đều có quá trình hình thành và phát
triển. Thời gian tồn tại có thể ngắn hoặc dài tùy thuộc điều kiện lịch sử kinh tế - xã
hội. Công ty là một sản phẩm tất yếu của nền kinh tế, là một hiện tượng kinh tế đặc
biệt ra đời từ rất lâu và đem lại rất nhiều lợi ích quan trọng cho loài người.
Một trong những loại hình công ty có mặt sớm nhất trong lịch sử đó là công ty
hợp danh. Người ta đã tìm thấy những quy định về sự hợp danh theo nghĩa rộng trong
các bộ luật thời cổ đại như Bộ luật Hammurabi của Babylon vào khoảng năm 2300
trước Công nguyên. Thuật ngữ shutolin chỉ một dạng hợp danh phi thương mại (not a
commercial) xuất hiện từ năm 2000 trước Công nguyên, sau đó hình thành hợp danh
thương mại từ những đoàn hội buôn Do Thái. Trong Bộ luật Justinian của đế chế La
Mã thế kỷ VI, những quy định về hợp danh rất gần gũi luật hiện đại như nguyên tắc
delectus personas - sự lựa chọn của cá nhân, một nguyên tắc xác định sự lựa chọn tự
nguyện của các thương nhân khi cộng tác với nhau, hay nguyên tắc người thực hiện
hành vi thông qua hành vi của người khác cho bản thân người đó (qui facit per alium facit per se).
Ở châu Âu, Châu Á, tập quán kinh doanh của các thương nhân, sự liênkết
những phường, hội người buôn là tiền đề ban đầu hình thành nên những hình thức hợp danh sau này.
Từ việc kinh doanh độc lập, nhỏ lẻ, các thương nhân nhận thấy rằng để thích
ứng được với sự đòi hỏi của nền sản xuất ngày càng lớn mạnh, đểvươn tới chinh phục
những thị trường rộng lớn và sôi động thì cách hay nhất làm ở rộng quy mô kinh
doanh. Muốn làm được điều này cần phải có sự liên kếtvới nhiều người, vừa đáp ứng
được nhu cầu phát triển vừa chia sẻ được rủi ro. Những nhà đầu tư riêng lẻ bắt đầu tìm
cách liên kết kinh doanh để nhanh chóng tập hợp một số vốn lớn để phục vụ cho nhu
cầu phát triển sản xuất - kinh doanh, có thể giảm chi phí sản xuất thu lợi nhuận cao
hơn, khả năng cạnh tranh tốt hơn, và phân tán được rủi ro. Công ty là mô hình kinh
doanh nhiều chủ bắt đầu được hình thành. 3
Ban đầu, công ty chỉ là những liên kết giản đơn của các thương nhân quen biết
nhau. Sự quen biết dựa trên yếu tố nhân thân tạo nên sự tin cậy về mặt tâm lý. Do đó,
loại hình công ty đầu tiên ra đời trên thế giới là công ty đối nhân, tức là công ty gồm
các thành viên quen biết tin cẩn nhau liên kết lại,yếu tố con người quan trọng hơn yếu tố vốn.
Tuy vậy, hạn chế của công ty đối nhân là không thể tạo ra mô hìnhkinh doanh
với quymô lớn, vì như vậy sẽ phá vỡ yếu tố nhân thân của thànhviên. Chính vì vậy mà
một loại hình công ty khác đã ra đời và đáp ứng đượcyêu cầu trên, đó là công ty đối
vốn. Đây là loại hình công ty trong đó các thành viên chỉ quan tâm đến phần vốn góp
của mỗi người mà ít quan tâm đến nhân thân của nhau. Đặc điểm quan trọng của công
ty đối vốn là sự tách bạch giữa tài sản công ty với tài sản cá nhân. Thông thường công
ty đối vốn đượcchia thành hai loại: Công ty trách nhiệm hữu hạn và công ty cổ phần.
Đặc điểm cơ bản của công ty đối nhân là không có sự tách bạch tài sản công ty
với tài sản cá nhân. Các dạng của công ty đối nhân gồm công ty hợp danh, công ty hợp
vốn đơn giản và công ty hợp vốn theo cổ phần.
Như vậy công ty hợp danh là loại hình đặc trưng của công ty đối nhân. Các nhà
nghiên cứu cho rằng đây là loại hình công ty ra đời sớm nhất trên thế giới.
Yếu tố nhân thân của thành viên hợp danh được coi trọng hàng đầu khi thành
lập công ty, trong đó người ta thường chú tâm tới tổng tài sản dân sự hơn là số vốn góp
vào công ty. Đối với bên thứ ba, việc định danh các thành viên là rất quan trọng khi
thực hiện các giao dịch với công ty. Điều đó lý giải tại sao người ta gọi là công ty hợp danh
1.1.2. Lịch sử hình thành công ty hợp danh ở Việt Nam
Lịch sử phát triển kinh tế nước ta mang đặc trưng là kinh tế nông nghiệp chiếm
giữ vị trí chủ đạo, hoạt động thương mại vốn không phải là thế mạnh. Thương mại
Việt Nam chủ yếu diễn ra ở các chợ, tổ chức sơ sài, quan hệ kinh doanh mang tính
chất gia đình. Bởi vậy, các loại hình công ty ra đời muộn so với các nước trên thế giới,
trong đó có công ty hợp danh. Mãi đến tận thế kỷ XIX, theo chân thực dân Pháp,
người dân Việt Nam được làm quenvới các mô hình công ty. Cùng với luật dân sự và
thương mại, người Pháp đã mang luật công ty của họ vào Việt Nam như một sự cấy
ghép pháp luật cưỡng bức trong điều kiện bóc lột và phân biệt đối xử hà khắc của kẻ
xâm lược với người bị thống trị. Vì thế, "chỉ một bộ phận rất nhỏ các nhà kinh doanh
ở các đô thị lớn, mà chủ yếu là người nước ngoài, mới được biết đến luật công tythời
Pháp thuộc
". Các tòa án ở Nam Kỳ sử dụng Bộ luật Thương mại(1987), Luật Công ty
trách nhiệm hữu hạn (1925) làm nguồn khi giải quyết các vụ án kinh tế.
Các bộ Dân luật: Dân luật Bắc Kỳ (1931), Dân luật Trung Kỳ (1936) đã dịch
các mô hình công ty dưới tên gọi "hội buôn", "hội người", "hội vốn","hội đồng lợi"…
nhằm phân biệt chúng với các hội khác không kinh doanh. Theo "Dân luật thi hành tại
các tòa Nam án Bắc Kỳ" năm 1931, công ty hợp danh dưới tên gọi "Hội người" được
chia làm hai loại Hội hợp danh và Hội hợp tư. "Hội người" tức là hình thức công ty 4
chú trọng yếu tố con người, khácvới "hội vốn" quan tâm đến vốn góp nhiều hơn. Hội
người được chia thành hai loại là hội hợp danh và hội hợp tư. Hội hợp danh là hội gồm
những hội viên chịu trách nhiệm vô hạn và liên đới đối với mọi nghĩa vụ của hội. Hội
hợp tư là hội do một hay nhiều hội viên chịu trách nhiệm vô hạn và liên đới kết hợp
với một hoặc nhiều hội viên chịu trách nhiệm hữu hạn trong phạm vi số vốn đóng góp
vào hội. Theo luật này, "hội viên chịu trách nhiệm vô hạn gọi là hội viên thụ tư, hội
viên chịu trách nhiệm hữu hạn gọi là hội viên xuất tư
".
Tuy nhiên, "với chính sách bóc lột nặng nề của thực dân Pháp cộngvới việc độc
quyền kinh doanh khiến cho người dân Việt Nam không được hưởng lợi từ những sản
phẩm pháp luật du nhập từ phương tây này. Một số công ty do người Việt làm chủ
xuất hiện khá hiếm hoi
". Dưới thời chính quyền vua Bảo Đại, Bộ luật thương mại
Trung phần năm 1944 được ban hành và áp dụng tại miền Trung, tuy có sửa đổi bổ
sung nhưng về cơ bản những quy định về công ty hợp danh vẫn giống so với quy định
trong luật Thương mại Pháp áp dụng tại Việt Nam. Điều 42, Bộ luật Thương mại
Trung phần quy định cụ thể hơn về hội hợp danh, "là một hội hoạt động dưới một hội
danh, trong đó tất cả các hội viên đều phải chịu trách nhiệm liên đới, vô giới hạn trên
sản nghiệp của mình về công nợ của hội
”. Còn hội cấp vốn là hội:
Có hai thứ hội viên, hội viên xuất vốn và hội viên nhận vốn. Hội viên nhận vốn
gồm có những hội viên đứng liên đới giữ trách nhiệm vô hạn đối với người ngoài cũng
như hội viên trong hội hợp danh. Hội viên xuất vốn gồm có những người tuy nhập hội
hợp người nhưng chỉ mất phần vốn góp là cùng
.
Hơn nữa, Luật còn quy định rõ hội viên nhận vốn sẽ đảm nhận vị trí quản trị
công ty. Tên của hội sẽ bao gồm tên những hội viên nhận vốn, bên xuất vốn không có
quyền tham gia quản trị cũng như đứng tên hội.
Như vậy, pháp luật dưới thời kỳ Pháp thuộc hay trong chính quyền Bảo Đại,
công ty hợp danh chưa được gọi tên chính thức là công ty hợp danh, nhưng về bàn chất
đã mang những đặc điểm pháp lý của nó.
Trước năm 1975, ở miền Nam Việt Nam áp dụng Bộ luật thương mại Sài Gòn,
công ty hợp danh được gọi đúng như tên gọi hiện nay, và những quy định tương tự quy
định trong luật thương mại Pháp. Công ty hợp danh là một hội đoàn thương sự (nhằm
phân biệt với hội đoàn dân sự) được thành lập giữa hai người, hay một số người nhiều
hơn để làm thương mại dưới một hội danh, "các thành viên trong công ty phải có tư
cách thương nhân, các thành viên chịu trách nhiệm vô hạn và liên đới đối với các
khoản nợ của công ty
". Miền Bắc Việt Nam được giải phóng sau năm 1954, chủ
trương của Nhà nước là thực hiện nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung, lấy kinh tế quốc
doanh làm chủ đạo nên các thành phần kinh tế ngoài quốc doanh không được thừa
nhận. Bắt đầu từ Hiến pháp 1959, mô hình kinh tế Xô-viết được từng bước áp dụng
ởViệt Nam. Ngoài các công ty của tư sản mại bản, tay sai và phản động được quốc
hữu hóa, thì các công ty và cơ sở kinh doanh tư nhân của người Việt Nam (chủ yếu
hình thành sau năm 1954 khi thực dân Pháp rút về nước) được chuyển sang hình thức
công ty công- tư hợp doanh. Nhưng do nhiều nguyên nhân, "các cơ sở kinh doanh trên
dần biến mất vào năm 1960 theo thống kêcủa Việt Nam"
. Một nền kinh tế khép kín với 5
việc không công nhận sở hữu tư nhân, bên cạnh đó quan hệ sản xuất chưa phù hợp với
tính chất và trình độ phát triển của lực lượng sản xuất, nên cơ cấu ngành nghề không
đa dạng, kém phát triển cả về chất và lượng. Thuật ngữ "công ty" vẫn được dùng để
chỉ một số nhà máy, xí nghiệp quốc doanh. Các loại hình công ty theo đúng nghĩa
thương mại đã bị lãng quên trong các văn bản pháp luật và không xuất hiện trong giai
đoạn từ sau năm 1960 đến trước năm 1990.
Sau Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ sáu tổ chức vào tháng 12 năm 1986, nghị
quyết của Đảng đã định hướng lại chủ trương phát triển kinh tế đất nước, đó là chuyển
nền kinh tế từ tập trung bao cấp sang nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội
chủ nghĩa, mở rộng các thành phần kinh tế, ghi nhận hình thức sở hữu tư nhân. Sau
thời điểm này, khu vực kinh tế tư nhân mới có điều kiện để khôi phục lại và phát triển.
Ban đầu, pháp luật mới chỉ cónhững quy định chung chung về hình thức hộ kinh
doanh cá thể, hộ tiểu công nghiệp và xí nghiệp liên doanh, chưa có quy định về công
ty nói chung và công ty hợp danh nói riêng.
Sự ra đời của Luật Công ty và Luật Doanh nghiệp tư nhân năm 1990 đánh dấu
sự ghi nhận chính thức của pháp luật về công ty. Tuy nhiên, Luật công ty năm 1990 có
nhiều hạn chế do được ban hành trong những năm đầu của công cuộc đổi mới. Các
quy định về công ty chưa cụ thể, và chưa có công ty hợp danh trong các văn bản pháp
luật trên. Tại nghị định 66/HĐBT ngày 2/3/1992 quy định về cá nhân và nhóm kinh
doanh có vốn pháp định thấp hơn vốn pháp định quy định trong nghị định 221/HĐBT
ngày 23/7/1991, có những đặc điểm pháp lý mà theo quan điểm của nhiều người đó là
đặc điểm của công ty hợp danh, hay nói cách khác đó là công ty hợp danh tồn tại
dướidạng các nhóm kinh doanh. Ví dụ như "quy định nhóm kinh doanh bao gồm sự
liên kết của hai thành viên trở lên cùng tiến hành các hoạt động kinh doanh, cũng chịu
trách nhiệm vô hạn về các khoản nợ của nhóm"
.
Luật Doanh nghiệp 1999 trên cơ sở tiếp thu có chọn lọc kinh nghiệm trên thế
giới, đồng thời khắc phục những hạn chế của các văn bản luật trước đó, đã có sự phát
triển vượt bậc về chất lượng. Một trong những điểm mớinhất của văn bản này là ghi
nhận sự tồn tại của hai loại hình công ty mới, công ty hợp danh và công ty trách nhiệm
hữu hạn một thành viên. Kể từ thời điểm này nhà đầu tư được thêm sự lựa chọn loại
hình công ty thích hợp để tiến hành hoạt động kinh doanh. Công ty hợp danh mặc dù
trước đây đã từng tồn tại, nhưng Luật Doanh nghiệp 1999 mới là văn bản luật chính
thức của nhà nước Việt Nam ghi nhận nó với đúng tên gọi của nó.
Vì là loại hình công ty chưa phổ biến ở Việt Nam (ngược lại rất phổ biến trên
thế giới) nên ban đầu các quy định của luật dành cho công ty hợp danh còn chung
chung và chưa đầy đủ. Trong Luật Doanh nghiệp 1999 chỉ có 4 điều luật quy định về
công ty hợp danh (từ Điều 95 đến Điều 98), những quy định này chưa đáp ứng được sự
phát triển cũng như quy chế quản lý của pháp luật đối với công ty.
Luật Doanh nghiệp 2005 thay thế Luật Doanh nghiệp 1999, tiếp theo đó là Luật
Doanh nghiệp 2014, Luật Doanh nghiệp 2020, những tư tưởng về tự do kinh doanh
của phương Tây đã được tiếp nhận mạnh mẽ. Nó được thể hiện qua các quy định thông
thoáng về quyền và thủ tục thành lập, góp vốn vào doanh nghiệp; ngành, nghề kinh 6
doanh; quản trị công ty; quyền tự định đoạt, quyền của công ty và thành viên. đã hoàn
thiện hơn. Song song với điều đó là sự hoàn thiện các quy định về công ty hợp danh,
tạo cho nó một chỗ đứng vững vàng hơn trong môi trường pháp lý, và có nhiều điều
kiện thuận lợi hơn cho việc phát triển loại hình công ty vốn kén chọn ngành nghề đầu
tư và cả người đầu tư này.
1.2. KHÁI NIỆM, ĐẶC ĐIỂM 1.2.1. Khái niệm
Công ty hợp danh theo Khoản 1 Điều 177 Luật Doanh nghiệp 2020 là doanh nghiệp trong đó:
Phải có ít nhất hai thành viên là chủ sở hữu chung của công ty, cùng nhau kinh
doanh dưới một tên chung (sau đây gọi là thành viên hợp danh), ngoài các thành viên
hợp danh có thể có thành viên góp vốn;
Thành viên hợp danh phải là cá nhân, chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của
mình về các nghĩa vụ của công ty;
Thành viên góp vốn là tổ chức, cá nhân và chỉ chịu trách nhiệm về các khoản
nợ của công ty trong phạm vi số vốn đã góp vào công ty.
Khái niệm trên chỉ rõ cho chúng ta thấy hai loại công ty hợp danh đó là công ty
hợp danh chỉ có các thành viên hợp danh và công ty hợp danh có cả các thành viên
hợp danh và thành viên góp vốn. Cách phân loại này tương tự như luật Mỹ hoặc Thái
lan, nhưng chúng ta không gọi tên là hợp danh phổ thông hay hợp danh hữu hạn, mà
gọi chung là công ty hợp danh. Việc quy định chung về quy chế pháp lý cho hai loại
công ty hợp danh của Việt Nam không giống như luật các nước khác. Hầu hết các
nước trên thế giới đều phân biệt hai loại hình công ty hợp danh và có quy chế pháp lý
điều chỉnh riêng biệt.Có nước chỉ thừa nhận một hình thức công ty hợp danh mang bản
chất hợp danh tuyệt đối, còn hợp danh tương đối (tức là có cả thành viên góp vốn)
được gọi là công ty hợp vốn đơn giản. Ví dụ, công ty hợp vốn đơn giản ở Pháp là loại
hình công ty bao gồm thành viên hợp danh (có thể chỉ có 1 thành viên hợp danh duy
nhất trong công ty), có địa vị pháp lý tương tự như thành viên hợp danh của công ty
hợp danh. Họ phải có tư cách thương nhân, có quyền rất lớn trong việc quản lý công ty
và phải chịu trách nhiệm vô hạn và liên đới đối với mọi khoản nợ của công ty. Ngược
lại, "thành viên góp vốn có một vị trí thứ hai trong công ty bởi lẽ họ gánh chịu ít rủi ro
hơn. Họ không phải có tư cách thương nhân và trách nhiệm của họ chỉ giới hạn trong
phạm vi vốn góp của mình".
Công ty hợp danh hữu hạn tại Mỹ cũng chỉ yêu cầu một thành viên hợp danh,
còn yêu cầu bắt buộc hai thành viên hợp danh chỉ có ở công ty hợp danh phổ thông.
Luật pháp Mỹ can thiệp chặt chẽ hơn với hợp danh hữu hạn và cởi mở với hợp danh phổ thông.
Như vậy, việc quy định gộp hai loại công ty hợp danh vào một khái niệm chung
như Điều 177 luật Doanh nghiệp đã dẫn đến sự bất cập, trước hết là việc quy định số
lượng thành viên bắt buộc để công ty hoạt động và tồn tại. Đối với loại hình công ty 7
hợp danh tuyệt đối thì việc giải thể khi không đảm bảo điều kiện hai thành viên hợp
danh hoàn toàn hợp lý vì đây là "sự liên kết giữa các thương nhân đơn lẻ để kinh
doanh dưới một tên hãng chung", nếu không đủ hai thành viên thì sự liên kết này
đương nhiên không tồn tại nữa, các thương nhân trở về tình trạng đơn lẻ như ban đầu.
Nhưng đối với công ty hợp danh hữu hạn thì điều này không thỏa đáng, vì yếu tố vốn
góp ở đây cũng gần như tương đương với yếu tố "danh", nghĩa là loại hình này chỉ cần
một thành viên nhận vốn và một thành viên góp vốn là đủ, không nhất thiết phải có hai
thành viên nhận vốn. Một vấn đề nữa đặt ra với loại hình hợp danh hữu hạn, đó là luật
không quy định số lượng thành viên góp vốn tối thiểu, do đó khi không còn thành viên
góp vốn nào mà vẫn đủ điều kiện về thành viên hợp danh, nghĩa là công ty vẫn được
phép tồn tại nhưng bản chất công ty không còn là hợp danh hữu hạn nữa. Tất nhiên
điều này theo pháp luật Việt Nam thì không có ảnh hưởng gì cả bởi vì tất cả đều là
công ty hợp danh, có chung quy chế pháp lý, cho dù chuyển đổi bản chất hợp danh
tuyệt đối hay hữu hạn thì cũng vẫn quy chế pháp lý ấy, nhưng xét về thực tế, việc gộp
chung như vậy tạo nên sự kém linh hoạt cho hoạt động của công ty. Trái với lẽ thường
là pháp luật phải tạo sự thông thoáng hơn, tạo ra nhiều sự lựa chọn hơn cho các nhà
đầu tư thì quy định tại điều 177 lại làm điều ngược lại. 1.2.2. Đặc điểm
Công ty hợp danh theo pháp luật Việt nam có những đặc điểm như sau:
Mang bản chất đối nhân như các công ty hợp danh trên thế giới. Yếu tố nhân
thân của các thành viên luôn được coi trọng, được đặt lên hàng đầu trong các tiêu chí
để hợp tác kinh doanh. Các thành viên hợp danh là chủ sở hữu chung của công ty.
Về tư cách thành viên, trong công ty hợp danh có thành viên chịu trách nhiệm
vô hạn được gọi là thành viên hợp danh, thành viên chịu trách nhiệm hữu hạn được gọi
là thành viên góp vốn. Mỗi loại thành viên có quy chế pháp lý riêng. Như vậy công ty
hợp danh Việt Nam có cả thành viên góp vốn.
Về số lượng thành viên, công ty hợp danh Việt Nam quy định số thànhviên hợp
danh tối thiểu là hai, quy định này giống như hầu hết các quốc gia (Có một số ngoại lệ
như Singapore, Malaysia quy định số thành viên tối đa). Đối với công ty hợp danh có
cả thành viên góp vốn, pháp luật cũng chỉ quy định số lượng tối thiểu của thành viên
hợp danh và không quan tâm đến số lượng thành viên góp vốn.
Công ty hợp danh Việt Nam cũng phải hoạt động dưới tên gọi riêng, tên gọi
mang ý nghĩa đặc trưng của loại hình công ty đối nhân. Tên gọi của công ty ngoài việc
không trùng với tên các doanh nghiệp khác, còn có vai trò chỉ dẫn cho đối tác biết về
loại hình kinh doanh và thành viên sáng lập. Thông thường các công ty hay ghép tên
của các thành viên, hoặc tên của thành viên uy tín nhất, nổi tiếng nhất hoặc có vai vế nhất.
Đặc điểm cuối cùng là công ty hợp danh Việt Nam có tư cách pháp nhân, là chủ
thể độc lập trước pháp luật, tuy nhiên không có sự tách bạch giữa tài sản của công ty
với tài sản của thành viên hợp danh, nên không độc lập trong việc chịu trách nhiệm về 8
các khoản nợ của công ty. Công ty hợp danh không có quyền phát hành bất kỳ loại chứng khoán nào. 9 Chương 2
PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ CÔNG TY HỢP DANH
2.1. NHỮNG VẤN ĐỀ PHÁP LÝ CHỦ YẾU CỦA CÔNG TY HỢP DANH
2.1.1. Thành lập công ty hợp danh
Pháp luật Việt Nam quy định điều kiện thành lập công ty hợp danh cũng là điều
kiện chung cho các doanh nghiệp khác. Những yếu tố liên quan đến nhân thân người
thành lập như độ tuổi, năng lực hành vi dân sự, nghề nghiệp được quy định cụ thể
trong Bộ luật Dân sự, luật Doanh nghiệp và các văn bản hướng dẫn khác. Người chưa
thành niên; người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự hoặc bị mất năng lực hành vi dân
sự; người đang chấp hành hình phạt tù hoặc đang bị Tòa án cấm hành nghề kinh doanh
không được phép tham gia thành lập doanh nghiệp.
Độ tuổi theo quy định của pháp luật có đầy đủ khả năng chịu trách nhiệm trước
các hợp đồng do mình ký kết là 18 tuổi. Đây là độ tuổi được xác định có đầy đủ năng
lực hành vi dân sự. Đây là độ tuổi hợp lý cho một cá nhân vì đã hoàn thiện sự phát
triển về cả thể chất và trí lực, cũng phù hợp với thông lệ quốc tế. Tuy nhiên trên thực
tế, số lượng người thành lập doanh nghiệp ở độ tuổi này không nhiều, chủ yếu rơi vào
độ tuổi từ 22 trở lên. Pháp luật Singapore trước đây quy định công dân 21 tuổi trở lên
mới được phép thành lập doanh nghiệp, và Bộ tài chính nước này đã quyết định giảm
độ tuổi này xuống 18 tuổi.
Trong điều kiện về nghề nghiệp, người thành lập phải không thuộc một trong
bảy nhóm đối tượng nêu tại khoản 2 Điều 17 luật Doanh nghiệp2020 gồm: Cơ quan
nhà nước, đơn vị lực lượng vũ trang nhân dân Việt Nam sử dụng tài sản nhà nước để
thành lập doanh nghiệp kinh doanh thu lợi riêng cho cơ quan, đơn vị mình; Cán bộ,
công chức theo quy định của pháp luật về cán bộ, công chức; Sĩ quan, hạ sĩ quan, quân
nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng trong các cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội
nhân dân Việt Nam; sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên nghiệp trong các cơ quan, đơn vị thuộc
Công an nhândân Việt Nam; cán bộ lãnh đạo, quản lý nghiệp vụ trong các doanh
nghiệp100% vốn sở hữu nhà nước, trừ những người được cử làm đại diện theo
ủyquyền để quản lý phần vốn góp của Nhà nước tại doanh nghiệp khác; các trường
hợp khác theo quy định của pháp luật về phá sản. Quy định trên cũng phù hợp với Luật
Cán bộ công chức 2008 và Luật phòng chống tham nhũng 2018.
Người thành lập công ty phải làm hồ sơ đăng ký kinh doanh, chịu trách nhiệm
về tính trung thực, chính xác của nội dung hồ sơ, sau đó nộp tạicơ quan đăng ký kinh
doanh có thẩm quyền, người đăng ký kinh doanh có thể lựa chọn nộp trực tiếp tại
phòng đăng ký kinh doanh cấp tỉnh hoặc đăng kýqua mạng điện tử. Để thực hiện thủ
tục đăng ký doanh nghiệp qua mạng điện tử, người thành lập doanh nghiệp hoặc người
đại diện theo ủy quyền truy cập vào Cổng thông tin đăng ký doanh nghiệp quốc gia,
điền đầy đủ và chính xác các thông tin theo yêu cầu. Thông qua Cổng thông tin đăng
ký doanh nghiệp quốc gia, Hệ thống thông tin đăng ký doanh nghiệp quốc gia tiếp 10
nhận hồ sơ đăng ký điện tử và Phòng Đăng ký kinh doanh cấp tỉnh sẽ xử lý hồ sơ đăng
ký doanh nghiệp qua mạng điện tử trên hệ thống thông tin đăng ký doanh nghiệp quốc
gia. Thời gian gửi, nhận các văn bản điện tử trong hồ sơ đăng ký điện tử đượcxác định
căn cứ theo thời gian ghi lại trên máy chủ của Hệ thống thông tin đăng ký doanh nghiệp quốc gia.
Doanh nghiệp được cấp Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh khi có đủ các
điều kiện theo quy định tại Điều 27 Luật Doanh nghiệp 2020, gồm:
1. Ngành, nghề đăng ký kinh doanh không thuộc lĩnh vực cấm kinh doanh;
2. Tên của doanh nghiệp được đặt theo đúng quy địnhtại các điều 37, 38, 39 và 41 của Luật này;
3. Có hồ sơ đăng ký doanh nghiệp hợp lệ;
4. Nộp đủ lệ phí đăng ký doanh nghiệp theo quy định của pháp luật về phí và lệ phí.
Trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày nhận hồ sơ, Cơ quan đăng ký kinh
doanh có trách nhiệm xem xét tính hợp lệ của hồ sơ đăng ký doanh nghiệp và cấp đăng
ký doanh nghiệp; trường hợp hồ sơ chưa hợp lệ, Cơ quan đăng ký kinh doanh phải
thông báo bằng văn bản nội dung cần sửa đổi, bổ sung cho người thành lập doanh
nghiệp. Trường hợp từ chối đăng ký doanh nghiệp thì phải thông báo bằng văn bản
cho người thành lập doanh nghiệp và nêu rõ lý do. Pháp luật Việt Nam yêu cầu một
trình tự thủ tục thành lập chặt chẽ đối với cả hailoại hình công ty hợp danh, công ty
hợp danh chỉ có thành viên hợp danh và công ty hợp danh có cả thành viên góp vốn
nhằm tăng cường sự quản lý của Nhà nước đối với các doanh nghiệp. 2.1.2. Thành viên
Luật Doanh nghiệp quy định công ty hợp danh có hai loại thành viên với quy
chế pháp lý khác nhau hoàn toàn, đó là thành viên hợp danh và thành viên góp vốn.
2.1.2.1. Thành viên hợp danh
Số lượng thành viên hợp danh tối thiểu trong công ty là hai. Điểm b Khoản 1
Điều 177 Luật Doanh nghiệp 2020 quy định: "Thành viên hợp danh phải là cá nhân,
chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về các nghĩa vụ của công ty".
Như vậy, điều kiện bắt buộc để trở thành thành viên hợp danh là tư cách cá
nhân, nghĩa là các tổ chức, pháp nhân, hộ gia đình, các hội khác không thể trở thành
thành viên hợp danh. Tuy nhiên pháp luật Việt Nam không yêu cầu tư cách thương gia của thành viên hợp danh.
Các ngành nghề khác đòi hỏi thành viên hợp danh phải được đào tạo đúng theo
ngành nghề đăng ký kinh doanh
Trách nhiệm của thành viên hợp danh đối với các nghĩa vụ của công ty là trách
nhiệm vô hạn và liên đới. Quy định này cũng giống như pháp luật các nước trên thế
giới, cũng là đặc điểm để phân biệt thành viên hợp danh với thành viên góp vốn trong 11
công ty hợp danh hay thành viên các loại hình côngty khác. Xuất phát từ lý do công ty
hợp danh mang bản chất đối nhân, các thành viên hợp tác với nhau trên cơ sở uy tín cá
nhân, và những ngành nghề kinh doanh của loại hình công ty này chủ yếu là cung cấp
các dịch vụ liên quan trực tiếp tới sức khỏe, tính mạng, quyền lợi nhân thân của người
tiêu dùng mà họ không thể kiểm tra được chất lượng cung ứng trước khi sử dụng. Do
đó pháp luật quy định chế độ trách nhiệm vô hạn cho thành viên hợp danh nhằm buộc
họ phải cẩn trọng khi hành nghề.
Chế độ trách nhiệm vô hạn còn là nguyên nhân dẫn đến những hạn chế đối với
quyền của thành viên hợp danh quy định tại Điều 180 Luật Doanh nghiệp 2020:
"1. Thành viên hợp danh không được làm chủ doanh nghiệp tư nhân; không
được làm thành viên hợp danh của công ty hợp danh khác trừ trường hợp được sự
nhất trí của các thành viên hợp danh còn lại
.". Thành viên hợp danh đã chịu trách
nhiệm vô hạn trong công ty hợp danh thì không thể chịu trách nhiệm vô hạn trong
doanh nghiệp tư nhân hay trong một công ty hợp danh khác, bởi lẽ một cá nhân chỉ có
một khối tài sản riêng và không thể sửdụng khối tài sản đó cho hai lần trách nhiệm vô
hạn. Tuy nhiên pháp luật vẫn tôn trọng sự thỏa thuận của các bên. Công ty hợp danh
và doanh nghiệp tư nhân là loại hình doanh nghiệp mà pháp luật ít can thiệp đến nội bộ
của nó nhất so với các loại hình doanh nghiệp khác. Do đó luật chỉ quy định những
nguyên tắc khung, còn lại để cho các thành viên tự thỏa thuận về tổ chức nội bộ cũng
như quản lý. Nếu như các thành viên hợp danh còn lại đã đồng ý tức là họ đã chấp
nhận rủi ro về mình và luật tôn trọng sự thỏa thuận của các bên.
"2. Thành viên hợp danh không được nhân danh cá nhân hoặc nhân danh
người khác kinh doanh cùng ngành, nghề kinh doanh của công ty để tư lợi hoặc phục
vụ lợi ích của tổ chức, cá nhân khác
". Pháp luật dự liệu trước khả năng tranh chấp về
quyền lợi giữa các thành viên hợp danh, nhất là sau khi công ty tiến hành các hoạt
động kinh doanh hiệu quả, nên quy định trong quá trình quản lý hay thực hiện các hoạt
động kinh doanh, các thành viên phải thể hiện sự trung thành mẫn cán với công ty, vì
mục tiêu phát triển chung của công ty. Pháp luật các nước cũng ghi nhận quy định này.
Nghĩa vụ không cạnh tranh lẫn nhau giữa các thành viên hợp danh không chỉ xuất phát
từ chế độ trách nhiệm vô hạn, mà còn do đặc thù củacông ty hợp danh là kinh doanh
trong các lĩnh vực đòi hỏi uy tín nghề nghiệp, trình độ chuyên môn cao của các thành
viên, nên bất kỳ một hoạt động kinh doanh mang ý nghĩa cá nhân nào của thành viên
hợp danh trùng với công ty cũng có thể ảnh hưởng tới quyền lợi của các thành viên
còn lại, thậm chí gây thiệt hại cho cả công ty và các thành viên.
Xuất phát từ vị trí quan trọng của thành viên hợp danh, chế độ trách nhiệm vô
hạn và liên đới, nên tại khoản 2 Điều 184 Luật Doanh nghiệp quyđịnh "Trong điều
hành hoạt động kinh doanh của công ty, thành viên hợp danh phân công nhau đảm
nhiệm các chức danh quản lý và kiểm soát công ty
.". Mỗi thành viên hợp danh đều có
các quyền của chủ công ty, đó là quyền điều hành, quản lý, kiểm soát hoạt động kinh
doanh, quyền sử dụng con dấu, tài sản của công ty để tiến hành các hoạt động kinh
doanh của công ty. Được nhận thông tin nội bộ, xem sổ sách kế toán, hồ sơ của công
ty. Khi tham gia vào thảo luận và quyết định các vấn đề nội bộ của công ty, số phiếu 12
biểu quyết của mỗi thành viên hợp danh là ngang nhau không phụ thuộc vào vốn góp ít hay nhiều.
Các thành viên hợp danh có nghĩa vụ tiến hành quản lý và thực hiện công việc
kinh doanh một cách trung thực, cẩn trọng và tốt nhất bảo đảm lợi ích hợp pháp tối đa
cho công ty và tất cả thành viên; không được sử dụng tài sản của công ty để tư lợi hoặc
phục vụ lợi ích của tổ chức, cá nhân khác; Hoàn trả cho công ty số tiền, tài sản đã nhận
và bồi thường thiệt hại gây ra đốivới công ty trong trường hợp nhân danh công ty,
nhân danh cá nhân hoặc nhân danh người khác để nhận tiền hoặc tài sản khác từ hoạt
động kinh doanh các ngành, nghề đã đăng ký của công ty mà không đem nộp cho công
ty; Liên đới chịu trách nhiệm thanh toán hết số nợ còn lại của công ty nếu tài sản của
công ty không đủ để trang trải số nợ của công ty. Hoạt động do thành viên hợp danh
thực hiện ngoài phạm vi hoạt động kinh doanh các ngành, nghề kinh doanh đã đăng ký
của công ty đều không thuộc trách nhiệm của công ty, trừ trường hợp hoạt động đó đã
được các thành viên còn lại chấp thuận.
Trách nhiệm của thành viên hợp danh phát sinh ngay từ khi đăng ký trở thành
thành viên công ty, chịu trách nhiệm kể cả khi chưa được hưởng lợi nhuận và kéo dài
đến khi thực hiện xong các nghĩa vụ, kể cả khi đã chấm dứt tư cách thành viên (chịu
trách nhiệm với những hoạt động phát sinh trước thời điểm chấm dứt tư cách thành viên).
Trách nhiệm liên đới được hiểu là chủ nợ có quyền yêu cầu bất cứ ai trong số
các thành viên hợp danh thực hiện nghĩa vụ đã cam kết kể cả nghĩa vụ đó do thành
viên hợp danh khác cam kết thực hiện. Tuy nhiên, những cam kết đó phải phát sinh từ
hoạt động kinh doanh của công ty, nhân danh công tychứ không phải xuất phát từ mục
đích cá nhân thành viên nào.
Tư cách thành viên hợp danh trong công ty chấm dứt khi thành viên đó chết
hoặc bị tòa án tuyên đã chết. mất tích hay bị hạn chế năng lực hành vi dân sự. ngoài ra,
khi thành viên hợp danh rút vốn được sự đồng ý của các thành viên còn lại, hoặc bị
khai trừ khỏi công ty, tư cách thành viên cũng chấm dứt. Tư cách thành viên hợp danh
không thể chuyển nhượng hay thừa kế.
2.1.2.2. Thành viên góp vốn
Luật Doanh nghiệp không quy định thành viên góp vốn phải là cá nhân, do đó
ngoài cá nhân, thì các tổ chức, pháp nhân, các hội đều có quyền góp vốn và trở thành
thành viên trong công ty hợp danh (loại trừ những trường hợp tại khoản 3 Điều 17 luật
Doanh nghiệp 2020 gồm: Cơ quan nhà nước, đơn vị lực lượng vũ trang nhân dân Việt
Nam sử dụng tài sản nhà nước góp vốn vào doanh nghiệp để thu lợi riêng cho cơ quan,
đơn vị mình; Đối tượng không được góp vốn vào doanh nghiệp theo quy định của Luật
Cán bộ, công chức, Luật Viên chức, Luật Phòng, chống tham nhũng.).
Không mang bản chất đối nhân, không góp vào công ty bằng uy tín nghề nghiệp
nên thành viên góp vốn chỉ phải chịu trách nhiệm về các khoản nợ của công ty trong
phạm vi số vốn đã góp vào công ty, tức là chịu tráchnhiệm hữu hạn, không liên đới.
Các chủ nợ không có quyền kiện đòi nợ trực tiếp đối với các thành viên góp vốn, đây 13
là điểm khác hoàn toàn so với thành viên hợp danh. Có thể nói rằng khi các thành viên
này đã góp đủ số vốn góp cam kết thì coi như họ đã thực hiện xong trách nhiệm của mình.
Thành viên góp vốn cũng không cần phải có chứng chỉ hành nghề hay phải qua
đào tạo đúng chuyên ngành thuộc lĩnh vực linh doanh của công ty. Sở dĩ pháp luật quy
định sự góp mặt của thành viên góp vốn trong công ty hợp danh là nhằm thu hút một
lượng vốn nhà rỗi từ những người có vốn nhưng không có khả năng trực tiếp kinh
doanh hoặc không muốn mạo hiểm trong kinh doanh. Sự kết hợp giữa những người ít
vốn nhưng có nghề và những người nhiều vốn nhưng không biết nghề tạo nên một cơ
hội kinh doanh đầy hiệu quả, từ đó việc cung cấp dịch vụ tới tay người tiêu dùng cũng
hoàn hảo hơn cả về chất và lượng.
Xuất phát từ tính chịu trách nhiệm hữu hạn của thành viên góp vốn, nên Luật
không trao quyền quản lý điều hành công ty cho họ. Điều này hoàn toàn hợp lý bởi lẽ
họ chỉ đóng góp đơn thuần là vốn góp vào công ty, trong khi thành viên hợp danh
đóng góp cái "danh" của mình và chịu trách nhiệm về cái "danh" đó bằng toàn bộ tài
sản cá nhân. Để bảo vệ và phát triển hơn nữa cái "danh" ấy, cũng như bảo vệ gia sản
của mình mà thành viên hợp danh phải hếtsức cẩn trọng khi tiến hành các hoạt động
kinh doanh. Họ hiểu hơn bất kỳ ai cách thức tiến hành khai thác yếu tố "danh" để biến
chúng thành lợi nhuận, vì thế họ phải nắm giữ quyền điều hành, quản lý công ty. Một
lý do nữa khiến pháp luật không cho phép thành viên góp vốn tham gia quản lý công
ty hoặc tiến hành các hoạt động kinh doanh nhân danh công ty là tránh tình trạng họ
thao túng các thành viên hợp danh, nhất là đối với những người phụ thuộc hoàn toàn về vốn.
Trong quan hệ với bên thứ ba, thành viên góp vốn cũng không có quyền tiến
hành các hoạt động kinh doanh nhân danh công ty. Pháp luật chỉ thừa nhận quyền đại
diện của thành viên hợp danh. Vì vậy pháp luật cũng không cấm thành viên góp vốn
được nhân danh cá nhân tiến hành các hoạt động kinh doanh trùng với lĩnh vực kinh
doanh của công ty, thậm chí là cạnh tranh, nhưng thành viên hợp danh thì không được phép.
Luật Doanh nghiệp Việt Nam chỉ quy định nghĩa vụ của thành viên góp vốn là
tuân thủ Điều lệ, nội quy công ty và quyết định của Hội đồng thành viên. Trong trường
hợp Điều lệ công ty không đề cập đến vấn đề trên thì sẽ khó để yêu cầu trách nhiệm của thành viên góp vốn.
Tư cách thành viên góp vốn trong công ty hợp danh phát sinh từ khi đăng ký
góp vốn và kết thúc khi họ rút vốn góp hoặc chuyển nhượng vốn góp cho người khác.
Pháp luật không hạn chế quyền định đoạt phần vốn góp của thành viên góp vốn, họ có
thể để thừa kế, tặng cho, thế chấp, cầm cố và các hình thức khác theo quy định của
pháp luật và Điều lệ công ty; trường hợp chết hoặc bị Tòa tuyên bố là đã chết thì người
thừa kế thay thế thành viên đã chết trở thành thành viên góp vốn của công ty. Sự ra đi
của thành viên góp vốn sẽ ảnh hưởng đến quy mô của công ty, nhưng không phải là
yếu tố dẫn đến giải thể công ty như sự ra đi của thành viên hợp danh. 14
Pháp luật cũng không quy định cụ thể các trường hợp chấm dứt tư cách thành
viên như đối với thành viên hợp danh. Như vậy việc chấm dứt tư cách thành viên góp
vốn hầu như do họ tự quyết định như chuyển nhượng, rútvốn, để thừa kế, không có
quy định về trường hợp bị khai trừ khỏi công ty (trừ trường hợp tại khoản 3 Điều 178
luật Doanh nghiệp: thành viên góp vốn không góp đủ và đúng hạn số vốn đã cam kết
thì số vốn chưa góp đủ được coi là khoản nợ của thành viên đó đối với công ty; trong
trường hợp này, thành viên góp vốn có liên quan có thể bị khai trừ khỏi công ty theo
quyết định của Hội đồng thành viên)
Về số lượng thành viên góp vốn, không có quy định nào về số lượng tối thiểu
và tối đa, quyền quyết định thuộc về hội đồng thành viên công ty.
2.1.3. Vốn trong công ty hợp danh
Góp vốn là việc đưa tài sản vào công ty để trở thành chủ sở hữu hoặc các chủ
sở hữu chung của công ty. Tài sản góp vốn có thể là tiền Việt nam, ngoại tệ tự do
chuyển đổi, vàng, giá trị quyền sử dụng đất, giá trị quyền sở hữu trí tuệ, công nghệ, bí
quyết kỹ thuật, các tài sản khác ghi trong Điều lệ công ty do thành viên góp vốn để tạo thành vốn của công ty.
2.1.3.1. Vốn điều lệ và huy động vốn
Vốn điều lệ là số vốn do tất cả thành viên góp hoặc cam kết góp trong một thời
hạn nhất định và được ghi vào Điều lệ công ty (khoản 18, điều 4 Luật doanh nghiệp).
Vốn điều lệ có ý nghĩa là sự cam kết mức trách nhiệm vật chất của các thành viên với
khách hàng, đối tác; Là vốn đầu tư cho hoạt động của doanh nghiệp và là cơ sở để
phân chia lợi nhuận cũng như rủi ro trong kinh doanh đối với thành viên góp vốn vào công ty.
Vốn góp có thể là tiền Việt Nam, ngoại tệ tự do chuyển đổi, vàng, giá trị quyền
sử dụng đất, giá trị quyền sở hữu trí tuệ, công nghệ, bí quyết kỹ thuật, các tài sản khác
ghi trong Điều lệ công ty do thành viên góp để tạo thành vốn của công ty. Vốn điều lệ
là do các thành viên tự thỏa thuận và cam kết góp vốn. Trên cơ sở đó doanh nghiệp kê
khai và đăng ký với cơ quan đăng ký kinh doanh.
Là một loại hình công ty mang bản chất đối nhân, lại tồn tại hai loại thành viên
với quy chế pháp lý khác nhau, nên vốn góp trong công ty hợp danh có điểm khác so
với các công ty đối vốn. Vốn góp của thành viên hợp danh ngoài các yếu tố vật chất
tồn tại dưới dạng tiền, tài sản như vốn góp của các loại hình công ty khác hay như vốn
góp của thành viên góp vốn, còn tồn tại dưới dạng phi vật chất, đó là những yếu tố như
uy tín nghề nghiệp, kinh nghiệm, danh tiếng, tên riêng, những yếu tố gắn liền với nhân
thân thành viên, và chỉ có thể có ở thành viên hợp danh. Loại vốn góp này tạo nên nét
đặc trưng riêng biệt của công ty hợp danh.
Đối với các loại vốn góp bằng tài sản có đăng ký hoặc giá trị quyền sử dụng
đất, thì người góp vốn phải làm thủ tục chuyển quyền sở hữu tài sản đó hoặc quyền sử
dụng đất cho công ty tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền.Việc chuyển quyền sở hữu
đối với tài sản góp vốn không phải chịu lệ phí trước bạ; Đối với tài sản không đăng ký 15
quyền sở hữu, việc góp vốn phải được thực hiện bằng việc giao nhận tài sản góp vốn
có xác nhận bằng biên bản. Biên bản giao nhận phải có các nội dung chủ yếu: tên và
địa chỉ trụ sở chính của công ty; tên và địa chỉ người góp vốn; loại tài sản và số đơn vị
tài sản góp vốn; tổng giá trị các tài sản góp vốn và tỷ lệ của tổng giá trị tài sản đó trong
vốn điều lệ của công ty; ngày giao nhận; chữ ký của người góp vốn và người đại diện
theo pháp luật của công ty.
Theo quy định của Luật Doanh nghiệp, tài sản của công ty hợp danh bao gồm:
Tài sản góp vốn của các thành viên đã được chuyển quyền sở hữu chocông ty;
Tài sản tạo lập được mang tên công ty; tài sản thu được từ hoạt động kinh
doanh do các thành viên hợp danh thực hiện nhân danh công ty và từ các hoạt động
kinh doanh các ngành, nghề kinh doanh đã đăng ký của công ty do các thành viên hợp
danh nhân danh cá nhân thực hiện; các tài sản khác theo quy định của pháp luật.
Khi đã cam kết góp vốn, các thành viên phải tuân thủ quy định của pháp luật.
Điều 178 luật Doanh nghiệp 2020 quy định:
1. Thành viên hợp danh và thành viên góp vốn phải góp đủ và đúng hạn số vốn như đã cam kết.
2. Thành viên hợp danh không góp đủ và đúng hạn số vốn đã cam kết gây thiệt
hại cho công ty phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại cho công ty.
3. Trường hợp có thành viên góp vốn không góp đủ và đúng hạn số vốn đã cam
kết thì số vốn chưa góp đủ được coi là khoản nợ của thành viên đó đối với công ty;
trong trường hợp này, thành viên góp vốn có liên quan có thể bị khai trừ khỏi công ty
theo quyết định của Hội đồng thành viên.

Thành viên sẽ được cấp giấy chứng nhận phần vốn góp tại thời điểm góp đủ vốn như đã cam kết.
Việc huy động vốn của công ty hợp danh không được pháp luật trao quyền rộng
rãi như công ty cổ phần. Khoản 3 Điều 177 Luật Doanh nghiệp 2020 quy định: "Công
ty hợp danh không được phát hành bất kỳ loại chứng khoán nào"
. Đây là một quy định
hoàn toàn hợp lý với những loại hình công ty mang bản chất đối nhân, vì nếu được
phép phát hành chứng khoán và chào bán ra công chúng để huy động vốn đồng nghĩa
với việc kết nạp thêm thành viên mới mà không cần các yếu tố nhân thân của họ. Việc
tham gia của người lạ vào công ty sẽ khiến cho sự liên kết giữa các thành viên hợp
danh bị phá vỡ, do đó bản chất đối nhân sẽ không còn tồn tại.
Không được phát hành chứng khoán huy động vốn, nhưng công ty hợp danh có
thể huy động vốn bằng cách khác như tăng vốn góp của các thành viên trong công ty,
tiếp nhận thành viên mới, hoặc kêu gọi các tổ chức cá nhân đầu tư góp vốn. So với
công ty tư nhân thì công ty hợp danh huy động vốn dễ dàng hơn, còn so với công ty cổ
phần thì việc huy động vốn bị hạn chế hơn.
2.1.3.2. Vấn đề chuyển nhượng vốn, rút vốn 16
Việc thành lập công ty hợp danh cũng như các công ty đối nhân khác, căn cứ
trước hết vào sự tin cậy quen biết chặt chẽ giữa các thành viên, vào uy tín cá nhân của
họ. Lựa chọn những người cùng sáng lập công ty, cùng kinh doanh và cùng chịu trách
nhiệm vô hạn, liên đới không phải là việc đơn giản. Do đó việc một thành viên hợp
danh ra đi khỏi công ty sẽ gây xáo trộn, ảnh hưởng lớn đến hoạt động của công ty,
thậm chí có thể dẫn đến sự phá sản hay giải thể công ty.
Sự chuyển nhượng vốn dù một phần hay toàn bộ đều dẫn đến hệ quả là công ty
phải tiếp nhận thành viên mới. Nếu là thành viên đã có mối quan hệ thân quen từ trước
với các thành viên khác, thì sự xáo trộn trong công ty không lớn, thậm chí có xu hướng
tốt lên. Nhưng nếu đó là một người hoàn toàn xa lạ thì sẽ là một khó khăn lớn không
chỉ cho các thành viên cũ mà cho chính thành viên mới tham gia. Sẽ rất khó đạt được
sự đồng lòng, đồng thuận, cùng chung chí hướng phát triển công ty, từ đó dễ dẫn đến
khủng hoảng hoặc giải thể công ty. Chính nguyên nhân đó dẫn đến những quy định rất
chặt chẽ của pháp luật đối với việc chuyển nhượng của các viên hợp danh. Khoản 3
Điều 180 Luật Doanh nghiệp quy định: "Thành viên hợp danh không được chuyển một
phần hoặc toàn bộ phần vốn góp của mình tại công ty cho tổ chức, cá nhân khác nếu
không được sự chấp thuận của các thành viên hợp danh còn lại
". Như vậy, một thành
viên muốn chuyển nhượng vốn góp cần phải được sự đồng ý của tất cả các thành viên
hợp danh còn lại. Nếu chuyển nhượng toàn bộ vốn góp, có nghĩa là người nhận chuyển
nhượng sẽ tiếp nhận luôn tư cách thành viên, các quyền và nghĩa vụ của thành viên
chuyển nhượng tính đến thời điểm chuyển nhượng (loại trừ các nghĩa vụ phát sinh
trước thời điểm chuyển nhượng, thành viên chuyển nhượng vẫn tiếp tục liên đới chịu trách nhiệm).
Việc rút vốn của thành viên hợp danh cũng phải tuân thủ theo các quy định chặt
chẽ của pháp luật, của điều lệ công ty. Trước hết, phải được thông qua và được sự
đồng ý của Hội đồng thành viên, và phải lựa chọn thời điểm hợp lý. Chỉ được rút vốn
sau khi kết thúc năm tài chính và đã thông qua báo cáo tài chính của năm tài chính.
Sau khi rút khỏi công ty, phần vốn góp của thành viên hợp danh được hoàn trả theo
quy định tại điều lệ công ty, hoặc theo giá thỏa thuận giữa các thành viên. Nhằm bảo
vệ quyền lợi cho các thànhviên còn lại cũng như bảo đảm giao dịch cho bên thứ ba,
luật quy định thành viên hợp danh sau khi rút vốn vẫn phải liên đới chịu trách nhiệm
về các nghĩa vụ của công ty trước khi thực hiện việc đăng ký chấm dứt tư cách thành
viên với cơ quan đăng ký kinh doanh.
Trái ngược với thành viên hợp danh, vấn đề chuyển nhượng hoặc rút vốn của
thành viên góp vốn không bị ràng buộc nhiều bởi pháp luật. Họ đượcquyền tự do
chuyển nhượng phần vốn góp của mình cho bất kỳ người nào nếu điều lệ công ty
không hạn chế. Trường hợp tiếp nhận thành viên mới theo quy định của pháp luật phải
do Hội đồng thành viên quyết định. Tuy nhiên việc thay đổi thành viên góp vốn trong
trường hợp chuyển nhượng không làm ảnh hưởng gì đến hoạt động của công ty.
Thành viên góp vốn có quyền định đoạt phần vốn góp của mình bằng cách để
thừa kế, tặng cho, thế chấp, cầm cố và các hình thức khác theo quy định của pháp luật
và Điều lệ công ty, trường hợp chết hoặc bị Tòa tuyên bố là đã chết thì người thừa kế 17
thay thế thành viên đã chết trở thành thành viên góp vốn của công ty. Khi chuyển
nhượng toàn bộ hoặc cho tặng vốn góp, tư cách thành viên của họ chấm dứt ngay,
không phải chịu bất kỳ nghĩa vụ nào của công ty. Khi chuyển nhượng phần vốn góp,
người nhận chuyển nhượng được công ty cấp giấy chứng nhận phần góp mới, công ty
thu lại giấy chứn gnhận phần vốn góp của người chuyển nhượng. Nếu người chuyển
nhượng vẫn còn phần vốn góp tại công ty thì công ty cấp Giấy chứng nhận phần vốn
góp mới phù hợp với phần vốn còn lại của thành viên đó.
2.1.4. Tư cách pháp lý của công ty hợp danh
Công ty hợp danh có tư cách pháp nhân kể từ ngày được cấp giấy chứng nhận
đăng ký kinh doanh (Khoản 2 Điều 177 Luật Doanh nghiệp 2020). Như vậy hiện nay,
chỉ có doanh nghiệp tư nhân là loại hình doanh nghiệp duy nhất không có tư cách pháp
nhân. Quy định trên nhằm mục đích tạo sự bình đẳng về địa vị pháp lý của công ty hợp
danh so với các công ty khác khi tham gia vào môi trường cạnh tranh trong kinh doanh
(ví dụ, công ty hợp danh có thể tham gia hoạt động trong lĩnh vực cho thuê tài chính).
Điều này, tạo điều kiện thuận lợi hơn cho hoạt động kinh doanh của loại hình doanh
nghiệp được coi là khá mới và chưa phổ biến này ở Việt Nam.
2.1.5. Cơ cấu tổ chức, quản lý trong công ty hợp danh
Khoản 1 Điều 182 luật Doanh nghiệp quy định: "Hội đồng thành viên bao gồm
tất cả thành viên. Hội đồng thành viên bầu một thành viên hợp danh làm Chủ tịch Hội
đồng thành viên, đồng thời kiêm Giám đốc hoặc Tổng giám đốc công ty nếu Điều lệ
công ty không có quy định khác
". Như vậy, Hội đồng thành viên là cơ quan cao nhất
trong việc quản lý và điều hành hoạt động của công ty hợp danh. Hội đồng thành viên
gồm tất cả các thành viên tham gia. Thành viên góp vốn được tham gia họp, thảo luận
và biểu quyết tại Hội đồng thành viên về việc sửa đổi, bổ sung Điều lệ công ty, sửa
đổi, bổ sung các quyền và nghĩa vụ của thành viên góp vốn, về tổ chức lại và giải thể
công ty và các nội dung khác của Điều lệ công ty có liên quan trực tiếp đến quyền và
nghĩa vụ của họ. Như vậy chỉ có các thành viên hợp danh mới có quyền tham gia thảo
luận những vấn đề quan trọng của công ty, có quyền tham gia quản lý điều hành công
ty. Thành viên góp vốn dù có mặt ở cơ quan quản lý cao nhất công ty nhưng không có quyền quản lý.
Quyền biểu quyết của thành viên góp vốn cũng được ghi nhận tại Luật Doanh
nghiệp trong phạm vi những vấn đề liên quan trực tiếp đến quyền và nghĩa vụ của họ,
hoặc việc sửa đổi bổ sung Điều lệ công ty. Tuy nhiên theo quy định tại khoản 3, 4
Điều 182, những vấn đề quan trọng khi lấy biểu quyết phải được ít nhất ba phần tư
tổng số thành viên hợp danh chấp thuận. Những vấn đề khác phải được sự đồng ý của
ít nhất hai phần ba tổng số thành viên hợp danh. Như vậy, dù cho một vấn đề được tất
cả các thành viên góp vốn biểu quyết hay không được bất cứ thành viên góp vốn nào
đồng ý cũng không có ý nghĩa gì, nếu không được hoặc được thành viên hợp danh thông qua. 18
Tuy thành phần trong Hội đồng thành viên bao gồm cả thành viên góp vốn,
nhưng quyền yêu cầu triệu tập cuộc họp Hội đồng thành viên chỉ thuộc về thành viên hợp danh.
Điều 183. Triệu tập họp Hội đồng thành viên 1.
Chủ tịch Hội đồng thành viên có thể triệu tập họp Hộiđồng thành viên
khi xét thấy cần thiết hoặc theo yêu cầu của thành viên hợp danh. Trường hợp Chủ
tịch Hội đồng thành viên khôngtriệu tập họp theo yêu cầu của thành viên hợp danh thì
thành viênđó triệu tập họp Hội đồng thành viên
.
Như vậy, nếu các thành viên góp vốn gặp những vấn đề liên quan đến quyền và
nghĩa vụ mà chưa đến kỳ họp thường niên của Hội đồng thành viên, họ sẽ phải chờ
hoặc phụ thuộc vào thành viên hợp danh để yêu cầu triệu tập cuộc họp bằng cách yêu
cầu chủ tịch Hội đồng thành viên hoặc thông qua một thành viên hợp danh nào đó đề
nghị triệu tập cuộc họp.
Hội đồng thành viên bầu một thành viên hợp danh làm chủ tịch Hội đồng thành
viên, đồng thời kiêm giám đốc, tổng giám đốc nếu điều lệ không quy định khác.Chủ
tịch hội đồng thành viên có nhiệm vụ quản lý, điều hành công việc kinh doanh hàng
ngày của công ty với tư cách là thành viên hợp danh. Thành viên này sẽ đại diện cho
công ty trong các mối quan hệ với cơ quan nhà nước, hay đại diện là nguyên đơn,bị
đơn trong các tranh chấp. Pháp luật hoàn toàn tôn trọng điều lệ của công ty, nên không
đưa ra các chế tài riêng đối với người quản lý công ty khi họ vi phạm quyền và nghĩa
vụ, như lạm dụng quyền đại diện hay vượt quá quyền đại diện. Trong công ty hợp
danh,việc thuê tổng giám đốc, giám đốc điều hành không được pháp luật đề cập đến.
Thành viên đại diện cho công ty không có quyền lực gì khác so với các thành viên hợp
danh khác, tất các các vấn đề liên quan đến hoạt động kinh doanh của công ty đều phải
đưa ra lấy ý kiến của Hội đồng thành viên.
Giám đốc có nhiệm vụ phân công công việc kinh doanh giữa các thành viên
hợp danh. Các thành viên hợp danh cùng nhau điều hành hoạt động kinh doanh của
công ty. Khi một số hoặc tất cả các thành viên hợp danh cùng thực hiện công việc kinh
doanh thì quyết định được thông qua theo nguyên tắc đa số.
Trong hoạt động kinh doanh của công ty, tất cả các thành viên hợp danh đều có
quyền đại diện theo pháp luật và tổ chức thực hiện hoạt động kinh doanh hàng ngày của công ty.
Thành viên hợp danh phân công đảm nhiệm các chức danh quản lý, kiểm soát hoạt động công ty.
Mỗi thành viên hợp danh đều có quyền kiểm tra, giám sát, yêu cầu cung cấp
thông tin từ công ty và thành viên hợp danh khác về tình hình kinh doanh, tài sản, sổ
sách kế toán và các thông tin khác khi cần thiết.
2.1.6. Giải thể, phá sản công ty hợp danh
Công ty hợp danh ra đời do sự thỏa thuận của các thành viên, do đó việc kết
thúc thời hạn hoạt động của công ty ghi trong điều lệ công ty là một trong các trường 19
hợp dẫn đến sự kiện pháp lý là giải thể công ty. Theo quy định tại Điều 207 Luật
Doanh nghiệp, công ty hợp danh cũng có thể giải thể mà không cần đợi đến khi hết
hạn trong điều lệ công ty, chỉ cần có quyết định của tất cả các thành viên hợp danh.
Trường hợp này là giải thể khi công ty đang hoạt động, vì một lý do nào đó như hiệu
quả kinh doanh không cao, các thành viên bất hợp tác với nhau hoặc bất kỳ lý do gì
nếu thấy sự tồn tại của công ty là không cần thiết nữa. Điều này cho thấy vai trò quan
trọng của thành viên hợp danh trong việc quyết định sự tồn tại của công ty.Và cũng dễ
dàng nhận thấy sự "thiệt thòi" của các thành viên góp vốn trong trường hợp công ty
đang kinh doanh hiệu quả nhưng giải thể do các thành viên hợp danh mâu thuẫn với
nhau. Rõ ràng, dù pháp luật quy định quyền biểu quyết cho các thành viên góp vốn về
vấn đề giải thể công ty tại Điều 182, nhưng số phiếu biểu quyết của họ không có ý
nghĩa gì nếu quyết định giải thể được tất cả các thành viên hợp danh hoặc được ít nhất
ba phần tư tổng số thành viên hợp danh chấp thuận. Pháp luật không có quy định về
việc thời điểm giải thể của công ty, trong trường hợp sự giải thể này mang lại bất lợi
cho các thành viên hoặc nhằm mục đích tư lợi cá nhân, ví dụ một số thành viên muốn
giải thể nhằm thực hiện riêng các dự án mà công ty đang có dự định.
Một trong những điều kiện thành lập công ty hợp danh là phải có ít nhất hai
thành viên hợp danh trở lên. Do đó, nếu trong quá trình hoạt động công ty không đủ số
thành viên theo quy định cũng sẽ phải giải thể. Điều nàyhoàn toàn hợp lý bởi hợp danh
là một bản thỏa thuận cùng hợp tác yếu tố "danh" giữa ít nhất hai cá nhân, nếu một bên
trong hợp đồng không còn thì hợp đồng đó đương nhiên không thể tiếp tục thực hiện.
Tuy nhiên, doanh nghiệp vẫn có thể tiếp tục hoạt động trong sáu tháng liên tục sau đó
kể từ thời điểm không đủ số thành viên nhằm điều chỉnh lại cơ cấu thành viên. Quy
địnhnày tạo điều kiện cho doanh nghiệp có thời gian để tiếp nhận thêm thành viên tránh phải giải thể.
Cũng như các doanh nghiệp khác, công ty hợp danh bị giải thể khi bị cơ quan
nhà nước có thẩm quyền thu hồi giấy phép kinh doanh. Đây là trường hợp giải thể bắt
buộc. Giấy phép kinh doanh của công ty hợp danh sẽ bị thu hồi khi: Nội dung kê khai
trong hồ sơ đăng ký kinh doanh là giả mạo; doanh nghiệp do những người bị cấm
thành lập doanh nghiệp; không đăng ký mã số thuế trong thời hạn một năm kể từ ngày
được cấp Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh; không hoạt động tại trụ sở đăng ký
trong thời hạn sáu tháng liên tục, kể từ ngày được cấp Giấy chứng nhận đăng ký kinh
doanh hoặc chứng nhận thay đổi trụ sở chính; không báo cáo về hoạt động kinh doanh
của doanh nghiệp với cơ quan đăng ký kinh doanh trong mười hai tháng liên tục;
ngừng hoạt động kinh doanh một năm liên tục mà không thông báo với cơ quan đăng
ký kinh doanh; doanh nghiệp không gửi báo cáo về tình hình kinh doanh của doanh
nghiệp khi xét thấy cần thiết cho việc thực hiện các quy định của Luật Doanh nghiệp
năm 2020 đến cơ quan đăng ký kinh doanh trong thời hạn ba tháng, kể từ ngày có yêu
cầu bằng văn bản; kinh doanh ngành, nghề bị cấm.
Trình tự thủ tục giải thể công ty hợp danh được thực hiện theo trình tự giải thể
chung theo quy định tại Điều 208 Luật Doanh nghiệp cho tất cả các doanh nghiệp.
Bước một là việc thông qua quyết định giải thể. Quyết định giải thể công ty phải có
những nội dung chính như Tên, địa chỉ trụ sở chính của doanh nghiệp; lý do giải thể; 20